1. Trang chủ
  2. » Tất cả

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH DU LỊCH THỜI KỲ HẬU COVID - 19 TẠI VIỆT NAM - CÁCH TIẾP CẬN MARKETING

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 42,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài phân tích này phân tích những tác động của đại dich Covid-19 đến ngành du lịch Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch, hỗ trợ các doanh ng

Trang 1

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NGÀNH DU LỊCH THỜI KỲ HẬU COVID

- 19 TẠI VIỆT NAM - CÁCH TIẾP CẬN

MARKETING

Trang 2

Tóm tắt: Ngành du lịch được định hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn

đóng góp lớn vào ngành kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển tại Việt Nam Ngành du lịch được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây Du lịch được xem là một loại hình

du lịch bền vững không những giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch tại Việt Nam, mà còn giúp bảo tồn phát triển văn hóa xã hội và góp phần xóa đối giảm nghèo cho các đại phương trên cả nước Du lịch Việt Nam với sự đa dạng hóa hệ sinh thái, tự nhiên, độ đáo về văn hóa của các địa phương đây là điều kiện cần để đẩy mạnh phát triển mô hình du lịch Tuy nhiên với diễn biến phức tạp của đại dịch Covid 19 như hiện nay đã tác động rất lớn lên toàn ngành du lịch tại Việt nam Các lệnh cấm bay, hạn chế đi lại và sự e ngại của du khách do lo sợ ảnh hưởng của đại dịch là những nguyên nhân khiến nhiều khách sạn, nhà hàng, các chuỗi bán lẻ tại các điểm du lịch trở nên vắng khách Điều này cảnh báo sự sụt giảm doanh thu của nghành du lịch nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Bài phân tích này phân tích những tác động của đại dich Covid-19 đến ngành du lịch Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch, hỗ trợ các doanh nghiệp và ngành du lịch vượt qua những khó khăn do dịch gây ra, nhanh chóng khôi phục kinh doanh sau đó, đề xuất những giải pháp hạn chế và giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 đến ngành du lịch Việt Nam, đồng thời đưa ra phương hướng marketing để giúp ngành du lịch phát triển, tăng doanh thu, thu hút khách hàng

1 Dẫn nhập vào vấn đề nghiên cứu:

Đại dịch Covid-19 đã gây ra tác động lớn đối với ngành du lịch khi các nước phải đóng cửa biên giới, các chuyến bay bị ngừng lại và hàng tỷ người phải ngồi yên trong nhà.Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) ước tính, ngành du lịch châu Á -Thái Bình Dương đã phải hứng chịu những tác động tiêu cực nhất từ Covid-19, với lượng du khách giảm gần 33 triệu lượt trong 3 tháng đầu năm 2020 Trước đó, Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh châu Âu (ECDC) đã cảnh báo dịch

bệnh Covid-19 đang lây nhiễm và cướp đi mạng sống của rất nhiều người Theo báo

cáo của ECDC, tỷ lệ tử vong cao hơn mức dự đoán đã diễn ra tại các nước Bỉ, Pháp, Italy, Malta, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, và chủ yếu rơi vào những người già trên

65 tuổi Số ca tử vong do virus SARS-CoV-2 (Covid-19) tại châu Âu đã vượt ngưỡng 75.000 người Còn tại Châu Á, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến

phức tạp Trong đó, Indonesia có số ca nhiễm SARS-CoV-2 nhiều nhất Đông Nam

Á; các trường hợp tái phát bệnh gia tăng ở Hàn Quốc và Singapore Có thể thấy, thế

giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang ở trong thời điểm căng thẳng nhất của

dịch bệnh Covid-19, điều này đã và đang gây tác động rất lớn đến sức khỏe con

người cũng như toàn bộ ngành kinh tế, đặc biệt là ngành Du lịch

Hiện nay, Du lịch là một nghành kinh tế quan trọng của Việt Nam chiếm gần 10% của GDP của Việt Nam năm 2018 (Word Bank, 2019), có nhiều tác động tới phát triển kinh tế, xã hội tổng thể Tuy vậy, du lịch vẫn được xem là là một trong những ngành kinh tế nhạy cảm nhất với bệnh dịch (Chen & cộng sự, 2007) Dịch bệnh Covid-19 (hay còn gọi là SARS-CoV-2), bắt đầu nghiêm trọng từ đầu năm

2020, trở thành đại dịch của thế giới với mức độ nghiêm trọng nhất trong vòng 100

Trang 3

năm trở lại đây trên phạm vi toàn cầu Du lịch được dự báo là một trong những ngành chịu tổn thất nặng nề nhất

Tác động của dịch Covid-19 tới ngành du lịch được dự báo là rất lớn, vượt xa những đợt dịch bệnh mà thế giới trải qua trong vài thập kỷ gần đây Trước một dịch bệnh nghiêm trọng, ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, nhiều nước trên thế giới đã đưa ra những giải pháp khẩn cấp nhằm cứu nguy nền kinh tế như hạ lãi suất, đưa ra những gói cứu trợ lớn hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng… Chính phủ Việt Nam cũng đã nhanh chóng có những giải pháp đưa ra những chính sách và gói cứu trợ cụ thể để giúp cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong ngành

du lịch có thể chống đỡ và tồn tại trong dịch bệnh Covid-19 Tuy vậy, tới tháng 4 năm 2020, khi tình hình dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, mức độ ảnh hưởng của bệnh dịch tới ngành du lịch ngày càng rộng lớn và lâu dài, cần có những đánh giá, phân tích cập nhật và sâu sắc hơn về tác động của dịch Covid-19 đối với ngành du lịch của Việt Nam Các kịch bản diễn biến và tác động của dịch Covid-19 cũng cần được phân tích cụ thể trong ngành du lịch để từ đó có một cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ, mang tính chiến lược cho một vấn đề có tính chất lâu dài như dịch bệnh Covid-19

Bài báo cáo này tổng quan những tác động của dịch bệnh mang tính toàn cầu tới ngành du lịch thế giới, phân tích các khía cạnh cần quan tâm khi đánh giá tác động của dịch bệnh đối với ngành du lịch Việt Nam hiện nay Từ đó, bài báo đề xuất các phương án, cách tiếp cận marketing để thu hút khách du lịch trong thời gian tới

2 Cơ sở lý luận:

2.1 Khái niệm về du lịch:

Theo Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch do Viện Hàn lâm Khoa học quốc

tế về Du lịch xuất bản: “Du lịch là một cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức

thuộc Liên Hiệp Quốc , Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Theo I.I Pirogionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động cuả dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma - Italia ( 21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện

Trang 4

tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ

Theo W Hunziker và Kraff (1941) định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những và các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại

đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến

2.2 Khái niệm về du lịch bền vững:

Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai

Du lịch bền vững nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người”

Theo World Conservation Union,1996 Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể

là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp

từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương

Machado, 2003 đã định nghĩa du lịch bền vững là: “Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương” Định nghĩa này tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch (sản phẩm du lịch) chứ chưa đề cập một cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành du lịch

Còn theo Hens (1998), thì “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái

cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống” Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững

2.3 Phát triển du lịch bền vững là gì

Theo Tổ chức du lịch thế giới – WTO Phát triển bền vững trong du lịch là sự

phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Sự phát triển này quan tâm đến lợi ích kinh tế, xã hội mang tính lâu dài trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương

Trang 5

Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng cao, có khả năng thu hút và đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, song không gây tổn hại đến môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa

và phải có trách nhiệm bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên - môi trường Trong Chương trình Nghị sự 21 về công nghiệp du lịch và lữ hành hướng tới sự phát triển môi trường bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới và Hội đồng Thế giới đã xác định “Các sản phẩm du lịch bền vững là các sản phẩm được xây dựng phù hợp với môi trường, cộng đồng và các nền văn hóa, nhờ đó sẽ mang lại lợi ích chắc chắn chứ không phải là hiểm họa cho phát triển du lịch”

Theo Butler's, 1993 Phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển và duy

trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi trường của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát

triển lâu dài

Theo Machado 2003 Phát triển du lịch bền vững là quá trình phát triển các

sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai

2.4 Các yêu cầu để phát triển du lịch bền vững.

Theo Nguyễn Minh Tuấn, Tống Thị Thu Hòa, (2019) Để phát triển du lịch bền vững thì phải đồng thời thực hiện những yêu cầu như: Bảo tồn hệ sinh thái, hệ sinh thái đề cập đến việc duy trì các hệ thống trợ giúp cuộc sống (đất, nước, không khí, cây xanh), bảo vệ sự đa dạng và ổn định của các loài và hệ sinh thái Tiêu chuẩn này đòi hỏi các hoạt động du lịch và cơ sở hạ tầng phải phù hợp với điều kiện của môi trường Đồng thời phải giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ và duy trì chất lượng cuộc sống, các truyền thống văn hóa đặc sắc như tôn giáo, nghệ thuật Du lịch phải tăng cường bảo vệ văn hóa thông qua chính sách du lịch văn hóa Du lịch bền vững phải mang tính cộng đồng, phải tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường thông qua đầu tư vào các hoạt động kinh doanh du lịch, thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan như công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp Đảm bảo sự phát triển bình đẳng cân bằng

và phát triển, thừa nhận các nhu cầu giữa cá nhân và hộ gia đình, các nhóm xã hội, giữa thế hệ hiện tại và tương lai, giữa con người và thiên nhiên Đề cập đến việc hòa nhập, cân bằng và hài hòa giữa các yếu tố giữa kinh tế và môi trường, giữa nông

nghiệp và du lịch, giữa các loại hình du lịch…

2.5 Nền tảng để phát triển du lịch bền vững.

Theo Bùi Thanh Hương, Nguyễn Đức Hoa Cương (2007) Quá trình phát triển du lịch thành công cần dựa vào 3 nền tảng: Tính bền vững, sự tham gia cộng đồng, quy mô phát triển du lịch Tính bền vững: Trong bối cảnh du lịch hiện nay, tính bền vững cần được xem xét cả về mặt du lịch (du lịch bền vững) lẫn về phía cộng đồng dân cư địa phương, được xây dựng trên 3 trụ cột: Kinh tế bền vững, môi trường bền vững, văn hóa – xã hội bền vững Kinh tế bền vững: Đạt được tính kinh

tế bền vững, giúp ngành du lịch tạo thêm thu nhập và việc làm cho dân cư địa

Trang 6

phương, giúp người dân cải thiện cuộc sống và phát triển kinh tế vững mạnh dựa trên cơ sở vật chất tài sản hiện có của người dân Môi trường bền vững: Phát triển kinh tế, du lịch đi kèm với bảo vệ môi trường cảnh quan tự nhiên, không làm thay đổi xáo trộn hệ sinh thái động thực vật Văn hóa – xã hội bền vững: Sự phát triển của xã hội dần làm mai mọt nguyên gốc, nguyên sơ, chất phát chân thật của người dân đại phương, du lịch góp phần tái tạo văn hóa khuyến khích long tự hào của người dân địa phương từ đó nổ lực bảo tồn văn hóa cho thế hệ mai sau Sự tham gia cộng đồng: Yếu tố cốt lõi của du lịch cộng đồng là do cộng đồng làm chủ và vì lợi ích của cộng đồng nên sự tham gia của cộng đồng dân cư, do đó quá trình quy hoạch

du lịch không được bỏ qua mong muốn và mức độ phát triển của cộng đồng Quy

mô phát triển du lịch: Nghiên cứu của Bùi Thanh Hương, Nguyễn Đức Hoa

Cương, 2007, sử dụng 2 thuật ngữ “du lịch tổng quát” và “du lịch chọn lọc” để nói

về quy mô phát triển du lịch Trong đó đặc trưng chủ yếu của du lịch tổng quát là có quy mô lớn, các gói du lịch do các thành phần tư nhân ngoài địa phượng điều hành

và các dđến du lịch đã được thương mại hóa cao Du lịch chọn lọc có đặc thù tổ chức riêng lẻ, tại các vùng nhỏ và có mức độ thương mại hóa vừa phải rất khó để vẽ

ra ranh giới cho du lịch tổng quát và du lịch chọn lọc, cả hai loại hình này có thể phát triền thành du lịch cộng đồng thỏa mãn được tiêu chí quan trọng nhất đặt cộng đồng ở vị trí trọng tâm

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng Phương pháp thu thập và tổng hợp lý thuyết, dữ liệu thu thập các thông tin trên các kênh thông tin: Dữ liệu sơ cấp, thứ cấp,…tổng hợp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng Đồng thời kết hợp với phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết để sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn Sau đó sử dụng phương

pháp phân tích để nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích

chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Khi những dịch bệnh xảy ra, ngành du lịch được xem là một trong những ngành chịu tác động lớn nhất (Chen et al, 2007; Zeng et al,2005) Trong vài thập kỷ qua, ngành du lịch trên thế giới chứng kiến nhiều khủng hoảng do dịch bệnh gây ra như dịch Chân tay miệng ở Anh (năm 2001), SARS tại Đông Á và Đông Nam Á (năm 2003), dịch MERS ở Trung Đông (năm 2012), dịch Ebola tại Châu Phi (năm 2014) hay dịch muỗi Zika (năm 2016) (Global Rescue & WTTC, 2019) Các tác động dịch bệnh đối với ngành du lịch xảy ra gần như ngay lập tức và kéo dài

Dịch bệnh xảy ra, đặc biệt là những dịch bệnh có nguy cơ lây nhiễm toàn cầu làm sụt giảm nhanh chóng dẫn tới giảm doanh thu, giảm lợi nhuận, cắt giảm việc làm… trong ngành du lịch Dịch SARS năm 2003 chỉ diễn ra trong đỉnh điểm 3 tháng với khuyến cáo hạn chế đi lại của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhưng đã làm

Trang 7

cho doanh thu của ngành du lịch tại Hồng Kông giảm 41%, Trung Quốc giảm 25%, Singapore giảm 43%, Việt Nam giảm 15% trong năm 2003 Số việc làm trong ngành du lịch của các nước trên giảm theo thứ tự là 27.000, 2,8 triệu, 17.500 và 62.000 việc làm ( WTTC, 2003) Tác động của SARS 2003 còn kéo dài từ 1 -2 năm tại các nước chịu tác đông trực tiếp tiếp (Global Rescue & WTTC, 2019) Tác động của dịch bệnh lên cả cung và cầu du lịch

Tác động đối với nhu cầu du lịch xảy ra gần như ngay lập tức khi dịch bệnh xảy ra, tăng theo mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh và kéo dài sau dịch bệnh Ảnh hưởng của dịch bệnh từ cả góc độ tâm lý khách du lịch lo ngại về an toàn cho mình cũng như chính sách hạn chế đi lại của các quốc gia gửi khách và nhận khách (Cooper, 2005) Bệnh dịch cũng ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển kinh tế nói chung, làm giảm thu nhập của người dân, dẫn tới giảm khả năng chi tiêu cho du lịch

Tác động của dịch bệnh khác nhau với các thị trường, phụ thuộc các đặc điểm tâm lý, hành vi, điều kiện kinh tế, vị trí địa lý Tâm lý ứng phó của con người đối với các bệnh dịch cũng có xu hướng thay đổi theo hướng thích nghi hơn với điều kiện thực tế Điều này gợi ý cho các điểm đến du lịch cần có định hướng rõ ràng và hiệu quả hơn đối với từng đoạn thị trường phù hợp với mình trong các thời điểm khác nhau của dịch bệnh (Au & cộng sự, 2004; GlobalRescue & WTTC, 2019).Cung du lịch cũng có thể bị tác động ngay lập thức khi các nước áp dụng chính sách hạn chế thậm chí là tạm dừng kinh doanh dịch vụ du lịch để đối phó với dịch bệnh Không có doanh thu, các doanh nghiệp du lịch phải nhanh chóng thực hiện các biện pháp như cắt giảm lao động, kinh phí marketing (Pine & McKercher, 2004; Global Rescue & WTTC, 2019) Điều này dẫn tới những tác động lâu dài đối với các doanh nghiệp và ngành du lịch sau dịch bệnh do thiếu lao động, đứt gẫy hệ thống cung cấp, gián đoạn hệ thống phân phối… Đầu tư trong lĩnh vực du lịch cũng

có nguy cơ sụt giảm mạnh (Chen & cộng sự 2007) ảnh hưởng tới sự phát triển dài hạn trong ngành du lịch

Nhìn chung, mức độ ảnh hưởng của bệnh dịch tới ngành du lịch phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng, phạm vi và thời gian kéo dài của bệnh dịch Thời gian để ngành du lịch phục hồi lại bình thường với các dịch bệnh có ảnh hưởng toàn cầu là hàng năm Gần đây nhất, với dịch SARS 2003, các nước chịu ảnh hưởng nhiều phải mất tới 2 năm để khôi phục ngành du lịch (Global Rescue & WTTC, 2019) So với dịch Covid-19, phạm vi và mức độ tác động của SARS 2003 nhỏ hơn nhiều Dịch SARS 2003 chỉ xảy ra trong phạm vi hẹp, chủ yếu là ở Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và trong thời gian được xác định là 3 tháng (Pine & McKercher, 2004) Trong khi đó dịch Covid-19 đã lan ra toàn cầu với một loại virus hoàn toàn mới, chưa có vắc-xin phòng bệnh Theo Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh

Mỹ, phải đến đầu năm 2021 mới có khả năng có vắc-xin phòng bệnh này (CDC, 2020) Virus Covid-19 còn được xem là nguy hiểm hơn vì có khả năng lây bệnh nhanh chóng Những đặc tính của dịch bệnh Covid-19 không những hạn chế nhu cầu của khách du lịch mà còn gây thái độ nghi ngại, thậm chí từ chối đón tiếp khách khách du lịch từ ngưởi dân địa phương Du lịch là một ngành kinh tế mang tính cộng đồng Tác động của Covid-19 sẽ rất lớn tới cả cung và cầu du lịch, nhất là khi

nó kéo dài

Trang 8

4.1 Thực trạng du lịch Việt Nam thời kỳ Covid-19:

Thực tế cho thấy trước khi xuất hiện đại dịch Covid 19 du lịch là một trong những ngành phát triển năng động nhất dựa trên cơ sở phát huy nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và mức giá dịch vụ cạnh tranh Ngành du lịch đã đóng góp không nhỏ vào tốc độ phát triển GDP và giải quyết việc làm Tuy nhiên, ngành du lịch đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid 19, theo số liệu thống kê lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2020 ước tính đạt 449,9 nghìn lượt người giảm 63,8%

so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 62,3%; bằng đường bộ giảm 65,9%; bằng đường biển giảm 83,6% So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng 3 giảm 68,1%, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 65,7%; bằng đường bộ giảm 77,9% và bằng đường biển giảm 55,2%; khách đến từ châu Á giảm 77,2%; từ châu Âu giảm 27,5%; từ châu Úc giảm 49,9%; từ châu Mỹ giảm 67,9% và từ châu Phi giảm 37,8%

Tính chung quý I/2020, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 3.686,8 nghìn lượt người, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước Trong đó: Khách đến bằng đường hàng không đạt 2.991,6 nghìn lượt người - chiếm 81,1% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 14,9%; bằng đường bộ đạt 551,1 nghìn lượt người - chiếm 15%

và giảm 39,4%; bằng đường biển đạt 144,1 nghìn lượt người - chiếm 3,9% và tăng 92,1% Các sơ sở lưu trú phải đóng cửa, nhân viên ngành du lịch thất nghiệp Công suất hoạt động các cơ sở lưu trú giai đoạn này chỉ đạt 20 - 30% so với cùng kỳ năm

2019 Các khách sạn trên khắp các tỉnh, thành cả nước lần lượt tuyên bố đóng cửa ít nhất đến hết 30/4 Chính điều này khiến nhân lực ngành du lịch bị việc làm, các công ty, khách sạn, nhà hàng lần lượt phải cắt giảm biên chế đến 60% Đối với các công ty đa quốc gia thậm chí còn giảm 4/5 số lượng nhân viên Ít nhất cho đến hết tháng 6/2020, hơn 80% nhân sự không có việc làm Nếu tình hình khó khăn hơn thì tình trạng thất nghiệp chắc chắc cũng kéo dài hơn Doanh thu từ ngành du lịch lữ hành quý I ước tính đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng mức và giảm 27,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,2%) Lý do là nhiều địa điểm tham quan du lịch phải ngừng hoạt động, một lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế đã hủy tour du lịch do lo ngại dịch bệnh Một số địa phương có doanh thu

du lịch lữ hành quý I giảm so với cùng kỳ năm trước như: Thanh Hóa giảm 49,9%;

Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 48,3%; Quảng Ninh giảm 47,1%; Khánh Hòa giảm 43,9%;

TP Hồ Chí Minh giảm 39,9%; Bình Định giảm 24,4%; Đà Nẵng giảm 19,5%; Hà Nội giảm 18,7%; Hải Phòng giảm 14,9%

Trước tình hình này, cần phải có giải pháp để ngành du lịch sống chung với dịch, tổ chức đón khách đến một cách an toàn, có trách nhiệm Giải quyết được bài toán hỗ trợ doanh nghiệp và hàng trăm nghìn nhân lực du lịch trong thời gian ảnh hưởng bởi dịch bệnh Việt Nam cần truyền thông, cập nhật về các hoạt động tổng vệ sinh các cơ sở lưu trú, các phương án cách ly chống lây lan, các biện pháp khử trùng phương tiện, nơi ở, các hình thức phạt nặng với khách khai báo gian dối về nơi xuất phát từ vùng dịch, các hình thức đảm bảo sức khỏe cho khách, cho nhân viên ngành

du lịch và cộng đồng để truyền đi thông điệp về "Du lịch Việt Nam an toàn"

4.2 Xu hướng du lịch Việt Nam hậu Covid 19

Trang 9

Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố cho thấy lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3 giảm đến 68% so với cùng kỳ năm ngoái, đưa tổng lượt khách của cả quý I đạt 3,7 triệu, giảm hơn 18% so cùng kỳ Kết quả quý II dự kiến còn tồi tệ hơn khi toàn ngành du lịch gần như tê liệt do tình trạng cách ly xã hội để phòng ngừa dịch bệnh Tới thời điểm hiện tại, vẫn chưa thể xác định được thời điểm nào ngành du lịch Việt Nam được vực dậy Tuy vậy có một điều chắc chắn rằng ngành du lịch sẽ thay da đổi thịt "Những hệ luỵ của dịch bệnh lên tâm lý và kinh tế

sẽ tạo ra một số xu hướng mới trong việc lập kế hoạch, lựa chọn và tổ chức những chuyến đi du lịch của minh như: An toàn là trên hết: Tâm lý sợ nhiễm bệnh vẫn sẽ đeo bám, do đó yếu tố sự an toàn cũng như thông tin về trình độ y tế và khả năng hỗ trợ sức khoẻ của điểm đến sẽ là một trong những yếu tố quan trọng giúp du khách quyết định điểm đến Sự an toàn chính là lợi thế của du lịch Việt Nam hậu Covid19 Tính hiệu quả trong phòng chống cũng như chữa trị được minh chứng cho du khách

về sự an toàn của Việt Nam Ưu tiên các điểm đến gần và chuyến đi ngắn ngày: Xu hướng này là hệ quả của ba cái khó tồn tại trên ngành du lịch hiện tại: ngành hàng không tê liệt, tâm lý sợ dịch bệnh và khó khăn tài chính của du khách Giúp bảo đảm các yếu tố an toàn sức khoẻ, tiết kiệm ngân sách, giảm thiểu rủi ro và chủ động hơn trong các tình huống bất ngờ Xét cơ cấu tỉ trọng, khách du lịch trong nước chiếm khoảng 82,5% tổng lượng khách năm 2019 Vậy nên xu hướng lựa chọn đến các địa điểm gần sẽ một yếu tố có lợi cho quá trình hồi phục của du lịch Việt Nam Nhạy cảm với giá: Khi dịch bệnh tàn phá nền kinh tế, kế sinh nhai của hàng triệu người cũng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng Giữa tháng Tư vừa qua, Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) đã giảm dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay xuống còn 2,7% từ mức 7% đưa ra vào tháng 1.2020 Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng cảnh báo hơn 22 triệu lao động Việt Nam đang làm việc trong những lĩnh vực phải đối diện với thách thức lớn để duy trì lực lượng lao động trong và sau dịch Đây cũng là tình trạng chung của thế giới, khi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo -3% cho năm 2020, theo IMF; và 195 triệu việc làm toàn thời gian sẽ biến mất trong quý II.2020, theo ILO

Viễn cảnh ảm đạm này sẽ khiến cư dân toàn cầu có xu hướng thắt chặt hầu bao và chi tiêu tiết kiệm hơn "Điều này sẽ ảnh hưởng tới ngành du lịch và khả năng

ưu tiên chi tiêu của người dân cho hoạt động du lịch”, Outbox nhận định, đồng thời cho biết du khách sẽ có xu hướng lựa chọn các điểm đến có các sản phẩm trọn gói với giá ưu đãi để vừa giải toả tâm lý sau dịch nhưng vẫn bảo đảm việc tiết kiệm chi phí

4.3 Ứng phó với dịch bệnh Covid 19

Kinh nghiệm của những lần khủng hoảng bệnh dịch trước đây cho thấy tầm quan trọng của các chính sách ứng phó của các quốc gia, các doanh nghiệp đốivới việc phục hồi của ngành du lịch (Global Rescue& WTTC, 2019; Au & cộng sự, 2004; Gu & Wall,2006; Cooper, 2005) Đứng trước các đe dọa của dịch bệnh với ngành du lịch, các nước có phản ứng khá giống nhau theo các bước từ kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh đến từng bước phục hồi ngành du lịch, tạo lập lại niềm tin đối với khách du lịch quốc tế (Global Rescue & WTTC, 2019) Tuy vậy, một số chiến

Trang 10

thuật khác cũng được áp dụng như tạo lập hình ảnh quốc gia kiểm soát được dịch bệnh ngay trong và sau dịch nhằm tạo niềm tin cho khách du lịch mà Nhật Bản đã làm trong dịch SARS năm 2003 (Cooper, 2005) Các giải pháp ứng phó cũng cần được xây dựng trên phạm vi quốc gia do tính chất bao trùm của ngành du lịch

Trước tác động nghiêm trọng của dịch bệnh các doanh nghiệp đã có những hành động ứng phó ngay Tuy vậy trong dài hạn hơn các giải pháp chưa thật sự rõ ràng Trong ngắn hạn, các giải pháp tập trung vào việc cắt giảm chi phí Các giải pháp như dừng cung cấp một số dịch vụ, thực hiện chính sách nhân sự hợp lý, cắt giảm chi phí kinh doanh nói chung, tái cơ cấu khoản nợ của doanh nghiệp được trên 50% các doanh nghiệp thực hiện ngay hiện tại

Trong 3, 6, 12 tháng nữa, xu hướng các doanh nghiệp chuyển dần sang điều chỉnh chính sách kinh donh như: điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, sắp xếp lại thị trường,

cơ cấu lại hệ thống cung cấp và khoản vay trong giai đoạn 12 tháng tới 5 Xu hướng truyền thông marketing trong ngành du lịch hậu Covid 19

Đại dịch Covid 19 đang tàn phá nền kinh tế Trong 3 tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 bùng phát tác động đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Các ngành chức năng và cộng đồng doanh nghiệp nước ta đã tích cực chung tay, nỗ lực kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh Tuy nhiên, dịch Covid-19 đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế, và nạn nhân số 1 không ai khác là ngành du lịch Trước tình hình đó, ngành du lịch đã điều chỉnh chiến dịch truyền thông – marketing

phù hợp với xu hướng hậu Covid-19:

Sử dụng Digital Marketing, đây là một trong những phương pháp tiếp cận thị trường kinh doanh thành công nhất hiện nay, sự phát triển của Digital marketing dường như càng được nhân đôi nhanh chóng bởi sự phát triển mở rộng của phương tiện truyền thông kỹ thuật số trong tất cả các khía cạnh của đời sống thường nhật –

từ Email đến mạng xã hội, các thiết bị di động và máy tính bảng – thế giới kỹ thuật

số đang thống trị thế giới thực

Du Lịch là một trong những ngành được hưởng lợi từ các phương thức Digital marketing, cũng giống như những ngành khác, Digital marketing trong ngành du lịch đã phát triển khá mạnh trong những năm gần đây Và công cụ để giúp Digital marketing thành công đó là:

Search engine marketing: Một nghiên cứu của Google với Ipsos MediaCT

cho thấy 65% khách đi du lịch thư giãn bắt đầu tìm kiếm địa điểm du lịch trên mạng… mà không có sẵn chủ định nào trong đầu, cũng không biết nên đi lại bằng phương tiện nào Vì thế, tìm kiếm trực tuyến đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình ra quyết định của người dùng vì thế các doanh nghiệp ngành du lịch cần phải

có đội ngũ nhân sự có chuyên môn về SEO ứng dụng vào website của doanh nghiệp

Social Media Marketing: Ngày nay trong thế giới trực tuyến và siêu kết nối,

các thương hiệu không thể bỏ qua social media vì đó là một khía cạnh trong chiến lược digital marketing Nghiên cứu cho thấy hầu hết mọi người ngày nay sử dụng trang web cho social và sử dụng 30% thời gian để online mạng xã hội Để khai thác cộng đồng thế giới rộng lớn này, các nganhd du lịch thiết lập tương tác và duy trì sự

Ngày đăng: 06/10/2021, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w