Phân tích sự phát triển của ngành gạo với mối liên kết theo chuỗi giá trị làm rõ hơn sự tham gia các thành phần trong chuỗi, nhận dạng những điểm mạnh, yếu các tác nhân tham gia nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh. Vai trò của thương lái, bộ phận trung gian đã có mặt hầu như xuyên suốt trong chuỗi, một mặt nói lên tính linh hoạt, khả năng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nhưng mặt khác cũng làm cho giao dịch thêm nhiều tầng nấc. Quá trình phát triển của ngành lúa gạo đi đôi với hình thành cụm ngành lúa gạo xuất khẩu lớn của cả nước đó là vùng ĐBSCL. Sự xuất hiện các cụm ngành tập trung nhỏ hơn với hạt nhân là các nhà máy lau bóng gạo và thực hiện công đoạn cuối (logictisc) trong vùng ĐBSCL đã cải thiện thêm một bước tình trạng xuất khẩu gạo của VN trong các năm 90.
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÁO CÁO MÔN HỌC QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
ĐỀ TÀI: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI TIẾN CHUỖI GIÁ TRỊ CHO LÚA
GẠO VIỆT NAM
Trang 2Tóm tắt
Lịch sử của việc xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam đã có từ 100 năm trước nhưng trải qua nhiều biến động, gián đoạn Nghiên cứu này đề cập đến việc xuất khẩu từ sau năm
1975, năm Việt Nam thống nhất đất nước Việt Nam chính thức xuất khẩu gạo trở lại từ năm 1989 và duy trì liên tục cho đến nay Trong 21 năm, tổng lượng gạo xuất khẩu khoảng 77 triệu tấn, với trị giá gần 22 tỉ USD Xuất khẩu gạo đã làm thay đổi mức giá, thay đổi cơ chế thu mua lương thực của những năm 80, mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân Nhờ đó nghề trồng lúa đã phát triển mạnh mẽ có mức gia tăng trung bình 5,5% trong suốt thập niên 90 Xuất khẩu gạo VN đã có những đóng góp quan trọng vào kinh tế đất nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tham gia vào an ninh lương thực toàn cầu, là một trong 10 mặt hàng chính có kim ngạch xuất khẩu lớn của
VN trong nhiều năm qua
Phân tích sự phát triển của ngành gạo với mối liên kết theo chuỗi giá trị làm rõ hơn sự tham gia các thành phần trong chuỗi, nhận dạng những điểm mạnh, yếu các tác nhân tham gia nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh Vai trò của thương lái, bộ phận trung gian
đã có mặt hầu như xuyên suốt trong chuỗi, một mặt nói lên tính linh hoạt, khả năng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nhưng mặt khác cũng làm cho giao dịch thêm nhiều tầng nấc Quá trình phát triển của ngành lúa gạo đi đôi với hình thành cụm ngành lúa gạo xuất khẩu lớn của cả nước đó là vùng ĐBSCL Sự xuất hiện các cụm ngành tập trung nhỏ hơn với hạt nhân là các nhà máy lau bóng gạo và thực hiện công đoạn cuối
(logictisc) trong vùng ĐBSCL đã cải thiện thêm một bước tình trạng xuất khẩu gạo của
VN trong các năm 90
Trang 31 Chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu
Mối liên kết trong chuỗi giá trị lúa gạo
Chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL là một hệ thống kết nối các phân khúc từ cung cấp đầu vào, trồng trọt (và thu hoạch), chế biến (xay xát, lau bóng), phân phối và tiêu thụ cuối cùng Các tác nhân tham gia bao gồm: Nông dân, thương lái, nhà máy xay xát, các công ty cung ứng, công ty xuất khẩu, mạng lưới bán sĩ, bán lẻ Tham gia vào chuỗi còn
có các ngành có liên quan, các dịch vụ, cơ sở hạ tầng và thể chế hỗ trợ
Hình 1: Chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu
Nguồn: Tác giả
Sơ đồ dưới đây mô tả mối liên hệ trong chuỗi giá trị lúa gạo đi từ người nông dân trồng lúa đến khâu xay xát, chế biến, xuất khẩu trong mối liên hệ với các yếu tố thể chế và các ngành liên quan
Đầu vào
Tr ồng trọt, Thu hoạch Chế biến ( xay xát, lau
bóng)
Công ty XK, Cty cung ứng Xu ất khẩu
Bán l ẻ Thương lái
Trang 4Điểm yếu nhất trong chuỗi là những người trồng lúa
Đó là một tập hợp rời rạc của hàng triệu nông hộ sản xuất trên mảnh ruộng của mình Vùng ĐBSCL, nơi chiếm ½ sản lượng lúa, có gần 2 triệu hộ với gần 2 triệu ha đất canh tác
Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mưa bão, lũ lụt nên nông dân trở thành nhóm sản xuất rất dễ bị tổn thương Biến đổi khí hậu là vấn đề lớn và họ cũng là những người bị tác động rất mạnh Thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro, giao thông
đi lại khó khăn, thiếu vốn, thiếu tài sản, trình độ học vấn thấp và thiếu khả năng tiếp cận tín dụng Nông dân là người chịu tác động mạnh nhất khi các yếu tố đầu vào tăng giá, họ cũng là nạn nhân của sự lạm phát tăng vọt Khi giá lúa tăng, họ cũng không phải là người được hưởng lợi trọn vẹn, nhưng khi giá lúa sụt giảm thì thiệt hại của họ lại rất lớn
Để bảo vệ nông dân trước những khó khăn trên Chính phủ thường xuyên theo dõi sát sao hoạt động xuất khẩu lúa gạo và diễn biến thị trường để có những chính sách ứng phó hỗ trợ
Thương lái
Thương lái là một từ chung để chỉ một nhóm kinh doanh lúa gạo với đặc điểm là hộ kinh doanh gia đình, phương tiện kinh doanh chính cũng là phương tiện vận chuyển chủ yếu là xuồng, ghe trọng tải nhỏ (từ một vài tấn đến 100 tấn hàng), dựa vào vốn của gia đình hoặc vay mượn khác Họ đi đến khắp các thôn xóm mua lúa của nông dân chuyên chở đến các nhà máy xay xát Sau đó họ lại chuyên chở số gạo đã xay xát (thường chỉ bóc tách vỏ trấu) đến các cơ sở lau bóng lúa gạo Hơn 95% lúa gạo do nông dân làm ra được thương lái mua và vận chuyển đến các nhà máy xay xát, cơ sở lau bong, sau đó giao lại các công ty kinh doanh Các công ty xuất khẩu mua lại từ các nhà cung cấp trung gian khoảng 70% trong tổng số gạo xuất khẩu
Thương lái trong ngành lúa gạo ở ĐBSCL đã xuất hiện từ rất sớm do đặc điểm mạng lưới sông rạch chằng chịt và giao thông chủ yếu dựa vào mạng sông rạch này Thương lái phát triển về sau này khi hoạt động xuất khẩu nhiều hơn cần những người chuyên thu mua, vận chuyển và giao hàng đến các nhà máy, các công ty phục vụ cho xuất khẩu
và cho thị trường nội địa Kết quả của 20 năm liên tục xuất khẩu lúa gạo, chứng tỏ đây
là một chuỗi khá bền vững và thương lái đã là một thành phần đóng góp trong đó
Do hoạt động này, người nông dân ngày càng tách rời với các nhà xuất khẩu, các nhà xuất khẩu thì cũng chẳng có mối quan hệ gì với nông dân Thương lái đã trở thành lực lượng trung gian, nắm được thông tin và mối quan hệ ở cả 2 đầu nên đã trở thành lực lượng không thể thiếu trong tổ chức vận hành như của thị trường lúa gạo ở VN hiện nay
Nhà máy xay xát
Bao gồm các nhà máy xay xát, thực hiện công đoạn bóc tách vỏ trấu, chà xát, làm trắng gạo và cung cấp cho thị trường nội địa Một số nhà máy chỉ thực hiện công đoạn bóc tách vỏ trấu, việc làm trắng gạo và đấu trộn gạo xay xát với tấm do các cơ sở lau bóng lúa gạo thực hiện để cung cấp cho các công ty xuất khẩu Các cơ sở này lau bóng thường nằm trong một công ty cung ứng xuất khẩu gạo
Trang 5Nhà máy xay xát đóng vai trò hạt nhân kết nối 2 đầu là bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc xuất khẩu gạo trước năm 1975 (năm VN thống nhất) Từ khi công đoạn lau bóng gạo và đấu trộn tấm tách khỏi nhà máy xay xát, ngày nay, nhà máy chỉ đóng vai trò nhà trung gian chuyển hóa từ lúa thành gạo, người chủ của nó chỉ đơn giản với việc thu tiền gia công từ xay xát, bóc tách vỏ trấu Thương lái vào lúc đầu chỉ là những người “hàng xáo” nhỏ đi mua gom lúa về xay xát để bán ra chợ kiếm lời, nay đã trở thành lực lượng chi phối lấn át vai trò của các nhà máy
Các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam
Bao gồm (i) các công ty xuất khẩu gạo và các công ty cung ứng gạo xuất khẩu Các công ty xuất khẩu là người giao dịch, ký kết hợp đồng, thực hiện các qui trình xuất khẩu gạo ra nước ngoài Hầu hết các công ty này hiện nay là hội viên của VFA Các công ty xuất khẩu này mua lại gạo từ các công ty cung ứng Các công ty cung ứng gạo cho các công ty xuất khẩu nắm trong tay cơ sở kho tàng, thiết bị lau bóng gạo, thực hiện công đoạn cuối bao gồm làm sạch gạo, tách màu, đấu trộn tấm, bao bì, đóng gói, các dịch vụ giao hàng tới tàu để xuất khẩu
So với thương lái, nông dân và các nhà máy, các công ty xuất khẩu vượt trội hơn về trình độ tổ chức, hiểu biết thị trường tâm lý khách hàng bởi họ có bộ máy tổ chức tốt hơn, đội ngũ nhân viên thành thạo hơn Các công ty kinh doanh có tài sản, hệ thống kho hàng và họ mạnh hơn các thành phần còn lại trong chuỗi ở khả năng tiếp cận vốn Việc tiếp cận nguồn vốn lớn đã là thế mạnh, lại có thêm nhiều ưu đãi khi được rót vốn với lãi suất thấp, thậm chí là rất thấp ở thời điểm mua tạm trữ Với những ưu thế đó, các công ty kinh doanh đã có được ưu thế rất mạnh trong đàm phán với các nhà cung cấp là thương lái, nông dân và các nhà máy Các công ty, đặc biệt là các công ty xuất khẩu có thể thông qua mối quan hệ thông tin lẫn nhau, qua sự vận hành của Hiệp hội lương thực (VFA)
2 Chiến lược cải thiện chuỗi
Cải thiện năng lực cạnh tranh lúa gạo xuất khẩu phải dựa trên nền tảng đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống và vai trò của VN đóng góp vào
an ninh lương thực toàn cầu Theo đó cần duy trì quỹ đất tối thiểu để đảm bảo sản xuất theo mục tiêu năng suất Các giải pháp chống đỡ và thích ứng biến đổi khí hậu, hỗ trợ nông dân và đảm bảo sự hưởng lợi của nông dân, tăng cường các hoạt động nghiên cứu, gia tăng đầu tư nông nghiệp và khu vực nông thôn Trong vấn đề lúa gạo cần nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của ĐBSCL trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đóng góp an ninh lương thực toàn cầu để có chương trình đầu tư thích hợp cho ĐBSCL nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững
Trước mắt nhằm giành lợi thế ở ngành gạo cần tập trung vào 2 điểm chính về tín dụng cho nông dân, dự trữ đảm bảo an ninh lương thực
Sự khác biệt hiện nay so với thập niên trước ở chỗ tín dụng cần được cung cấp cho nông dân để giúp họ cải thiện tình trạng phải bán gấp lúa trả nợ tại thời điểm thu hoạch Nguồn tín dụng này sẽ là một phần cho sự dự trữ ngắn hạn của hàng triệu nông
hộ sẽ làm lợi cho họ và cũng có lợi cho xuất khẩu gạo của Việt Nam
Trang 6Chính sách hiện nay đang khuyến khích việc đầu tư xây kho của tổng công ty lương thực và các công ty xuất khẩu Nhưng việc đầu tư, xây kho như đã nói có thể trở thành gánh nặng chi phí một khi vượt quá nhu cầu Hàng chục nghìn tỉ đồng đưa ra để xây kho, cũng phải cần nhiều hơn ngần ấy tiền cho việc thu mua dự trữ Rủi ro cho các công ty đầu tư nhiều kho hàng cũng không phải là nhỏ khi việc xuất khẩu đến ngày nào
đó có thể không còn nhiều như hiện nay
Vấn đề cần quan tâm là cải thiện năng lực kinh doanh của các nhà xuất khẩu và các nông dân Thay vì tập trung cao độ việc xây kho vào các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu, thì nên dành một phần nguồn lực giúp cải thiện năng lực của những nông dân về tài sản và dự trữ Các công ty xuất khẩu đang là khâu yếu trong việc nâng tầm lúa gạo
VN trên thị trường thế giới do quá nhiều năm kinh doanh trong thế độc quyền và hỗ trợ của chính phủ cần được thay đổi
Cải thiện cơ chế tín dụng
Trở ngại về tín dụng cho các công ty xuất khẩu đã được giải quyết từ nhiều năm trước Hiện tại các công ty xuất khẩu đả trở thành khách hàng ưu tiên của các ngân hàng Vấn
đề tín dụng trong thời gian tới là với nông dân để họ giảm bớt áp lực phải bán lúa ngay sau khi thu hoạch Điều này giúp họ bớt thiệt thòi, đồng thời điều hòa cung cầu thị trường trong nước và hoạt động xuất khẩu
Dự trữ lúa gạo để cải thiện năng lực cạnh tranh và vấn đề của an ninh lương thực quốc gia
Dự trữ lúa gạo của Việt Nam trong nhiều năm qua phần lớn là dự trữ trên khâu lưu thông nên không đủ sức ổn định thị trường và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đề phòng những trường hợp bảo lũ, thiên tai nhất là với vùng ĐBSCL
Việt Nam cần có hệ thống dự trữ hữu hiệu đáp ứng nhu cầu của 100 triệu dân ăn gạo trong thập kỷ tới Hệ thống dự trữ này là cần thiết cho sự bình ổn thị trường trong nước
và góp phần điều hòa lương thực của thị trường thế giới Đó cũng là cách Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở một ngành mà Việt Nam có nhiều điểm mạnh Nhưng xây dựng nhiều kho dự trữ cũng có thể trở thành gánh nặng bởi chi phí xây dựng hết sức tốn kém, chi phí cho thu mua dự trữ bảo quản Việc xây dựng kho hàng sẽ được cân nhắc và thực hiện theo khả năng tài chính và đảm bảo tính linh hoạt cho hoạt động kinh doanh lúa gạo Dự trữ thực hiện ở 3 cấp độ: dự trữ ngắn hạn từ 2 đến 3 tháng chủ yếu ở hộ nông dân; dự trữ từ 6 đến 12 tháng chủ yếu do các công ty kinh doanh, và dự trữ của nhà nước từ 1 năm đến 3 năm
Tăng giá lúa và những cải thiện phúc lợi cho nông dân
Hình bên dưới là chuỗi giá trị lúa gạo với thành phần giá trị gia tăng từ khâu ban đầu là giá tại ruộng lúa đến giá giao hàng tại cảng cho thấy phần giá trị gia tăng của nông dân
là lớn nhất, phần của thương lái không nhiều Nhưng nông dân cũng không thể làm giàu vì bình quân đất canh tác trên mỗi nông hộ thấp Phần lợi nhuận biên trên một đơn
vị của thương lái rất thấp, nhưng doanh số của họ lớn, họ hoạt động quanh năm, khác với người nông dân chỉ trông chờ vào vụ thu hoạch mà nhiều nhất cũng chỉ được 3 vụ trong một năm
Trang 7Hình 2: Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu
Nguồn: Tác giả thu thập xử lý trong vụ hè thu Giá xuất FOB, tháng 9,10 năm 2009 qui đổi ra VNĐ
Không phải các nhà máy xay xát, không phải công ty xuất khẩu, mà nông dân mới là nhân vật chính trong chuỗi xuất khẩu Họ cũng là người quyết định khả năng duy trì sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Các chính sách cần chú ý nhiều hơn đến việc cải thiện điều kiện canh tác, điều kiện sống và làm việc của nông dân và gia đình nông dân
Hỗ trợ nông dân
Sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, Chính phủ triển khai chương trình hỗ trợ cho nông dân đầu tư mua sắm máy móc, nông cụ với lãi suất gần như bằng không Chính phủ cũng đang xem xét chương trình đầu tư nâng cấp trong khu vực nông thôn, đào tạo huấn luyện cho người nông dân cập nhật kỹ thuật canh tác, kiến thức kinh doanh, hoạt động khởi sự doanh nghiệp, tiếp cận thông tin, internet khu vực nông dân Các chương trình này đã có tác dụng Các nỗ lực sau thu hoạch, hệ thống phơi sấy đã làm gia tăng lượng gạo thương phẩm ra thị trường trong 3 năm gần đây có một phần tư những hỗ trợ của chính phủ
Việc cung cấp thông tin kịp thời cũng giúp nông dân hiểu biết diễn biến giá thị trường
và ra quyết định mua bán thích hợp tránh thiệt hại cho họ và cho quốc gia
Thận trọng mở cửa với các công ty nước ngoài trực tiếp mua bán với nông dân
Nông dân cũng là người thua thiệt trong nắm bắt thông tin so với thương lái, nên họ cũng là người thua thiệt nhiều khi ra quyết định mua bán
Là những người sản xuất rời rạc nên khả năng thương lượng, mặc cả của nông dân với thương lái dễ dàng bị thua thiệt Nhưng kỳ vọng về việc nông dân bán lúa trực tiếp cho công ty xuất khẩu sẽ thu lợi nhiều hơn chỉ là một giả thuyết dựa trên suy luận giản đơn
là do bỏ khâu trung gian Nhưng công ty là một tổ chức mà trình độ của họ hơn hẳn so
Giá tr ị gia t ăng trong chu ỗi lúa g ạo xu ất kh ẩu
4100+50
4250+100
4700
$ bao g
100 ồm:
V ận chuy ển, b ốc xếp, lãi vay, chi phíkhác,
$ bao 100 gồm: V ận chuy ển, ti ền công, hao hụt, kh ấu hao, lãi vay, chi phíkhác, lợi nhu ậ n
$ Bao 350 gồm: v ận chuy ển, b ốc xếp, hun trùng, bao bì, v ận chuy ển, b ảo
hi ểm, lãi vay,chi phí khác, chi phí của cty XK
1000
50
100
VN Đ /kg Giáxu ất FOB tháng 10,11 n ăm 2009
Giábán FOB cao g ấp t ừ 1.8 -2 ,2 l ần giát ại đồ ng
4000+100
4150+100
tạ i
4350+350
150-250 FOB: 4800 -4900
Trang 8với thương lái, hoạt động của họ cũng nhằm tìm kiếm lợi nhuận Nếu có thể mua được trực tiếp từ nông dân thì với khả năng đàm phán, mặc cả của họ cũng không có gì là chắc chắn nông dân sẽ được hưởng lợi từ đây Đây là vấn đề thuộc về năng lực cạnh tranh và sức mạnh của mỗi bên khi đàm phán, thương lượng hợp đồng
Xét từ góc độ lý thuyết cạnh tranh thì nông dân trong mối quan hệ trực tiếp với các công ty xuất khẩu cũng chưa chắc có lợi nếu như chưa có được thể chế để bảo vệ Điều này cũng đưa đến suy luận rằng mở cửa sớm thị trường lúa gạo cho các công ty nước ngoài vào và thiết lập quan hệ trực tiếp với nông dân trong bối cảnh Việt Nam chưa có kinh nghiệm và chưa có thể chế đủ mạnh cho sự cạnh tranh và chế tài thì nông dân vẫn
là người dễ bị thua thiệt Các công ty nước ngoài hoàn toàn có khả năng thực hiện chiến lược cạnh tranh về giá (với giá cao) và những tài trợ phúc lợi công cộng trong những năm đầu tiếp cận thị trường Nhưng khi đã nắm được chuỗi cung ứng, tổ chức được thị trường và loại bỏ đối thủ cạnh tranh là các công ty trong nước, họ có thể thực hiện một chiến lược khác lợi hay hại là điều chưa thể biết được Nếu là bất lợi, lúc đó cũng đã ở vào tình thế khó lấy lại được
Để cho người trồng lúa ít thua thiệt là làm cho người nông dân có trình độ hơn trong kinh doanh Họ cần được học về quản trị kinh doanh, biết sử dụng máy tính để truy tìm thông tin, biến động thị trường và năng lực dự báo, thậm chí là từ việc lúa mì lên giá cho đến bão lụt ở một nơi xa xôi nào đó của các quốc gia tiêu dùng lúa gạo Nếu nông dân được học, hiểu biết nhiều hơn về kinh doanh, về quản trị họ sẽ nhận thấy được lợi ích do công nghệ thông tin mang lại cho quản lý đồng ruộng, tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất Lúc đó sẽ có sự thay đổi về chất trong nông nghiệp, nông thôn Các công ty xuất khẩu nên đi đầu trong việc đầu tư này nếu muốn hưởng lợi một cách bền vững nhờ vào hoạt động kinh doanh lúa gạo, nếu muốn thể hiện trách nhiệm mình trước câu hỏi vì sao Việt Nam xuất khẩu gạo nhiều nhưng thu nhập của nông dân trồng lúa vẫn thấp
Nâng cấp cụm ngành lúa gạo
Gạo xuất khẩu của Việt Nam trong những năm đầu chủ yếu là loại 35% và 25% tấm Với loại gạo 5% khi có yêu cầu của khách hàng lúc đó gần như là không thể đáp ứng Các nhà máy xay xát trước khi có hoạt động xuất khẩu đã trong tình trạng hết sức bệ rạc, xuống cấp chỉ xay xát đáp ứng nhu cầu gạo nội địa phẩm cấp thấp Chính nhu cầu xuất khẩu đã thúc đẩy đầu tư cải thiện chất lượng gạo
Từ những dây chuyền thiết bị nhập khẩu trong các năm 89-90, những kỹ sư cơ khí Việt Nam đã tìm cách tiếp cận qui trình công nghệ và cải tiến cho phù hợp với điều kiện của VN
Các thiết bị được chế tạo trong nước có giá rẻ hơn, thuận lợi trong lắp ráp và bảo hành
đã đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư tư nhân tạo nên một phân khúc mới trong ngành xay xát đó là hoạt động đánh bóng gạo, đấu trộn tấm cung cấp cho các nhà xuất khẩu Và hoạt động này có thể tách rời khỏi các nhà máy xay xát lúa gạo trước đây Trước khi có những cụm thiết bị mới, việc làm ra loại gạo xuất khẩu 35% hay 25% là
do các nhà máy xay xát thực hiện Qui trình vận hành của nhà máy xay xát đòi hỏi diện tích đất lớn, xa khu dân cư do tiếng ồn và ô nhiễm Các cơ sở lau bóng gạo lại cần nằm
Trang 9ở những vùng thuận lợi giao thông thủy, bộ dễ dàng cho việc tiếp nhận và vận chuyển hàng đi xa, không đòi hỏi diện tích đất rộng và có thể nằm gần khu dân cư
Chính điều này đã xuất hiện một số cụm ngành gạo phục vụ xuất khẩu trong các năm 94-95 trong vùng ĐBSCL, đầu tiên là ở tỉnh Tiền Giang sau đó là Đồng Tháp, Sóc Trăng và Cần Thơ Hạt nhân của cụm ngành này là các cơ sở lau bóng gạo, các dịch vụ giao nhận vận chuyển Những cụm ngành tương tự như vậy được hình thành sau đó
Sự hình thành cụm ngành này là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao năng lực chế biến gạo và giao hàng xuất khẩu trong những năm cuối 90
Nhu cầu lúa gạo xuất khẩu đã mang lại cơ hội cho nhiều công ty cơ khí VN đầu tư nâng cấp trong lĩnh vực chế tạo thiết bị Một số nhà chế tạo như Satake, Yanmar của Nhật cũng đi vào thị trường Việt Nam Ngày nay, lĩnh vực chế tạo thiết bị xay xát, lau bóng, tách màu, ép dầu, trích ly dầu cám cũng đã có bước phát triển nâng cấp Xuất khẩu gạo của Việt Nam từ sau 2000 chủ yếu là loại gạo 5% và với thị trường khó tính, thay cho gạo 35% của năm 90 nhờ sự nâng cấp trang thiết bị
Với hệ thống hạ tầng giao thông, nhà máy, kho hàng, logictics, mối quan hệ khách hàng, cơ quan nghiên cứu, hiệp hội chuyên ngành, thể chế chính phủ yểm trợ cho hoạt động xuất khẩu ĐBSCL đã trở thành cụm ngành của lúa gạo của VN với hạt nhân là các tỉnh sản xuất lúa gạo lớn và khu vực cảng ở Cần Thơ, TPHCM Việc tập trung sản xuất, hệ thống phân phối trong một vùng địa lý thuận lợi đã tạo nên lợi thế trong cạnh tranh nhờ vào việc giảm chi phí và tạo nên tên tuổi trong làng gạo
Các giải pháp cơ bản nâng cấp cụm ngành bao gồm:
- Tăng cường hệ thống dự trữ ở cả 3 cấp: nông hộ, công ty kinh doanh và dự trữ nhà nước
- Điều chỉnh kết cấu giữa xay xát và đánh bóng lúa gạo, xây dựng các cụm xay xát, chế biến lúa gạo chuyên sâu, gần với vùng sản xuất lúa, gắn liền khâu xay xát bóc tách vỏ trấu và lau bóng gạo;
- Đa dạng cơ cấu ngành sản xuất sản phẩm từ gạo, phụ phẩm từ xay xát lúa gạo, sản phẩm biomass, sử dụng nguyên liệu từ rơm rạ
- Hỗ trợ nghiên cứu chuyên sâu về giống, bảo vệ mùa màng
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, khuyến khích các vườn ươm doanh nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm
- Tăng cường năng lực phân tích thông tin, dự báo và cung cấp thông tin
- Thay đổi trong chiến lược cạnh tranh: định vị thương hiệu, hình ảnh và nâng giá trị xuất khẩu gạo, tập trung vào một số phân khúc thị trường thay vì cung cấp đại trà cho nhiều thị trường ở phân khúc thấp như hiện nay
- Hỗ trợ nông dân cơ hội tiếp cận tín dụng, tiếp cận thông tin, internet khu vực nông thôn
- Cải thiện mối quan hệ các thành viên VFA với nông dân
3 Kết luận
Tính bền vững của nền sản xuất lúa gạo và an ninh lương thực cho hơn 100 triệu dân trong thời gian tới là vấn đề lớn của VN trong bối cảnh đầy thách thức của biến đổi khí
Trang 10hậu Giữa an ninh lương thực quốc gia và đóng góp vào an ninh lương thực thế giới lại
có mối quan hệ với nhau Với năng lực hiện có, Việt Nam không thể thực hiện chiến lược dự trữ lúa gạo bằng cách mua vào và chứa đầy các kho cho thời gian dài Xuất khẩu là cách thức mà VN tham gia vào chuỗi giá trị lương thực toàn cầu nhưng đó cũng là cách thức mà VN thực hiện chiến lược dự trữ lúa gạo ít tốn kém và có hiệu quả
Cần thay đổi tư duy về triển khai lợi thế so sánh Lúa gạo là ngành khai thác lợi thế tài nguyên, những yếu tố này hết sức bất định trong bối cảnh toàn cầu hóa Chưa nói biến đổi khí hậu và việc các đập nước thủy điện trên thượng nguồn được các quốc gia phía trên ra sức xây dựng có thể làm thay đổi lợi thế bấy lâu mà vùng ĐBSCL có được Sự thích ứng với biến đổi khí hậu chỉ có thể làm được khi người nông dân được huấn luyện tốt, có hiểu biết và nhận thức đầy đủ những tác động từ bên ngoài và những tác động do mình gây ra Các cơ quan nghiên cứu phải là nơi dẫn đầu công bố thông tin và hướng dẫn hệ thống canh tác thích ứng
Tư duy trong chiến lược xuất khẩu lúa gạo cần được chuyển mạnh từ khai thác lợi thế
so sánh, sang lợi thế cạnh tranh Không chỉ xuất khẩu gạo mà cần chuyển sang xuất khẩu các chế phẩm từ gạo Và cũng không nhất thiết phải xuất khẩu nhiều lúa gạo để chứng tỏ đẳng cấp của một cường quốc về lúa gạo Nhu cầu lương thực và thực phẩm chế biến của Việt Nam đang gia tăng rất nhanh Các sản phẩm thực phẩm chế biến từ gạo có thể mang lại phần giá trị gia tăng cao hơn xuất khẩu gạo thuần túy Trong trường hợp đó, xuất gạo của Việt Nam có thể ít hơn so đỉnh cao của năm 2010 Sự chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp sẽ làm giảm bớt số nông dân tham gia trực tiếp trồng lúa, nhờ đó sẽ tăng năng suất lao động và cải thiện thu nhập Các ngành hỗ trợ nông nghiệp như cơ khí, thu hoạch, bảo quản, dịch vụ về cây trồng phải được đầu tư nâng cấp đảm bảo cho quá trình chuyển dịch cơ cấu và cải thiện đời sống của nông dân trồng lúa An ninh lương thực quốc gia suy cho cùng phụ thuộc vào thái độ tích cực của nông dân trồng lúa đối với nghề trồng lúa