Bài thảo luận môn Đường lối cách mạng của Đảng CSVN Trường Đại học Thương Mại Khoa quản trị nhân lực Đạt 9.5, điểm thảo luận .............................................................................................................................. .................................................................................................................................
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
A Lời mở đầu 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
3 Kết cấu đề bài 4
LỜI CẢM ƠN 5
B Nội dung 6
Chương 1: Khái niệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp 6
1.1 Khái niệm: 6
1.2 Đặc điểm: 6
Chương 2: Nền kinh tế hóa tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới 8
2.1 Sự ra đời của nền kinh tế hoá tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới 8
2.2 Các chính sách kinh tế mà nhà nước Việt Nam đặt ra trước thời kì đổi mới 8
2.3 Thực trạng nền kinh tế hóa tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới 9
2.4 Kết quả và ý nghĩa của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam trước thời kì đổi mới 18
C Kết luận 20
Đề tài: Tìm hiểu về nền kinh tế hóa tập trung quan liêu bao cấp ở Việt
Nam thời kì trước đổi mới
Trang 2A L i m ời m ở đầu ầu đ u
1 Tính c p thi t c a đ tài ấp thiết của đề tài ết của đề tài ủa đề tài ề tài
Thời bao cấp, với cách gọi nôm na trong người dân là “thời đặt gạch xếp hàng”, là một thời kỳ lịch sử trong giai đoạn những năm 1976 – 1986 diễn ra ở Việt Nam Từ
“Thời bao cấp” là khái niệm dùng của người Việt đặt cho một thời kì lịch sử từng diễn
ra sau chiến tranh thống nhất đất nước, xây dựng theo mô hình chủ nghĩa xã hội giống như Liên Xô (cũ)
Giai đoạn này nằm trong ký ức không thể quên của thế hệ đầu 8X, 7X, 6X… Đây là một giai đoạn mà hầu hết hoạt động kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa theo chủ nghĩa cộng sản, xóa bỏ nền kinh tế tư nhân thay vào đó là kinh tế do nhà nước làm chủ Đây là một giai đoạn lịch sử đặc biệt của nước ta, với nhiều dấu ấn và hoài niệm của bao nhiêu con người từng sinh sống trong thời bao cấp
Vậy nên để hiểu rõ và đầy đủ hơn về nền kinh tế Việt Nam thời bao cấp, chúng em đã chọn đề tài: “ Tìm hiểu về nền kinh tế hóa tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam thời
kì trước đổi mới” để làm bài tiểu luận của nhóm
Vì
2 Ý nghĩa c a đ tài nghiên c u ủa đề tài ề tài ứu
- Hiểu biết cơ bản về thời kì bao cấp cũng như tình hình kinh tế Việt Nam thời kì trước đổi mới, đặc biệt là nền kịnh tế hoá tập trung quan liệu bao cấp
- Từ đó thấy được ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân, từ đó rút ra bài học cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay
- Tạo cơ sở vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết tình hình kinh tế đất nước hiện nay
3 K t c u đ bài ết của đề tài ấp thiết của đề tài ề tài
Chương 1: Khái niệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
Chương 2: Nền kinh tế hóa tập trung quan liêu bao cấp ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới
Trang 3L I C M N ỜI CẢM ƠN ẢM ƠN ƠN
Để hoàn thành bài luận cho đề tài này, ngoài sự nỗ lực của toàn thể nhóm 8, chúng tôi cũng nhận được rất nhiều sự hỗ trợ hướng dẫn từ Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Phương, đã chỉ dạy và giúp đỡ nhóm 8 rất nhiệt tình trong suốt thời gian nghiên cứu về đề tài trên.
Bài thảo luận của nhóm sẽ không tránh khỏi những sai sót do sự hạn chế kiến thức cũng như tài liệu Vậy nên nhóm 8 rất mong sẽ nhận được sự đóng góp, những lời khuyên từ cô hướng dẫn cùng các bạn trong lớp hành chính để bài luận được hoàn thiện hơn.
Nhóm 8 xin chân thành cảm ơn!
Trang 4B N i dung ội dung
Ch ương 1: ng 1: Khái ni m và đ c đi m c b n v c ch k ệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế ặc điểm cơ bản về cơ chế kế ểm cơ bản về cơ chế kế ơng 1: ản về cơ chế kế ề tài ơng 1: ết của đề tài ết của đề tài
ho ch hóa t p trung quan liêu bao c p ạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ập trung quan liêu bao cấp ấp thiết của đề tài
1.1 Khái ni m: ệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế
1.1.1 Th i kỳ bao c p ời kỳ bao cấp ấp
- Thời kỳ bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản Theo đó thì kinh tế tư nhân bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy
1.1.2 C ch qu n lý kinh t k ho ch hóa t p trung: ơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ạch hóa tập trung: ập trung:
- Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung là do nhà nước quyết định toàn
bộ đối với mọi hoạt động của nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế vận động, phát triển tuân theo những quy định bắt buộc của nhà nước chứ không tuân theo quy luật cung-cầu của thị trường
1.2 Đ c đi m: ặc điểm cơ bản về cơ chế kế ểm cơ bản về cơ chế kế
1.2.1 Đ c đi m c b n v c ch qu n lý k ho ch hóa t p trung quan ặc điểm cơ bản về cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan ểm cơ bản về cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan ơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ề cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan ơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ạch hóa tập trung: ập trung: liêu, bao c p: ấp
• Thứ nhất,
- Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống
- Các doanh nghiệp hoạt động dựa trên cơ sở quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao
Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương,… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định
- Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp; doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước Lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà nước thu
• Thứ hai,
- Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình
- Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu
Trang 5• Thứ ba,
Quan hệ tiền tệ - hàng hóa không được coi trọng hầu như chỉ là hình thức Trong đó, quan hệ hiện vật, chiếm vị thế chủ đạo Nền kinh tế sẽ được nhà nước quản lý theo chế
độ “cấp phát – giao nộp” Do đó, sức lao động, tư liệu sản xuất hay phát minh sáng chế không được coi là hàng hóa trên pháp luật
• Thứ tư,
Bộ máy quản lý qua nhiều cấp từ trung ương tới địa phương Do có nhiều cấp trung gian nên hoạt động không năng động, kịp thời, thậm chí dẫn tới nhiều tiêu cực ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động, người dân
1.2.2 Các hình th c bao c p ch y u ức bao cấp chủ yếu ấp ủ yếu ế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung:
• Bao cấp quá giá và số lượng hàng hóa:
- Các tài sản, thiết bị, hàng hóa và vật tư do nhà nước quyết định giá trị nên thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực trên thị trường
- Các cán bộ công chức được cấp 13kg gạo/tháng còn công nhân lao động nặng được cấp 20kg/tháng Do đó, cơm nấu thường được độn thêm khoai, ngô, sắn… rất phổ biến và không còn xa lạ đối với những người từng trải qua thời kì bao cấp
- Hàng hóa các loại đều rất khan hiếm, dù có tiền cũng không mua được, không
đa dạng về chủng loại, mặt hàng để lựa chọn phục vụ nhu cầu nên nhiều khi không đủ ăn
- Nhà nước cũng nắm việc phân phối nhà cửa Nhiều khu nhà tập thể nhiều tầng được xây dựng giống như ở Liên Xô trong các thành phố, phân cho các cán bộ, công nhân viên nhà nước Khi ở nhà bị hư hỏng, người dân không phải tự sửa mà Sở nhà đất lo sửa cho Cuộc sống trong những căn hộ tập thể diện tích khiêm tốn đầy thiếu thốn, nhiều bộn bề lo toan Lúc này, giá nhà trong thành phố khá rẻ nhưng những người làm nhà nước cũng khó có thể mua được một căn vì thu nhập rất thấp
• Bao cấp qua chế độ tem phiếu:
- Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên chức, người lao động qua hình thức tem phiếu
- Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá cả thị trường đã biến chế độ tiền lương thành hiện vật Do đó, không kích thích được người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
• Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách:
Trang 6Không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin – cho”
Ch ương 1: ng 2: N n kinh t hóa t p trung quan liêu bao c p ề tài ết của đề tài ập trung quan liêu bao cấp ấp thiết của đề tài ở đầu
Vi t Nam th i kỳ tr ệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế ời m ước đổi mới c đ i m i ổi mới ớc đổi mới.
2.1 S ra đ i c a n n kinh t hoá t p trung quan liêu bao c p ự ra đời của nền kinh tế hoá tập trung quan liêu bao cấp ở ời m ủa đề tài ề tài ết của đề tài ập trung quan liêu bao cấp ấp thiết của đề tài ở đầu
Vi t Nam tr ệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế ước đổi mới c th i kỳ đ i m i ời m ổi mới ớc đổi mới.
2.1.1 B i c nh ra đ i ối cảnh ra đời ản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: ời kỳ bao cấp
Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết đã được
áp dụng rộng rãi trên cả nước
2.1.2 Nguyên nhân ra đ i: ời kỳ bao cấp
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể tư nhân; xây dựng nền kinh tế khép kín
2.1.3 S ki n đánh d u s ra đ i ự kiện đánh dấu sự ra đời ện đánh dấu sự ra đời ấp ự kiện đánh dấu sự ra đời ời kỳ bao cấp
Ở Việt Nam nền kinh tế hoá tập trung được thực hiện theo một công thức do Lê Duẩn sáng tạo, đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ Tại Đại hội IV, đường lối này được thể hiện bằng chủ trương tiến hành khoạch phát triển kinh
tế 5 năm 1976-1980
2.2 Các chính sách kinh t mà nhà n ết của đề tài ước đổi mới c Vi t Nam đ t ra tr ệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế ặc điểm cơ bản về cơ chế kế ước đổi mới c th i ời m
kì đ i m i ổi mới ớc đổi mới.
- Ngày 25-9-1976, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định về chính sách xoá bỏ triệt
để tình trạng chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam
- Ngày 25-9-1976, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố
về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam Đây là một chính sách lớn của Nhà nước nhằm hướng dẫn và cải tạo kinh tế tư bản tư doanh đi dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa
Trang 7- Từ ngày 21-6 đến ngày 4-7-1977, Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IV) đã họp, khẳng định những thành công và kinh nghiệm tốt của nền nông nghiệp hợp tác hoá, đồng thời cũng chỉ rõ những khuyết điểm nghiêm trọng trong chỉ đạo nông nghiệp Hội nghị đề ra Nghị quyết“Tập trung lực lượng cả nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển nông nghiệp”
- Ngày 3-10-1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 272-CP ban hành chính sách đối với hợp tác xã mở rộng diện tích nông, lâm nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư
- Ngày 25-4-1978, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 87-CP về việc thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành tiền Ngân hàng mới, thu đổi tiền Ngân hàng cũ ở miền Bắc và miền Nam, về mức tiền mặt được đổi ngay khi thu đổi tiền cũ
- Ngày 14-12-1978, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định “về việc xoá bỏ triệt để các hình thức bóc lột tư bản chủ nghĩa về ruộng đất ở nông thôn miền Nam” và kèm theo chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với lực lượng cơ giới nông nghiệp tư nhân ở các tỉnh miền Nam
- Đầu tháng 7-1984, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá V) đã họp Hội nghị lần thứ 6 bàn về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế Hội nghị nhận định: Những tiến bộ và chuyển biến trong quản lý kinh tế chưa đồng đều, chưa mạnh mẽ, chưa cơ bản Công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm và nhược điểm, trong đó có những mặt kéo dài và nghiêm trọng, không được giải quyết kịp thời phù hợp với tình hình mới Những khuyết điểm đó là biểu hiện của tệ quan liêu, bao cấp, bảo thủ, trì trệ trong cơ chế quản lý kinh tế và tình trạng phân tán, cục
bộ, vô tổ chức, vô kỷ luật Những khuyết điểm đó hoàn toàn trái với đường lối, chủ trương của Đảng, với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cản trở đến sản xuất
và cải thiện đời sống
2.3 Th c tr ng n n kinh t hóa t p trung quan liêu bao c p Vi t ự ra đời của nền kinh tế hoá tập trung quan liêu bao cấp ở ạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ề tài ết của đề tài ập trung quan liêu bao cấp ấp thiết của đề tài ở đầu ệm và đặc điểm cơ bản về cơ chế kế Nam th i kỳ tr ời m ước đổi mới c đ i m i ổi mới ớc đổi mới.
2.3.1 Nông Nghi p ện đánh dấu sự ra đời
Sau khi thống nhất
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 30/4/1975, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam từ đây có một sự thay đổi lớn: đất nước thoát khỏi thời kỳ vừa kháng chiến vừa kiến quốc Nhiệm vụ chính lúc này là khôi phục, ổn định xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện hòa bình Tình hình đó đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp với tình
Trang 8hình mới của đất nước để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Trên thực tế, các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng ở một số mặt trong thời kỳ này chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, đặc biệt là những chủ trương, đường lối trong lĩnh vực kinh tế (những vấn đề liên quan đến lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất)
Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh tế đất nước: cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém; năng suất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống và tích luỹ, Đảng cũng vạch ra những nguyên nhân sâu xa của tình hình trên là nền kinh tế nước ta là sản xuất nhỏ; công tác tổ chức và quản lý kinh tế có nhiều hạn chế, Nhưng những điểm bất hợp lý trong quan hệ sở hữu Đảng lại chưa chỉ
ra Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Ở miền Nam, Đảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế Chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ở đây là: sử dụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằng hình thức công tư hợp doanh; chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp; cải tạo thủ công nghiệp bằng con đường hợp tác hoá là chủ yếu; cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cách chuyển dần sang sản xuất
Giai đoạn 1976 – 1980
Trên cơ sở xác định đường lối chung, đường lối xây dựng kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã quyết định phương hướng, nặng nề của chiến tranh vừa phải tổ chức lại nền kinh tế, xây dựng một bước nền sản xuất lớn XHCN, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà Kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi đất nước thống nhất nhằm hại mục tiêu cơ bản và cấp bách : xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đời sống của nhân dân lao động
Nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu nêu trên, trong kế hoạch 5 năm 1976 – 1980, chúng ta đã tiến hành củng cố quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc, cải tạo XHCN ở miền Nam, thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung trên phạm vi cả nước
Ở miền Bắc, nhiều cơ sở kinh tế quốc doanh được khôi phục, mở rộng Một số cơ sở được xây dựng thêm Phong trào hợp tác hóa (HTH) nông nghiệp càng trở nên sôi động Mô hình HTH - tập thể hóa được đẩy tới mức cao nhất
Khoảng năm 1976 và 1980, chính sách nông nghiệp ở miền Bắc được thi hành bởi chính quyền mới trong sự nỗ lực làm chủ kế hoạch trồng trọt và nông nghiệp Sự kiểm soát không chặt chẽ của các chính sách trong những năm chiến tranh đã dẫn tới sự chặt chẽ hơn để nhằm tăng số lượng nhân công để nhận làm các nghĩa vụ khác Dẫn tới năng suất nhân công giảm Một người Việt ở nước ngoài khảo sát 10 hợp tác xã sản xuất gạo thì thấy rằng, mặc dù tăng nhân công và diện tích gieo trồng trong những năm 75, 76 và 77, nhưng sản lượng lại giảm trong khi chi phí lại tăng so với những
Trang 9các năm 72 đến 74 Mặc dù không tính đến thời tiết và các yếu tố khác, nhưng những phát hiện trên phù hợp với những kết luận của những người nghiên cứu về những ảnh hưởng của mô hình tập thể hóa ở các quốc gia khác
Ở miền Nam, do chính sách thực dân mới của Mỹ, nền kinh tế ở các vùng tạm chiếm bước đầu phát triển theo hướng TBCN Vì vậy, sau năm 1975, chúng ta phải tiến hành cải tạo XHCN nhằm thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung trong cả nước Đối tượng của công cuộc cải tạo XHCN vẫn nhằm vào kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể Đến giữa năm 1979, chúng ta đã căn bản hoàn thành việc chuyển các cơ sở tư bản tư doanh trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, vận tải, xây dựng và dịch vụ quan trọng thành các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh
Trong nông nghiệp, từ cuối năm 1978 đến cuối năm 1980, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được đẩy mạnh ở các tỉnh phía nam Tính đến tháng 7 – 1980, toàn miền
đã xây dựng được 1.518 HTX, 9.350 tập đoàn sản xuất, thu hút 35,6 % tổng số hộ nông dân vào con đường làm ăn tập thể
Giai đoạn 1981 – 1985
Kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế trong 5 năm (1976-1980) chưa thu hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân Sản xuất phát triển chậm trong khi số dân tăng nhanh Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội, lương thực và các hàng tiêu dùng đều thiếu
Trước sự yếu kém của nền kinh tế đất nước, tại Đại hội V năm 1982, Đảng đã có nhiều chủ trương mới cả trong chiến lược phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất Từ Đại hội III năm 1960, Đảng luôn khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ Đến Đại hội V này, điều mới và quan trọng là Đảng đã xác định cụ thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên
Đó là "tập trung phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên xã hội chủ nghĩa "
Gắn liền với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, tại Đại hội V, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp ở Nam bộ, từng bước phát huy tác dụng của hợp tác hoá đối với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và xây dựng nông thôn mới Rút kinh nghiệm từ phong trào hợp tác hoá trong những năm trước đây đưa quy mô hợp tác xã nông nghiệp lên quá lớn ở một số địa phương, trong chủ trương lần này, Đảng nhấn mạnh tới việc ổn định quy mô hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, tổ chức tốt việc điều chỉnh quy mô trong những trường hợp cần thiết Một bước tiến mới trong việc xây dựng và củng cố hợp tác xã là Đảng chủ trương "áp dụng rộng rãi khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và người lao động" Chủ trương này đã mở ra một phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ kinh tế tập thể ở nông thôn, vì nó đã bước đầu thừa nhận quyền tự chủ của nông dân (hộ xã
Trang 10viên được tự chủ ở 3 khâu: gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch Có thể coi đây là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình đổi mới, là một tiền đề quan trọng để tiến tới sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nền kinh tế xã hội
Hình thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động đã khắc phục được những hạn chế của các hình thức khoán trong HTX nông nghiệp trước đây, gắn được lợi ích của người lao động với sản phẩm cuối cùng Người nông dân rất quan tâm đến năng suất, sản lượng Do đó, họ đã tích cực đầu tư công sức, vật tư để phát triển sản xuất, sản lượng lương thực trong cả nước vì thế mà tăng lên Năm 1980, sản lượng lương thực là 14,4 triệu tấn, năm 1985 với kết quả đó, khoán 100 được coi là bước đột phá đầu tiên trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Trong công nghiệp, ngày 21 - 1 - 1981, Chính phủ đã ban hành Nghị định 25- CP Về một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Đây là bước khởi đầu giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận với cơ chế thị trường thông qua việc thực hiện các kế hoạch ngoài kế hoạch pháp lệnh Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên kết quả đổi mới cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh còn hạn chế
Trong suốt thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, phương thức khoán sản phẩm này đã góp một phần quan trọng tạo nên một bước phát triển của nền sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,9% so với 1,9% hàng năm của thời kỳ 1976-1980 Sản xuất lương thực có bước phát triển quan trọng, mức bình quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệu tấn trong thời
kỳ 1981-1985(9) (tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng, trong thời gian này, Đảng chủ trương tập trung phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu) Đất nước ta sau nhiều năm trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhưng nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng thấp kém Thực trạng đất nước vào giữa những năm
1980 với những khó khăn mới gay gắt và phức tạp: Hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; mất cân đối lớn trong nền kinh tế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất tinh thần chưa được đảm bảo Thực trạng kinh tế - xã hội đó đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển Trên thực tế, Đảng ta đã làm được điều đó
2.3.2 Công nghi p ện đánh dấu sự ra đời
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12-1976 đã xác định “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng”.[24]