1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất của người lô lô ở huyện mèo vặc tỉnh hà giang (1986 2016)

46 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG 1986-2016 VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO LƯU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC LÔ LÔ ..

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA SƯ PHẠM

***********

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT

CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN MÈO VẠC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em và được sự hướng dẫn khoa học từ Ths Nguyễn Văn Tiến Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những dữ liệu trong đề tài nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra trong đề tài còn sử dụng một số nhận xét cũng như đánh giá của các tác giả khác Nếu có phát hiện bất kì gian lận nào, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo của mình

Bình Dương, ngày 20 tháng 11 năm 2020

Ninh Thị Kim Chung

Trang 3

Mặc dù có nhiều cố gắng để hoàn thành bài báo cáo một cách hoàn thiện nhất Song, do đây là lần đầu tiên em mới làm quen với việc làm một báo cáo lớn,

vì em chỉ mới được tiếp xúc với hình thức các bài tiểu luận nhỏ, do chưa có nhiều kinh nghiệm và sự rộng mở nhiều về kiến thức, nên cũng không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý của các quý thầy cô để bài báo cáo tốt nghiệp này của em được hoàn chỉnh về mọi mặt nội dung cũng như hình thức trình bày trong báo cáo

Cuối cùng, em xin kính chúc tất cả quý thầy cô Trường Đại học Thủ Dầu Một nói chung, khoa Sư phạm nói riêng luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Bình Dương, ngày 20, tháng 11, năm 2020

Sinh viên

NINH THỊ KIM CHUNG

Trang 4

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

7 Bố cục 5

B PHẦN NỘI DUNG 1

CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT Ở VIỆT NAM 1

1.1 Khái niệm về văn hóa – văn hóa vật chất Error! Bookmark not defined. 1.2.Đặc trưng văn hóa – văn hóa vật chất ở Việt Nam Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI LÔ LÔ Ở VIỆT NAM 3

2.1 Tên gọi, nguồn gốc, lịch sử cư trú, dân số và phân bố dân cư 3

2.2 Đời sống kinh tế và xã hội 5

2.3 Văn hóa truyền thống của người Lô Lô 6

2.3.1 Văn hóa tinh thần 6

2.3.2 Văn hóa vật chất 7

2.3.2.1 Nhà ở 7

2.3.2.2 Công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt 11

2.3.2.3 Trang phục nam, nữ 12

2.3.2.4 Tập quán ăn uống 15

Trang 5

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 17

CHƯƠNG 3 BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG (1986-2016) VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO LƯU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC LÔ LÔ 19

3.1 Những biến đổi về đời sống văn hóa vật chất 19

3.1.1 Nhà ở và một số tập quán sinh hoạt liên quan đến nhà ở 19

3.1.1.1 Nhà ở 19

3.1.1.2 Một tập quán sinh hoạt liên quan đến nhà ở 19

3.1.2 Công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt 20

3.1.3 Trang phục 20

3.1.3.1 Trang phục nữ 20

3.1.3.2 Trang phục nam 21

3.1.4 Tập quán ăn uống 21

3.2 Một số giải pháp để bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Lô Lô 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 25

KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

PHỤ LỤC 30

Trang 6

ở, sử dụng các công cụ sản xuất để tạo nên các sản phẩm thủ công phục vụ cho đời sống hằng ngày, họ biết gìn giữ các giá trị truyền thống trong bộ trang phục đến các món ăn, phong cách ăn uống vốn có từ lâu đời Nhằm phát huy hết tất cả những giá trị tốt đẹp trong lĩnh vực văn hóa vật chất của dân tộc mình, qua đó giúp phát triển đất nước

Dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc, Hà Giang là một dân tộc có số dân ít, cư trú ở các huyện vùng cao ở biên giới của Việt Nam Cho đến nay các công trình viết về dân tộc Lô Lô cũng như các tài liệu liên quan vẫn còn khá hạn chế Dân tộc Lô

Lô ở Hà Giang là một trong những cộng đồng đang gặp rất nhiều khó khăn và cũng đang nhận được sự hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ và các cấp các ngành Họ cũng có sự phát triển về mặt kinh tế, xã hội để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống của cư dân nơi đây Tuy nhiên, vấn đề văn hóa và quan hệ tộc người của dân tộc này chưa đặt ra như một mục tiêu nghiên cứu

Nếu so sánh với một số cộng đồng khác, Lô Lô vẫn là một trong những dân tộc bảo lưu khá bền vững các giá trị văn hóa vật chất truyền thống như nhà cửa,

ăn uống, y phục, trang sức, công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt Đến nay các yếu tố văn hóa vật thể này của họ vẫn hàm chứa nhiều đặc trưng riêng biệt,những đặc trưng riêng biệt đó đã góp phần khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc Lô

Lô ở Việt Nam nói chung và dân tộc Lô Lô ở huyện Mèo Vạc nói riêng

Tuy nhiên trong bối cảnh giao lưu và hòa nhập mạnh mẽ như hiện nay, so với các thành tố khác thì văn hóa vật chất của người Lô Lô đang có những thay đổi so với truyền thống, nhưng không quá nhiều, trong đó phải kể đến dân tộc Lô

Lô ở huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang Vậy sự thay đổi đó là gì? Thay trong từng

Trang 7

chọn đi sâu để tìm hiểu về vấn đề văn hóa vật chất của cư dân nơi đây, cụ thể là

từ năm 1986 đến năm 2016 Để tìm hiểu rõ sự thay đổi ở giai đoạn này, trước hết

em đi sâu vào tìm hiểu về những nét văn hóa truyền thống vốn có từ lâu đời, so sánh cái truyền thống vốn có với giai đoạn 1986 đến 2016 hay nói cách khác là giai đoạn từ sau đổi mới đến nay, để thấy rõ hơn về sự biến đổi Với đề tài “Biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất của người Lô Lô ở huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang (1986 – 2016)” sẽ góp phần làm rõ hơn một số vấn đề được đặt ra như trên

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Làm rõ hơn về đời sống văn hóa vật chất người Lô Lô:

- Tổng quan chung về tộc người Lô Lô: tên gọi, nguồn gốc, lịch sử cư trú, dân số và phân bố dân cư, đời sống kinh tế và xã hội

- Biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất từ năm 1986 đến 2016 với một

số nội dung cơ bản sau:

+ Nhà ở (nhà sàn, nhà đất, cấu trúc ngôi nhà, : nêu lên những nét truyền thống trong phương diện nhà ở của người Lô Lô, qua đó nêu lên sự biến đổi của truyền thống so với hiện nay là gì

+ Công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt: công cụ truyền thống là những công cụ gì và so với hiện nay có sự thay đổi như thế nào

+ Trang phục (trang phục nam, nữ): nét nổi bật của trang phục truyền thống

so với hiện nay

+ Tập quán ăn uống: những phong tục truyền thống so với hiện nay

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rất rộng với nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất tinh thần của con người Về mặt văn hóa vật chất hiện đã có nhiều sách, báo, tạp chí, luận văn viết về vấn đề này Trong

đó có một số công trình tiêu biều như:

- Khổng Diễn – Trần Bình (Đồng chủ biên) Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam, Nxb Thông tấn, 2007 Cuốn sách viết tương đối hoàn chỉnh về dân tộc Lô Lô Phương pháp dân tộc học điền dã được sử dụng như một cách tiếp cận chủ đạo Thông qua những đợt công tác tại cộng đồng Lô Lô ở Hà Giang, Cao Bằng, được

Trang 8

cứu khác đã hỏi chuyện, quan sát, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm, thu thập các dữ liệu

về môi trường, xã hội, tập quán, ăn, mặc, ở, ngôn ngữ, các nghi lễ, tín ngưỡng và các tri thức dân gian khác của dân tộc Lô Lô

- Nguyễn Khắc Tụng, Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam (tập 1,2), Nxb Khoa học xã hội, 2015 Cuốn sách đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của các loại nhà cổ truyền qua nhiều thời kì khác nhau, phong tục, tập quán, cách thức sinh hoạt ăn uống, trong ngôi nhà

- Phạm Trung Phương, Trần Bình, 2011 Người Lô Lô ở Việt Nam Cuốn sách này của hai tác giả có đề cập đến nguồn gốc lịch sử của dân tộc Lô Lô, qua

đó cũng có nói tới các vấn đề về bản sắc văn hoá, đời sống và những phong tục tập quán riêng của dân tộc Lô Lô, để người đọc có thể thấy được những nét văn hoá đặc trưng riêng của họ

- Trần Quang Phúc, Việt Nam sắc màu 54 dân tộc anh em, 2013 Cuốn sách này của tác giả trình bày về sự đa dạng trong thống nhất những giá trị văn hoá của

54 dân tộc anh em ở Việt Nam, trong đó có đề cập tới dân tộc Lô Lô Trên cơ sở khái quát cụ thể những đặc trưng văn hoá cũng như đời sống kinh tế của từng dân tộc ở Việt Nam

- Vũ Khánh (chủ biên), 54 dân tộc anh em Việt Nam, 2008 Cuốn sách phản ánh các các mặt về đời sống, sinh hoạt, văn hoá xã hội, cuộc sống của dân tộc anh

em trên khắp đất nước Việt Nam

- Nguyễn Văn Huy, Văn hóa và nếp sống Hà Nhì – Lô Lô, 1986 Cuốn sách này đã mô tả tương đối kĩ về các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tạng – Miến ở Việt Nam, trong đó có các dân tộc Lô Lô Cuốn sách này đề cập đến những vấn đề chung về kinh tế, xã hội văn hóa của tộc người Lô Lô

- GS TS Hoàng Nam, Đặc trưng văn hóa truyền thống 54 dân tộc Việt Nam, 2013 Cuốn sách này giới thiệu những nét văn hóa đặc trưng của nhiều dân tộc khác nhau trên đất nước Việt Nam, từ tên gọi, nơi cư trú đến kinh tế, văn hóa,

xã hội

Qua các công trình nghiên cứu trên đã phát họa khá rõ nét văn hóa truyền thống của dân tộc Lô Lô ở Việt Nam nói chung và dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc, Hà Giang nói riêng Nhưng đến nay chưa có nhiều công trình tìm hiểu về những biến đổi trong văn hóa vật chất của dân tộc này, đây cũng là lí do để em chọn đề tài

Trang 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng: dân tộc Lô Lô

- Phạm vi:

+ Không gian: huyện Vạc Mèo, tỉnh Hà Giang

+ Thời gian: từ năm 1986-2016

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

+ Thông qua những sử liệu, những hiện thực trong tiến trình lịch sử, các tác giả nghiên cứu về văn hóa học đã trực tiếp đưa ra những lí luận thực tế về những biến đổi trong đời sống văn hóa của người Lô Lô ở Việt Nam nói chung, ở huyện

Vạc Mèo, tỉnh Hà Giang nói riêng, trong những năm 1986 đến 2016

+ Những bằng chứng, tư liệu cụ thể về đời sống văn hóa vật chất của cư dân nơi đây thông qua việc phân tích cụ thể về vấn đề ăn, mặc, ở, những công cụ gắn liền với đời sống sinh hoạt hằng ngày của họ, về cách thức ăn uống cũng như những bộ trang phục truyền thống gắn liền với đời sống văn hóa từ xưa đến nay

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp phân loại: Sử dụng phương pháp phân loại để có thể phân tích các tài liệu, các tạp chí sách báo, tìm hiểu những tài liệu trên internet một cách cụ thể và có hệ thống Góp phần tìm hiểu về đời sống vật chất của dân tộc

Lô Lô một cách khoa học

+ Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp tổng hợp sưu tầm nhiều tài liệu có liên quan đến dân tộc Lô Lô, qua đó chọn lọc để có thể tìm ra những tài liệu đề cập tới đời sống vật chất của dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc, so sánh giữa dân tộc này với nhiều dân tộc khác để có thể thấy được sự khác nhau giữa các dân tộc anh em Việt Nam, qua đó có cái nhìn tổng quan, đánh giá một cách chi tiết và khách quan nhất

+ Phương pháp lô-gic: đưa ra những lí luận chung về văn hóa – văn hóa vật chất; khái quát chung về tộc người Lô Lô ở Việt Nam

+ Phương pháp phân tích: làm rõ từng đặc điểm nổi bật trong đời sống văn hóa vật chất của người Lô Lô: nhà ở, đồ dùng sinh hoạt, tập quán ăn uống, trang phục,

Trang 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học:

+ Góp phần làm sáng tỏ thêm về đời sống văn hóa vật chất của tộc người Lô Lô

ở Mèo Vạc, Hà Giang Bên cạnh những nét văn hóa truyền thống vốn có thì họ cũng có sự thay đổi về nhiều mặt để phù hợp với môi trường sống hiện tại Ví dụ như họ chuyển sang ở nhà trệt nhiều hơn so với loại nhà sàn truyền thống, tập quán sinh hoạt, ăn uống cũng thay đổi ít nhiều, không còn quá lạc hậu so với trước kia

+ Có cái nhìn phong phú hơn về trang phục từ truyền thống đến hiện đại của người

Lô Lô ở huyện Mèo Vạc, giúp ích cho việc khái quát và đúc kết về đặc trưng văn hóa trong trang phục của các tộc người

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm chung về văn hóa – văn hóa vật chất

Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, phong tục và cả những năng lực, thói quen của con người trong xã hội Có rất nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa Văn hóa được hiểu theo quan điểm của

xã hội phương Tây, văn hóa theo quan điểm xã hội phương Đông, theo quan điểm của triết học Maxit, theo quan điểm của UNESCO

Theo quan điểm của xã hội phương Tây, văn hóa có nghĩa là cày cấy, vun trồng, sau được nâng cao lên văn hóa là tập quán, là hành vi ứng xử của con người Văn hóa được các nhà nghiên cứu phương Tây nhấn mạnh trên ba khía cạnh: văn hóa là sự phát triển của cá nhân trong xã hội Là đặc thù của mỗi xã hội với môi trường xã hội nhất định, và văn hóa có thể là cái hòa hợp, đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các môi trường văn hóa khác, giữa các vùng, các quốc gia khác nhau trên quy mô khu vực và trên thế giới

Còn theo quan điểm của xã hội phương Đông thì văn hóa được tách ra thành hai khái niệm riêng biệt “văn”, “hóa” Văn là màu sắc, là lễ nghĩa, là sự giáo dục bằng đạo đức, là những cái tốt đẹp trong cuộc sống đã được đúc kết thành một biểu tượng Hóa là sự cải biến hóa sinh, là quy luật của tạo hóa sinh sôi nảy nở, là

sự giao hòa của hai sự vật, dẫn tới một hoặc cả hai sự vật đều biến đổi là đem những gì đã đúc kết được vận dụng vào trong cuộc sống

Văn hóa theo quan điểm triết học Mác xít là kết quả của quá trình biến đổi bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người Văn hóa xuất hiện từ lao động, hiện ra như một nhiệm vụ thực tiễn, biến đổi các quan hệ qua lại giữa con người và thế giới Văn hóa là một quá trình cải biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử, thành một cá nhân toàn vẹn

Theo UNESCO, văn hóa là tổng thể các dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ

và đặc biệt là tình cảm, xác định bản chất của một xã hội hay một nhóm xã hội

Nó bao hàm không chỉ cuộc sống nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền tự do cơ bản của con người, các giá trị truyền thống và các quan niệm Theo cách hiểu này, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của đời sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra ở hiện tại Trải

Trang 12

qua bao thế kỉ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, mà dựa vào đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình

Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần Do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình Nó thể hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mac và Anghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản: đó là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Do đó, văn hóa cũng bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người Được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất

1.2 Đặc trưng văn hóa – văn hóa vật chất ở Việt Nam

Văn hóa có tính hệ thống Mọi sự kiện, hiện tượng thuộc một nền văn hóa điều có liên quan mật thiết với nhau Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa với tư cách

là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện chức năng tổ chức

xã hội Văn hóa làm tăng tính ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Tính giá trị là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Tính giá trị được phân thành nhiều loại khác nhau: giá trị vật chất phục vụ nhu cầu vật chất của con người (nhà ở, trang phục, ăn uống, đi lại ) Tính giá trị theo nhiều ý nghĩa khác nhau: giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ Về mặt thời gian: giá trị vĩnh cửu, giá trị nhất thời Văn hóa là một hệ thống giá trị nên thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì trạng thái cân bằng, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường xã hội

Tính nhân sinh Văn hóa là sản phẩm của con người, có giá trị vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Văn hóa

là cái tự nhiên được biến đổi dưới tác động của con người, văn hóa là sự nối kết giữa người với người

Văn hóa mang tính lịch sử Văn hóa là sản phẩm của một quá trình sáng tạo

và được tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa, những giá trị tương đối ổn định: ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ nghi

[Cơ sở văn hóa – Trần Ngọc Thêm]

Trang 13

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI LÔ LÔ Ở VIỆT NAM 2.1 Tên gọi, nguồn gốc, lịch sử cư trú và phân bố dân cư

Lô Lô là một dân tộc có dân số dưới 10 nghìn người trong 54 dân tộc ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến cùng với các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, Cống, La Hủ, Si La, thuộc họ Hán - Tạng Dân tộc Lô Lô có khoảng 4000 người, sống chủ yếu ở 3 tỉnh Cao Bằng, Hà Giang và Lai Châu Ngoài tên gọi phổ biến

là Lô Lô thì còn có nhiều tên gọi khác: Ô Man, La La, Màn Di, Màn Dì,

Xét thấy về mặt lịch sử cũng như tên gọi, dân tộc Lô Lô ở Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với người Di ở Trung Quốc, Di là một dân tộc có nơi cư trú ở vùng miền tây cao nguyên Vân Quý với diện tích rộng lớn khoảng 500km2 Dân tộc Di là dân tộc có số dân đông nhất ở miền tây nam của Trung Quốc, phân bố chủ yếu ở bốn tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu và Quảng Tây của Trung Quốc Từ thời xa xưa người Di đã có mối quan hệ mật thiết với người Đế Khương, theo các sử gia phân tích cho rằng Khương là tên gọi của tộc loại, còn Đế chỉ là một bộ phận trong đó mà thôi Đế Khương và dân tộc Di không chỉ có mối quan

hệ gần gũi về ngôn ngữ mà trong các tập quán sinh hoạt hầu như là có điểm giống nhau Mặc dù ở Việt Nam được gọi là dân tộc Lô Lô nhưng đồng bào ở đây họ vẫn tự nhận mình là dân tộc Di Người Lô Lô ở Vân Nam tràn vào vùng Thuỷ Vĩ thuộc Hưng Hoá và chia làm hai đợt trong đó có hai đợt liên quan đến cuộc khởi nghĩa của họ để chống lại triều đình phong kiến Trung Quốc Đó là cuộc khởi nghĩa của người Di ở 18 trại thuộc vùng Di Lạc

Sau khi di cư sang Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Lục Ngô Quân do không khuất phục nên đã dẫn hơn một vạn quân, dân người Lô Lô đi về phía nam và đến vùng đất Đồng Văn ngày nay dựng bản, lập mường Dân tộc Lô Lô tuy có nguồn gốc là từ người Di ở Trung Quốc di chuyển sang nhưng từ lâu cho tới nay họ đã quen được gọi là Lô Lô Qua đó chúng ta có thể thấy rằng, người Lô Lô họ có một mối quan hệ rất gần gũi với người Di ở bên Trung Quốc Họ di cư sang Việt Nam

do nhiều nguyên nhân và giai đoạn khác nhau, nhưng phần đông dân nhất vẫn là

ở triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc Nơi đặt chân đầu tiên của họ khi đến Việt Nam chính là vùng Đồng Văn, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang bây giờ Cho đến tận ngày nay, dân tộc Lô Lô đã là một trong 54 dân tộc không thể thiếu trong đất nước Việt Nam chúng ta Lô Lô là một bộ lạc trong nhóm Ô Man, mà “Tân Đường thư” gọi là Lu Lu, “Nguyên sử loại biên” gọi là Lô Lô

Trang 14

Người Lô Lô có truyền thuyết: có 7 anh em trai, trong đó có 3 người từ Vân Nam Trung Quốc đi sang Việt Nam tìm nơi làm ăn, sinh sống Trên đường đi có một người bị lạc, còn 2 người đến đất Đồng Văn đầu tiên Người anh ở lại Đồng Văn, còn người em đi tiếp sang vùng Tây Nam Bảo Lạc Ngày nay, tuy vùng Tây Nam Bảo Lạc không còn người Lô Lô cư trú, nhưng ở vùng này vẫn còn những

mộ táng của người Lô Lô, có địa danh gắn liền với tên dân tộc Lô Lô như Pác Mìa (nay là Bắc Mê) Một truyền thuyết khác kể rằng, ngày xửa ngày xưa, có một đôi

vợ chồng người Lô Lô đi tìm đất hoang vu để khai khần làm ăn Họ đi mãi từ ngày này sang ngày khác, từ miền đất nọ đến miền đất kia Họ đến một vùng núi đá, ngủ đêm tại đó Đêm ngủ người vợ nằm mơ thấy một cụ già, hiện ra bảo rằng đây

là nơi đất lành, làm ăn ở đây sẽ có cuộc sống no đủ và hạnh phúc Các con hãy dừng chân tại đây và đi hai chiếc giày này, giẫm đến đâu sẽ thành ruộng đến đó Nói rồi ông già biến mất Hôm sau, tỉnh dậy hai vợ chồng thấy hai chiếc giày, một chiêc to và một chiếc nhỏ, đặt ngay dưới chân hai vợ chồng Người vợ kể chuyện giấc mơ cho chồng nghe, người chồng nửa tin, nửa ngờ, nhưng cũng làm theo lời

vợ, xỏ chân vào giày Người chồng xỏ chân vào chiếc giày nhỏ, người vợ xỏ chân vào chiếc giày to Họ giẫm chân khắp thung lũng Mèo Vạc Những nơi bàn chân của hai vợ chồng giẫm lên đã trở thành những thửa ruộng to, nhỏ khác nhau Có chỗ người vợ giẫm mạnh tạo thành ao to, ao nhỏ Ao to nhất là ao cạnh cây đa thuộc xóm Chúng Pả, mà người Lô Lô gọi là Mà Vàng

Các nhà sử học, dân tộc học đã khẳng định dân tộc Lô Lô và một số dân tộc khác ở Vân Nam (Trung Quốc) vào thế kỉ thứ VIII đã sáng lập ra nhà nước Nam Chiểu Mà trước đó một thời kì dài, nhiều học giả vẫn cho rằng chủ nhân của nhà nước Nam Chiểu là người Thái Năm 937, nhà nước Nam Chiểu bị nhóm người Bạch, một trong những bộ phận của cư dân Nam Chiểu, do Đoàn Tử Bình cầm đầu đã đánh chiếm nhà nước Nam Chiểu Những ngưởi Lô Lô không chấp nhận sự đánh chiếm của người Bạch, đã chạy xuống phía Nam, đến Việt Nam từ thời kì đó Sử sách ghi lại rằng, một tướng quân Lô Lô là Ngô Quân, thời đó đã dẫn hơn một vạn quân dân Lô Lô đi về phía Nam, tới đất Đồng Văn để khai phá đất đai, lập trại làm ăn Vào thế kỉ VII, thủ lĩnh Khổng Mìn, đã dẫn năm, sáu nghìn người từ phương Bắc tìm đường vượt núi cao hiểm trở đến Mèo Vạc sinh sống

Từ Mèo Vạc họ di cư sang Bảo Lạc (Cao Bằng) Ngày nay, người Tày, người Tày, người Giáy, người Mông ở vùng Đồng Văn, Mèo Vạc vẫn có tục cúng ma Lô Lô – người có công khai phá đất đai, mỗi khi cày cấy xong hoặc khi lúa bị sâu bệnh cắn phá Trong ngày hội lùng tùng của người Tày ở Bảo Lạc, có mâm cúng ma

Trang 15

Lô Lô – người chủ đất đầu tiên Ở làng Lô Lộ Chải thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, trong kí ức của người dân, trong truyện cổ, trong các bài ca, bài cúng đưa hồn người chết, đều cho rằng ở Việt Nam, Lũng Cú là nơi đầu tiên họ đặt chân đến Địa bàn người Lô Lô sinh sống thuộc các cao nguyên biên giới phía Bắc Tổ quốc Đó là phần rìa của khối cao nguyên Vân Quý đồ sộ ở Nam Trung Hoa Đây cũng là vùng giáp biên giới Việt Trung của tỉnh Hà Giang và Cao Bằng, giao thông đi lại ở đây rất khó khăn

Họ là cư dân có mặt rất sớm của vùng cực Bắc Hà Giang Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng nước và nương định canh với các loại cây trồng chính như nếp, lúa

tẻ và ngô Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể

Họ chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín (mèn mén) Bữa ăn phải có canh, họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ Về mặc, phụ nữ có nhóm mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, có nhóm mặc áo cổ vuông chui đầu, quần chân què, có nơi bên ngoài còn quấn xà cạp Trang trí trên y phục bằng hoa văn, chắp ghép những mảnh vải màu to Họ có sử dụng hoa văn in bằng sáp ong

Tùy từng nơi họ sống trong ba loại nhà: nhà sàn, nhà trệt hoặc nhà nửa sàn nửa đất Người Lô Lô sống tập tung trong các bản tương đối ổn định, tính cộng đồng tộc người thể hiện rõ nét Có hơn 30 dòng họ khác nhau Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng, bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng

họ

2.2 Đời sống kinh tế - xã hội

Trồng trọt là nguồn sống chính của người Lô Lô Cây lương thực chính là cây ngô và cây lúa Cây ngô thì có nhiều loại giống: ngô nếp, ngô tẻ, ngô trắng, ngô vàng Đây là loại ngô truyền thống, loại ngô này thường cho năng suất không cao như ngô lai, nhưng ăn thơm ngon hơn ngô lai và để cả năm không bị mốc, không bị mọt ăn Cây lúa thì cũng có nhiều loại: lúa nếp, lúa tẻ Giống lúa nếp cây cao, lá to, tuy nâng suất không cao nhưng được trồng khá phổ biến vì nó phù hợp với thói quen chế biến thành các loại bánh mà người Lô Lô ưa thích Lúa tẻ cây cao, lá to, năng suất trung bình và được trồng nhiều Ngoài cây lúa và cây ngô, họ còn trồng các loại hoa màu, các loại lương thực, thực phẩm, các loại cây ăn quả, các loại rau Họ chăn nuôi các loại gia súc: trâu, bò, ngựa Việc chăn nuôi gia súc

Trang 16

đồng thời để lấy phân bón cho cây trồng Ngoài nuôi gia súc họ còn nuôi các loại

gia cầm:lợn, gà, vịt, ngan, nguỗng

Họ cũng đẩy mạnh việc khai thác tự nhiên, hái rau rừng là công việc của phụ nữ, còn săn bắt thú rừng là việc của đàn ông Thu hái lâm sản, mùa hè thì hái các loại rau rừng, đông thì tìm củ quả Ngoài ra, họ còn đánh bắt cá dưới sông suối, lấy cây rừng làm nhà ở, làm công cụ sản xuất Người Lô Lô có 3 nghề thủ công được nhiều người trồng vùng biết đến Đó là nghề đan lát, làm ngói và nghề thêu Đan lát và làm ngói là của đàn ông, còn thêu thùa là của phụ nữ Kinh tế chủ yếu của người Lô Lô là kinh tế tự cấp, tự túc Tuy nhiên họ có nhu cầu trao đổi, mua bán một số mặt hàng phục vụ nhu cầu thiết yếu

Quan hệ dòng họ được tính theo phụ hệ Ý nghĩa quan trọng nhất của quan

hệ dòng họ là duy trì cách thờ cúng tổ tiên, cúng ma và nghiêm cấm người trong dòng họ có quan hệ hôn nhân với nhau, từ 4 đến 5 đời Mỗi dòng họ có một bộ trống đồng, dòng họ nào có từ ba bộ trống đồng trở lên là dòng họ lớn, có vị thế trong dòng tộc Các thành viên trong dòng họ có nghĩa vụ giúp đỡ nhau trong cưới sinh, ma chay, làm nhà mới, hoặc giúp đỡ nhau khi hoạn nạn ốm đau

Tục lệ hôn nhân tuân thủ theo nguyên tắc ngoại hôn dòng tộc Tục lệ hôn nhân gồm các nghi lễ chính: nghi lễ hỏi tuổi, nghi lễ thông báo hợp tuổi, nghi lễ

ăn hỏi và nghi lễ đón dâu, lễ lại mặt

Tập quán tang ma xuất phát từ quan niệm là con người có xác và hồn Khi chết là xá chết và hồn vẫn còn sống, cho nên họ làm tang ma để đưa xác đi chôn

và đưa hồn lên thiêng đàng về với tổ tiên Nét đặc trưng trong tang lễ của người

Lô Lô là sử dụng trống đồng Khi thi hài còn ở trong nhà, họ đánh trống đồng trong tang lễ để tỏ lòng thương xót đối với người mất và tiễn đưa linh hồn của họ

về thế giới bên kia

[Phạm Trung Phương – Trần Bình (cb), Người Lô Lô ở Việt Nam, Nxb Thông Tấn, 2011]

2.3 Văn hóa truyền thống của người Lô Lô

2.3.1 Văn hóa tinh thần

Về tôn giáo, tín ngưỡng, người Lô Lô cho rằng nếu con người sống không tốt bụng thì dễ bị ma quỷ trừng phạt làm cho ốm đau và chết Người Lô Lô quan niệm trời là cha, đất là mẹ Trời sáng tạo ra thế giới trần gian, loài người và muôn

Trang 17

vật, trời quyết định vận mệnh của loài người Người Lô Lô thường có câu huyền

“người không thấy, đất thấy, người không biết đã có trời, nó sẽ bị trời đánh và đất vùi Vì cho rằng mọi vật đều có linh hồn, nên người Lô Lô có tín ngưỡng đa thần

họ cho rằng mỗi làng điều có ma cai quản, đó là ma bản, có thể phù hộ hoặc làm hại dân làng, nên mỗi năm thường tổ chức cúng ma bản một lần

Thứ hai là việc thờ cúng tổ tiên Dù ở trong nhà sàn hay nhà trệt, bàn thờ

ma nhà của người Lô Lô thường được bố trí ở phần giáp vách của gian giữa Ngoài bàn thờ của tổ tiên, trong ngôi nhà của họ còn có nơi thờ những người chết bất đắt

kì tử được coi là khá linh thiên và đặt ở góc nhà ngay phía dưới bàn thờ tổ tiên hoặc ở gần bếp Trừ chủ nhà, không ai được phép lui tới hoặc quét dọn nơi thờ cúng ma này Người Lô Lô cho rằng tổ tiên là những người thuộc tất cả các thế

hệ trước đã sinh ra mình và chia ra thành tổ tiên gần và tổ tiên xa Theo tập quán của người Lô Lô, hằng năm các bản điều làm lễ cúng ma bản, cầu cho mùa màng tốt tươi, không bị muôn thú phá hoại Theo tục lệ cúng bái của người Lô Lô, lễ cúng ma bản cũng tiến hành hai lần, lần đầu cúng dân những con vật hiến tế (chủ yếu là gà) chưa bị giết thịt, lần thứ hai cúng dân đồ ăn đã được chế biến từ các con vật hiến tế đã cúng lần đầu Người Lô Lô có nhiều lễ hội như lễ rước thần bản, lễ tế trời đất, lễ rước đuốc và lễ cầu mưa Lễ rước thần bản thường được tổ chức vào tháng Năm, rước thổ công, người đã có công khai bản Lễ này có nguồn gốc từ một truyền thuyết của người Lô Lô ở Hà Giang Lễ rước đuốc hằng năm được tổ chức từ ngày 24 đến ngày 26 tháng Chín hằng năm Lễ cầu mưa được tổ chức vào cuối tháng Năm âm lịch, lễ này xuất phát từ truyền thuyết đấu tranh với thiên nhiên của người Lô Lô, được tiến hành trong một khu đất rộng giữa bản

Người Lô Lô có chữ viết khá sớm, nhưng nay đã bị mai một Văn nghệ dân gian của người Lô Lô khá phong phú bao gồm thơ ca dân gian, tục ngữ, câu đố, múa dân gian, đặc biệt thơ ca dân gian và truyện kể dân gian vốn được người Lô

Lô ưa chuộng Đối với văn hóa tinh thần của người Lô Lô, đáng chú ý nhất vẫn

là dân ca, bởi nó có tính độc lập về ngôn từ, sự tồn tại và phát triển của dân ca Lô

Lô không bị ràng buộc bởi các yếu tố như âm nhạc và múa dân gian

2.3.2 Văn hóa vật chất

2.3.2.1 Nhà ở

Người Lô Lô ở nước ta có ba loại nhà sàn khác nhau: nhà nền đất, nhà sàn

và nhà nền sàng nữa đất Nhà sàn chính là loại nhà truyền thống của người Lô Lô

Trang 18

xuống đất, chỉ ở được vài ba năm là phải tu sửa, lợp lại mái Có nhiều lí do để họ sống trong nhà sàn Một là do trước kia có nhiều rừng nên dễ tìm kiếm các loại nguyên vật liệu để làm nhà như tre, gỗ Hai là khi đó dân cư còn quá thưa thót,

rừng còn nhiều nên thú dữ còn nhiều lắm, nên ở nhà sàn an toàn hơn ở nhà đất

Nhà sàn của người Lô Lô ở Mèo Vạc có nhiều yếu tố tương đồng với nhà sàn của một số tộc người khác: nền nhà có cấu trúc kiên cố hơn, cột được kê trên hòn đá tảng, sàn bằng gỗ hay tre, mái lợp cỏ gianh hay ngói máng, thậm chí lợp bằng tấm fipproximang Về mặt bằng dưới sàn được sử dụng làm bếp lò nấu cám lợn, nhốt gia súc, gia cầm, để cối xay giã gạo và là nơi cất giữ những nông cụ cùng các loại đồ dùng sinh hoạt khác của gia đình Sàn là mặt bằng chính để ăn ở, ngủ nghỉ và thực hiện các sinh hoạt, đồng thời sàn cũng là nơi cất giữ lương thực

và các loại đồ gia dụng quan trọng

Về cấu tạo bộ khung của ngôi nhà, nếu dựa vào cấu trúc của vì kèo thì có 2 loại nhà chính: vì kèo ba cột và vì kèo nhiều cột Trong đó, loại nhà vì kèo ba cột

là phổ biến của người Lô Lô xã Tín Cái huyện Mèo Vạc Ngoài ra còn có loại vì kèo 5 cột và nhiều cột trốn Với loại nhà vì kèo 3 cột, cấu trúc đơn giản hơn, thường chỉ có 2 hoặc 3 gian, 2 mái và cầu thang lên sàn với số bậc lẽ, nhưng cũng

có vài nhà có 4 gian- gian thứ tư thường là gian phụ Nhìn chung, nhà sàn của người Lô Lô ở nước ta có cấu trúc khá đa dạng trong đó đơn giản nhất là loại nhà

vì kèo 3 cột Còn loại nhà sàn có cấu trúc phức tạp hơn thường là loại vì kèo có cấu trúc nhiều cột, kể cả cột trốn

Người Lô ở Hà Giang bố trí mặt bằng sinh hoạt trong nhà sàn khá thống nhất: nhà có một hoặc hai cửa ra vào, ít cửa sổ, hai bếp, có sự quy định rõ ràng về nơi để đồ đạc và nơi ngủ của các thành viên, cầu thang lên sàn thường bắt trực tiếp lên cửa ra vào trên sàn Với loại nhà hai gian, hiện nay chỉ còn tồn tại dạng nhà sàn, có đặc điểm là cửa chính nằm ở một trong hai gian và được bố trí ở phía trước nhà Gian bên cạnh cửa chính có bếp nấu nướng, chạn bát và buồn ngủ của chủ nhà Còn trong gian mở cửa chính có bàn thờ gia tiên, buồn ngủ của các cô gái bồ đựng thóc, bên cạnh bàn thờ gia tiên thường bố trí nơi ngủ cho con trai lớn tuổi, cũng có thể là nơi ngủ của khách Đối với loại nhà ba hoặc bốn gian cách bố trí mặt bằng cũng tương tự hai gian, chỉ khác nhau ở một số chi tiết và diện tích sinh hoạt của loại nhà này thì rộng rãi thoáng mát hơn Do nhà 3 gian nên vị trí cửa chính thường được bố trí ở gian giữa, ngay phía trước nhà Toàn bộ gian giữa

để đặt bàn thờ gia tiên ở trên vách đối diện với cửa chính, rồi đến nên tiếp khách

Trang 19

ở đó các gia đình thường bố trí bàn, ghế để tiếp khách Gian ở phía trên bên trái của cửa chính có bồ thóc, buồn ngủ của vợ chồng con trai và buồng ngủ của các

cô con gái Gian ở bên phải cửa chính có bếp nấu nướng, nơi để nước sinh hoạt

và bố trí nơi ngủ ở gần bàn thờ tổ tiên cho các con trai Bên cạnh gian này có thể

có một gian phụ dùng làm buồn ngủ cho chủ nhà và cất giữ đồ đạc của gia đình Tùy theo sự thuận tiện cho việc đi lại, nhiều gia đình còn mở thêm cửa phụ phía

có nhiều ánh nắng mặt trời để dựng sàn phơi gần đó Dưới gầm nhà sàn, người Lô

ở Hà Giang tận dụng để phục vụ cho công việc xay giã gạo nấu cám lợn, nấu rượu, làm nơi nhốt giữ gia cầm và cất giữ nông cụ

Nhà sàn của người Lô Lô ở Mèo Vạc có nhiều yếu tố tương đồng với nhà sàn của một số tộc người khác: nền nhà có cấu trúc kiên cố hơn, cột được kê trên hòn đá tảng, sàn bằng gỗ hay tre, mái lợp cỏ gianh hay ngói máng, thậm chí lợp bằng tấm fipproximang Về mặt bằng dưới sàn được sử dụng làm bếp lò nấu cám lợn, nhốt gia súc, gia cầm, để cối xay giã gạo và là nơi cất giữ những nông cụ cùng các loại đồ dùng sinh hoạt khác của gia đình Sàn là mặt bằng chính để ăn ở, ngủ nghỉ và thực hiện các sinh hoạt, đồng thời sàn cũng là nơi cất giữ lương thực

và các loại đồ gia dụng quan trọng

Về cấu tạo bộ khung của ngôi nhà, nếu dựa vào cấu trúc của vì kèo thì có 2 loại nhà chính: vì kèo ba cột và vì kèo nhiều cột Trong đó, loại nhà vì kèo ba cột

là phổ biến của người Lô Lô xã Tín Cái huyện Mèo Vạc Ngoài ra còn có loại vì kèo 5 cột và nhiều cột trốn Với loại nhà vì kèo 3 cột, cấu trúc đơn giản hơn, thường chỉ có 2 hoặc 3 gian, 2 mái và cầu thang lên sàn với số bậc lẽ, nhưng cũng

có vài nhà có 4 gian- gian thứ tư thường là gian phụ Nhìn chung, nhà sàn của người Lô Lô ở nước ta có cấu trúc khá đa dạng trong đó đơn giản nhất là loại nhà

vì kèo 3 cột Còn loại nhà sàn có cấu trúc phức tạp hơn thường là loại vì kèo có cấu trúc nhiều cột, kể cả cột trốn

Người Lô ở Hà Giang bố trí mặt bằng sinh hoạt trong nhà sàn khá thống nhất: nhà có một hoặc hai cửa ra vào, ít cửa sổ, hai bếp, có sự quy định rõ ràng về nơi để đồ đạc và nơi ngủ của các thành viên, cầu thang lên sàn thường bắt trực tiếp lên cửa ra vào trên sàn Với loại nhà hai gian, hiện nay chỉ còn tồn tại dạng nhà sàn, có đặc điểm là cửa chính nằm ở một trong hai gian và được bố trí ở phía trước nhà Gian bên cạnh cửa chính có bếp nấu nướng, chạn bát và buồn ngủ của chủ nhà Còn trong gian mở cửa chính có bàn thờ gia tiên, buồn ngủ của các cô gái bồ đựng thóc, bên cạnh bàn thờ gia tiên thường bố trí nơi ngủ cho con trai lớn

Trang 20

tuổi, cũng có thể là nơi ngủ của khách Đối với loại nhà ba hoặc bốn gian cách bố trí mặt bằng cũng tương tự hai gian, chỉ khác nhau ở một số chi tiết và diện tích sinh hoạt của loại nhà này thì rộng rãi thoáng mát hơn Do nhà 3 gian nên vị trí cửa chính thường được bố trí ở gian giữa, ngay phía trước nhà Toàn bộ gian giữa

để đặt bàn thờ gia tiên ở trên vách đối diện với cửa chính, rồi đến nên tiếp khách

ở đó các gia đình thường bố trí bàn, ghế để tiếp khách Gian ở phía trên bên trái của cửa chính có bồ thóc, buồn ngủ của vợ chồng con trai và buồng ngủ của các

cô con gái Gian ở bên phải cửa chính có bếp nấu nướng, nơi để nước sinh hoạt

và bố trí nơi ngủ ở gần bàn thờ tổ tiên cho các con trai Bên cạnh gian này có thể

có một gian phụ dùng làm buồn ngủ cho chủ nhà và cất giữ đồ đạc của gia đình Tùy theo sự thuận tiện cho việc đi lại, nhiều gia đình còn mở thêm cửa phụ phía

có nhiều ánh nắng mặt trời để dựng sàn phơi gần đó Dưới gầm nhà sàn, người Lô

ở Hà Giang tận dụng để phục vụ cho công việc xay giã gạo nấu cám lợn, nấu rượu, làm nơi nhốt giữ gia cầm và cất giữ nông cụ

Không chỉ ở nhà sàn, đối với người Lô Lô ở Hà Giang, kiểu nhà nền đất cũng là một loại nhà ở phổ biến Nhà nền đất của họ phổ biến có cấu trúc dạng vì kèo 4 cột và một cột trốn Đặc biệt có loại nhà có cấu trúc mỗi vì kèo 5 cột và một cột hiên Nhà thường chỉ có 3 gian và có nhà 4 gian và phần lớn những nhà này được bố trí thêm một gian phụ để trở thành nhà 5 gian Theo người Lô Lô ở Hà Giang, chỉ trường hợp vợ hay chồng đã chết mới được ở loại nhà hai cháy, nếu không thì chỉ được làm một cháy (tức một gian phụ) Nhưng chủ yếu các ngôi nhà của người Lô Lô ở Hà Giang thường thuộc loại nhà 2 cháy, đây cũng chính là điểm khác so với nhà ở của người Lô Lô ở tỉnh Cao Bằng Có nhiều ngôi nhà nền đất của người Lô Lô thường cao hơn so với nhà trệt của người Hmong và người Dao Nhà nền đất của họ thường có tường đất, mái lợp ngói âm dương, rạ, tương đối cao tráo, thoáng mát vừa đảm bảo đủ ánh sáng, vừa có gác xếp giống như tầng sàn của ngôi nhà sàn để làm chổ cất giữ lương thực và nhiều đồ dùng của gia đình

Có lẽ đây vẫn còn là một thói quen sống ở nhà sàn vẫn còn lưu lại trong tâm lí của người Lô Lô ở Mèo Vạc, Hà Giang

Khác với nhà sàn, nhà trệt có mặt bằng sinh hoạt thường được bố trí ở tầng nền đất, còn gác xép chỉ để cất giữ lương thực và đồ đạc của gia đình Cách bố trí cũng tương tự như nhà sàn, ở nhà trệt, cửa chính đươc mở ở gian giữa và trong gian này có bàn thờ gia tiên, bàn tiếp khách, giường ngủ của con trai lớn tuổi, có thể có thêm giường khách ở ngay gian cạnh Gian bên phải hoặc bên trái của gian

Trang 21

bếp lò, buồng ngủ của bà, các cô con gái hay của đôi vợ chồng trẻ Nơi này còn

là nơi để các đồ dùng nhà bếp như bát, xoong, nồi, chảo và bể nước Không ít nhà còn mở cửa phụ ở gian bếp nấu nướng hay bếp lò để tiện đi lại lấy nước và chăn nuôi Loại nhà 4 gian cũng tương tự, cối xay cối giã gạo nông cụ được để ở ngoài hiên Do nơi cư trú có địa hình dốc, nhiều đá vôi nên việc sử dụng phần đất xung quanh nhà của người dân nơi đây cũng tương đối thống nhất và tương đồng với nhiều tộc người Các ngôi nhà đều mở cửa chính theo hướng chân đồi hoặc chân núi, chuồng trại gia súc, gia cầm được bố trí phía trước nhà hoặc phía bên cạnh Còn phần đất bên phía ngoài được tận dụng làm vườn trồng rau trồng cây ăn quả hoặc làm nương rẫy

Khởi dựng một ngôi nhà mới đối với người Lô Lô là công việc hệ trọng, trong đó đáng chú ý nhất là các khâu chọn đất làm nền nhà, lấy nguyên vật liệu, khởi công xây dựng Tất cả các khâu này đều thấy có sự ảnh hưởng từ nhiều yếu

tố tín ngưỡng Nếu không đáp ứng được tất cả các yếu tố đó thì ngôi nhà mới được dựng lên không phải để ở mà chỉ để sinh hoạt cộng đồng như nhà văn hóa thôn, trường học Trước hết, họ xem hướng của miếng đất phải phù hợp để mở cửa chính, hướng mở cửa chính thường theo tuổi của chủ nhà, nếu hướng Đông là đẹp nhất, vì đó là hướng chào đón ánh nắng mặt trời, đồng thời đó cũng là hướng tượng trưng cho sự phát triển, họ còn cho rằng hướng mở cửa chính cần nhìn thẳng vào đồi hoặc núi, kị nhìn thẳng vào đỉnh núi hoặc tảng đá, nhất là nhòm vào hang đá Theo người Lô Lô ở Hà Giang, có nhiều cách để kiểm tra miếng đất đã chọn để làm nhà, trong đó phổ biến là dựa vào truyền thống tín ngưỡng Về cơ bản, tâp quán kiểm tra miếng đất để làm nhà mới của người Lô Lô cũng tương tự như tộc người Dao, Hmong, chứng tỏ có sự tương đồng về văn hóa của nhiều tộc người khác nhau

Cách thể hiện cuộc sống sinh hoạt trong ngôi nhà của mỗi tộc người lại có những nét riêng Một trong những đặc điểm thể hiện rõ nét nhất tập quán sinh hoạt của người Lô Lô là cách bố trí những chiếc giường ngủ cho các thành viên trong gia đình Họ thường căn cứ vào số lượng các thành viên trong gia đình mà đặt số lượng giường ngủ cho thích hợp

2.3.2.2 Công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt

Công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt là những vật phẩm gắn liền với nhà

ở, là những dụng cụ chủ yếu phục vụ đời sống hằng ngày của tộc người Lô Lô,

Trang 22

mà nó còn chứa đựng những biểu trưng của các đặc điểm văn hóa mang tính địa phương và tính tộc người Các công cụ chủ yếu mà người Lô Lô thường dùng: dao búa, cuốc, cày, bừa, liềm Có thể dựa vào các công đoạn trong quá trình sản xuất nông nghiệp mà phân chia một cách tương đối thành những nhóm nông cụ khác nhau Phần lớn những nông cụ đều được người Lô Lô mua ở chợ, một số ít

do họ tự làm lấy như cày, bừa

Dựa vào các công đoạn trong quá trình sản xuất nông nghiệp, mà phân chia thành những nhóm nông cụ khác nhau Những nông cụ dùng để phát cỏ, chặt cây gồm có dao và búa Tiếp đến là các loại nông cụ dùng để làm đất là cuốc, cày và bừa Nông cụ làm cỏ và gieo trồng thường là cuốc bướm, cuốc bướm cùng kiểu với cuốc bàn, chỉ có điểm khác biệt là lưỡi rộng hơn nhiều và dùng để rẫy cỏ Còn đối với loại nông cụ thu hoạch thì từng theo loại cây trồng mà sử dụng một số loại dụng cụ thu hoạch cho thích hợp Bởi vậy dụng cụ thu hoạch của họ khá đa dạng công đoạn thu hoạch nông sản, có lẽ không thể thiếu các loại đồ để đựng, vận chuyển và cất giữa như bàn đạp lúa, gùi, bao tải, đòn gánh Ngoài những công cụ sản xuất điển hình thì trong gia đình người Lô Lô cũng không thể thiếu một số đồ dùng cần thiết để sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày Cối, có hai loại: cối xay thóc

và cố xay ngô, cối có thể làm bằng gỗ hoặc bằng đá Chõ đồ mèn mén, xôi hay

đồ cơm tẻ, đồ cất rượu và mâm ăn cơm Mâm ăn cơm của người Lô Lô có sự khác biệt tương đối giữa những gia đình gia Lô Lô ở nhà nhà sàn và gia đình ở nhà trệt

Người Lô Lô sử dụng một số phương tiện vận chuyển chủ yếu: gùi, túi, sọt Trước đây, người Lô Lô thường dùng sức người và sức ngựa để thồ hàng hóa

2.3.2.3 Trang phục nam, nữ

Cùng với nhà ở, hệ thống nông cụ và phương tiện vận chuyển, trang phục cũng là một trong nét độc đáo của văn hóa vật chất, tạo những sắc thái khác nhau giữa các tộc người, thậm chí giữa các nhóm địa phương trong một tộc người Mặc

dù có nhiều yếu tố tác động trong lịch sử và giao lưu văn hóa với nhiều anh em, nhưng bộ trang phục của người phụ nữ Lô Lô vẫn còn mang nhiều nét truyền thống và được nhiều người phụ nữ Lô Lô mặc Sự biến đổi trong trang phục của người phụ nữ Lô Lô tuy có những không nhiều, trở thành quy tắc trang trí trên trang phục của đồng bào Bộ y phục cổ truyền của người phụ nữ Lô Lô gồm: khăn,

áo, dây lưng, quần, váy, xà cạp và tạp dề Khăn đội của người phụ nữ có màu chàm hoặc đen với nhiều kích cỡ khác nhau Khăn thường được trang trí khá công

Trang 23

cườm và thêu hoặc đắp các mảnh vải nhỏ hình tam giác với nhiều màu sắc khác nhau Khi quấn quanh đầu thì hoa văn và hạt cườm đó khéo lộ ra ngoài

Áo, được trang trí gần hết, chỉ còn hai vai là màu nền của áo Đặc biệt là loại áo để mặc trong các dịp lễ hội luôn được thêu thùa kết hợp khâu táp vải màu tạo các loại hoa văn được trang trí để làm đẹp Thân trước và thân sau của áo được trang trí công phu bằng các mảng màu hình tam giác khâu ghép lại với nhau Quần của người phụ nữ thường làm bằng vải màu chàm hoặc đen, cắt theo kiểu ống chân què, ống dài hoặc ngắn tùy theo người sử, thường dài đến mắt cá chân, không

có túi, không thêu thùa hay khâu ghép vải màu trang trí Trong lễ hội thì họ cũng mặc kiểu quần này, nhưng ống rất rộng Mảnh vải hình chữ nhật mà phụ nữ dùng

để buộc chùm ra phía ngoài sau khi mặc quần hoặc váy là tạp dề hay còn gọi là yếm quần Tạp dề cũng được người Lô Lô trang trí sặc sỡ bằng các hoa văn thêu kết hợp khâu ghép vải màu hình tam giác để thành các hình vuông hoặc hình chữ nhật Phụ nữ Lô Lô, ở Mèo Vạc thường sử dụng chiếc dây lưng màu chàm hoặc đen, hai đầu được trang trí khá cầu kì Đó là một khổ vải cắt chéo và được may cuốn để thành một ống dài Còn xà cạp thường làm bằng vải hoa màu hơi tối hay vải màu đen hoặc vải chàm Xà cạp có đặc điểm là được khâu thành ống giống như ống chân Ngoài những trang phục nói trên, thì có thêm giày Mặc dù thường ngày người phụ nữ Lô Lô ít đi giày, nhưng trong ngày lễ, tết cổ truyền hoặc trong những ngày trời lạnh họ có đi giày vải

Qua các đặc điểm từng thành tố trong bộ trang phục của người Lô Lô có thể nhận thấy rằng, cách trang trí các họa tiết và màu sắc hoa văn trên khăn, áo, quần, dây lưng và tạp dề mặc dù rất phong phú, nhưng đều phải tuân theo những quy ước bắt buộc mang tính bản sắc văn hóa dân tộc Điều này đã trở thành thói quen tự nhiên và đã ăn sâu vào trong tâm thức của người phụ nữ Lô Lô Thói quen

đó đã được hình thành từ xa xưa trong lịch sử tộc người và trao truyền qua nhiều thế hệ

Gắn với hình ảnh trang phục của người phụ nữ, trang phục của người đàn ông Lô Lô có một số sự khác biệt Bộ trang phục truyền thống của người đàn ông

Lô Lô có màu chàm là màu chủ đạo Họ thường đội khăn dài giống như khăn của người phụ nữ, màu chàm hay đen, có đính nhiều tua màu và thêu trang trí hoa văn

ở hai đầu Do cư trú xen kẽ với đồng bào tộc người khác, đặc biệt là tộc người Hmong, nên từ lâu, nam giới Lô Lô ở huyện Mèo Vạc ăn vận những bộ y phục tương đồng, gần gũi với nhiều tộc người như Hmong, Tày hơn nữa đối với người

Ngày đăng: 06/10/2021, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nông Quốc Chấn (chủ biên), Văn hóa và sự phát triển của các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và sự phát triển của các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
2. Bùi Xuân Đính, Các tộc người ở Việt Nam, Nxb Thời đại, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thời đại
3. Khổng Diễn – Trần Bình (Đồng chủ biên). Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam, Nxb Thông tấn, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Lô Lô ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thông tấn
4. Triệu Hữu Lý, Lý Trung Vũ, Dân cao Dao- Dân ca Lô Lô, 2015 5. Lò Giàng Páo, Truyện cổ dân tộc Lô Lô, Nxb Khoa học Xã hội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân cao Dao- Dân ca Lô Lô, "2015 5. Lò Giàng Páo, "Truyện cổ dân tộc Lô Lô, "Nxb Khoa học Xã hội
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội"
8. Triệu Hữu Lý, Lý Trung Vũ, Ca dao- Dân ca Lô Lô, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao- Dân ca Lô Lô

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Một số hình ảnh có liên quan - Biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất của người lô lô ở huyện mèo vặc tỉnh hà giang (1986   2016)
t số hình ảnh có liên quan (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w