PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Dạy học là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy không phải ai cũng thể hiện giống nhau. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học là nhiệm vụ sống còn của mỗi người giáo viên. Môn Ngữ văn ở trường THPT có vị trí hết sức quan trọng, cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kỹ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống con người, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy và kỹ năng thực hành để từ đó các em có khả năng vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là việc vận dụng các kỹ thuật dạy học trong môn Ngữ văn phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố khách quan như cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, trình độ học sinh... nên việc vận dụng các kỹ thuật dạy học vào thực tiễn chưa thật thường xuyên, còn mang tính hình thức. Bên cạnh đó, vẫn còn một số học sinh chưa có sự say mê học tập, không chuẩn bị bài, làm bài tập đầy đủ, thiếu tập trung, suy nghĩ trong các tiết học, cho nên không nắm vững được nội dung bài học. Phần lớn học sinh còn rất hạn chế về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong các giờ học, không dám tranh luận, chưa có thói quen hợp tác trong học tập đã ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập của học sinh. Có nhiều nguyên nhân cho những hạn chế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do phương pháp giáo dục. Nhiều giáo viên chỉ dạy qua loa, chiếu lệ, còn học sinh thì không chú trọng môn học. Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên dạy bộ môn phải có những phương pháp thích hợp để tạo hứng thú cho học sinh trong các giờ học để mỗi giờ học trôi qua không còn là “nỗi khổ” cho cả thầy và trò. Xuất phát từ vai trò của bộ môn, thời gian qua bộ giáo dục và đào tạo cũng đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn. Qua việc áp dụng những kỹ thuật dạy học tích cực vào bài dạy, tôi thấy có hiệu quả, tạo được hứng thú cho học sinh . Vì vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “ Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giảng dạy bài đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nhằm phát triển năng lực học sinh” làm sáng kiến kinh nghiệm với hi vọng được chia sẻ những hiểu biết của mình với đồng nghiệp, đồng thời cùng nhau vận dụng vào thực tiễn để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Vận dụng lí luận và phương pháp dạy học vào giảng dạy Ngữ văn 10 cụ thể ở bài: đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết để góp phần phát huy tính tích cực của học sinh. Giúp cho giáo viên tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh đạt hiệu quả. Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong các tiết học, khắc phục những hạn chế của các phương pháp thảo luận nhóm truyền thống. Tăng thêm sự hứng thú và yêu thích môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 10.
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học là một nghệ thuật Nghệ thuật ấy không phải ai cũngthể hiện giống nhau Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học để pháthuy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp vớiđặc điểm từng lớp học, từng môn học là nhiệm vụ sống còn của mỗingười giáo viên
Môn Ngữ văn ở trường THPT có vị trí hết sức quan trọng, cungcấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kỹ năng phổ thông, cơ bản,hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống con người, tạo điều kiện chohọc sinh phát triển tư duy và kỹ năng thực hành để từ đó các em cókhả năng vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống
Tuy nhiên, thực tế cho thấy là việc vận dụng các kỹ thuật dạyhọc trong môn Ngữ văn phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố khách quannhư cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, trình độ học sinh nên việcvận dụng các kỹ thuật dạy học vào thực tiễn chưa thật thườngxuyên, còn mang tính hình thức Bên cạnh đó, vẫn còn một số họcsinh chưa có sự say mê học tập, không chuẩn bị bài, làm bài tập đầy
đủ, thiếu tập trung, suy nghĩ trong các tiết học, cho nên không nắmvững được nội dung bài học Phần lớn học sinh còn rất hạn chế về kỹnăng giao tiếp, kỹ năng sống, chưa mạnh dạn nêu chính kiến củamình trong các giờ học, không dám tranh luận, chưa có thói quenhợp tác trong học tập đã ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tậpcủa học sinh Có nhiều nguyên nhân cho những hạn chế trên nhưngnguyên nhân chủ yếu vẫn là do phương pháp giáo dục Nhiều giáoviên chỉ dạy qua loa, chiếu lệ, còn học sinh thì không chú trọng mônhọc Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên dạy bộ môn phải có những phươngpháp thích hợp để tạo hứng thú cho học sinh trong các giờ học đểmỗi giờ học trôi qua không còn là “nỗi khổ” cho cả thầy và trò
Xuất phát từ vai trò của bộ môn, thời gian qua bộ giáo dục vàđào tạo cũng đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học bộ môn Qua việc áp dụng những kỹ thuật dạy học tích cựcvào bài dạy, tôi thấy có hiệu quả, tạo được hứng thú cho học sinh
Vì vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “ Sử dụng kỹ thuật mảnh
ghép trong giảng dạy bài đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn
Trang 2Trường THPT Hương Trà Sáng kiến kinh nghiệm
ngữ viết nhằm phát triển năng lực học sinh” làm sáng kiến
kinh nghiệm với hi vọng được chia sẻ những hiểu biết của mình vớiđồng nghiệp, đồng thời cùng nhau vận dụng vào thực tiễn để nângcao chất lượng môn Ngữ văn
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Vận dụng lí luận và phương pháp dạy học vào giảng dạy Ngữvăn 10 cụ thể ở bài: đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết để gópphần phát huy tính tích cực của học sinh
- Giúp cho giáo viên tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh đạthiệu quả
- Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong các tiếthọc, khắc phục những hạn chế của các phương pháp thảo luậnnhóm truyền thống
- Tăng thêm sự hứng thú và yêu thích môn Ngữ Văn cho học
sinh lớp 10
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 10 trường THPT Hương Trà
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiết 28: Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu tài liệu làm cơ
sở lý thuyết cho đề tài: Các tài liệu có liên quan tới bài dạy, sách
giáo khoa (SGK) Ngữ Văn 10, sách giáo viên (SGV) Ngữ Văn 10, ;
các phương pháp dạy học tích cực, các kĩ thuật dạy học
- Phương pháp chuyên gia: Dự giờ, trao đổi ý kiến với giáo viên
về hiệu quả qua các giờ dạy
- Phương pháp quan sát nhằm phân tích được ưu nhược điểm của học sinh qua mỗi lần thảo luận nhóm theo kĩ thuật mảnh ghép
để lần sau đạt hiệu quả cao hơn lần trước
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Áp dụng các phương án
đề xuất trong đề tài cho các lớp 10 ở năm học 2019 – 2020 để so
sánh kết quả
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê và phân tích hiệu quả của đề tài qua kết quả khảo sát ý kiến về tình trạng học tập củahọc sinh và kết quả học tập của học sinh
Trang 3PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 NHỮNG NỘI DUNG LÍ LUẬN LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN VẤN
Phương pháp dạy học theo quan niệm hiện nay là cách thứchướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhậnthức và hoạt động thực hành của học sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnhhội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan và pháttriển năng lực nhận thức
Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức chohọc sinh lĩnh hội tri thức Vai trò của học sinh trong quá trình dạyhọc là quá trình chủ động Như vậy, việc dạy học theo nhữngphương pháp dạy học tích cực là vấn đề hết sức cần thiết
Phương pháp dạy học có ba bình diện:
+ Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH Ví dụ: Dạy học
hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…
Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các
hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên
tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều
kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của
GV và HS trong quá trình dạy học Quan điểm dạy học là những địnhhướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của
PPDH
- Bình diện trung gian là PPDH cụ thể Ví dụ: phương pháp
đóng vai, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình
huống, trò chơi, … Ở bình diện này khái niệm PPDH được hiểu với
nghĩa hẹp, là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với
những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS Trong mô hình này thường không có sự phân biệt giữa PPDH và hình thức dạy học Các hình
Trang 4Trường THPT Hương Trà Sáng kiến kinh nghiệm
thức tổ chức hay hình thức xã hội (như dạy học theo nhóm) cũng
được gọi là các PPDH
- Bình diện vi mô là kỹ thuật dạy học Ví dụ: kỹ thuật chia
nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật các mảnh ghép, kỹ thuật hỏichuyên gia, kỹ thuật hoàn tất một nhiệm vụ,
1.1.2 Kĩ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học là biện pháp, cách thức tiến hành các hoạtđộng dạy học dựa vào các phương tiện thiết bị nhằm đảm bảo chấtlượng và hiệu quả giảng dạy và giáo dưỡng hay nói cách khác đó làcách thức hoạt động dạy học, tổ chức hoạt động giáo dưỡng để bảođảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy
Các kỹ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy họcđộc lập, chúng là những thành phần của phương pháp dạy học Kỹthuật dạy học là đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Trongmỗi phương pháp dạy học có nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau, kỹthuật dạy học khác với phương pháp dạy học Tuy nhiên, vì đều làcách thức hành động của giáo viên và học sinh, nên kỹ thuật dạyhọc và phương pháp dạy học có những điểm tương tự nhau, khóphân biệt rõ ràng
Năng lực sử dụng các kỹ thuật dạy học khác nhau trong từnggiáo viên và nó được xem là rất quan trọng đối với người đứng lớp,nhất là trong bối cảnh đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ởtrường phổ thông Rèn luyện để nâng cao năng lực này là một nhiệm
vụ, một vấn đề thật cần thiết của mỗi giáo viên, nhằm đáp ứng yêucầu nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường
Kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩađặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vàoquá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làmviệc của học sinh
Có rất nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau mà người giáo viên cóthể sử dụng trong quá trình giảng dạy để phát huy tính tích cực củahọc sinh Bao gồm các kỹ thuật: kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật khănphủ bàn, kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật sơ đồ tư duy
2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trang 5Theo chương trình của Bộ Giáo dục thì đến năm 2020 sẽ thựchiện thay sách giáo khoa mới Vì vậy, việc áp dụng những phươngpháp và kỹ thuật dạy học tích cực vào trong quá trình dạy học là hếtsức cần thiết Tuy nhiên, kiểu dạy học phổ biến trong nhiều môn họchiện nay vẫn là giáo viên truyền thụ những nội dung được trình bàytrong SGK, học sinh nghe và ghi nhớ một cách thụ động.
+ Đối với giáo viên, việc áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cựcvào giảng dạy còn hạn chế Nguyên nhân là do một số giáo viên vẫncòn có quan điểm cho rằng những kỹ thuật dạy học tích cực rất khó
áp dụng vào giảng dạy trong thời gian 45 phút trên lớp nên cũng rất
ít sử dụng các kỹ thuật này Ngoài ra, còn do cơ sở vật chất phục vụcho việc dạy học còn hạn chế; đời sống một bộ phận cán bộ giáoviên còn nhiều khó khăn nên chưa đầu tư thỏa đáng vào việc đổimới phương pháp kỹ thuật dạy học
+ Đối với học sinh, đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩtrả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bàimới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối mục trong bài cho nên khi học các
em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn Đa số học sinh đều tích cựcthảo luận nhóm và đã đưa lại hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hộikiến thức Tuy nhiên, vẫn còn một số học sinh lười học, chưa có sựsay mê học tập, một bộ phận học sinh thường xuyên không chuẩn bịbài ở nhà, không làm bài tập đầy đủ, trên lớp các em thiếu tập trungsuy nghĩ, cho nên không nắm vững được nội dung bài học Một sốhọc sinh chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (nhưtrình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, sosánh thì còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời mang tính chấtchung chung
Qua các lần kiểm tra đối với lớp 10B5 và 10B6 tôi có sử dụng
đồ dùng dạy học và một số phương pháp dạy học thông thường, chủyếu học sinh khá - giỏi tham gia học tập, số học sinh yếu ít có cơ hộitham gia hoạt động Chính vì thế nên việc học tập thường ít hứngthú, nội dung đơn điệu, giáo viên ít quan tâm đến phát triển nănglực cá nhân
Đầu năm học 2018 - 2019 tôi đã tiến hành khảo sát tình trạnghọc tập của học sinh lớp 10B2 và 10B3 và thu được kết quả như sau:
Trang 6Trường THPT Hương Trà Sáng kiến kinh nghiệm
Kết quả khảo sát của lớp 10B2
Có nhiều nguyên nhân cho những hạn chế trên nhưng nguyên nhânchủ yếu vẫn là do phương pháp giáo dục
Trang 73 CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Phương pháp và hình thức dạy học môn Ngữ văn rất phongphú, đa dạng, bao gồm các phương pháp hiện đại: thảo luận nhóm,đóng vai, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển hình, tròchơi, dự án, động não và các phương pháp truyền thống: thuyếttrình, đàm thoại, kể chuyện Bên cạnh những phương pháp dạy họclại có các kĩ thuật dạy học hỗ trợ Mỗi phương pháp dạy học và kĩthuật dạy học đều có mặt tích cực và hạn chế riêng, phù hợp vớitừng loại bài và đòi hỏi những điều kiện thực hiện riêng.Vì vậy, giáoviên không nên phủ định hoặc lạm dụng phương pháp nào Điềuquan trọng là căn cứ vào nội dung, tính chất của từng bài, căn cứvào trình độ nhận thức của học sinh và năng lực, sở trường của giáoviên, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường màlựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cáchhợp lý Trong dạy học môn Ngữ văn, có thể vận dụng các kĩ thuậtdạy học tích cực nhằm:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
- Tăng cường hiệu quả học tập
- Tăng cường trách nhiệm cá nhân
- Yêu cầu áp dụng nhiều năng lực khác nhau
- Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm
Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn 10, bản thân tôi đã tíchcực sử dụng tối đa các kỹ thuật dạy học tích cực trong quá trìnhgiảng dạy để nâng cao chất lượng giảng dạy Các kỹ thuật dạy họcchủ yếu được áp dụng là: Kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật khăn phủbàn và kỹ thuật sử dụng sơ đồ tư duy Mỗi kỹ thuật đều có những
ưu, khuyết điểm riêng trong việc áp dụng các bài giảng trên lớp.Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo ranhững con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thìviệc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện cáckiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thôngminh, óc sáng tạo trong việc giải quyết các tình huống thực tế Sauđây, tôi xin trình bày một kỹ thuật dạy học tích cực đang được sử
dụng rất hiệu quả ở nhiều bài dạy của các môn học đó là: Thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong một bài dạy
Trang 8Trường THPT Hương Trà Sáng kiến kinh nghiệm
3.1 Kĩ thuật “các mảnh ghép”
3.1.1 Khái niệm: là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp
giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết mộtnhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nângcao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác
3.1.2 Cách tiến hành:
Vòng 1: Nhóm chuyên sâu
Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3- 6 người).Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khácnhau Ví dụ:
+ Nhóm 1: Nhiệm vụ A
+ Nhóm 2: Nhiệm vụ B
+ Nhóm 3: Nhiệm vụ C
Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ
về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình
Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhómđều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trởthành chuyên gia của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bàylại câu trả lời của nhóm ở vòng 2
Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ trình bày và chia sẻ kết quả
Trang 93.1.3 Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kỹ thuật các
mảnh ghép
- Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép lại với nhau cóthể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở đểgiải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2
- Các chuyên gia ở vòng 1 có thể có trình độ khác nhau, nêncần xác định yếu tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi chuyên gia có thểhoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2
- Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo cácthành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau
- Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1 Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết
về kiến thức, kĩ năng, thông tin, cũng như các yếu tố hỗ trợ cần
thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này
3.1.4 Thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật mảnh
ghép trong một bài dạy
a Nguyên tắt thiết kế
Để định hướng cho việc thiết kế và vận dụng các hoạt động có
sử dụng kỹ thuật mảnh ghép, tôi đã xây dựng hoạt động dựa trêncác nguyên tắc sau: Các nhiệm vụ giao cho học sinh tìm hiểu phải
Trang 10Trường THPT Hương Trà Sáng kiến kinh nghiệm
đảm bảo tính vừa sức và cụ thể Thành lập nhóm mảnh ghép phải có
đủ thành viên của các nhóm "chuyên gia" Các học sinh "chuyêngia" có thể có trình độ khác nhau, nhưng cần đảm bảo sự công bằng
ở mức độ nào đó để có thể dạy lẫn nhau khi thực hiện nhiệm vụ ởnhóm "mảnh ghép" Các hoạt động cần hướng đến việc phát huynăng lực giải quyết vấn đề kích thích được hứng thú hoạt động củahọc sinh Số lượng mảnh ghép không quá lớn để đảm bảo các thànhviên có thể dạy lại kiến thức cho nhau
b Quy trình thiết kế
Quy trình thiết kế gồm có 6 bước sau đây
Bước 1: Xác định nội dung có thể sử dụng kỹ thuật mảnh ghép
Bước 2: Xác định nội dung của nhóm "chuyên gia": các nội dungchủ đạo, bổ trợ, các nội dung nội môn và liên môn,
Bước 3: Xác định và chuẩn bị các các thiết bị, dụng cụ, phương tiện trực quan cần thiết để hổ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ
của các nhóm
Bước 4: Thiết kế nhiệm vụ cho các nhóm "chuyên gia"
Bước 5: Thiết kế các nhiệm vụ cho nhóm "mảnh ghép"
Bước 2: Xác định nội dung của nhóm "chuyên gia": tìm hiểu
ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trên các phương diện:
+ Khái niệm
+ Tình huống giao tiếp
+ Phương tiện ngôn ngữ
Trang 11- Sách giáo khoa Ngữ văn 10, giấy A0, bút, bút màu, thước,
kéo, các hình ảnh liên quan nhiệm vụ của nhóm
Bước 4: Thiết kế nhiệm vụ cho các nhóm "chuyên gia"
Phiếu học tập: nhóm 1,2,3
Khái niệm
Tình huống giao tiếp
Phương tiện ngôn ngữ
Tình huống giao tiếp
Phương tiện ngôn ngữ
Phương tiện hỗ trợ
Hệ thống các yếu tố ngôn ngữ
Từ ngữ, câu, văn bản
Bước 5: Thiết kế các nhiệm vụ cho nhóm "mảnh ghép"
Mỗi thành viên của nhóm chuyên gia có nhiệm vụ giải thích và
trình bày kết quả đạt được từ nhóm chuyên gia của mình cho cácthành viên khác trong nhóm mảnh ghép
Bước 6: Tổ chức thực hiện
Trang 12Tiết 28 – Tiếng Việt:
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT
I XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Kiến thức:
- Nhận biết: Biết đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
- Thông hiểu: Nhận rõ đặc điểm, các mặt thuận lợi, hạn chế củangôn ngữ nói và ngôn ngữ viết để diễn đạt tốt khi giao tiếp
- Vận dụng thấp: Nắm được những đặc điểm về tình huống giao tiếp,các phương tiện ngôn ngữ chủ yếu và phương tiện hỗ trợ của ngônngữ nói và ngôn ngữ viết
-Vận dụng cao: Có kĩ năng trình bày miệng hoặc viết văn bản phùhợp với đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
a/ Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản
b/ Hình thành tính cách: tự tin khi trình bày kiến thức về ngôn ngữtiếng việt
4 Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:
- Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề vàsáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp,năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin
và truyền thông
- Năng lực riêng: năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợptác…
II:BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ THEO ĐHPTNLHS
Nhận biết Thông hiểu
Vận dụngVận dụng
thấp
Vận dụng cao
Trang 13giải các bài tập trong sách giáo khoa
lên thành kĩ năng trình bày miệng hoặc viết văn bản phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ nói
và ngông ngữ viết
III CHUẨN BỊ:
1 Chuẩn bị của GV: SGK, SGV Ngữ văn 10, Tài liệu tham khảo, Thiết
kế bài giảng
2 Chuẩn bị của HS: SGK, vở soạn, tài liệu tham khảo
IV PHƯƠNG PHÁP- KĨ THUẬT DẠY HỌC:
- Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Bước 2 Kiểm tra bài cũ
Kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh
Bước 3 Tổ chức dạy và học bài mới
Hoạt động của Gv và Hs Nội dung cần đạt Định hướng năng lực,
phẩm chất
Hoạt động 1 Khởi động
- Gv ; Gọi Hs đóng vai nhân
vật trong tranh đọc nội dung
văn bản
-Văn bản em vừa đọc là ngôn
ngữ nói hay ngôn ngữ viết?
-Hs trả lời
-Gv dẫn vào bài
Thuở ban đầu, loài người trao đổi ý nghĩ tình cảm vơi nhau bằng ngôn ngữ nói Sau này khi sang tạo ra chữ viết, người ta dung chữ viết cùng vơi tiếng nói để thông tin với nhau Chữ
-Năng lực : Hợp tác; giao tiếp; Sử dụng ngôn ngữ
-Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ
Trang 14dấu một bước phát triển mới trong lịch sử vănminh nhân loại,
và từ đó hình thành hai dạng : ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
+ Tình huống giao tiếp
+ Phương tiện ngôn ngữ
- Có chuyên gia thuyết trình sản phẩm
-Năng lực : Giải quyết vấn đề; Hợp tác; giao tiếp; Sử dụng ngôn ngữ
-Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ; Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại