Trong giai đoạn này cùng với sự phát triển các công trình xây dựng lớn, nhất là các công trình xây dựng giao thông, giao thông đường sắt, xuất hiện máy xúc một gầu quay toàn vòng 3600 –
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA CƠ KHÍ GIAO THÔNG
ĐỒ ÁN HỌC PHẦN TRUYỀN ĐỘNG THUỶ KHÍ ĐỘNG LỰC TÍNH TOÁN HỆ THỐNG TRUYỀN ĐỘNG THUỶ LỰC CỦA MÁY XÚC MỘT
GẦU TRUYỀN ĐỘNG THUỶ LỰC DI CHUYỂN BÁNH XÍCH
Dung tích gầu: V=0,5m3
Áp suất làm việc của dầu: 16Mpa
Sinh viên thực hiện: Ung Khả Ý
Lớp: 18C4A : 18C4A
Mã sinh viên :103180065
Giáo viên hướng dẫn: TS.PHAN THÀNH LONG
Đà Nẵng, ngày 8 tháng 5 năm 2021
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với sự đầu tư mạnh của
nhà nước, ngành xây dựng cơ bản đã và đang có bước phát triển nhảy vọt tạo đà cho sự phát triển kinh tế và xã hội ở nước ta Trong sự phát triển chung đó, ngành máy xây dựng đã và đang có những tiến bộ vượt bậc về công nghệ tiên tiến cũng như chủng loại
sử dụng.Trong đó, máy làm đất là một trong những nhóm máy rất quan trọng trong công tác thi công Máy làm đất giúp tăng năng suất lao động, đặc biệt nó còn bảo vệ sức khỏe cho người công nhân, là một trong những tiêu chí hàng đầu về vấn đề lao động Đặc biệt, máy đào gầu nghịch dẫn động thủy lực là máy được sử dụng khá phổ biến hiện nay, phục vụ nhiều công trình quan trọng
Đồ án môn học máy làm đất là đồ án được giao song song với quá trình học môn Máy và Truyền Động Thủy Khí Do đó, đồ án này giúp em củng cố lại kiến thức của môn học máy làm đất, đồng thời hệ thống lại kiến thức các môn học trước đó như dung sai, kỹ thuật gia công cơ khí, chi tiết máy, sức bền vật liệu…
Dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS Phan Thành Long, đến nay em đã hoàn thành đồ án môn học máy làm đất với đề tài : “Thiết kế máy đào gầu nghịch dẫn động thủy lực” Em xin cảm chân thành cảm ơn các thầy trong bộ môn, đặc biệt là thầy TS.Phan Thành Long đã giúp đỡ em hoàn thành đồ án
Trong quá trình làm đồ án do kiến thức còn hạn chế nên vẫn còn những sai sót,
em rất mong các thầy góp ý để em có thể hoàn thiện đồ án hơn Em xin chân thành cảm
ơn
Đà Nẵng, ngày 8 tháng 5 năm 2021 Sinh viên thực hiện
Ung Khả Ý
Trang 3CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN CHUNG 1.1 Công dụng, phân loại, lịch sử phát triển máy làm đất
1.1.1 Lịch sử phát triển máy làm đất
Công nghiệp chế tạo máy xây dựng nói chung, máy làm đất nói riêng là nền công
nghiệp còn non trẻ và quá trình phát triển nó động hành với quá trình phát triển của các ngành khoa học và công nghiệp của loài người
Bức tranh tổng thể ngành chế tạo máy làm đất có thể chia thành các giai đoạn chính:
1.1.1.1 Giai đoạn 1 : Thế kỷ 16 đến thế kỷ 18
Xuất hiện những phương tiện cơ giới và cơ giới hóa đầu tiên dùng trong khâu làm đất, động lực dùng trên các tiện cơ giới lúc đó chủ yếu là sức người, sức ngựa và bước đầu sử dụng động cơ hơi nước Loài người đã chế tạo và sử dụng máy xúc 1 gầu q = 0,75m3 đầu tiên
1.1.1.2 Giai đoạn 2: Thế kỷ 19 đến năm 1910
Trong giai đoạn này cùng với sự phát triển các công trình xây dựng lớn, nhất là các công trình xây dựng giao thông, giao thông đường sắt, xuất hiện máy xúc một gầu quay toàn vòng 3600 – chạy trên ray, cùng các loại máy làm đất khác
1.1.1.3 Giai đoạn 3: Từ sau năm 1910
Khâu làm đất trong công tác xây dựng đã được tiến hành cơ giới hóa ở mức độ ngày càng cao do xuất hiện nhiều loại máy làm đất, như: máy xúc đất quay toàn vòng
3600 di chuyển bằng bánh lốp, bánh xích, kể cả máy xúc di chuyrn bằng thiết bị tự bước Đồng thời để đáp ứng khối lượng công tác đất ngày càng lớn trong xây dựng cơ bản Nền công nghiệp đã chế tạo nhiều loại máy làm đất có chức năng, công dụng, kết cấu khác nhau: Máy xúc nhiều gầu, máy ủi đất, máy cạp đất, máy đầm đất,…
Xu hướng phát triển máy làm đất trong giai đoạn này là nâng cao năng suất làm việc, tăng vận tốc di chuyển máy và vận tốc làm việc; sử dụng vật liệu kim loại, phi kim loại chất lượng cao để giảm khối lượng riêng của máy, nâng cao độ tin cậy của các chi tiết máy, giảm thời gian bảo dưỡng trong quá trình sử dụng; hoàn thiện các thiết bị động
Trang 4làm việc) thay thế để máy có thể làm việc ở các điều kiện, chế độ khác nhau (tức là vạn năng hóa máy làm đất), nên năng suất làm việc của máy ngày càng được nâng cao Trong những năm gần đây, khối lượng của một số loại máy làm đất giảm nhẹ đi
20 – 30%, nhưng công suất trên máy tăng lên 50 – 80% Công suất trang bị trên máy tăng lên kéo theo hiệu suất làm việc của máy tăng lên Cùng với việc không ngừng cải tiến, hoàn thiện về nguyên lý, kết cấu của máy, người ta còn sử dụng các bộ phận, các máy cơ sở được chế tạo theo tiêu chuẩn, theo môđun để hòa nhập xu hướng thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa và vạn năng hóa ngành sản xuất máy làm đất
1.1.2 Công dụng của máy làm đất
Máy làm đất có rất nhiều công dụng khác nhau, phục vụ các mục đích khác nhau như
dọn mặt bằng, đào (xới), vận chuyển, san (lấp), đầm lèn, … với đối tượng làm việc chủ
yếu là đất
Việc sử dụng máy làm đất có ý nghĩa rất to lớn do tính ưu việt của nó ở các điểm sau:
- Tăng năng suất lao động, rút ngắn thời gian thi công
- Nâng cao chất lượng công trình và giảm giá thành công trình
- Cho phép thực hiện được những công việc hết sức nặng nhọc, thay thế sức người, giảm cường độ lao động, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho công nhân
1.1.3 Phân loại máy làm đất
Để phục vụ cho công tác đất, ngày nay có rất nhiều cách phân loại khác nhau Có
thể phân ra thành 6 nhóm chính thường được sử dụng trong xây dựng:
- Máy đào đất : đào, xúc đất vào gầu rồi đổ vào các phương tiện vận chuyển hoặc
đi hoặc đổ thành đống ( như máy đào gầu nghịch, gầu thuận,…)
- Máy đào chuyển đất: đào và gom lại thành đống rồi chyển đi hoặc san ra thành lớp (như máy ủi, máy san, máy capk, máy xúc lật,…)
- Máy đầm đất : máy lu, máy đầm cóc,…
- Máy và thiết bị gia cố nền móng : máy đóng ( ép ) cọc, máy khoan cọc nhồi,…
Trang 5- Nhóm máy phụ : làm các công tác chuẩn bị mặt bằng ( máy dọn sạch mặt bằng, máy nhổ gốc cây, cắt xén bụi rậm, gom phế thải,…) và phụ trợ ( máy xới tơi đất,…)
- Thiết bị khai thác bằng thủy lực : tàu hút bùn, cát, sung phun thủy lực,
1.2 Công dụng và phân loại máy đào một gầu
1.2.1 Công dụng của máy đào một gầu
Máy đào một gầu chủ yếu dùng để đào và khai thác đất, cát phục vụ công việc xây
dựng cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, khai thác
mỏ, xây dựng thủy lợi, xây dựng cầu đường…Cụ thể, nó có thể phục vụ các công việc sau:
- Trong xây dựng dân dụng và công nghiệp: Đào hố móng, đào rãnh thoát nước, đào rãnh dùng để lắp đặt đường ống cấp thoát nước, đường điện ngầm, điện thoại, bốc xúc vật liệu ở các bãi, kho chứa vật liệu Ngoài ra có lúc làm việc thay cần trục khi lắp các ống thoát nước hoặc thay các búa đóng cọc để thi công móng cọc, phục vụ thi công cọc nhồi…
- Trong xây dựng thủy lợi: Đào kênh, mương; nạo vét sông ngòi, bến cảng, ao, hồ, khai thác đất để đắp đập, đắp đê…
- Trong xây dựng cầu đường: Đào móng, khai thác đất, cát để đắp đường; nạo, bạt sườn đồi để tạo ta luy khi thi công đường sát sườn núi…
- Trong khai thác mỏ: Bóc lớp đất tẩm thực vật phía trên bề mặt đất; khai thác mỏ
lộ
- thiên ( than,đất sét, cao lanh, đá sau nổ mìn…)
- Trong các lĩnh vực khác: Nhào trộn vật liệu trong các nhà máy hóa chất (phân lân, cao su,…).Khai thác đất cho các nhà máy gạch, sứ,…Tiếp liệu cho các trạm trộn bê tông,bê tông asfalt…Bốc xếp vật liệu trong các ga tàu, bến cảng Khai thác sỏi, cát ở lòng sông…
- Ngoài ra, máy cơ sở của máy xúc một gầu có thể lắp các thiết bị thi công khác ngoài thiết bị gầu xúc như: cần trục, búa đóng cọc, thiết bị ấn bấc thấm,…
Trang 6- 1.2.2 Phân loại máy đào một gầu
- 1.2.2.1 Phân dạng theo dạng thiết bị làm việc
- Máy đào gầu thuận (gầu ngửa ): làm việc ở những nơi cao hơn mặt bằng đững của máy
- Máy đào gầu nghịch ( gầu sấp ): làm việc ở những nơi thấp hơn ( hoặc cao hơn) mặt bằng đứng của máy
- Máy đào gầu dây (gầu quăng ): làm việc ở những nơi thấp hơn mặt bằng đứng của máy
- Máy đào gầu ngoạm : làm việc ở những nơi thấp hơn ( hoặc cao hơn ) mặt bằng đứng của máy
- Máy đào gầu bào
- Máy xúc lật
- 1.2.2.2 Phân loại theo hệ thống di chuyển
- Máy đào di chuyển bánh xích
- Máy đào di chuyển bánh phao
- Máy đào di chuyển tự bước
- 1.2.2.3 Phân loại theo dung tích gầu
- Loại nhỏ : q < 1 m3
- Loại trung bình : q = 1,0 …2,0 m3
- Loại lớn : q > 2 m3
- 1.2.2.4 Phân loại theo hệ thống dẫn động thiết bị làm việc
- Máy đào một gầu dân động cơ khí
- Máy đào một gầu dẫn động thủy lực
- 1.2.2.5 Phân loại theo động cơ trang bị trên máy
- Máy đào một gầu trang bị một động cơ
- Máy đào một gầu trang bị nhiều động cơ
- Máy đào một gầu trang bị tổ hợp
1.2.2.6 Phân loại theo công dụng
-Máy đào một gầu thông dụng
-Máy đào một gầu chuyên dung
Trang 71.3 Sơ đồ và nguyên lý làm việc của máy đào một gầu, gầu nghịch, dẫn động
thủy lực
1.3.1 Sơ đồ nguyên lý
Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý của máy đào gầu nghịch
1.Cơ cấu di chuyển 8.Tay cần
2.Cơ cấu quay 9.Xi lanh co duỗi tay cần
-Đặc điểm làm việc của máy :
+ Máy làm việc ở những nơi thấp hơn hoặc cao hơn mặt bằng máy đứng
+ Máy làm việc ở nền đất cấp IV
+ Đất xả qua miệng gầu
+ Máy làm việc trên từng chỗ đứng
+ Máy làm việc theo chu kì
10
9
8 7
6 5
4 3
2 1
11
Trang 8-Nguyên lý làm việc: Trong một chu kì làm việc của máy có các nguyên công
+ Đưa máy đến vị trí làm việc
+ Đưa gầu vươn xa và hạ xuống, răng gầu tiếp xúc với nền đất
+ Cắt đất và tích đất vào gầu từ I – II – III
+ Đưa gầu ra khỏi tầng đào
+ Quay máy về vị trí xả đất
+ Xả đất
+ Quay máy về vị trí làm việc tiếp theo
1.4 Giới thiệu máy thiết kế
Máy cần thiết kế là máy đào gầu nghịch, dẫn động thủy lực Kết cấu của máy đào gầu nghịch dẫn động thủy lực gồm 2 phần chính là phần máy cơ sở và phần thiết bị công tác:
-Máy cơ sở là loại máy Komatsu PC130-8 của hãng Komatsu-Nhật Bản ,có cơ cấu di chuyển bánh xích, công suất động cơ là 68,4 kW
-Phần thiết bị công tác bao gồm cần, tay cần, gầu xúc cùng hệ thống xi lanh thủy lực dẫn động thiết bị làm việc
* Máy cơ sở Komatsu PC130-8 Máy thiết kế có dung tích gầu q = 0.5m3, với máy cơ
sở là loại máy Komatsu PC130-8 có cơ cấu di chuyển bánh xích, công suất động cơ là 68,4kW Có các thông số hình học sau:
Trang 9Tay đòn 2500 mm
Trang 10-Phạm Vi Làm Việc Của Xe:
Trang 11-Động cơ :
+ Kiểu : komatsu SAA6D 107E-1
+ Loại : động cơ 4 kỳ ,làm mát bằng nước ,phun nhiên liệu trực tiếp
Trang 12Phần II , Thiết kế mạc thuỷ lực máy xúc một gầu chạy bằng xích
1 , Thiết kế mạch thuỷ lực
4 Cụm van điều tốc 10 Van một chiều
-Nguyên lí làm việc:
Khi động cơ làm việc Công suất được truyền qua bánh đà đến bơm thuỷ lực Bơm thuỷ lực làm việc, hút dầu từ thùng dầu và đẩy đến cụm van phân phối chính Trên ca bin người vận hành sẽ tác động đến các cần điều khiển thiết bị công tác, quay toa, di chuyển Khi có sự tác động của người vận hành một dòng dầu điều khiển sẽ được mở
Trang 13đi đến cụm van phân phối chính Dòng dầu điều khiển này sẽ có tác dụng đóng/mở cụm van phân phối tương ứng cho thiết bị công tác Đường dầu chính đến các xi lanh cần (3), xilanh tay cần (2) hoặc xilanh gầu(1)
Như vậy thiết bị công tác có thể làm việc theo ý muốn của người vận hành Đường dầu đi đến mô tơ quay toa hoặc mô tơ di chuyển làm cho các mô tơ này quay Mô tơ
sẽ kéo cho toa quay hoặc động cơ duy chuyển
3 , Cấu tạo và nguyên lý của các phần tử trong mạch
- 6,7,11,12: Bích của xi lanh thủy lực phía không cần ,gồm các lỗ gắn ống cấp
dầu,giảm chấn, phốt làm kín giữa cần piston và phần ắc có cần ,bạc lót dẫn hướng, lỗ vào ống dầu
Trang 14- 4,5,19,20: Mặt bích phần đầu cần xi lanh thủy lực gồm phốt làm kín giữa cần piston
và phần ắc có cần, bạc lót dẫn hướng, lỗ vào ống dầu
- 13,14,15,16: piston đây là bộ phận chính của xi lanh thủy lực để ngăn cách giữa hai khoang có áp và không áp.bao gồm thân piston và các phốt bằng cao xu vừa chịu áp suất vừa làm kín cả hai chiều với vỏ xi lanh lót giữa hai phốt bằng vật liệu chịu mòn thường thì chiều dài nhỏ nhất của thân piston sẽ lớn hơn 2/3 kích thước đường kính trong lòng xi lanh
- 21: cần piston được làm thử thép crom, được luyện cũng, bề mặt được mài tròn mạ một lớp crom chống rỉ
- 18: vỏ ngoài xi lanh thủy lực, thường được chế tạo bằng thép hợp kim dẻo và bền, chịu được mài mòn và nhiệt độ
- Nguyên lý hoạt động : nguyên lý chung là lực được áp dụng tại một thời điểm
chuyển đến một địa điểm khác thông qua việc sử dụng một chất lỏng không nén được
Tất cả lực được xi lanh tạo đều nhờ vào chất lỏng thủy lực mà cụ thể ở đây đó là dầu, nhớt
Bơm thuỷ lực sẽ bơm dầu vào van phân phối để chuyển đến bên trong xi lanh Nhờ vào áp suất của dầu mà piston di chuyển và biến năng lượng dầu thành động năng thực hiên công tác , chuyển động tịnh tiến
+ Mô tơ thuỷ lực
Trang 15- Cấu tạo và nguyên lý bơm thuỷ lực :là bộ phận chấp hành chuyển dòng thủy lực áp suất cao thành chuyển động quay để thực hiện quá trình bơm các lưu lượng chất lỏng Nó có thiết kế các phụ tùng tương tự như bơm thủy lực và điểm khác nhau giữa mô tơ thủy lực và bơm thủy lực là bơm thủy lực biến năng điện thành năng lượng dòng thủy lực, còn mô tơ thủy lực biến năng lượng của dòng thủy lực thành
cơ năng Mô tơ hay động cơ thủy lực được sử dụng trong nhiều thiết bị cơ khí di chuyển chất lỏng hoặc mục đích nào khác Việc vận dụng các động cơ thủy lực này xuất hiện trong gần như tất cả các thứ cơ cấu có cơ chế thủy lực, động cơ có nguyên
lí làm việc đơn giản bằng cách nén lại chất lỏng và di chuyển Các động cơ thủy lực thực sự là một thiết bị có cấu tạo phù hợp để giúp chuyển đổi áp lực thủy lực mô men xoắn và chuyển động góc Và trở thành bộ phận không thể tách rời của máy thủy lực, làm việc kết hợp với máy bơm lưu lượng xilanh thủy lực
+ Bơm thuỷ lực
- Cấu tạo : Bơm chọn là bơm piston-rotor , có khối xi lanh- piston quay quanh trục bơm , đĩa nghiêng cố định ,hai rảnh hìn vòng cung hút và đẩy dầu , cơ cấu điều chỉnh đĩa nghiêg và vỏ bơm
- Nguyên lý hoạt động :Trước hết về cấu tạo, bơm piston khá giống với xi lanh nhưng
có một điểm khác biệt đó là số lượng xi lanh Chính sự thay đổi thể tích sẽ tạo ra năng lượng của dầu, nhớt hay chất lỏng thủy lực
Bơm piston sẽ hoạt động như sau: Trục của bơm sẽ nối với động cơ điện cụ thể là motor Các piston sẽ được bố trí trong khoang bơm Thông thường một bơm piston sẽ
có trung bình 6 piston Các đầu piston lắp tì vào đĩa nghiêng
Trong nửa vòng quay đầu tiên, các piston sẽ biến đổi khoảng cách để tạo nên khoảng trống bên trong bơm là, giảm áp suất và hút dầu, chất lỏng thủy lực đi vào
Tiếp nửa vòng quay còn lại, piston sẽ chuyển động để thể tích trong bơm giảm đi, dầu
và các chất được bơm bị ép ra ngoài với một áp nhất định Và do kết nối với motor nên khi motor quay vài nghìn vòng trên 1 phút thì lượng dầu hút và đẩy ra liên tục rất lớn
Khi trục qua làm cho các xi lanh chuyển động theo do sự đứng yên của đĩa nghiêng , làm cho sự thay đổi thể tích hút và đâyr dầu vào hai rảnh khác nhau
Trang 16Hoạt động theo hình trên của bơm được mô tả như sau:trục bơm quay truyền mô men đến đĩa bán cầu mang cụm (block) piston-xilanh quay,đồng thời mang cả cụm này trượt trên đĩa nghiêng làm cho các piston di chuyển qua lại trong các xi lanh.Khi piston ở vị trí thấp hút chất lỏng vào các khoang đó (trên hình được mô tả bằng màu xanh),được gọi là khoang hút.Khi quay tiếp sang dần sang vị trí cao nhất chất lỏng được nén dần sang khoang đẩy (màu đỏ sẩm).Nhờ cấu tạo của đĩa phân phối chất lỏng
cứ tuần hoàn hút nén tạo nên bơm.Đĩa nghiêng khi ở góc nghiêng lớn nhất thì có lưu lượng riêng lơn nhất.con khi bằng 0 độ là lưu lượng riêng cũng bằng 0.Bởi vậy lưu lương riêng của loại bơm piston hướng trục này có thể chỉnh được nhờ cơ cấu cơ khí chỉnh đặt vị trí góc của đĩa nghiêng
Ngoài ra cơ cấu này liên hệ với cơ cấu chỉnh lưu lượng tự động để cân bằng và ổn định vị trí đĩa nghiêng.Bơm thông minh này tùy thuộc việc cài đặt chế độ chỉnh lưu lượng bơm làm việc theo chế độ đó
+Van phân phối
- Cấu tạo và nguyên lý : gồm có vỏ và bộ phận đổi nhánh Vỏ có khoét các cửa lưu thông nối với các đường ống thuỷ lực Bộ phận đổi nhánh có thể di chuyển tịnh tiến
để phân phối dầu vào các đường ống lưu thông
+Van an toàn
- Cấu tạo đơn giản :
Trang 17Qua bản vẽ trên ta thấy cấu tạo van an toàn gồm những bộ phận sau: 1- Thân van, 2-
Bộ phận kết nối vào đường ống, 3- Phần xoay xả lưu chất ra ngoài ,4- Đệm Lò xo,5 –
Đ, 7 - Lò x ,8 - Nút bịt, 9 - Vít điều chỉnh ,10 - Tay giật
- Nguyên lý làm việc : van thường đóng , cho đến khi áp suất dầu trong đường ống quá cao vượt qua lực đàn hồi của lò xo làm cho nút mở dầu chảy ra và trở lại thùng dầu Van được thiết kế dựa vào sự cân bằng áp suất dầu tác dụng lên con trượt và ngược chiều với lò xo Khi áp suất thắng áp suất lò xo dầu sẽ tự động chảy về thùng dầu
+ Bộ ổn tốc
- Cấu tạo : gồm một van giảm áp và một van tiết lưu
- Nguyên lý hoạt động : Trong hệ thống thủy lực để cho vận tốc không thay đổi khi tải trọng thay đổi, người ta sử dụng bộ ổn tốc Bộ ổn tốc bao gồm van tiết lưu và van giảm áp Bộ ổn tốc có nhiệm vụ giữ chênh áp ΔP qua van tiết lưu 1 không đổi Dưới đây là một số phương pháp lắp và tính toán bộ ổn tốc trong hệ thống thủy lực
+ Bộ lọc dầu: sử dụng bộ lọc lá , sợi thuỷ tinh :
- Cấu tạo : dầu vào , đầu ra của dầu, thành van , ống trụ rộng và quan trọng nhất là phần tử lọc
- Nguyên lý hoạt động :dầu sẽ đi vào theo của vào và chảy qua các tấm lọc , từ đó lọc được các tạp chất từ cơ cấu chấp về và tấm lưới còn giúp giảm nhiệt độ của dầu khi làm việc trong hệ thống
Trang 18CHƯƠNG 2:
TÍNH TOÁN CHUNG 2.1 Xác định, lựa chọn các thông số cơ bản của máy
2.1.1 Cơ sở để chọn các thông số cơ bản
** Chọn các thông số cơ bản dựa vào quy luật đồng dạng so với máy cơ
sở theo công thức của N.G.Dômbrôvski:( TL [1] trang 87 90 )
+ G : Thông số về khối lượng (tấn)
+ N : Thông số về công suất (mã lực)
+ q : Thông số về dung tích gầu (m3)
+ t : Thông số về thời gian chu kỳ làm việc của máy (s)
+ v : Thông số về vận tốc (m/s)
Với chỉ số 1 của máy cơ sở, chỉ số 2 của máy thiết kế
Trang 19Tên thông số Giá trị Đơn vị
Km/h Km/h
Chọn sơ bộ thông số trọng lượng các cụm cơ bản
Bảng 2.2: Chọn sơ bộ phân bố trọng lượng
Tên các bộ phận chính Tỷ lệ (%) Trọng lượng (kN) chọn sơ bộ (kN) Trọng lượng
Bộ phận công tác của máy đào gầu nghịch 16 - 20 27,17 – 33,96 20.086
Trang 20Thiết bị thủy lực và thiết bị phụ 6,0–10,0 10,19 – 16,98 8.925
Các thông số về gầu, tay cần và cần: