Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, trong đó bao gồm cả Việt Nam, song song với việc mở rộng tự do kinh doanh, phát triển thị trường hàng hóa và dị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2A) LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, trong đó bao gồm cả Việt Nam, song song với việc mở rộng tự do kinh doanh, phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn và chứng khoán, thì thị trường lao động cũng đang được hình thành Thị trường lao động cạnh tranh với nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là cơ sở vững chắc cho
sự phát triển kinh tế, một thị trường lao động kém phát triển, lạc hậu, tỷ lệ thất nghiệp cao, chủ quan duy ý chí sẽ làm cho nền kinh tế trở nên trì trệ thậm chí là phát triển thụt lùi Xuất phát điểm quan trọng nhất, nền tảng cơ bản nhất để xây dựng một hệ thống quan điểm toàn diện về vấn đề thị trường lao động và việc làm chính là các học thuyết kinh tế Xét trong 3 thế kỷ gần đây, vấn đề thị trường và việc làm đã được luận bàn và có vị trị quan trọng trong các trường phái kinh tế khác nhau, đã được biến đổi phụ thuộc vào trình
độ sản xuất của lực lượng sản xuất và quan hệ sản suất khác nhau, phù hợp với linh hồn phát triển kinh tế của thời điểm đó Điều nổi bật của các học thuyết kinh tế này là các học thuyết kinh tế sau có thể phủ định học thuyết kinh tế trước Tuy nhiên cũng có những học thuyết không hoàn toàn phủ nhận học thuyết kinh tế trước mà là sự kế thừa và phát huy cao hơn học thuyết trước đó Do vậy, mỗi một quan điểm việc làm là tích lũy nguồn tri thức của thời đại, là điểm tường trình để phát triển việc làm trong tương lai, là sự kế thừa những tiến bộ đã được khoa học, kĩ thuật tích lũy đến thời điểm đó
Thấy được tầm quan trọng của các chính sách việc làm đối với nền kinh tế của một quốc gia cũng như vai trò của các học thuyết kinh tế trong việc xây một thị trường lao động hiệu quả trong nền kinh tế thị trường hiện đại, tạo cơ sở cho sự phát triển nhanh, bền vững
của một nền kinh tế, em quyết định chọn đề tài :” Lý thuyết về thị trường lao động và việc làm trong các học thuyết kinh tế Sự nhận thức và vận dụng vào tình hình Việt Nam hiện nay.”
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách việc làm và lao động trong các học thuyết kinh tế qua các thời kì, thực trạng vận dụng các học thuyết kinh tế để xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng tại Việt Nam trong thời gian qua Đặc biệt, những quan điểm đưa ra sẽ được luận giải vai trò của nhà nước, có nghĩa là hoạt động của nhà nước trong việc điều chỉnh các chính sách thuộc lĩnh vực kinh tế và lao động – xã hội trong từng thời kì
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận là làm rõ việc vận dụng các học thuyết kinh tế trong việc thực thi chính sách trên thị trường của chính phủ Việt Nam trong giai đoạn từ
Trang 3sau đổi mới tới nay, qua đó làm sáng tỏ các vấn đề: định hướng phát triển của các khu vực
kinh tế, mức độ phát triển của hiệu quả việc làm, tỷ lệ người lao động phải đào tạo lại để tránh bị sa thải, và sự chuẩn bị của các cơ quan chức năng nhà nước và tháo gỡ những vướng mắc đó Từ đó rút ra những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế còn phải
khắc phục trong thời thời gian tới
Theo đó bài tiểu luận có những mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất: Điểm lại những học thuyết kinh tế qua các thời kì khác nhau bắt đầu từ học thuyết kinh tế của trường phái trọng thương và kết thúc ở học thuyết kinh tế của trường phái Chính hiện đại
Thứ hai: Đánh giá thực trạng thị trường lao động của Việt Nam từ giai đoạn bắt đầu đổi mới cho tới hiện nay
Thứ ba: Đưa ra những thành tựu đạt được cũng những hạn chế trong việc điều hành chính sách về việc làm, tiền lương cần được khắc phục trong thời gian tới
Trang 4MỤC LỤC
A) LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 1
B) NỘI DUNG 5
I GIỚI THIỆU CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TRONG LỊCH SỬ 5
1 Trường phái Kinh tế Chính trị học cổ điển Anh 5
1.1 Học thuyết kinh tế của Adam Smith - Tư tưởng tự do kinh tế - Lý luận về “bàn tay vô hình” 5
1.2 Học thuyết kinh tế của David Ricardo 6
2 Lý thuyết của C.Marx 7
2.1 Học thuyết giá trị thặng dư 7
2.2 Học thuyết tích lũy tư bản 8
3 Lý thuyết của John Meynar Keynes 9
3.1 Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết chung về việc làm 9
3.2 Lý thuyết chung về việc làm 11
3.3 Lý thuyết về sự can thiệp của nhà nước 12
3.4 Đánh giá thành tựu và hạn chế của học thuyết Keynes 12
4 Học thuyết kinh tế của trường phái chính hiện đại 13
4.1 Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp 13
4.2 Lý thuyết thất nghiệp 15
II SỰ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM VÀO TÌNH HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 16
1 Thực trạng thị trường lao động và việc làm ở Việt Nam hiện nay 16
1.1 Thực trạng chung về thị trường lao động và việc làm ở Việt Nam hiện nay 16 1.2 Một số thách thức của thị trường lao động Việt Nam hiện nay 17
2 Sự nhận thức và vận dụng các học thuyết kinh tế 20
2.1 Sự nhận thức và vận dụng học thuyết kinh tế của trường phái chính trị học cổ điển 20
2.2 Sự nhận thức và vận dụng học thuyết Marx 21
Trang 52.3 Sự nhận thức và vận dụng học thuyết Keynes 21 2.4 Sự nhận thức và vận dụng học thuyết kinh tế của trường phái chính hiện đại
Trang 6B) NỘI DUNG
I GIỚI THIỆU CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TRONG LỊCH SỬ
1 Trường phái Kinh tế Chính trị học cổ điển Anh
Việc làm và thất nghiệp luôn luôn là những vấn đề kinh tế - xã hội bức thiết và thu hút sự quan tâm của đông đảo nhà khoa học kinh tế của mọi thời đại và mọi trường phái kinh tế khác nhau W.Petty, A.Smith và D.Ricardo là những người đặt nền móng, sáng lập trường phái lý thuyết kinh tế cổ điển Các học thuyết tư sản cổ điển Anh ra đời đã khắc phục những khiếm khuyết mà hai học thuyết trước đó chưa giải quyết được là khái niệm giá trị, vì thế lý luận về giá trị lao động được cho là thành tựu quan trọng nhất của nhóm các học thuyết này Họ đặt lao động vào trung tâm kinh tế và những nghiên cứu của mình, đưa ra những vấn đề quan trọng về sản xuất hàng hóa và thị trường, về động lực của phát triển, về tiền lương, lợi nhuận và lợi tức đất đai, về sự tự điều tiết của bàn tay vô hình và
sự can thiệp tối thiểu của nhà nước trong nền kinh tế
1.1 Học thuyết kinh tế của Adam Smith - Tư tưởng tự do kinh tế - Lý luận
về “bàn tay vô hình”
Tư tưởng tự do kinh tế chiếm giữ vị trí trung tâm trong học thuyết của A.Smith, nội dung cơ bản là đề cao vai trò của cá nhân, ca ngợi cơ chế tự điều tiết của kinh tế thị trường, thực hiện tự do cạnh tranh, ủng hộ sở hữu tư nhân và nhà nước không can thiệp vào kinh
tế Điểm quan trọng của lý thuyết này là Adam Smith đã đưa ra phạm trù con người kinh
tế Ông quan niệm khi chạy theo tư lợi thì “con người kinh tế” còn chịu sự tác động của
“bàn tay vô hình” “Bàn tay vô hình” là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan, ông cho rằng chính các quy luật kinh tế khách quan là một “trật tự tự nhiên” Để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên thì cần phải có những điều kiện nhất định Đó là sự tồn tại, phát triển của sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ
sở tự do kinh tế Ông cho rằng cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôn trọng bàn tay vô hình, nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, hoạt động kinh tế vốn có cuộc sống riêng của
nó Tóm lại xã hội muốn giàu thì phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do theo Chủ nghĩa
“Laissefảie” tức là “Mặc kệ nó”
Đối với việc làm, điều đó có nghĩa là cung và cầu trên thị trường lao động sẽ luôn
được cân bằng, việc làm về cơ bản được đảm bảo Từ đây ông kết luận rằng, sự kết luận của nhà nước vào lĩnh vực cạnh tranh tự do sẽ dẫn đến hậu quả tai hại Tuy nhiên ngày nay, phần lớn nhà kinh tế đều đồng tình rằng, bàn tay vô hình của thị trường cần phải được kết hợp với bàn tay hữu hình của nhà nước
Một trong những kết luận chủ yếu và quan trọng nhất trong học thuyết của A.Smith
là học thuyết về giá trị lao động và vận dụng nó vào việc phân tích nền kinh tế thị trường
Trang 7A.Smith có quan điểm rằng, giá trị do lao động hao phí để sản xuất hàng hóa quyết định Lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị Với quan điểm này, A.Smith chứng minh nguồn gốc của mọi sự giàu có là lao động và lao động tạo ra giá trị, bao gồm cả lương, lợi nhuận và địa tô qua quan điểm “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như của bất kì giá trị trao đổi nào.” Trong tác phẩm “Nghiên cứu
về bản chất và nguyên nhân giàu có của dân tộc” năm 1776, A.Smith chỉ rõ “Giá trị mà người công nhân cộng thêm vào giá trị vật chất, được tách ra làm 2 phần, một phần từ đó chi trả cho tiền lương của người công nhân, phần kia tính vào lợi nhuận của nhà doanh nghiệp, tính vào toàn bộ số vốn mà nhà doanh nghiệp đã tạm ứng dưới dạng vật chất và lương” Những luận điểm này vẫn đúng đắn đến tận bây giờ
A.Smith là người ủng hộ trả tiền công cao Theo ông, tiền công cao sẽ làm tạo khả năng tăng trưởng của nền kinh tế vì tiền công cao là nhân tố kích thích công nhân tăng năng suất lao động Điều đó tạo điều kiện tăng tích lũy tư bản và tăng nhu cầu về lao động Ông vạch rõ rằng, nhà tư bản không sợ gì việc trả tiền công cao cho công nhân, vì cơ chế của thị trường sẽ điều chỉnh mức tiền công thích ứng
1.2 Học thuyết kinh tế của David Ricardo
Lý luận về giá trị là lý luận chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan điểm kinh tế của Ricardo, là cơ sở của học thuyết của ông và được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phê phán, phát triển lý luận giá trị của A.Smith Ông định nghĩa giá trị hàng hoá, hay số lượng của một hàng hoá nào đó, do số lượng lao động tương đối cần thiết để sản xuất ra hàng hoá
đó quyết định.” Từ đó ông phê phán ý kiến thường gặp là giá cả hàng hóa chỉ phụ thuộc vào cung và cầu
Về vấn đề lưu thông tiền tệ, D.Ricardo phản đối việc tăng lượng tiền tệ vào lưu thông
vô căn cứ và đi theo thuyết “số lượng tiền tệ” Theo thuyết này, số lượng tiền càng nhiều
sẽ dẫn đến giá trị của tiền tệ càng ít và ngược lại, do đó dẫn đến việc tăng giá và làm giàu cho một bộ phận xã hội do bóc lột nhóm người khác
Về học thuyết thu nhập, D.Ricardo đã kế thừa, phát triển những hạt nhân hợp lý trong học thuyết thu nhập của A.Smith Ông cho rằng giá trị được tạo ra từ 2 phần: tiền công và lợi nhuận, và đi đến kết luận về sự đối kháng giữa tiền công và lợi nhuận (ông nhận thất quy luật của tư bản: năng suất lao động tăng lên, tiền công giảm và thu nhập tăng); đồng thời giải quyêt việc xác định tiền công theo quy luật giá trị
Kết luận:
Các nhà kinh tế cổ điển tư sản Anh chỉ ra rằng, hệ thống thị trường tạo điều kiện sử dụng đầy đủ các nguồn lực, trong đó có nguồn lực sức lao động Cung cấp đủ việc làm là định mức của nền kinh tế thị trường, là sự đàn hồi của hệ số giá và lương Những đòn bẩy
Trang 8điều tiết của thị trường như lãi suất, sự đàn hồi của hệ số giá và lương sẽ tạo điều kiện duy trì việc làm đầy đủ; thất nghiệp bắt buộc không thể xảy ra
Họ cho rằng, kinh tế thị trường như một nền kinh tế tự điều tiết Trong trường hợp này, sự giúp đỡ của nhà nước là thừa thãi và thậm chí mang đến tai hại, không có sự can thiệp của nhà nước vào đời sống kinh tế là chính sách tối ưu nhất
2 Lý thuyết của C.Marx
Học thuyết kinh tế Mác - Lênin là sự kế thừa những tinh hoa của nhân loại Học thuyết kinh tế Mác - Lênin dựa trên phương pháp luận khoa học Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu kinh tế chính trị Mácxít: Biện chứng duy vật, đồng thời còn sử dụng một loạt các phương pháp khác như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, lôgíc, phân tích, tổng hợp…Với những phương pháp nghiên cứu như trên đã khắc phục được những hạn chế của các phương pháp nghiên cứu của các nhà kinh tế đi trước (quan sát, duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan…) và đi vào nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình kinh tế từ trong quá trình sản xuất vật chất, quá trình vận động phát triển, và trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, như “lao động”, “tư bản”, “giá trị”, “giá trị thặng dư”, “bóc lột” và nhiều vấn đề khác Học thuyết kinh tế Mác -Lênin là sự khái quát thực tiễn sinh động của chủ nghĩa tư bản
Những nghiên cứu của ông đóng vai trò quan trọng để hiểu các yếu tố tác động đến việc làm, bản chất và nguyên nhân của thất nghiệp, những ảnh hưởng của nó tới tình hình cuộc sống, vị trí của giai cấp công nhân trong xã hội Lý thuyết việc làm trong học thuyết kinh
tế của C.Marx dựa trên cơ sở 2 lý thuyết quan trọng:
Học thuyết giá trị thặng dư
Học thuyết tích lũy tư bản
2.1 Học thuyết giá trị thặng dư
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà
tư bản
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày lao động người công nhân làm thuê đã tạo tra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình
Trang 9Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư
Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v + m) do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động) Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng
dư (m) Như vậy, lao động sống là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
2.2 Học thuyết tích lũy tư bản
Một trong những cống hiến quan trọng của K.Marx là đã xây dựng thuyết tích lũy tư bản chủ nghĩa và chỉ ra xu hướng chung của tích lũy tư bản và nhân tố quyết định quy mô của nó Theo ông, thực chất tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư, là quá trình biến giá trị thặng dư thành tư bản chủ nghĩa, hay là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa
Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm một lượng ngày càng lớn trong tỷ lệ toàn bộ tư bản Và trong quá trình tích lũy, cấu trúc vốn bị biến đổi liên tục Tương quan giữa “vốn cố định c” (vốn được chi cho tư liệu sản xuất và những dụng cụ lao động, trong quá trình sản xuất không thay đổi giá trị của mình) với “vốn lưu động v” (vốn tạm ứng mua sức lao động, hay còn gọi là giá trị sức lao động), gọi là cấu trúc vốn hữu cơ, có sự gia tăng theo thời gian
Động cơ thúc đẩy tích lũy, tái sản xuất mở rộng của tư bản chủ nghĩa là quy luật kinh
tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Để làm được điều đó, các nhà doanh nghiệp kỳ vọng đạt được dồi dào giá trị thặng dư và quan tâm tới việc làm sao để giá hàng hóa của mình rẻ hơn giá chung của thị trường Do đó, nhân tố quyết định quy mô của tích lũy chính là những nhân tố quyết định quy mô của giá trị thặng dư, như: tăng mức độ bóc lột sức lao động, tăng trình độ năng suất lao động xã hội, cải tiến kĩ thuật, máy móc, tăng chi phí vào vốn cố định Kết quả là lượng vốn lưu động (v) giảm, cầu về sức lao động tương đối giảm , số lượng việc làm tăng chậm hơn so với tăng toàn bộ vốn và nền sản xuất của xã hội Trong điều kiện cấu tạo hữu cơ của tư bản nâng cao, tất yếu dẫn đến nạn thất nghiệp và bần cùng hóa giai cấp vô sản
Từ đó, C.Marx nhận định luật dân số cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa:
“Trong khi giai cấp làm thuê tạo ra sự tích lũy tư bản, và theo chừng mực mà nó thành công trong việc đó, thì giai cấp làm thuê chính mình lại cũng tạo ra những công cụ để sa thải mình hay biến thành số nhân khẩu thừa tương đối”, có nghĩa là người thất nghiệp
Trang 10Dưới những hình thức khác nhau như nhân khẩu thừa lưu động, nhân khẩu thừa tiềm tàng, nhân khẩu thừa ngừng trệ, nạn nhân khẩu thừa tương đối khi tăng, khi giảm tùy theo các chu kì kinh doanh, là một điều tất yếu của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Dân
cư dôi dư này có ý nghĩa rất quan trọng để phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo thường xuyên sức lao động cần thiết cho xã hội và là đòn bẩy quan trọng cho việc đẩy mạnh bóc lột
Kết luận:
Lý thuyết về thị trường lao động và việc làm của C.Marx còn tồn tại một số hạn chế
Thứ nhất, không được nghiên cứu tỷ lệ cung và cầu trên thị trường lao động Thứ hai,
không được làm sáng tỏ, tồn tại hay không những giới hạn làm tăng thất nghiệp Thứ ba,
không nghiên cứu tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật dẫn đến việc tăng lên và cấu trúc
của thất nghiệp Thứ tư, không làm sáng tỏ vai trò của nhà nước, nên thụ động tuân theo
sự tăng lên của thất nghiệp hay ngược lại là tích cực can thiệp vào hoạt động của nền kinh
tế để đẩy lùi nó
Chủ nghĩa Marx-Lenin là cơ sở rất xác đáng cho thắng lợi của Cách mạng tháng mười Nga vĩ đại và sự truyền bá rộng rãi tư tưởng của nó ra toàn cầu, cùng với việc xây dựng một chế độ xã hội mới chủ nghĩa ở nhiều nước trên thế giới Dù còn một số tồn tại, lý thuyết việc làm của chủ nghĩa Marx-Lenin vẫn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đóng góp tiêu biểu cho thời đại
3 Lý thuyết của John Meynar Keynes
3.1 Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết chung về việc làm
a Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn
Là khuynh hướng cá nhân phân chia phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng theo tỷ
lệ ngày càng giảm dần Đây là quy luật tâm lý của mọi cộng đồng tiêu tiền, nó là nguyên nhân của sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng dẫn đến sản xuất trì trệ, khủng hoảng kinh tế
và thất nghiệp
Theo Keynes: khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là một tương quan hàm số giữa thu nhập và chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập đó (C): C = X (R)
b Hiệu quả giới hạn của tư bản
Theo Keynes, mục đích của các doanh nhân khi đầu tư là bán có “thu hoạch tương lai” Đó là chênh lệch giữa số tiền bán hàng với phí tổn cần thiết để sản xuất ra hàng hóa
đó Tương quan giữa “thu hoạch tương lai” và phí tổn cần thiết để sản xuất hàng hóa đó
Trang 11gọi là hiệu quả của tư bản Cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư thì hiệu quả của tư bản giảm dần và Keynes gọi đó là hiệu quả giới hạn của tư bản
Sự ưa chuộng tiền mặt là khuynh hướng có tính chất hàm số, biều diễn dưới dạng hàm số:
M = M1 + M2 = L1(R) + L2(r) (Hàm số của lãi suất)
M: Sự ưa chuộng TM
M1: Số TM dùng cho động lực giao dịch và dự phòng
M2: Số TM dùng cho động lực đầu cơ
L1: Hàm số TM xác định M1 tương ứng với thu nhập R
L2: Hàm số TM xác định M2 tương ứng với lãi suất r
d Số nhân đầu tư K
Là mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập (dR) với gia tăng đầu tư (dI) Nó xác định sự gia tăng đầu tư sẽ làm gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần (là hệ số bằng số nói lên mức độ tăng của sản lượng do kết quả của mỗi đơn vị đầu tư)
Trang 12Cụ thể ta có:
C: chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập và dC: gia tăng tiêu dùng
R: Thu nhập và dR: gia tăng thu nhập
I: đầu tư và dI: gia tăng đầu tư
S: tiết kiệm và dS: gia tăng tiết kiệm
MPC: Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn
MPS: Khuynh hướng tiết kiệm giới hạn
Khi đó ta sẽ có công thức sau:
𝑀𝑃𝑆
3.2 Lý thuyết chung về việc làm
Theo Keynes, vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm Vì vậy, vị trí trung tâm trong lý thuyết kinh tế của ông
là "lý thuyết việc làm." Lý thuyết này đã mở ra một chương mới trong tiến trình phát triển
lý luận kinh tế, cả về chức năng tư tưởng lẫn thực tiễn Trong đó phải kể đến lý thuyết kinh
tế vĩ mô, về hệ thống điều tiết của nhà nước
Theo ông, tình trạng thất nghiệp kéo dài do thiếu hụt một số nhân hữu hiệu, mức cầu bảo đảm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, sỡ dĩ có tình trạng này là do:
Khuynh hướng tiết kiệm ngày càng gia tăng, nó mang tính chất tâm lý, biểu hiện trong từng cá nhân, tổ chức xã hội và ngay cả trong các doanh nghiệp
Khuynh hướng tiết kiệm được biểu hiện như sau:
Khi sản xuất tăng lên thì thu nhập tăng lên, thu nhập chia làm hai bộ phận là tiêu dùng và tiết kiệm (để dự phòng cho tương lai) Khi thu nhập tăng thì bộ phận tiêu dùng có thể tăng tuyệt đối và giảm tương đối Khuynh hướng tiết kiệm trong tiêu dùng cá nhân làm cho cầu tiêu dùng cá nhân tăng chậm hơn là cung Cầu đầu tư cũng có khả năng tăng chậm hơn do cầu tiêu dùng tăng chậm, lãi suất ngân hàng thường cố định ở mức tương đối cao trong khi
tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút Vì thế tổng cầu giảm sút so với tổng cung
Tuy nhiên, trong thời đại của J.M Keynes đã có thay đổi lớn trong tính chất và vai trò của cầu, giá cả không còn là cơ chế lý tưởng xác lập cân bằng giữa cung và cầu Cầu luôn luôn tụt lại so với cung do người ta có xu hướng “muốn tiêu dùng một phần thu nhập
ít hơn dần khi thu nhập thực tế tăng.” Do đó phát sinh “cầu bị gác lại,” cung trở nên thừa
Trang 13và điều này tạo điều kiện giảm đầu tư vào sản xuất, tức là thất nghiệp và khủng hoảng xuất hiện
Để chống suy thoái và thất nghiệp, ông đề ra giải pháp là tăng mức cầu, vì tổng cầu tăng ảnh hưởng đến tổng cung sẽ làm giảm suy thoái và thất nghiệp Cách làm tăng tổng cầu là cần có sự can thiệp của nhà nước bằng cách sử dụng công cụ tài khóa là chủ yếu (thuế, chi ngân sách) Theo J.M Keynes, phần chi của chính phủ là công cụ chính yếu bởi
vì khi chi tiêu, Chính phủ tăng chi tiêu làm kích thích mang tính dây chuyển để làm tăng tổng cầu nói chung Sự tăng tổng cầu tác động đến tổng cung cũng theo một tác động dây chuyền
3.3 Lý thuyết về sự can thiệp của nhà nước
Nội dung chủ yếu của lý thuyết là:
Nhà nước phải duy trì cầu đầu tư để kích thích cả đầu tư Nhà nước và tư nhân bằng các chương trình đầu tư lớn (sự tham gia của nhà nước vào kinh tế là cần thiết, không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết)
Sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ làm công cụ làm công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế thông qua hai hướng: vừa củng cố lòng tin và sự lạc quan của doanh nhân, vừa bảo đảm bù đắp thâm hụt ngân sách
Thực hiện “lạm phát kiểm soát” để tăng giá cả hàng hóa, tăng mức lưu thông tiền tệ
để giảm lãi suất cho vay, in tiền giấy trợ cấp thâm hụt ngân sách Nhà nước, sử dụng công cụ thuế điều tiết kinh tế
Khuyến khích mọi hình thức đầu tư (để tạo việc làm và tăng thu nhập).Thậm chí kể
cả đầu tư cho chiến tranh Khuyến khích tiêu dùng của mọi loại người (tăng tổng cầu) Đặc biệt khuyến khích tiêu dùng xa hoa của các tầng lớp giàu có
Học thuyết Keynes được vận dụng rộng rãi trong thời gian dài ở các nước tư bản và có những biến thể khác nhau – Là cơ sở cho chính sách kinh tế của nhiều nước tư bản
3.4 Đánh giá thành tựu và hạn chế của học thuyết Keynes
a Thành tựu
Học thuyết kinh tế của Keynes đã có tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát triển kinh tế trong các nước tư bản Góp phần thúc đấy kinh tế của các nước tư bản phát triển, hạn chế được khủng hạn và thất nghiệp, nhất là trong những năm 50-60 của thế kỷ XX, tốc
độ phát triển kinh tế của nhiều nước rất cao (tạo nên những thần kì: Nhật, Tây Đức, Thụy
Sĩ, Pháp…) Vì vậy học thuyết này giữ vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản trong một thời gian dài
b Hạn chế
Trang 14Mặc dù vậy, học thuyết kinh tế trường phái Keynes nếu áp dụng cho các nước đang phát triển và kém phát triển có thể có những hạn chế như sau:
Nó được dựa trên những giả định, đúng cho các nước phát triển có một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, nhưng lại không đúng với những nước đang phát triển Hầu hết các nước đang phát triển và chậm phát triển, khó khăn cơ bản trong việc tăng sản lượng
và tạo thêm công ăn việc làm không phải là mức tổng cầu không đủ cao, mà là do những hạn chế về mặt cơ cấu và thể chế đối với khâu cung ứng, đã đi ngược lại quan niệm đơn giản rằng, việc tăng mức cầu của cả chính phủ và tư nhân sẽ là biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề công ăn việc làm ở hầu hết các nước thế giới thứ ba,
mà thực tế những hạn chế đáng kể về mặt cung có thể khiến cho giá cả tăng lên, lạm phát triền miên,
Tạo thêm công ăn việc làm ở khu vực thành thị bằng cách tăng mức tổng cầu có thể thu hút thêm nhiều người di cư từ vùng nông thôn bỏ ra thành thị kiếm sống Kết quả cuối cùng có thể là mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhưng thực ra lại khiến cho
tỷ lệ thấp nghiệp ở thành thị tăng lên và cuối cùng có thể lại giảm toàn bộ công ăn việc làm và sản lượng quốc dân
Theo Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn
đề trung tâm của tổ chức kinh tế: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Theo ông cơ chế thị trường không phải là một sự hỗn độn mà đây là một trật tự kinh tế
Cơ chế thị trường không phải bao giờ cũng hoàn toàn ưu việt mà nó còn chứa đựng những yếu tố bất lợi và đó chính là những yếu tố để chính phủ thể hiện vai trò của mình trong quá trình quản lý nền kinh tế Cơ chế thị trường dưới sự tác động của bàn tay vô hình thường dẫn tới những khuyết tật sau:
Do việc chạy theo lợi nhuận tối đa, cho nên các doanh nghiệp thường hay làm ô nhiễm môi trường phá hoại cân bằng sinh thái