1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TIỂU LUẬN NHÓM đề TÀI TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

52 68 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 304,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu hướng vận động và phát triển của hệ thống đề tài, chủ đề TNĐL theo tinh thầndân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại còn được thể hiện khi các nhà thơ Nôm đã sử dụng vàsáng tạo ra các tiểu l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

BÀI TIỂU LUẬN NHÓM:

ĐỀ TÀI TRONG THƠ NÔM

Trang 2

Table of Contents

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 3

1.1 Cuộc đời Hồ Xuân Hương 3

1.2 Sự nghiệp thơ ca của Hồ Xuân Hương 4

1.3 Đề tài trong thơ Nôm trung đại 5

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG ĐỀ TÀI TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG7 2.1 Đề tài về hang động, đồi núi 7

2.2 Đề tài về đồ vật, con vật, bánh trái 16

2.3 Đề tài về thầy tu và chùa chiền 22

2.4 Đề tài về vua chúa, hiền nhân quân tử, học trò 27

2.5 Đề tài về người phụ nữ 33

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cuộc đời Hồ Xuân Hương

Theo tài liệu nghiên cứu Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của GS Lê Trí Viễn thì HồXuân Hương là người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Họ Hồ ở QuỳnhLưu là một họ nổi tiếng, từng có nhiều người đỗ đạt cao và làm quan to như Hồ Sĩ Đống(anh Xuân Hương) đỗ hoàng giáp, chức đô ngự sử Xuân Hương sinh ra ở đâu, năm nào,chưa rõ Chỉ truyền ngôn là gia đình một thời ở Thăng Long, lúc ở phường Khán Xuân,lúc ở thôn Tiên Thị, và tuổi trưởng thành Xuân Hương lại dựng một ngôi nhà gần Hồ Tây,đặt tên là Cổ Nguyệt Đường bạn bè lai tới nhiều là ở ngôi nhà này Hồ Xuân Hương theo

nề nếp gia đình có được đi học nhưng không nhiều Cứ thơ ca thì ứng với bạn bè cả Nômlẫn Hán, không kể tài thơ Về kiến thức cũng làm các bậc mày râu kính nể

Xuân Hương sinh sống như thế nào, không đâu chép Chỉ thấy ghi nhà nghèo và có

mẹ già Có thời gian Xuân Hương giao thiệp với nhiều bạn bè Được Xuân Hương tặngthơ và cùng xướng họa đều là trí thức, quan lại Xưa kể Chiêu Hổ (Chiêu Hổ không chắc,hoặc không phải là Phạm Đình Hổ) Lưu Hương ký cho thấy thêm khá nhiều: Sơn Phủ,

Cư Đình, Tốn Phong Thị, Thạch Đình, Chí Hiên, hiệp trấn Sơn Nam hạ, hiệp trấn Trầnhầu (tức Trần Phúc Hiển) kể cả một “người cũ” là ông Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu,người Tiên Điền, Nghi Xuân là Nguyễn Du Khách khứa ngâm vịnh như vậy, muốn taonhã, chủ nhân trong nhà không phong lưu cũng đủ chi dùng, và cũng đủ nhàn nhã để nghethơ và xướng họa Mùa xuân năm Giáp Tuất (1814), ông bạn Tốn Phong Thị đến thăm.Trước đó Xuân Hương đã có những 10 bài tám câu bảy chữ đưa tặng và 21 bài họa lại Đường chồng con của bà nhiều long đong Đến nay mới rõ tên một người chồng làTrần Phúc Hiển, vào những năm 10 thế kỳ XIX làm tri phủ Tam Đái về sau là VĩnhTường, rồi tiếp theo giữ chức tham hiệp An Quảng và mất năm 1819 Còn ông Phủ VĩnhTường có phải là Trần Phúc Hiển hay một người khác? Tổng Cóc là ai? Có phải làNguyễn Bình Kình ở phủ Lâm Thao hay là người nào? Trong ba hay hai người đó XuânHương lấy ai trước? Trong mấy mươi bài xướng họa giữa Xuân Hương và Tốn Phong Thị

Trang 4

thấy Xuân Hương không còn mười tám đôi mươi, mà trong tâm tư đã cho mình thuộc số

má đào phận bạc và lấy làm xấu hổ khi nghĩ đến chuyện chồng còn Một điều thườngđược ghi nhận là Xuân Hương đi đây đi đó nhiều nơi, lên tận Tuyên Quang, vào tớiThanh Hóa, ra đến An Quảng, sang cả Ninh Bình, còn Vĩnh Yên, Sơn Tây, Hà Đông đều

có vết chân của nữ sĩ Thời xưa, với phụ nữ, chu du như vậy rất khó Có người không dámtin, nhưng thơ Xuân Hương lại là bằng chứng Xuân Hương lãng du như thế vào thời giannào? Khó mà xác định, nhưng bao nhiêu cảnh, bấy nhiêu tình là chỗ từng trải của XuânHương Xuân Hương mất năm nào? Chưa đâu đáng tin bằng lời thơ của Miên Thẩm:trước 1842 Như vậy, Xuân Hương thuộc vào thế hệ các nhà thơ cuối thế kỷ XVIII đầuthế kỷ XIX và nhỏ tuổi hơn Nguyễn Du

1.2 Sự nghiệp thơ ca của Hồ Xuân Hương

Về sáng tác của Hồ Xuân Hương, thì xem như có hai mảng: mảng thơ Nôm truyềntụng và Lưu Hương Ký.( Theo Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Lê Trí Viễn, NXB Sở Giáodục Nghĩa Bình, 1987.)

1.2.1 Tập thơ “Lưu Hương Ký”

Lưu Hương Ký không chắc còn đầy đủ Gom tất cả lại thì có được 31 bài thơ và vănchữ Hán, 28 bài thơ chữ Nôm, bao gồm thơ năm chữ, bảy chữ, ca, từ, phú Trong bảnchép tay còn giữ được lẫn lộn cả thơ người khác xướng họa với Xuân Hương Hồi mớiphát hiện tài liệu quý báu này, Trần Thanh Mại có bài giới thiệu tương đối kỹ Từ đó đếnnay không mấy ai bàn tới Gần đây, Nguyễn Lộc hai lần đề cập trở lại nhưng để chỉ nhậnxét nó không cùng phong cách với mảng thơ Nôm quen biết và chờ đợi tài liệu tin cậy dứtkhoát hãy coi nó cùng tác giả với các bài thơ truyền tụng kia Lưu Hương Ký với mấymươi tác phẩm như đã được tập hợp, chủ yếu là một tập thơ tình yêu Dù là miêu tả ngoạicảnh hay đối thoại với bạn bè cũng đều là một giọng trữ tình Có buồn vui, có nhớthương, trách móc, tủi phận, có thề sâu, có tiễn đưa, dặn dò, có tin và có sợ….Nhưng tất

cả chỉ là những cung bậc của một tiếng lòng chân thực, cởi mở, tha thiết muốn yêu vàđược yêu, tha thiết với một mối tình chung thủy, bền lâu, ước mong cháy bỏng mà đáp lạichỉ thoảng qua Cho nên, chủ âm của tập thơ là một niềm khắc khoải khôn nguôi

Trang 5

1.2.2 Tập thơ “Xuân Hương thi tập” (thơ Nôm truyền tụng)

Cũng theo tài liệu nói trên của Giáo sư Lê Trí Viễn thì thơ Nôm truyền tụng được ghilại và xuất bản lần đầu tiên với nhan đề Xuân Hương thi tập năm 1913 thì có khoảng trên

40 bài Nhưng khảo sát theo tiêu chuẩn phong cách rồi thận trọng coi như chỉ có khoảng

30 bài có nhiều khả năng là của Xuân Hương, còn 10 bài kia, nét này, nét nọ giống giốngnhưng không phải là thơ Xuân Hương Chính vì thế mà có ý kiến cho rằng thơ XuânHương là hiện tượng văn học dân gian xâm nhập vào văn học viết Bởi tập thơ thể hiệnphong cách đa dạng và độc đáo, lời thơ diễn đạt rất gần gũi với văn học dân gian

1.3 Đề tài trong thơ Nôm trung đại

Trong các bộ môn nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, đề tài là thuật ngữdùng để chỉ phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm nghệ thuật.Khái quát hơn, đề tài thể hiện phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm nghệ thuật Ởphương diện nhất định, khái niệm đề tài gắn với khái niệm chủ đề của tác phẩm

Văn học chữ Nôm bao gồm các sáng tác bằng chữ Nôm, ra đời muộn hơn văn họcchữ Hán (khoảng cuối thế kỉ XIII), tồn tại, phát triển đến hết thời kì văn học trungđại.Văn học chữ Nôm chủ yếu là thơ, rất ít văn xuôi Trong văn học chữ Nôm, chỉ một sốthể loại tiếp thu từ Trung Quốc như phú, văn tế, thơ Đường luật, còn phần lớn là thể loạivăn học dân tộc như ngâm khúc (viết theo thể song thất lục bát), truyện thơ (lục bát), hátnói (viết theo thể thơ tự do kết hợp với âm nhạc), hoặc thể loại văn học Trung Quốc đãđược Việt hóa như thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn.Ở văn học trung đại, hai thànhphần văn học chữ Hán và chữ Nôm cùng phát triển, bổ sung cho nhau trong quá trình pháttriển của văn học dân tộc

Đề tài, chủ đề Thơ Nôm trong tương quan với Đường luật Hán rất phong phú, đadạng và vận động – phát triển theo hai xu hướng: Vừa hướng tới “đồng tâm” với Đườngluật Hán, vừa hướng tới “ly tâm” theo tinh thần dân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại; từhướng nhiều vào mục đích “chở đạo”, giáo huấn chuyển dần sang mục đích phản ánhcuộc sống, xã hội, thời đại và số phận con người Sự thay đổi này đã mở rộng phạm vi

Trang 6

triển của TNĐL trên phương diện hệ thống đề tài, chủ đề mang tính lịch sử, vừa góp phầnkhu biệt tác giả và thời kỳ phát triển thể loại, vừa khu biệt Đường luật Nôm với Đườngluật Hán Nắm được quy luật vận động – phát triển này sẽ góp phần tích cực và có hiệuquả trong nghiên cứu và giảng dạy dòng thơ tiếng Việt, đánh giá đúng những đóng góp tolớn của đội ngũ trí thức phong kiến yêu nước, yêu tiếng mẹ đẻ và giàu tinh thần tự tôn, tựcường dân tộ

Sự vận động và phát triển của TNĐL trên phương diện hệ thống đề tài, chủ đề mangtính lịch sử, vừa góp phần khu biệt tác giả và thời kỳ phát triển thể loại, vừa khu biệtĐường luật Nôm với Đường luật Hán Nắm được quy luật vận động – phát triển này sẽgóp phần tích cực và có hiệu quả trong nghiên cứu và giảng dạy dòng thơ tiếng Việt, đánhgiá đúng những đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức phong kiến yêu nước, yêu tiếng mẹ

đẻ và giàu tinh thần tự tôn, tự cường dân tộc Hệ thống đề tài chủ đề TNĐL xuất hiện xuhướng phá bỏ dần tập quán tư duy nghệ thuật của thơ Đường luật, đem đến một năng lực

tư duy nghệ thuật mới, mở ra những trường mỹ cảm độc đáo, bất ngờ Trong việc lựachọn đề tài, cách thể hiện chủ đề của TNĐL đã có sự kết hợp hài hòa giữa những yếu tốtích cực của tư tưởng Nho giáo với tinh hoa dân tộc và tinh thần thời đại Xuất hiện cảmhứng trào lộng, hé mở nỗi niềm riêng của người làm thơ trong hệ thống đề tài, chủ đềTNĐL Xu hướng vận động và phát triển của hệ thống đề tài, chủ đề TNĐL theo tinh thầndân chủ hóa, dân tộc hóa thể loại còn được thể hiện khi các nhà thơ Nôm đã sử dụng vàsáng tạo ra các tiểu loại đề tài, chủ đề bắt nguồn trực tiếp từ hiện thực đời sống xã hộimang đậm bản sắc dân tộc như: Vịnh sử Nam; Người phụ nữ gắn với những bi kịch trongđời sống tình cảm, Cuộc sống hành lạc; Các “loại sản phẩm” của thể chế xã hội gắn vớicảm hứng phê phán, tố cáo Đây là những đóng góp quan trọng của TNĐL vào tiến trình

nền văn học dân tộc.

Trang 7

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG ĐỀ TÀI TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG2.1 Đề tài về hang động, đồi núi.

Trong gần năm mươi bài thơ, hệ thống đề tài hang động, đồi núi đóng góp một

phần không nhỏ trong hệ thống chùm thơ nôm của Hồ Xuân Hương Hình ảnh của những hang động, đồi núi xuất hiện trong thơ nôm Hồ Xuân Hương rất độc đáo

và đầy ấn tượng Bằng lời thơ, Hồ Xuân Hương đã chỉ ra đặc điểm chung của những

hang động, đồi núi này, đó là tròn, sâu thẳm và mang màu sắc huyền bí

Nếu như tài hoa của Xuân Hương bay bổng trên những vần thơ ngắn thì tài hoa ấylại được bà khẳng định trong việc sử dụng hình ảnh châm biến, liên tưởng, đầy biến hóatuy dâm nhưng đầy thanh tục Điều này đã được Hồ Xuân Hương thể hiện trong bài thơ

“Hang Cắc Cớ”:

“Trời đất sinh ra đá một chòm, Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.

Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn, Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm, Con đường vô ngạn tối om om.

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!”

Trang 8

khát vọng tình yêu, chính xác hơn là khát vọng tình dục của người phụ nữ Người phụ nữ

họ cũng cần được thỏa mãn tình dục thâ ̣m chí nó còn rất mãnh liê ̣t

Động Hương tích cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho mảng thơ về hang

động và đồi núi trong thơ Hồ Xuân Hương Động Hương Tích được mệnh danh là “NamThiên đệ nhất động” - động đẹp nhất trời Nam Hồ Xuân Hương đã không khỏi rung độngkhi đứng trước động Hương Tích và bật lên lời khen:

“Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm, Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.

Người quen cõi Phật chen chân xọc,

Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.

Giot nước hữu tình rơi thánh thót, Con thuyền vô trạo cúi lom khom.

Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,

Rõ khéo trời già đến dở dom!”

(Động Hương Tích)

Nữ sĩ chỉ tay vào cảnh vật khéo khen ai đã sắp đặt nên một động Hương Tích cănđối ở bên trái, bên trái, phía trên, phía dưới hoài hòa cùng với cảnh non nước nơi này.Trước cảnh non nước đẹp ấy, chắc hẳn ai cũng phải đắm say, mê mẩn theo nó, nhưng đọcthơ Hồ Xuân Hương có cảm giác như bà đang đứng ngoài cảnh đẹp ấy Con người mạnh

mẽ, ngạo nghễ đang đứng bên ngoài quan sát vào trong để thấu đáo những việc mà nhân

gian chưa tường rõ Phải chăng “cái lỗ hỏm hòm hom” ấy còn ẩn chứa nhiều hơn ý nghĩa

của cái đơn thuần là cảnh vật

Bằng tài năng quan sát và mô tả, Hồ Xuân Hương tái hiện một cách chân thực nhất

về Hang Cắc Cớ và Động Hương Tích Đây là những hang động có cái lỗ hỏm hòm

hom, là những cái hang tròn, sâu mà nhỏ, ở đó có con thuyền vô trạo (không có bơi

chèo), con đường vô ngạn (không có thành bờ tay vịn), có giọt nước rơi từ thạch nhũ,

Trang 9

có gió thổi vào hang nghe phập phòm Cũng chính điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn, kích

thích sự tò mò và mong muốn khám phá, chinh phục của người đọc khi tìm hiểu thơ

Hồ Xuân Hương

“Hang Thánh Hóa” hiện lên với những ngoàm đá với các hõm to, nhỏ, với lườn

đá có cỏ leo rậm rạp, có nước rỉ lách khe mó lam nham đầy sự bí ẩn, nguy hiểm:

Khen thay con tạo khéo khôn phàm, Một đố giương ra biết mấy ngoàm.

Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp, Lách khe nước rỉ mó lam nham.

Một sư đầu trọc ngồi khua mõ, Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am.

Đến mới biết là hang Thánh Hoá, Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham!

(Hang Thánh Hóa)

“Hang Thánh Hóa” phần nào có nét tương đồng với “Hang Cắc Cớ”, Hồ Xuân

Hương một lần nữa dùng ngôn ngữ tục mà thanh để miêu tả về hang đô ̣ng, để thể hiê ̣nkhát khao thầm kín của người phụ nữ phong kiến Cùng với bài “Hang Cắc Cớ”, bài thơ

“Hang Thánh Hóa” – chùa Thầy thể hiê ̣n nét phóng túng, nghịch ngợm và giỏi tưởngtượng của thi sĩ Hồ Xuân Hương, mô ̣t nét riêng trong phong cách thơ của bà, đồng thờithể hiê ̣n khát vọng của người phụ nữ được phá đi cái xiềng xích luâ ̣t lê ̣ phong kiến để làmnhững điều mình thích, nỗi khát khao rất đỗi đời thường

Ở “Kẽm Trống” Hồ Xuân Hương mượn hình ảnh của thiên nhiên để nói về thân

phận người phụ nữ, một tiếng nói mạnh mẽ, sâu cay và mang một vẻ rất riêng:

Hai bên thì núi giữa thì sông.

Trang 10

Gió giật sườn non khua lắc cắc, Sóng dồn mặt nước vỗ long bong,

Ở trong hang núi còn hơi hẹp,

Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.

Qua cửa, mình ơi nên ngắm lại, Nào ai có biết nỗi bưng bồng.

(Kẽm Trống)

“Kẽm Trống” xuất hiện rất nhiều từ liên quan đến nước như: “sông”, “sóng”,

“sóng dồn”, “nước”, “vỗ”, “nước vỗ”, “long bong”, “thùng” Ngoài ra, trong bài thơ Kẽm Trống còn có một số các từ đáng chú ý khác là: “trống”, “hang”, “hẹp”, “ra khỏi”,

“rộng thùng”, “qua cửa mình (ơi)”, “nỗi bưng bồng” Chữ trống cho ta liên tưởng đến bụng bầu của người đàn bà sắp đến ngày sanh nở và ngay câu mở đầu “hai bên thì núi, giữa thì sông” cho ta thấy cảnh người sản phụ đang nằm trong tư thế sẵn sàng sinh con.

Các nhóm từ khác như qua cửa mình, hang, hẹp, ra khỏi, rộng thùng cộng với ý tưởngnước trong bào thai bụng mẹ vừa dẫn giải ở trên cho ta hình dung đến cảnh tượng nhưsau: đứa bé từ trong bụng to như cái trống xuôi theo đường âm hộ nhỏ hẹp nhờ nước tràn

ra từ bào thai để rồi sau đó vượt ra khỏi cửa mình của mẹ để vào một thế giới không gianrộng thùng và được tiếp nhận bồng ẩm bởi người thân Hồ Xuân Hương qua ẩn ý của bàithơ này muốn cho người đàn ông thấy là đàn bà có một nhiệm vụ rất là thiêng liêng, cao

cả hơn hẳn đàn ông là nhiệm vụ sinh con và sanh ra sự sống

Không chỉ những “Hang Cắc Cớ”, “Động Hương Tích”, “Hang Thánh Hóa”,

“Kẽm Trống”,… mà cả những hòn đá như: “Đá Ông Chồng Bà Chồng” cũng hiện lên

trong thơ bà một cách đầy tinh tế:

Khéo léo bài trò tạo hóa công Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng Từng trên tuyết điểm phơ đầu bạc

Trang 11

Thớt dưới sương pha đượm má hồng Gan nghĩa dãi ra cùng nhật nguyệt Khối tình cọ mãi với non sông

Đá kia còn biết xuân già dặn Chả trách người ta lúc trẻ trung.

(Đá Ông Chồng Bà Chồng)

Tạo hóa thật hay, thật khéo léo khi đã bày trò cho thiên nhiên những hình tượnghết sức giống con người Đá Ông Chồng Bà Chồng đã hay lại quí, một tảng đá lớn đè lêntrên một tảng đá nhỏ hơn Qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương, nó trở thành một tác phẩmđiêu khắc cảnh làm tình của thiên nhiên, đá thành người và người đang yêu nhau ở nhữngthời điểm mà lại là ông và bà, những người già Tưởng tượng của thi nhân đã đẹp lại cònbao dung Tầng trên đá bạc rêu trắng như tuyết điểm, tầng dưới má thẹn ửng hồng Ngắmnghía đá Ông Chồng Bà Chồng, Hồ Xuân Hương đã hào hứng phả tình vào đá, tình đávượt hóa tình xuân Hồ Xuân Hương đã đón nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan,

đã truyền sức sống vào cảnh vật, truyền cái đa tình của mình vào đá Đọc thơ Hồ XuânHương ta thấy cảnh vật không còn là những vật vô tri vô giác, mà nó đã bừng tỉnh giấc,tràn đầy sức sống mang những xúc cảm và nhất là để yêu Ở đây, ta thấy một XuânHương yêu thiên nhiên và sau Xuân Hương, thiên nhiên trong độ phát triển sung sức, dồidào sức sống Khi đứng trước thiên nhiên, ngay trước những vật tầm thường nhỏ nhoinhất, bao giờ Xuân Hương cũng có một sự ngạc nhiên thú vị, bao giờ cũng tìm thấy một

vẻ mới mẻ, một lí do để càng gắn bó với cuộc sống

Trang 12

Ba chạc cây xanh hình uốn éo, Một dòng nước biếc cảnh leo teo.

Thú vui quên cả niềm lo cũ, Kìa cái diều ai nó lộn lèo.

(Câu 7, 8 Có bản chép: Nhìn xem phong cảnh vui là thế/ Nỡ để tri âm khách lạt tèo)

(Quán Khánh)

Bài thơ này chỉ có thể làm trong thời đại cũ, một thời đại cuối vua Lê chúa Trịnh, tất

cả mọi cái, từ vua chúa đến quan lại, đều “lộn lèo” cả lên Vì xã hội đã lộn tùng phèo như vậy, nên Xuân Hương mới “đứng chéo trông theo cảnh hắt heo” chứ không chịu đứng

thẳng hai chân một cách trang nghiêm Một nụ cười thật thâm sâu, cười cho cảnh đời trớ

trêu, hắt heo ấy Dù không nhắc đến hình ảnh con người nhưng qua hình ảnh “mái cỏ”,

“kèo tre” ta cũng phần nào hình dung được cuộc sống khó khăn của người dân lúc bấy

giờ Nhà cửa, mái nhà thì cũng chỉ làm bằng cỏ, những cây cột chống đỡ cho ngôi nhà thìcũng xiên vẹo Phóng tầm mắt xa hơn ta thấy dường như cảnh thiên nhiên không còn

hùng vĩ, sừng sững và đồ sộ nữa mà giờ lại “uốn éo”, “leo teo” Lượng từ “một” càng tô

đậm thêm sự nhỏ bé, yếu ớt Ngay cả những niềm vui nhỏ bé, đơn giản của con người lúcbấy giờ, tất cả đã lộn lèo Ngôi nhà xơ xác với cái cột khẳng kheo; thiên nhiên uốn eo, leoteo; cánh diều lộn lèo,… Tất cả mọi thứ, tất cả cảnh vật, thiên nhiên dường như đangđồng cảm với số phận cùng cảnh ngộ của con người khi sống trong một xã hội mà mọi

thứ đều “lộn lèo” Qua những hình ảnh cùng cách gieo vần “eo”: “chéo, theo, (hắt) heo, (thiên) thẹo, cheo leo, (kẽ) kèo, (khẳng) kheo, (uốn) éo, lèo tèo, (lộn) lèo”, ta cảm nhận

đươc rằng có một sự hài hước, dí dỏm trong cách gieo vần của Hồ Xuân Hương nhưng ẩnsâu trong đó là niềm đau xót, lên án mạnh mẽ cái xã hội đương thời

Không chỉ thể hiện sự lên án sâu sắc về xã hội thối nát đương thời mà thông qua đó

“bà chúa thơ Nôm” còn thể hiện tâm trạng cùng nỗi niềm khát khao hạnh phúc của mình

Hình ảnh “ba chạc cây xanh” đã gợi cho ta liên tưởng đến sinh thực khí nam Đặc trưng

của cây ba chạc là có rễ đâm sâu xuống mạch nước ngầm của lòng đất (sinh thực khí nữ)

mà vì thế nó có một sức sống hết sức dẻo dai, mãnh liệt Và trong bài “Quán Khánh”, Hồ

Trang 13

Xuân Hương cũng đã miêu tả đặc điểm của loại cây này “xanh”, cho thấy sự phát triểnsinh sôi Qua đó càng làm rõ hơn về tín ngưỡng phồn thực Biểu hiện của khát vọng vềcuộc sống con người và thiên nhiên nẩy nở, sinh sôi, viên mãn, trường tồn đã làm cho đờisống văn hóa nói chung và nghệ thuật tạo hình của nhân loại nói riêng ngay từ buổi hồnghoang đã chứa đựng những chất sống sung mãn và đạt được sức mạnh biểu hiện sâu sắc.Phồn thực luôn được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là giao hòa đực cái, sự sinh sôi nòigiống hay biểu đạt tính tượng trưng của giao hòa nam nữ mà còn là sự mong muốn, khátkhao cuộc sống no đủ, đông đúc, cuộc sống được sinh sôi, nẩy nở, mùa màng tươi tốt, cây

cỏ xanh tươi, hoa quả nặng trĩu cành Tín ngưỡng phồn thực càng khẳng định rõ hơn khi ở

câu tiếp theo bà có nhắc đến hình ảnh “một dòng nước”, và “dòng nước” ấy lại là “dòng nước biếc” Tất cả cho thấy sự phát triển của mọi vật trong thiên nhiên khi có sự kết hợp sinh thực khí nam và nữ Lượng từ “một” càng khắc họa rõ hơn về tâm trạng cùng nỗi

niềm cô đơn của dòng nước kia Từ đó ta thấy niềm khát khao hạnh phúc cùng nỗi cô đơnluôn hiện hữu trong con người của người thi sĩ tài năng này

Có ý kiến cho rằng thơ Hồ Xuân Hương là “thi trung hữu quỷ”, có thể hiểu ý của chữ

“quỷ” ở đây chính là nghệ thuật điều khiển chữ nghĩa của nữ sĩ đã đạt tới mức tuyệt đỉnh

và khả năng cuốn hút, ám ảnh của thơ bà thật siêu phàm, ma mị Điều này thể hiện rất rõ

trong bài thơ “Đèo Ba Dội”:

Một đèo, một đèo, lại một đèo, Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.

Cửa son đỏ loét tùm bum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc, Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.

Hiền nhân quân tử ai là chẳng?

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

(Đèo Ba Dội)

Trang 14

Bài thơ có cách phá đề rất lạ “Một đèo, một đèo, lại một đèo”, nữ sĩ viết như thế thì

nhạc điệu câu thơ cho thấy tư thế, thậm chí cả hơi thở mệt nhọc của người đang cố leođèo Vừa hết dốc này, chưa kịp nghỉ ngơi cho khỏe thì dốc khác lại sừng sững trước mắt.Khi lên đến đỉnh đèo, lữ khách thở phào sung sướng trước cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ

hiện ra trước mắt và bật thốt lên lời khen ngợi “Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo” Ở đây,

nữ sĩ dùng đại từ phiếm chỉ “ai” và như thể cố tình hạ bớt quyến năng tối thượng của siêunhiên để cho gần với con người hơn Con người sáng tạo ấy lại hóm hỉnh và tinh nghịch

khác thường khi “khéo tạc cảnh cheo leo” của đèo Ba Dội Hình ảnh cửa son, hòn đá là

những sự vật bình thường nhưng “cửa son đỏ loét” và “hòn đá xanh rì” thì đã thấp thoáng

dấu ấn Hồ Xuân Hương Thêm hai tính từ “đỏ loét” và “lún phún” đã rõ ràng là Xuân

Hương chẳng lẫn bởi bà rất giỏi trong sáng tạo và chơi từ độc! Nếu như ở cặp câu thực,hình ảnh cửa son và hòn đá là những sự vật tĩnh trở nên sinh động bởi màu đỏ loét của

sơn và xanh rì của rêu thì ở cặp câu luận “Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc/ Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo”, mọi sự vật đều sống động lạ kỳ như có linh hồn: “cành thông thì lắt lẻo, gió thì thốc, lá liễu thì đầm đìa, giọt sương thì gieo” Hầu như Hồ

Xuân Hương sử dụng những động từ, tính từ rất mạnh! Và có một sự liên tưởng đầy bất

ngờ và thú vị ở phần kết của bài thơ “Hiền nhân quân tử ai là chẳng?/ Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.”, Hồ Xuân Hương tả thực mà ám chỉ, thanh mà tục, tục mà thanh Ngày

xưa, người dân ít khi ra khỏi địa phương mình sinh sống Còn những đệ tử của nho giáotheo đòi nghiệp bút nghiên hay muốn học hành đỗ đạt để ra làm quan với mục đích tốtđẹp là phò vua giúp nước hay mục đích tầm thường và vinh thân phì gia thì đều phải vàoKinh ứng thí (kinh đô Huế) Muốn vào Huế thì bắt buộc phải leo qua đèo Ba Dội cheoleo, hiểm trở, cho dù mỏi gối chồn chân Cái cười tinh nghịch, giễu cợt của Xuân Hương

ngụ trong bốn chữ hiền nhân quân tử và chữ “muốn” Ngày xưa, bậc vua chúa, quan lại

và tầng lớp nho sĩ thường tự xếp mình vào tầng lớp cao sang nhất của xã hội và tự xưng

là hiền nhân quân tử Muốn thành tầng lớp ấy thì bắt buộc phải học hành, thi cử tới nơi tớichốn Vào kinh đô Huế thi Đình để được thành Trạng Nguyên, Thám hoa, Bảng nhãnhoặc ông Nghè rồi được bổ nhiệm, thăng chức quan lớn quan bé “phụ mẫu chi dân” Cái

Trang 15

bả công danh như mùi rượu thơm đầu gió, hấp dẫn thế cơ mà! Vậy thì trèo! Khó mấycũng trèo, mệt mấy cũng trèo!

Nhưng chữ “muốn” khác chữ “phải” xa lắm về mặt hàm ý: phải là bắt buộc, miễn

cưỡng chấp nhận; còn muốn là hoàn toàn tự nguyện Những bậc hiền nhân quân tử không

hề ngán ngại cái đèo Ba Dội trong liên tưởng kia, mà ngược lại: Mỏi gối chồn chân vẫn

muốn trèo; sức cùng lực kiệt vẫn muốn trèo!!! Chứng tỏ “cái đèo” ấy có sức cuốn hút ghê

gớm khó mà cưỡng lại! Như vậy, từ sự vật này, Hồ Xuân Hượng khiến người đọc hình

dung ra sự vật khác Từ hành động trèo đèo Ba Dội sang hành động “trèo đèo” khác vốn

dĩ là bản năng tự nhiên xảy ra hằng ngày của con người Ấy thế nhưng cái đám tự xưng

là hiền nhân quân tử cao quý kia tuy luôn tỏ vẻ khinh bỉ, coi thường nhưng chẳng ai làkhông thích, không muốn, có khi còn “ham hố” nữa là đằng khác Đây như là tiếng cườichâm biếm của nữ sĩ họ Hồ đau như roi quất vào mặt và tiếng cười khanh khách ấy cònvọng mãi tới bây giờ - khi đám đạo đức giả đang nhan nhản trong xã hội!

Với “Kẽm Trống, Đá Ông Chồng Bà Chồng, Quán Khánh, Đèo Ba Dội”, là

một thế giới hang động, đồi núi hiện ra dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương cùng mang

những đặc điểm chung là cảnh thiên nhiên đẹp, sống động, đầy màu sắc và tràn đầy

sức sống Đặc biệt ta thấy được tài năng của Hồ Xuân Hương khi mô tả rất thực tế và

sống động về một thế giới hang động, đồi núi thật phong phú và đa dạng.

Có thể thấy rằng thế giới hang động, đồi núi trong thơ Hồ Xuân Hương thật ấntượng Ấn tượng không bởi nét hoang sơ, hùng vĩ hay sự khác biệt, lạ lẫm của cảnh vậtthiên nhiên mà chính vì nét gần gũi, quen thuộc Thế giới hang động, đồi núi là thế giớicủa những cuộc hành trình khám phá vô cùng tinh nghịch, hồn nhiên,… Dường như thếgiới ấy không bị gò bò, ràng buộc bởi một chuẩn mực, khuôn thước nào cả Nó mang lạicho con người những rạo rực, háo hức cũng như khát khao đi tìm một bến bờ hạnh phúc

Có lẽ vì thế mà khi thâm nhập thế giới hang động, đồi núi trong thơ Hồ XuânHương, ta cũng thấy thú vị và thỏa lòng

Trang 16

2.2 Đề tài về đồ vật, con vật, bánh trái.

Thời đại Hồ Xuân Hương, hầu hết các nhà thơ, nhà văn thường đi theo lối đề vịnh

quen thuộc “thi ngôn chi” nhưng nữ sĩ lại chọn cho mình một con đường riêng, khác biệt với “số đông” lúc bấy giờ Hồ Xuân Hương đi sâu vào khám phá, khai thác thế giới tự

nhiên Thế giới ấy khoát lên mình vẻ đẹp tự nhiên và quen thuộc, mà theo nữ sĩ điều đóxứng đáng được trao truyền lại cho cuộc đời Đó là những nét đẹp dung dị, đời thường mà

ta mảy may không quan tâm và quên bẳn đi Nhưng cũng không vì thế những hình ảnh

như trái mít, con ốc, bánh trôi, cái đu, chiếc quạt, khung cửi khung tranh,… khi đi vào

thế giới thơ Hồ Xuân Hương lại vơi đi sức hấp dẫn, cuốn hút của nó Chính những điềutưởng chừng bình dị, quá đỗi quen thuộc lại làm nên những ấn tượng và độc đáo đến lạthường

Mít là loại trái cây có ở khắp vùng người Việt sinh sống Con ốc ở bất cứ vùng quê nào cũng có Bánh trôi là món chè ngọt người dân thường ăn Cái đu ở các vùng phía Bắc

thường dựng lên trong suốt 3 tháng mùa xuân để khi tổ chức lễ hội, người dân có dịp giao

lưu với nhau Giếng nước đầu làng quen thuộc như cây đa, mái đình, sinh hoạt thường nhật của người dân Chiếc quạt giấy không hề xa lạ với người dân xứ nóng Khung cửi là hoạt động lao động phần lớn của người dân ở nông thôn Khung tranh ngày Tết vẫn thường được treo trong nhà như tranh làng Hồ, tranh Hàng Trống…Chiếc trống của lễ hội, của đình đền ở làng nào chả có Đồng tiền là phương tiện giao dịch mua bán không ai

là không có Miếng trầu là đầu câu chuyện Mời nhau ăn trầu, bửa cau, têm trầu, quệt vôi

là việc làm thường xuyên của mỗi gia đình có người lớn tuổi Trẻ con thường được saingoáy trầu Sân vườn mỗi nhà ít nhiều cũng có một vài cây cau, thả vài dây trầu quấn

quanh vừa là cây cảnh đẹp vừa để dùng quanh năm Kể cả rêu, cỏ yếu ớt thậm chí không

có giá trị gì cũng luôn có mặt trong thơ Xuân Hương Điều quan trọng là Xuân Hương tảnhững hình ảnh quen thuộc này theo nguyên lý động Chất sống của sự vật rất quan trọngtrong thơ Xuân Hương Chưa bao giờ Xuân Hương nhìn sự vật ở trạng thái tĩnh

“Quả mít” - chỉ với bốn câu ngắn ngủi, Hồ Xuân Hương đã diễn tả rất thực về đặc

điểm của quả mít da xù xì, múi dày, cơm vàng óng:

Trang 17

Thân em như quả mít trên cây

Da nó xù xì, múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay!

(Quả mít)

Song song đó còn có sự liên tưởng từ “em” đến người “quân tử” với hành động

“đóng cọc” cho mít mau chín, hành động “mân mó nhựa ra tay” khi cầm lên đặt xuống,

xem tới xem lui, xem chỗ nào cứng chỗ nào đã mềm có thể ăn được Đó là một bức tranhsinh động không đơn thuần về hình dáng, màu sắc, tính chất mà còn là sự thích thú, mong

muốn và hành động của con người trước sự trần trụi hấp dẫn của quả mít mà “múi nó

dày”…

Tương tự như quả mít, “Con ốc” trong thơ Hồ Xuân Hương mang một thân phận thấp

hèn, sống “lăn lóc” ở “chốn cỏ hôi” suốt đêm ngày, có “yếm” có “lỗ trôn” Cũng có nhân vật “tôi”, cũng có chàng “quân tử”, cũng có hành động “thương, bóc, ngó ngoáy”:

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi, Đêm ngày lăn lóc chốn cỏ hôi

Quân tử có thương thì bóc yếm

Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi

Trang 18

Trong thơ vịnh vật mọi từ ngữ, chi tiết, hình ảnh… đều nhằm hình thành hình tượng

sự vật nhưng thực chất thông qua đó người viết gợi đến các vấn đề liên quan đến con

người “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương tuân thủ nghiêm túc quy tắc ấy:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non.

Cô gái hội đủ vẻ đẹp bên ngoài “trắng, tròn” và phẩm chất “tấm lòng son” Đặc biệt là

dù sống trong môi trường đầy khó khăn “ba chìm bảy nổi”, hay sự phụ thuộc “rắn nát”

do kẻ nặn… người con gái luôn vươn lên làm chủ tình cảm, làm chủ nhân cách để giữ

được “tấm lòng son”

Để viết nên hai thi phẩm vịnh cái quạt, nữ sĩ tiếp thu cách biểu đạt ngôn từ và hìnhtượng nghệ thuật trong những câu đố cổ truyền của người dân Việt về chiếc quạt giấy:

Rành rành ba góc rành rành Khi thì ẹp lại khi thì vạnh ra

Khi vui thì sướng hay là Khi buồn thì chảy nước ra là là

hay

Trời sinh ra ba góc khéo về ba

Trang 19

Một góc thiếu đi một miếng da Nhấp nhổm càng lâu càng thấy sướng Tại sao nước nọ chẳng tuôn ra.

Trong thơ Hồ Xuân Hương,“Cái quạt” xuất hiện với tâm thế là một vật gần gũi nhất

nhưng khôn kém phần linh hoạt và năng động:

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa, Duyên em dính dánh tự ngàn xưa

Chành da ba góc da còn thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.

Mát mặt anh hùng khi tắt gió, Che đầu quân tử lúc sa mưa.

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

(Cái quạt I)

Mười bảy hay là mười tám đây, Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

Mỏng dày chừng ấy chành ba góc, Rộng hẹp nhường nào cắm một cây.

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát, Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy, Chúa dấu vua yêu một cái này.

Trang 20

Hình ảnh “chành ra, khép lại, phì phạch…” (Cái quạt (I)), cùng với vẻ đẹp “hồng hồng, má phấn, mỏng, dày, rộng, hẹp…” (Cái quạt (II)) khiến cho người dùng nó phải quyến luyến chẳng “rời tay, nâng niu, yêu dấu yêu đêm, yêu ngày” Chẳng những thế nó còn có những công dụng khác, không chỉ có “mát mặt anh hùng”, nó còn có thể “che đầu” che mưa cho người “quân tử” Ở độ nóng cao, lúc “tắt gió”, quạt càng “mát” Nâng niu ban đêm “chưa phỉ”, lại thêm “yêu dấu” lúc ban ngày Người đọc chóng mặt vì

độ quay của chiếc quạt, nó hoạt động không ngừng nghỉ trên tay hết “vua” đến “chúa”, hết “anh hùng” tới người “quân tử”… Cái quạt trong thơ Hồ Xuân Hương vừa thật

nhưng cũng lắm mông lung, huyền ảo thách thức sự tò mò, tưởng tượng và có khả năng

mê hoặc, cuốn hút con người

“Giếng nước” là hình ảnh thân thương của người trong một làng Giếng là nơi tập

trung sinh hoạt mỗi ngày, giếng cũng là nơi bày tỏ tình cảm, thông báo tin tức, cũng là nơiquang gánh đi về tình tự bên nhau Vì thế đi xa ai cũng nhớ Cùng với gốc đa đầu làng,ngõ trúc quanh co, giếng nước còn là nơi sinh hoạt tinh thần đậm nét truyền thống của dântộc ta Xuân Hương đã chọn hình ảnh quen thuộc này như cột mốc quan trọng trong đờisống tinh thần người Việt để dẫn giải một nét đẹp mà bình thường khôn dễ gì nhận ra:

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông, Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép, Nước trong leo lẻo một dòng thông

Trang 21

gánh nước bằng đôi thùng gỗ hoặc nồi đình Hồ Xuân Hương giới thiệu không gian, nơi

người ta thường bắt gặp ở các giếng nước Đặc điểm của giếng này “tốt” và “lạ lùng” vì

có “cầu trắng đôi ván ghép, nước trong, cỏ gà mọc lún phún ở quanh mép, cá diếc thì lách giữa dòng…” Cái giếng làng hiện lên như nó vốn có nhưng có sức ám gợi cao Thường người ta chỉ nói “dòng sông” không ai nói “dòng giếng” nhưng Hồ Xuân Hương dùng đến hai lần từ “dòng” và giếng thì làm gì có cá mà “le te lách” Hình ảnh cái giếng

“thanh tân ai cũng biết” ai cũng rõ rằng cái giếng ấy có nước trong, nước ngọt và nuôi sống cả dân làng Thế nên “Đố ai dám thả nạ dòng dòng” Đây là cái giếng của của mùa

xuân, của hoạt động cuộn trào, náo nhiệt, sôi động Giếng cũng là nơi tắm mát, lấp đầy vìthế mà “cỏ gà” trỗi dậy “lún phún”, “cá diếc” quẫy đạp “le te lách” Những chuyển động

ấy chính là hành trình của sự trổi dậy đầy nội lực

“Đá” là vật thể quen thuộc ở vùng núi nước ta Nhưng đá trong thơ Xuân Hương

không chỉ đơn thuần là đá Đá còn thể hiện ở sức nặng, sự cứng cỏi, sự rắn chắc và đábao giờ cũng có hình thẳng đứng vươn lên chín tầng cao

Khen thay con tạo khéo khôn phàm, Một đố giương ra biết mấy ngoàm.

Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp Lách khe nước rỉ mó lam nham

Những lườn đá, bậc đá, hòn đá, chòm đá, đẽo đá, đeo đá, đá ông chồng bà chồng,

cả thạch nhũ nữa hiện lên hết sức sinh động, ngộ nghĩnh, đa dạng Điều đó thích hợp để

Trang 22

Ẩn chứa trong sự quen thuộc của đề tài về đồ vật, con vật, bánh trái trong thơ HồXuân Hương là những điều bất ngờ, thú vị Càng ngẫm sâu về con chữ của Hồ XuânHương, ta càng thấy được những tâm tư, nguyện vọng và gần hơn là những tiếng cười hồnnhiên, tiếng khóc nhiệt huyết, tiếng chửi mạnh mẽ đối với xã hội có quá nhiều bất côngngang trái đang tồn tại

2.3 Đề tài về thầy tu và chùa chiền

Xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX đã đánh dấu sự mục ruỗng của xã hộiphong kiến từ trong ra ngoài, kéo theo đó là sự xuất hiện của những “quái thai xã hội” –những kiểu người dị dạng, giả dối, đạo đức giả, chà đạp lên những giá trị truyền thống tốtđẹp Những kiểu người này chính là đối tượng đả kích chính của bút pháp châm biếm.Bằng cái nhìn sắc sảo bao quát cuộc sống, ngòi bút châm biếm Hồ Xuân Hương trở nêngiàu sức chiến đấu khi đã vạch trần, tố cáo, đả kích đủ mọi tầng lớp tiêu cực trong xã hội

Ngòi bút ấy hướng đến trước hết là tầng lớp nhà sư và không gian chùa chiền Đây

là những hình ảnh rất quen thuộc và được tôn kính ở đất nước ta Nhưng trong xã hội rốiren lúc bấy giờ, nhà chùa không còn là nơi tu hành tôn nghiêm nữa Nhiều kẻ lợi dụngchùa chiền để làm điều bậy bạ Nhà sư với những phẩm chất cao quý, với sứ mệnh lớnlao, v.v… đến thời Hồ Xuân Hương chỉ còn là một “đại tự sự” không có thật Thơ Xuân

Hương viết khá nhiều về họ: Chùa Quán Sứ, Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Kiếp tu

hành… mà tuyệt nhiên không thấy một bài nào ngợi ca Hồ Xuân Hương chỉ trích thậm

tệ sự sa đọa của các nhà sư, bà mỉa mai hạng tu hành không giữ vững được đạo nên phải hoàn tục Nhà thơ phác họa vài nét nhưng qua đó người đọc phần nào nhận ra giọng điệu châm biếm, thâm thúy, sâu cay của tác giả về những cảnh “chướng tai gai mắt” ở nơi

tôn nghiêm

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,

Vị gì một chút tẻo tèo teo.

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc, Trái gió cho nên phải lộn lèo.

Trang 23

Sự thâm thúy của Hồ Xuân Hương còn ở cách dùng từ Ở đây, từ “phải” bà dùng rất

“đắt” Bà không nói “mới lộn lèo”, “đã lộn lèo” vì “mới, đã” trong ngữ cảnh này cònmang tính khách quan, đôi khi vượt ra ngoài nỗ lực kiềm chế của con người Nhưng “phảilộn lèo” thì hoàn toàn khác hẳn Nó mang cả ý chí chủ quan đầy dục vọng của kẻ tu hành

chưa thắng được bản ngã Chỉ trích như thế chưa đủ, Hồ Xuân Hương còn tung hứng ngôn từ với cái tài chơi chữ mà người đời sau gọi Nữ sĩ là Bà Chúa Thơ Nôm Với lối

“nói lái” phổ biến trong ca dao, nữ sĩ đã thẳng thừng lật mặt, bôi vôi kẻ đội lốt tu hành

Bài thơ đã mượn cái vỏ của thể loại thất ngôn tứ tuyệt để tâm tình, ca thán về sự sáo rỗng của tâm hồn, sự xói mòn của đạo đức và chua xót hơn là sự dối trá với chính mình.

Bài Sư bị ong châm nối tiếp mạch suy nghĩ ấy của Hồ Xuân Hương Trước hết bài thơ

mang giọng điệu hỏi thăm, giống như Nguyễn Khuyến hỏi thăm một ông tham quan nọ bịcướp đến “thăm hỏi”:

“Cướp của đánh người quân tệ nhỉ, Xương gà, da cóc có đau không?”

Hỏi thăm một cách thóc mách, hỏi thăm để tố cáo: Không hiểu nhà sư đi đâu mà dáng vẻhấp tấp, vội vã, nấp lén…như sợ bị phát hiện Nhà sư đang đi đâu kia rõ ràng không phải

đi làm việc đại sự, thậm chí chắc chắn là việc làm không lương thiện Cho nên mới bị ongchâm Nó châm vào đầu sư không đội nón vì nó tưởng đó là cái gì…của bà cốt Chỉ có HồXuân Hương mới có thể tưởng tượng ra hình ảnh như thế Ngoài ra Hồ Xuân Hương còn

Trang 24

chửi thôi Con ong bé cái nhầm hay con ong cố tình nhầm để châm chích, và cũng để chongười có cái cớ mắng chửi Đầu sư giống “gì…bà cốt” nên đầu sư cũng ngang với gì bàcốt vậy Hồ Xuân Hương mắng con ong mà như chửi thẳng vào mặt của giới tu hành vậy.

Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,

Đi đâu chúng đội để ong châm

Đầu sư há phải gì bà cốt,

Bá ngọ con ong bé cái nhầm.

(Sư bị ong châm)

Đằng sau cái lớp nghĩa trêu chọc, bông đùa là sự phê phán gay gắt, là phản ứng mãnhliệt trước bao kẻ lợi dụng cái gọi là quốc giáo, là bao kẻ đội lốt tu hành làm hoen ố cửaPhật Hình dáng không giống ai, trọc đầu nhưng không có đuôi sam nên chẳng phải Ngô,

và không có tóc nên chẳng giống dân ta một chút nào vì ở nước ta nam nữ thời ấy đều đểtóc dài: “đầu thì trọc lốc, áo không tà” Tất nhiên thầy tu phải như thế nhưng trong cáchnói của Hồ Xuân Hương cho thấy sự luộm thuộm, lôi thôi, không tươm tất thông qua cáchnói nhấn mạnh “trọc lốc, không tà” Các vị sư này đều có đủ “nào nón tu lờ”, nào “mũthâm” thế nhưng đi ra đường lại không thích đội “ đi đâu không đội để ong châm” Đó là

sự vụng trộm, là thái độ thiếu vẻ đường đường chính chính của một nhà tu hành Thậmchí, cái căm ghét của nữ sĩ họ Hồ có khi bật lên thành tiếng văng tục:

Ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương luôn thể hiện một cái tôi mạnh mẽ Với bọn

sư không lo tu hành, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương có những sự khắc họa hiểmhóc, tài tình:

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lốc, áo không tà.

Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm, Vải núp sau lưng sáu bảy bà.

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,

Trang 25

Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.

Tu lâu có lẽ lên Sư cụ, Ngất nghểu toà sen nọ đó mà.

(Sư hổ mang)

Bút pháp giễu nhại, biếm họa đã dựng nên bức chân dung các vị sư hổ mang một cáchtrớ trêu: Chẳng phải giặc, cũng không phải quân mình Một cách oái oăm, bà đặt sư vàomột mối quan hệ đối lập sống còn xưa nay, Ngô – ta (quân thù – đất nước), và cười khẩykhi khám phá ra những nét cá biệt, chẳng hiểu là Ngô hay ta của sư: đầu trọc – thì chẳngphải Ngô rồi, mà áo truyền thống của ta là áo có tà, áo sư có tà đâu? Việc đẩy đối tượngchâm biếm vào một vị thế lai căng, chông chênh ở giữa giống như một cái cười tinh quái

Ví với giặc, dù không phải là giặc, thì vẫn là một sự sỉ nhục Mà bảo sư không phải dânmình, cũng lại là một sự sỉ nhục khác

Là một cái tôi khao khát sống mãnh liệt, Hồ Xuân Hương ghét cay ghét đắng những

kẻ tự tách mình ra khỏi đời sống, hay nói đúng hơn, là lấy cớ đi tu để tách mình ra khỏiđời sống, nhưng bên trong thì vẫn đầy những ham muốn đồi bại, dung tục, làm xấu mặttôn giáo mà mình đang phụng sự Về đề tài sư hổ mang, tiếng thơ Hồ Xuân Hương cũng

có những dòng cười cợt gay gắt, chua cay Nàng đã tài tình dựng lại một bức tranh chốn

tu hành hỗn tạp, rối loạn, không ra thể thống gì Món đồ dâng lên cũng kiếng thì bày laliệt như thể món hàng ngoài chợ Người tu hành thì không có dáng vẻ thanh tịnh của kẻchân tu, mà lại thập thò, lén lút, nấp sau lưng “sáu bảy bà” Đặc biệt không gian hỗn độnđầy những tạp âm Tiếng người, tiếng vật, hỗn loạn, tạp nham… có còn đâu là chốn tuthành hành thanh tịnh, còn đâu chốn cửa Phật thiêng liêng? Xuân Hương đã trực tiếp

ném sự căm giận của mình vào các thầy tu giả nhân giả nghĩa Nhà chùa phơi bày lên cái

xấu xa đồi bại đáng lên án, đáng phê phán Những kẻ khoác áo thầy tu chẳng qua cũng chỉ

là những kẻ lường gạt những người cả tin mê muội Rồi cũng chính những kẻ đó tu lâungày sẻ trở thành sư cụ, rồi ngày một ngày hai sẽ ngất nghểu chốn tòa sen

Trang 26

biếm khá chua cay Cảnh chùa làm cho Xuân Hương nghi ngờ người đã xuất gia, tu lâunăm lên làm “Sư cụ” như “phiến đá vĩ đại “ bao che đệ tử gây nên nghiệp chướng, không

lo làm tròn phận sự tụng kinh gõ mõ, bỏ cảnh chùa vắng teo

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo, Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo ? Chày Kình, tiểu để suông không đấm, Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.

Sáng banh không kẻ khua tang mít, Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.

Cha kiếp đường tu sao lắt léo, Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo!

(Chùa Quán Sứ)

Thượng bất chính, hạ tắc loạn Sư cụ không tu, tín đồ có quyền lắt léo Với “Sư hổ mang”

và “Chùa Quán Sứ” Hồ Xuân Hương đã lật tẩy sự tình trạng này của nhà chùa Ở đây,

cũng phải thấy rõ rằng, Hồ Xuân Hương không hề đả kích Phật giáo, không hề đặt mình ở phía đối lập với tôn giáo Nhưng Phật giáo thời kì này, cùng với sự biến động,

nhiễu loạn của xã hội, cũng đã xuất hiện những phần tử xấu, bôi nhọ hình ảnh thanh tịnh

của chốn cửa thiền Ngòi bút của nữ sĩ hướng tới châm chích, đả kích các đối tượng ấy, cũng là một cách đòi lại sự trong sạch cho chốn chân tu Lí do cao hơn cả, như đã nói

ở trên, đó là bởi cái tôi khao khát sống của Hồ Xuân Hương không cho phép bà khoanhtay làm ngơ trước những kẻ rời bỏ cuộc sống, trốn tránh cuộc sống, mượn danh thanhbạch của chốn chân tu để làm trò đồi bại, bỉ ổi, nên đã khiến hồn thơ sắc bén, cá tính của

bà nảy sinh những vần thơ châm biếm rấu sâu cay như thế.Hồ Xuân Hương không giống

ai, cũng không ai bắt kịp chất sống tự nhiên, dân dã, sâu sắc trong thơ của bà Bà khôngngần ngại cất lên tiếng cười sảng khoái: cười thiên hạ, cười tầng lớp trên, cười bọn vô

liêm sỉ, đặc biệt là cười bọn thầy tu, và cười cả chính bản thân mình, giới của mình Tiếng cười vừa ý nhị, đằm thắm vừa láu lỉnh, thông minh.

Ngày đăng: 06/10/2021, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w