Phân tích báo cáo tại công ty TNHH xây dựng công trình hoàng hà
Trang 1PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự hội nhập kinh tế quốc tế của nước
ta cùng sự phát triển, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gaygắt hơn Sự phát triển của các doanh nghiệp đóng một vai trò quyết định vào sự ổnđịnh và phát triển của nền kinh tế, bởi mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nềnkinh tế
Trong điều kiện này, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hếtdoanh nghiệp phải tự chủ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng như tựhạch toán kinh doanh đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và đảm bảo đời sống khôngngừng được cải thiện cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Do vậy mốiquan tâm hàng đầu của các nhà quản lý là vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp,
mà một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp làviệc kiểm tra giám sát một cách thường xuyên, thực hiện phân tích tài chính doanhnghiệp Và để làm tốt điều đó bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện phân tích đánhgiá tình hình tài chính của mình một cách thật chi tiết, khoa học để từ đó doanhnghiệp có kế hoạch, định hướng và hoạt động có hiệu quả hơn Vì chỉ trên cơ sởphân tích tài chính thì doanh nghiệp mới đánh giá được hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh trong kỳ, thấy được những trọng điểm quản lý của công tác quản
lý tài chính để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quảhoạt động của mình
Trang 2Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài chính tài sản,nguồn vốn các chỉ tiêu về tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuấtkinh doạnh của doanh nghiệp Do đó, việc phân tích báo cáo tài chính của doanhnghiệp là một việc cần thiết Kết quả phân tích không chỉ giúp cho doanh nghiệpnắm bắt được tình hình hoạt động của công ty mà còn dùng để đánh giá mức độthành công của các dự án trước khi triển khai.
Ngoài ra, kết quả phân tích báo các tài chính không chỉ phục vụ doanhnghiệp trong việc đưa ra quyết định của mình trong tương lai mà nó còn là mốiquan tâm của những đối tượng khác như ngân hàng, nhà đầu tư, khách hàng Trướchết giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được nội dung của hiểu đượcnội dung của các báo cáo, sau đó hiểu được báo cáo tài chính, họ cần đưa ra những
dự đoán cho tương lai dựa trên những số liệu quá khứ và hiện tại Có thể thấy rằngviệc phân tích báo cáo tài chính có vai trò rất quan trọng đối với rất nhiều đốitượng quan tâm tới doanh nghiệp
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Phân tích báo cáo tại công ty
TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà” để thấy dược những thuận lợi, khó khăn
về tài chính của Công ty Từ đó có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăngcường tình hình tài chính, nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong năm kếtiếp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1.Mục tiêu chung
Trang 3Phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty nhằm cung cấp thông tin cho người quản lý đưa ra quyết địnhphù hợp.
1.2.2.Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệpPhân tích, đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp, thấy được điểmmạnh, điểm yếu cũng như những thuận lợi và khó khăn của công ty Trách nhiệmhữu hạn xây dựng công trình Hoàng Hà
Đưa ra những đề xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu công tác kế toán quảntrị tại công ty TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Báo cáo tài chính của công ty năm 2009 - 2011
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian:
+ Khung thời gian: hoàn thành đề tài từ 13/1 – 30/5/2012
+ Số liệu nghiên cứu báo cáo tài chính công ty từ năm 2009 – 2011
- Phạm vi và không gian: đề tài thực hiện tại Công ty TNHH xây dựng công trình
Hoàng Hà.
Địa chỉ: lô 2 khu đô thị mới Đại kim - Định công, Phường Đại kim, QuậnHoàng Mai, Hà Nội
Trang 4PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Những vấn đề chung về BCTC trong doanh nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm
“Báo cáo tài chính là những bản báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế
toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tạinhững thời điểm nhất định Các báo cáo tài chính phản ánh một hệ thống tình hìnhtài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình
sử dụng vốn trong thời hạn nhất định Đồng thời được giải trình giúp cho các đốitượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sảnxuất kinh doanh của đơn vị để ra quyết định phù hợp” (Nguyễn Năng Phúc, 2009)
2.1.1.2 Vai trò của BCTC
- Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế, tài chính cần thiết giúp cho việc nhận biết
và kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình và kết quả hoạt động sảnxuất, kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính chủ yếu củadoanh nghiệp
- Cung cấp số liệu, tài liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tíchhoạt động kinh tế, tài chính, để nhận biết tình hình và kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính,tình hình về nhu cầu và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trang 5- Dựa vào báo cáo tài chính để phân tích, phát hiện khả năng tiềm tàng vềkinh tế, tài chính, dự đoán tình hình và xu hướng hoạt động của doanh nghiệp để từ
đó đề ra các quyết định đúng đắn và có hiệu quả
- Cung cấp tài liệu, số liệu để tham khảo phục vụ cho việc lập kế hoạch sảnxuất, kinh doanh, kế hoạch đầu tư, các dự án sản xuất, kinh doanh cho phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp
Đối với từng đối tượng sử dụng thông tin của báo cáo tài chính có ý nghĩa
và tác dụng cụ thể như sau:
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, hội đồng quản
trị, han giám đốc: báo cáo tài chính cung cấp thông tin để doanh nghiệp phân tích,đánh giá tổng hợp về thực trạng và tiềm năng tài chính, khả năng thanh toán, tìnhhình và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình và thực trạng quản lý kinh tế tàichính, để từ đó hoạch định các chính sách quản lý và sử dụng tài sản, chính sáchhuy động và sử dụng vốn, chính sách quản lý doanh thu, chi phí và sử dụng cácluồng tiền của doanh nghiệp
- Đối với những đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu
tư, các chủ nợ, ngân hàng: thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp họ đánh giátiềm năng và thực trạng tài chính, thực trạng hoạt động kinh doanh và khả năngsinh lời, khả năng thanh táon và những rủi ro, để có những quyết định hợp lý đốivới việc đầu tư, mức độ và thời hạn cho vay, lãi suất cho vay; đối với các nhà cungcấp và khách hàng thông tin trên báo cáo tài chính có thể giúp họ có những đánhgiá về triển vọng kinh doanh và khả năng cung cấp nguồn hàng, khả năng thanhtoán ngắn hạn, để có những quyết định đúng đắn về các quan hệ kinh doanh, bạnhàng
Trang 6- Đối với người lao động: thông tin trên báo cáo tài chính giúp họ hiểu được
khả năng tiếp tục hoạt động, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán, chi trả củadoanh nghiệp để họ có những quyết định việc làm và thu nhập
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan quản lý tài chính, đăng
ký kinh doanh, cơ quan thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác: căn cứ vàothông tin trên báo cáo tài chính để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát tính tuânthủ pháp luật kinh doanh, pháp luật về quản lý tài chính, thuế của các doanh nghiệp
và đề ra các quyết định quản lý Nhà nước phù hợp…
2.1.1.3 Mục đích của hệ thống báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tìnhhình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lýcủa chủ doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sửdụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Báo cáo tài chính phải cung cấpnhững thông tin của một doanh nghiệp về:
- Tài sản
- Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
- Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác
- Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh
- Thuế và các khoản nộp Nhà nước
- Tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán
- Các luồng tiền
Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin kháctrong “Bản thuyết minh báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đãphản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng
Trang 7để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính Từ
đó, người sử dụng thông tin hiểu rõ hơn về tình hình kinh doanh cũng như các chỉtiêu trên báo cáo tài chính
2.1.1.4 Hệ thống BCTC trong doanh nghiệp
1 Bảng cân đối kế toán
a) Khái niệm và ý nghĩa của bảng cân đối kế toán
“Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tạimột thời điểm nhất định” (Nguyễn Trọng Cơ, 2010)
Số liệu trên BCĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệptheo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó.Kết cấu của bảng cân đối kế toán bao gồm 2 phần cân bằng nhau theo phương trình
kế toán cơ bản:
TỔNG TÀI SẢN = TỔNG NGUỒN VỐNPhần tài sản phản ánh quy mô vốn của doanh nghiệp, cho phép đánh giá mộtcách tổng quát năng lực sản xuất và quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có củadoanh nghiệp Đồng thời nó cho biết quyền sở hữu và quản lý đối với tài sản củadoanh nghiệp
Phần nguồn vốn – nguồn hình thành tài sản thể hiện quy mô nguồn vốn kinhdoanh và tình trạng tài chính của doanh nghiệp Nó phản ánh trách nhiệm củadoanh nghiệp về tổng số vốn hiện có của mình, bao gồm các khoản nợ và cáckhoản vay
b) Kết cấu của bảng cân đối kế toán
Trang 8PHẦN TÀI SẢN: là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của
doanh nghiệp bao gồm TSNH và TSDH
- TSNH là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị thuần của tất cả tài sản ngắn hạn
hiện có của doanh nghiệp Đây là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn,thường là dưới một năm hay trong khuôn khổ của một chu kỳ kinh doanh Tài sảnđược xếp vào loại tài sản ngắn hạn là tiền và tài sản tương đương tiền mà việcchuyển đổi không gặp trở ngại nào, là những tài sản được dự tính sử dụng tỏngkhuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, là những tài sảnđược nắm giữ với mục đích tương mại hoặc mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồitrong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ (Nguyễn Trọng Cơ, 2009, trang60)
TSNH bao gồm 5 mục là: Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoảnđầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, tài sản ngắnhạn khác
+ Tiền và các khoản tương đương tiền là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ
số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: tiền mặt tại quỹ củadoanh nghiệp, vàng bạc kim khí quý, đá quý, tiền gửi ngân hàng (không kỳ hạn),tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền
+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị của
các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứngkhoán đầu tư ngắn hạn)
+ Các khoản phải thu ngắn hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị
của các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ,phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, các khoản phải thu khác tại thời
Trang 9điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới 1 năm hoặc trong một chu
kỳ kinh doanh
+ Hàng tồn kho là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị hiện có của các
loại hàng tồn kho dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (saukhi trừ đi dự phòng giảm giá hàng tồn kho) đến thời điểm báo cáo
+ TSNH khác
- TSDH chỉ tiêu này phản ánh trị giá các loại tài sản không được phản ánh
trong trong chỉ tiêu TSNH TSDH phản ánh tổng giá trị các khoản TSDH có đếnthời điểm báo cáo, bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất độngsản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác
+ Các khoản phải thu dài hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị
của các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, các khoảnphải thu dài hạn khác và số vốn kinh doanh đã giao cho đơn vị trực thuộc, tại thờiđiểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳkinh doanh (sau khi trừ đi dự phòng phải thu dài hạn khó đòi)
+ Tài sản cố định là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại
(nguyên giá trừ đi hao mòn lũy kế) của các loại tài sản cố định và chi phí xây dựng
cơ bản dở dang hiện có tại thời điểm báo cáo
+ Bất động sản đầu tư là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị còn lại
của các loại bất động sản đầu tư tại thời điểm báo cáo
+ Các khoản đầu tư tài chính dài hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ
giá trị đã hao mòn lũy kế của các loại bất động sản đầu tư tại thời điểm báo cáonhư: đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầy tư dài hạn khác, …
Trang 10+ TSDH khác là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng số chi phí trả trước dài hạn
nhưng chưa qua phân bổ và chi phí sản xuất, kinh doanh, tài sản thuế thu nhập bịhoãn lại, các khoản ký quỹ ký cược dài hạn khác tại thời điểm báo cáo
PHẦN NGUỒN VỐN: phản ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản
của doanh nghiệp tài thời điểm báo cáo, bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ
sở hữu
- Nợ phải trả là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ số phải trả tại thời điểm báo cáo,
gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
+ Nợ ngắn hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ còn
phải trả có thời hạn thanh toán dưới 1 năm hoặc dưới một chu kỳ kinh doanh, baogồm: các khoản vay ngắn hạn, và giá trị các khoản chi phí phải trả, tài sản thừachờ xử lý, các khoản nhận ký quỹ ký cược ngắn hạn… tại thời điểm báo cáo
+ Nợ dài hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ dài hạn
của doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm hoặctrên một chu kỳ kinh doanh, khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoảnphải trả dài hạn khác, vay và nợ dài hạn, thu thu nhập hoãn lại phải trả tại thờiđiểm báo cáo
- Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm vốn chủ sở hữu, nguồn kinh phí và quỹ
khác
+ Vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệpvà một số quỹ , bao gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, các khoản chênh lệchđánh giá lại tài sản và tỷ giá hối đoái, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tàichính, thặng dư vốn cổ phần và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối,… tại thời điểmbáo cáo
Trang 11+ Nguồn kinh phí và quỹ khác là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị quỹ
khen thưởng, phúc lợi; tổng số kinh phí sự nghiệp dự án được cấp để chi tiêu chohoạt động sự nghiệp, dự án sau khi trừ đi các khoản chi sự nghiệp dự án; nguồnkinh phí hình thành tài sản cố định tại thời điểm báo cáo
2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
a) Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
“Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tài chính tổnghợp, phản ánh tình hình tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh trongmột kỳ kế toán của doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinh doanh(bán hàng và cung cấp dịch vụ; hoạt động tài chính và hoạt động khác.” (NguyễnTrọng Cơ, 2009, trang 67)
Số liệu trên BCKQHĐKD cho biết những thông tin tổng hợp nhất về tìnhhình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn và vốn, lao động, kỹ thuật và trình
độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó chỉ ra một cách chi tiết và cụthể doanh thu, chi phí cho từng hoạt động sản xuất kinh doanh và xác định kết quả
lỗ hay lại cho từng hoạt động và cho toàn doanh nghiệp
BCKQHĐKD không những cho biết kết quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp mà còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước trong kỳ kinhdoanh BCKQHĐKD rất được chú ý vì nó thể hiện được những nhân tố, yếu tố ảnhhưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó đưa ranhững giải pháp hiệu quả
b) Kết cấu của báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh.
BCKQHĐKD phản ánh toàn bộ các chi phí và doanh thu từ các hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm 19 chỉ tiêu:
Trang 12+ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là tổng hợp giá trị các lợi ích
kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuấtkinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữunhưng không liên quan đến khoản đóng góp của vốn chủ sở hữu
+ Các khoản giảm trừ doanh thu: chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản
được ghi giảm trừ vào tổng doanh thu trong năm, bao gồm: các khoản chiết khấuthương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuấtkhẩu và thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp tương ứng với doanhthu được xác định trong kỳ
+ Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dich vụ: chỉ tiêu này phản ánh
số doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ
+ Giá vốn hàng bán: chỉ tiêu này phản ánh tổng giá vốn của hàng bán, dịch
vụ đã bán đã cung cấp, chi phí khác được tính vào giá vốn hoặc ghi giảm giá vốnhàng bán trong kỳ báo cáo
+ Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ: chỉ tiêu này phản ánh số
chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ với giá vốn hàngbán phát sinh trong kỳ báo cáo
+ Doanh thu hoạt động tài chính: phản ánh doanh thu hoạt động tài chính
thuần phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
+ Chi phí tài chính phản ánh tổng chi phí tài chính gồm tiền lãi vay phải trả,
chi phí bản quyền, chi phí hoạt động liên doanh,… phát sinh trong kỳ báo cáo củadoanh nghiệp
+ Chi phí lãi vay phản ánh chi phí lãi vay phải trả được tính vào chi phí tài
chính trong kỳ báo cáo
Trang 13+ Chi phí bán hàng: chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí bán hàng hóa, thành
phẩm đã bán, dịch vụ đã cung cấp phát sinh trong kỳ báo cáo
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp phản ánh tổng chi phí quản lý trong kỳ báo
cáo như tiền lương cho cán bộ quản lý, chi phí văn phòng phẩm, chi phí điện nước,…
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, được tính toán trên cơ sở tổng của lợinhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu hoạt động tài chính saukhi trừ đi tổng chi phí tài chính, bán hàng và quản lý doanh nghiệp
+ Thu nhập khác phản ánh các khoản thu nhập khác (sau khi trừ đi thuế
GTGT tính theo phương pháp trực tiếp) phát sinh trong kỳ báo cáo
+ Chi phí khác phản ánh tổng các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ báo
cáo như tiền phạt vi phạm hợp đồng, chi phí thanh lý nhượng bán tài sản cố định,…
+ Lợi nhuận khác phản ánh phần chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí
khác phát sinh trong kỳ báo cáo
+ Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế phản ánh tổng số lợi nhuận kế toán thực
hiện trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp trước khi trừ đi thuế thu nhập doanhnghiệp từ hoạt động kinh doanh và hoạt động khác phát sinh trong kỳ báo cáo
+ Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành phản ánh số thuế thu nhập
hiện hành mà doanh nghiệp phải nộp phát sinh trong năm báo cáo
+ Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phản ánh chi phí thuế thu
nhập doanh nghiệp hoãn lại hoặc thu nhập thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lạiphát sinh trong năm báo cáo
+ Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp phản ánh tổng lợi nhuận thuần
(hoặc lỗ) sau thuế từ các hoạt động của doanh nghiệp sau khi trừ đi thuế thu nhậpdoanh nghiệp phải nộp phát sinh trong năm báo cáo
Trang 14+ Lãi cơ bản trên cổ phiếu.
3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
a) Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
“Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tàichính doanh nghiệp, cung cấp thông tin giúp cho người sử dụng đánh giá các thayđổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền,khả năng thanh toán và khả năng tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp”
“Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để kiểm tra thức trạng lưu chuyển tiền củadoanh nghiệp, đánh giá dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệgiữa các khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và dự đoán khả năng về
độ lớn, thời gian tốc độ chuyển của các luồng tiền trong tương lai qua đó cung cấpthông tin cho các chủ thể quản lý”.(Võ Văn Nhị, 2009)
Theo Đinh Thế Hiển: “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổnghợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo củadoanh nghiệp.”
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh tổng quát và toàndiện dòng tiền ra và dòng tiền vào theo 3 loại hoạt động của doanh nghiệp, baogồm:
- Luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Luồng tiền từ hoạt động đầu tư
- Luồng tiền từ hoạt động tài chính
b, Kết cấu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCLCTT được tổng hợp từ 3 dòng lưu chuyển tiền tệ của các hoạt động sau:
Trang 15- Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là nguồn tiền phát sinh từ các hoạt
động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải
là các hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính, bao gồm: tiền thu từ bán hàng,cung cấp dịch vụ và doanh thu khác; tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa vàdịch vụ; tiền chi trả cho người lao động; tiền chi trả lãi vay; tiền chi nộp thuế thunhập doanh nghiệp, tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh; tiền chi khác cho hoạtđộng kinh doanh
- Luồng tiền từ hoạt động đầu tư là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động
mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tưkhác không thuộc các khoản tương đương tiền, bao gồm: tiền chi để mua sắm, xâydựng tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác; tiền thu từ thanh lý nhượng bán tàisản cố định và các tài sản dài hạn khác; tiền chi cho vay mua các công cụ nợ củađơn vị khác; tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác; tiền chiđầu tư góp vốn vào đơn vị khác; tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác; tiềnthu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia
- Luồng tiền từ hoạt động tài chính là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động
tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanhnghiệp, bao gồm: tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu; tiềnchi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp đã pháthành; tiền vay ngắn hạn và dài hạn nhận được; tiền chi trả nợ gốc vay; tiền chi trả
nợ thuê tài chính; cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu
Ngoài ra báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn thể hiện chỉ tiêu ảnh hưởng củathay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ Chỉ tiêu này được lập căn cứ vào tổng sốchênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư cuối kỳ của tiền và các khoảntương đương tiền bằng ngoại tệ tại thời điểm cuối kỳ báo cáo
Trang 164 Thuyết minh báo cáo tài chính
a) Khái niệm và ý nghĩa của thuyết minh báo cáo tài chính
“Thuyết minh báo cáo tài chính là bản giải trình chi tiết một số chỉ tiêu tổng
hợp đã phản ánh trên các báo cáo tài chính khácđồng thời tuyên bố các chính sách
kế toán doanh nghiệp đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ởdoanh nghiệp giúp người đọc báo cáo có các thông tin bổ sung cần thiết cho việcđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp” (Theo Trần Trọng Cơ, 2010,trang 92)
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rờicủa báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặcphân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán,báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như cácthông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể
Bản thuyết minh BCTC có thể trình bày thêm những thông tin khác nếudoanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý báo cáotài chính
Thuyết minh BCTC cung cấp cho các đối tượng quan tâm đến tình hình củadoanh nghiệp những thông tin cần thiết về doanh nghiệp như đặc điểm hoạt động,các chính sách chuẩn mực kế toán áp dụng, bổ sung một cách chi tiết thông tin chocác khoản mục trình bày trong các BCTC khác Đồng thời thuyết minh báo cáo tàichính còn cho họ biết được phương hướng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệptrong kỳ sau cho họ biết chi tiết về tình hình công ty cùng với sự phân tích cácBCTC khác đưa ra được những quyết định kinh tế hơp lý
b) Kết cấu của thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 17Bản thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp trình bày các những nộidung sau:
- Các thông tin về cơ sở lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách
kế toán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan trọng
- Trình bày các thông tin theo quy định của các chuẩn mực kế toán chưađược trình bày trong các báo cáo tài chính khác (các thông tin trọng yếu)
- Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các báo cáo tàichính khác, nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý tình hình tàichính của doanh nghiệp
Những nội dung trên được chi tiết và cụ thể hóa thành những chỉ tiêu sau:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm: hình thức sở hữu vốn;lĩnh vực kinh doanh; ngành nghề kinh doanh; đặc điểm hoạt động của doanhnghiệp trong năm tài chính có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
- Kỳ kế toán đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
- Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng, bao gồm: chế độ kế toán áp dụng;tuyên bố về việc tuân thủ Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán; hình thức kế toán
áp dụng
- Các chính sách kế toán áp dụng bao gồm các nguyên tắc ghi nhận trong kế toán
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toánphản ánh chi tiết các chỉ tiêu, khoản mục có trong bảng cân đối kế toán và tìnhhình tăng giảm tài sản của doanh nghiệp
- Thông tin bổ sung các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh, phản ánh chi tiết các khoản mục chỉ tiêu chi phí và doanh thu vàlợi nhuận phát sinh trong kỳ báo cáo tại thời điểm báo cáo
Trang 18- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyểntiền tệ, phản ánh một cách chi tiết các luồng tiền ra, vào của doanh nghiệp.
- Cuối cùng là những thông tin khác phản ánh những thông tin quan trọngkhác ngoài những thông tin đã trình bày trong các mục trên nếu doanh nghiệp thấycần đưa vào
2.1.2 Phân tích báo cáo tài chính
2.1.2.1 Khái niệm
Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là phân tích, đánh giá tìnhhình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên báo cáo tàichính Thông qua quá trình xem xét, kiểm tra đối chiếu so sánh số liệu để xác địnhcác chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết nhằm đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinhdoanh và dự đoán xu thế phát triển trong tương lai của doanh nghiệp
2.1.2.2 Ý nghĩa và các mục tiêu phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuậtphân tích và giải thích các báo cáo tài chính Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật nàyđòi hỏi phải thiết lập một quy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sởcho việc ra quyết định Trong phân tích cuối cùng, việc ra quyết định là mục đíchchủ yếu của phân tích báo cáo tài chính Dù cho đó là nhà đầu tư cổ phần vốn cótiềm năng, một nhà cho vay tiềm tàng, hay một nhà phân tích tham mưu của mộtcông ty đang được phân tích, thì mục tiêu cuối cùng đều như nhau, đó là cung cấp
cơ sở cho việc ra quyết định hợp lý Các quyết định xem nên mua hay bán cổ phần,nên cho vay hay từ chối hoặc nên lựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay làchuyển sang một quy trình mới, tất cả sẽ phần lớn sẽ phụ thuộc vào các kết quả
Trang 19phân tích tài chính có chất lượng Loại hình quyết định đang được xem xét sẽ làyếu tố quan trọng của phạm vi phân tích, nhưng mục tiêu ra quyết định là khôngthay đổi Chẳng hạn, cả những người mua bán cổ phần lẫn nhà cho vay ngân hàngđều phân tích các báo cáo tài chính và coi đó như là một công việc hỗ trợ cho việc
ra quyết định, tuy nhiên phạm vị chú ý chính trong những phân tích của họ sẽ khácnhau Nhà cho vay ngân hàng có thể quan tâm nhiều hơn tới khả năng cơ độngchuyển sang tiền mặt trong thời kỳ ngắn hạn và giá trị lý giải của các tài sản cótính cơ động Còn các nhà đầu tư cổ phần tiềm năng quan tâm hơn đến khả năngsinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, sự định hướngvào việc ra quyết định của công tác phân tích là đặc trưng chung
Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính,đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh
Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để
"hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụphân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chínhtrong báo cáo Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khácnhau nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các
dữ liệu ban đầu
Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra
quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý choviệc dự đoán tương lai Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tíchtài chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai Do đó,người ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắngđưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên
Trang 20phân tích tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất
về khả năng của những sự cố kinh tế trong tương lai
2.1.3 Nội dung phân tích báo cáo tài chính
Vấn đề phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một vấn đề rất quantrọng và có ý nghĩa thiết thực đối với mọi đối tượng sử dụng thông tin Mục tiêucủa phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụngthông tin để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Vì thế mà nội dungphân tích báo cáo tài chính không chi đi sâu phân tích trên từng báo cáo mà cònphân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo và giữa các báo cáo tàichính
Phân tích trên từng báo cáo tài chính: Việc phân tích trên từng báo cáo bao
gồm các nội dung: Phân tích ngang trên từng báo cáo để thấy rõ sự biến động vềquy mô trên từng chỉ tiêu, So sánh dọc trên từng báo cáo để thấy rõ sự biến động
cơ cấu của từng chỉ tiêu, Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáonhằm đánh giá sơ bộ về tình hình của doanh nghiệp Việc phân tích này nhằm tạo
cơ sở để đưa ra các giải pháp thúc đẩy quá trình sản xuất của công ty phát triển bềnvững
Phân tích mối liên hệ giữa các chi tiêu trên báo cáo tài chính của doanh
nghiệp: Ta chỉ đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty, phân tích tìnhhình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, phân tích hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
2.1.4 Phương pháp phân tích BCTC
Khái niệm: Phương pháp phân tích tỷ lệ là phương pháp phân tích dựa trên
ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ tài chính trong quan hệ tài chính Phương pháp này
Trang 21yêu cầu xác định các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá được tình hínhtài chính của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ
lệ tham chiếu
2.1.4.1 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Nếu chỉ phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn sẽ không bao giờ thểhiện được chính sách huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp Để phân tíchmối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thì sử dụng và so sánh các chỉ tiêu sau:
“Hệ số nợ so với tài sản”: là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của
doanh nghiệp bằng các khoản nợ Trị số này càng cao càng chứng tỏ mức độ phụthuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập tài chính càng thấp
Do vậy, doanh nghiệp càng có ít cơ hội và khả năng để tiếp nhận các khoản vay docác nhà đầu tư tài chính tín dụng không mấy mặn mà với các doanh nghiệp vó hệ
số nợ so với tài sản cao
Hệ số nợ so với tài sản = Nợ phải trả
Tài sản
“Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu”: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đầu
tư tài sản của doanh nghiệp bằng nguồn vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu nàycàng lớn hơn 1, chứng tỏ mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp càng giảmdần vì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chỉ một phần bằng vốn chủ sở hữu vàngược lại, trị số của chỉ tiêu này càng gần 1, mức độ độc lập tài chính của doanhnghiệp cảng tăng vì hầu hết tài sản của doanh nghiệp được đầu tư bằng vốn chủ sởhữu
Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu =
Tài sảnVốn chủ sở hữu
Trang 22Qua việc phân tích các chỉ tiêu trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặctrưng trong chính sách huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, xác định đượctính hợp lý và an toàn của việc huy động vốn Việc xem xét sự biến động của từngchỉ tiêu qua nhiều kỳ kinh doanh gắn với điều kiện kinh doanh cụ thể, các nhà quản
lý sẽ có quyết định huy động nguồn vốn nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý bảođảm hiệu quả kinh doanh cao nhất và an ninh tài chính bền vững
“Hệ số tài trợ” là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự về mặt tài chính và mức độ
độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng sốnguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Trị số củachỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính càng cao, mức độđộc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng doanh nghiệp càng tăng và ngượclại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính củadoanh nghiệp càng thấp, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm
Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:
Hệ số tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
“Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn ” là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư vốn
chủ sở hữu vào tài sản dài hạn Do đặc điểm của tài sản dài hạn nên nếu vốn chủ sởhữu không đủ tài trợ cho nợ dài hạn của doanh nghiệp mà phải sử dụng nguồn vốnkhác thì khi các khoản nợ đáo hạn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán
và ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ và đảm bảo thừa khảnăng tài trợ tài sản dài hạn thì doanh nghiệp sẽ gặp ít khó khăn hơn khi thanh toáncác khoản nợ đáo hạn Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn chủ sở hữuđược đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn Điều này tuy giúp doanh nghiệp tự đảmbảo về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủyếu là tài sản dài hạn ít sử dụng vào vòng quay sinh lợi
Trang 23Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn = Vốn chủ sở hữu
Tài sản dài hạn
2.1.4.2 Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khác với mức độ độc lập tài chính thể hiện đầy đủ qua chỉ tiêu hệ số tài trợ,không có một chỉ tiêu tổng quát nào có thể thể hiện đầy đủ khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp Bởi vì, một doanh nghiệp có thể thừa khả năng thanh toánchung ( thanh toán tổng quát) nhưng lại thiếu khả năng thanh toán ngắn hạn haykhả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời Chính vì vậy, việc đánhgiá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp phải được xem xét đầy đủ,toàn diện cả về khả năng thanh toán tổng quát, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn,khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tổng quát
Khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp được thể hiện qua chỉ tiêu
“ khả năng thanh toán tổng quát” và được xác định theo công thức sau:
Khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số tài sản
Tổng số nợ phải trả
Hệ số thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chungcủa doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp
có đảm bảo trang trải được các khoản nợ phải trả hay không
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được thể hiện qua chỉ tiêu
“hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” và được xác định bằng công thức:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn
Tổng số nợ ngắn hạn
Trang 24“Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” phản ánh khả năng đáp ứng cáckhoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Ngoài
ra, để đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, khi phân tích cóthể xác định chỉ tiêu hệ số khả năng thanh trả nợ ngắn hạn dựa vào dòng tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh
Hệ số khả năng trả nợ ngắn hạn =
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Tổng nợ ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có khả năng trả nợ hay không, đồng thờicho biết khả năng chi trả thực tế của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao thì khảnăng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt đó là tác động tích cực đến hoạt độngsản xuất kinh doanh
Khả năng thanh toán nhanh
Để đo lường khả năng thanh toán nhanh, các nhà phân tích sử dụng chỉ tiêu
“hệ số khả năng thanh toán nhanh” Chỉ tiêu này cho biết: với giá trị còn lại của tàisản ngắn hạn (sau khi đã loại trừ giá trị hàng tồn kho là bộ phận có khả năngchuyển đổi thành tiền chậm nhất trong toàn bộ toàn bộ tài sản ngắn hạn), doanhnghiệp có đủ khả năng trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay không Chỉ tiêu này đượctính như sau:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạnTuy nhiên, khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp chỉ cho biết mức độthanh toán nhanh hơn mức bình thường mà chưa đủ để khẳng định doanh nghiệp
có khả năng thanh toán các khoản nợ đá hạn hay không
Khả năng thanh toán tức thời
Trang 25Chỉ tiêu được sử dụng để đo lường khả năng thanh toán tức thời là “hệ sốkhả năng thanh toán tức thời” Chỉ tiêu này cho biết, với lượng tiền và tươngđương tiền hiện có, doanh nghiệp có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn,đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn hay không Chỉ tiêu “hệ số khả năng thanh toán tứcthời” được xác định theo công thức:
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền và tương đương tiền Tổng số nợ ngắn hạn
Do tính chất của tiền và các khoản tương đương tiền nên khi xác định khảnăng thanh toán tức thời, thường so với các khoản nợ có thời hạn thanh toán trongvòng 3 tháng Trong khoảng thời gian này (3 tháng), trị số của chỉ tiêu “hệ số khảnăng thanh toán tức thời” có giá trị cảnh báo khá cao, nếu doanh nghiệp khôngđảm bảo khả năng thanh toán tức thời, các nhà quản trị sẽ phải áp dụng ngay cácbiện pháp tài chính khẩn cấp để tránh cho doanh nghiệp không bị lâm vào tìnhtrạng phá sản
Tuy nhiên trong trường hợp mẫu số của công thức được xác định là toàn bộ
số nợ ngắn hạn, trị số của chỉ tiêu này không nhất thiết =1 mà có thể < 1 doanhnghiệp vẫn có thể bảo đảm và thừa khả năng thanh toán tức thời vì mẫu số là toàn
bộ các khoản mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán trong vòng 1 năm,còn tử số là các khoản có thể sử dụng để thanh toán trong vòng 3 tháng
Trong trường hợp xấu nhất (doanh nghiệp bị phá sản hay giải thể), nếu trị sốchỉ tiêu “hệ số khả năng thanh toán” của doanh nghiệp = 1, các chủ nợ vẫn đảmbảo thu hồi được nợ vì với số tài sản đang tồn tại, số tài sản mà doanh nghiệp đang
có có thể bảo đảm được khả năng thanh toán nói chung Trị số của chỉ tiêu cànglớn hơn 1, doanh nghiệp càng có thừa khả năng thanh toán tổng quát Ngược lại,nếu trị số này <1 thì doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trải các
Trang 26khoản nợ trị số của “hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng nhỏ hơn 1, doanhnghiệp càng mất dần khả năng thanh toán.
Trên thực tế, mặc dù lượng tài sản có đủ hay thừa để trang trải nợ nhưng khi
nợ đến hạn trả, nếu không đủ tiền và tương đương tiền, các doanh nghiệp cũngkhông bao giờ đem bán tài sản khác (trừ hàng tồn kho) để trả nợ Do đó, thôngthường trị số của chỉ tiêu “hệ số khả năng thanh toán tổng quát” ≥ 2, các chủ nợmới có khả năng thu hồi được nợ khi đáo hạn và doanh nghiệp mới hoàn toàn đảmbảo khả năng thanh toán của mình
2.1.4.3 Chỉ tiêu phân tích hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp
Vòng quay nợ phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanhcác khoản phải thu quay được mấy vòng Do số nợ phải thu phát sinh trong quátrình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nên số vòng quay nợ phải thu thường chỉtính cho khoản bán chịu
Số vòng quay nợ phải thu = DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nợ phải thu bình quân
Số vòng quay các khoản phải thu cho biết mức độ hợp lý của số dư cáckhoản phải thu (tổng nợ phải thu, nợ phải thu ngắn hạn, nợ phải thu dài hạn) vàhiệu quả của việc thu hồi nợ phải thu Nếu số vòng quay của các khoản phải thulớn, chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuynhiên, số vòng quay nợ phải thu nếu quá cao sẽ không tốt vì có ảnh hưởng đếnkhối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanhtoán ngay trong thời gian ngắn hạn), gây khó khăn cho khách hàng nên sẽ khó tiêuthụ
Bên cạnh đó, ta xác định thời gian 1 vòng quay của nợ phải thu:
Thời gian 1 vòng quay nợ phải thu = 365
Trang 27Số vòng quay nợ phải thuChỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanhnghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian của 1 vòng quay nợ phải thucàng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng chậm, số vốn của doanh nghiệp bịchiếm dụng nhiều.
Vòng quay hàng tồn kho
Hàng tồn kho của doanh nghiệp thường bao gồm hàng hoá, hàng gửi bán ,thành phẩm,… Khi phân tích hiệu quả của hàng tồn kho ta thường sử dụng chỉ tiêu
số vòng quay của hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho
=
Giá vốn hàng bánHàng tồn kho bình quânChỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích hàng tồn kho quay được bao nhiêuvòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn đầu tư hàng tồn kho vận động khôngngừng đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.Chỉ tiêu này cho biết tốc độ vòng quay của hàng tồn kho trong một kỳ phân tích,chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho hàng tồn kho tốt, đó là nhân
tố nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Ngoài ra ta xác định thời gian 1 vòng quay của hàng tồn kho Chỉ tiêu nàycho biết một vòng quay hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấpthì chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh đó là nhân tố góp phần tăng doanh thu
và lợi nhuận của doanh nghiệp
Thời gian 1 vòng quay hàng tồn kho
=
365
Số vòng quay hàng tồn khoThông qua việc phân tích tình hình luân chuyển hàng tồn kho các nhà quảntrị đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho hàng tồn kho
Vòng quay vốn lưu động
Trang 28Vốn lưu động của doanh nghiệp thường bao gồm tiền và các khoản tươngđương tiền, nợ phải thu khách hàng và hàng tồn kho,…
Số vòng quay vốn lưu động
=
Doanh thu thuầnVốn lưu động bình quânChỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích hàng tồn kho quay được bao nhiêuvòng và cứ bình quân 1 đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu
Ngoài ra, ta xác định số vòng quay của vốn lưu động để biết được một vòngquay vốn lưu động mất bao nhiêu ngày Chỉ tiêu này càng ngắn càng cho thấy vốnlưu động vận động nhanh mang lại hiệu quả cao và ngược lại
Thời gian 1 vòng quay vốn lưu động = 365
Số vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là giá trị còn lại của TSCĐ Chỉ tiêu này phảnánh một đơn vị vốn cố định bình quân tham gia vào kinh doanh mang lại mấy đơn
vị doanh thu thuần kinh doanh và được xác định như sau:
Vòng quay vốn cố định = Doanh thu thuầnVCĐ bình quân
Giá trị của chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động và vốn cố định càng cao chứng
tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại Nếu như chỉ tiêu này tăng lên thìgiúp doanh nghiệp tiết kiệm được vốn
Vòng quay vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Số vòng quay của vốn chủ sở hữu = VCSH bình quânDoanh thu thuần
Trang 29Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích vốn chủ sở hữu quay được baonhiêu vòng và cứ một đồng vốn bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉtiêu này càng cao chứng tỏ vốn chủ sở hữu vận động nhanh góp phần tăng doanhthu và lợi nhuận, doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu.
Số vòng quay toàn bộ tài sản
Trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận độngkhông ngừng, để đẩy mạnh tăng doanh thu, là nhân tố góp phẩn tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp
Số vòng quay của tài sản = Tài sản bình quânDoanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêuvòng, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăngdoanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu nàythấp chứng tỏ chứng tỏ tài sản vận động chậm lại làm cho doanh thu của doanhnghiệp giảm Tuy nhiên chỉ tiêu này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và đặcđiểm cụ thể của tài sản trong doanh nghiệp
2.1.4.4 Chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Tỷ suất doanh lợi doanh thu (ROS)
“Sức sinh lợi của doanh thu” cho biết một đơn vị doanh thu thuần mang lạimấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trong phân tích chỉ tiêu ROS được sử dụng như mộtchỉ tiêu bổ sung để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bên cạnhchỉ tiêu ROE
Sức sinh lợi của doanh thu thuần = Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuần
Trang 30“Sức sinh lời của tài sản” là khả năng tạo ra sau thuế của tài sản mà doanhnghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này được tính như sau:
Sức sinh lợi của tài sản = Lợi nhuận sau thuếTài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 1 đồng tàisản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Tỷ suất hoàn vốn chủ sở hữu
Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị vốnchủ sở hữu mang lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế và được xác định theo côngthức:
Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuếVCSH bình quân
Trị số này lớn còn cho thấy năng lực của bộ phận quản lý trong việc cân đốimột cách hài hoà, hợp lý giữa vốn chủ sở hữu với nợ phải trả để vừa đảm bảo anninh tài chính, vừa khai thác được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình trongquá trình huy động vốn và mở rộng quy mô kinh doanh Chỉ tiêu này phản ánh khá
rõ nét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì suy cho cùng, kinh doanh là hoạtđộng kiếm lời
Trị số của các chỉ tiêu trên càng cao, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệpcàng cao, hiệu quả sử dụng tài sản,vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là tốt, gópphần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp, càng hấp dẫn cho nhà đầu
tư Ngược lại, trị số của chỉ tiêu càng thấp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệpcàng thấp
Tỷ suất sinh lợi của chi phí
Suất sinh lợi của chi phí hoạt động (giá vốn hàng bán) cho biết: 1 đơn vị chiphí hoạt động (hay giá vốn hàng bán) tiêu hao mang lại mấy đơn vị lợi nhuận sauthuế và được xác định theo công thức:
Trang 31Sức sinh lợi của chi phí hoạt động =
Lợi nhuận sau thuếTổng chi phí hoạt động
trong kỳ
Sức sinh lợi của giá vốn hàng bán =
Lợi nhuận sau thuếTổng giá vốn hàng bán
trong kỳSức sinh lợi của chi phí hoạt động càng cao, hiệu quả hoạt động của chi phíhoạt động càng cao, chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp
đã tiết kiệm được các khoản chi phí chi ra trong kỳ Do vậy, hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp càng cao và ngược lại Sức sinh lợi của giá vốn hàng bán càngcao chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn do vậy doanh nghiệpcàng đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Tài liệu thu thập số liệu là các thông tin sẵn có từ báo cáo tài chính và sổcái, sổ chi tiết tài khoản tại bộ phận kế toán, bộ phận nhân sự qua 3 năm 2009,
2010, 2011 Đồng thời thu thập thông tin từ các cá nhân có liên quan thông quaphỏng vấn trực tiếp
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính: để tính toán và phân tích các chỉ
tiêu tài chính; đã được trình bày ở trên
Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp lập bảng biểu, vẽ đồ thị và
Trang 32đồng Phương pháp này được sử dụng để hỗ trợ cho việc phân tích tài chính theophương pháp tỷ lệ, phân tích cơ cấu để thấy được kết cấu của các chỉ tiêu phântích.
Phương pháp thống kê so sánh: là phương pháp được sử dụng phổ biến
được sử dụng trong phân tích nói chung và phân tích báo cáo tài chính nói riêngnhằm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu thế biến động của đối tượng nghiêncứu Được sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích tài chính và phương phápthống kê mô tả nhằm thấy được xu hướng biến động của các khoản mục, các chỉtiêu Để áp dụng phương pháp so sánh, các nhà phân tích cần phải chú trọng đếncác nội dung cơ bản của phương pháp như: điều kiện so sánh được của chỉ tiêuphản ánh đối tượng nghiên cứu; gốc so sánh, các dạng so sánh chủ yếu
2.2.3 Phương pháp chuyên môn kế toán.
Phương pháp chứng từ kế toán là phương pháp xác định và kiểm tra sự hình
thành các nghiệp vụ kinh tế cụ thể
Tài khoản kế toán là một phương pháp kế toán dùng để phân loại và
hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo nội dung kinh tế
Phương pháp tính giá là phương pháp dùng thước đo giá trị để biểu hiện các
loại tài sản khác nhau theo những nguyên tắc nhất định nhằm phản ánh, cung cấpnhững thông tin tổng hợp cần thiết
Phương pháp tổng hợp cân đối và báo cáo tài chính dùng để lập báo cáo
tài chính
Trang 33PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu.
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà.
Công ty TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà được thành lập vào tháng12/2004 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0100738707 do sở Kế Hoạch
và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Tên công ty: Công ty TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà.
Tên viết tắt: HC-COLTD.
Trụ sở chính của công ty đặt tại: lô số 2, khu đô thị Đại Kim – Định Công,phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
+ Xây dựng công trình thủy lợi
Trang 34+ Xây dựng công trình dân dụng.
+ Xây dựng công trình công nghiệp
+ San lắp mặt bằng
+ Sản xuất kết cấu bê tông cốt thép đúc sẵn
Trong gần 8 năm hoạt động, công ty đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm saumỗi công trình, là một địa chỉ tin cậy trong lĩnh vực xây dựng Công ty TNHH xâydựng công trình Hoàng Hà đang lớn mạnh phát triển kịp thời theo sự phát triểnchung của nền kinh tế đất nước theo quy luật của nền kinh tế thị trường
Công ty đã tham gia thi công nhiều công trình trong các lĩnh vực xây dựng
cơ bản, gia công xây dựng và lắp đặt các công trình như: khu chung cư Linh Đàm,khu tập thể Z179, công trình nhà máy nước Định Công, hàng rào khu đô thị mớiDịch Vọng- Cầu Giấy, và nhiều công trình nhà ở cá nhân khác…
3.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh và đặc điểm tổ chức hoạt động của công
ty xây dựng TNHH xây dựng công trình Hoàng Hà.
3.1.2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh.
Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cho nên sản phẩm của công tymang những nét đặc trưng riêng của ngành xây dựng đó là những công trình dândụng và công nghiệp mang tính đơn chiếc có kích thước và chi phí lớn, thời gian
sử dụng lâu dài, khối lượng thi công hầu hết được thực hiện ngoài trời do vậy, quátrình sản xuất khá phức tạp
Sau khi hoàn thành, công trình được bàn giao cho đơn vị sử dụng và trởthành TSCĐ của đơn vị đó, chất lượng thi công không được khẳng định ngay mà
Trang 35Tìm kiếm và
Thanh quyết toán và bảo hành Tổ chức nghiệm thu và bàn giao
nó được kiểm nghiệm qua thời gian nhất định Công ty sẽ đảm bảo chất lượng công
trình đối với nhà sử dụng theo như thời gian trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết
Các sản phẩm của công ty không trực tiếp trao đổi trên thị trường như những
sản phẩm hàng hoá khác, nó chỉ có được sau khi hợp đồng đã được ký kết giữa các
bên có liên quan và công ty thi công xây dựng hoàn thành, bàn giao cho đơn vị
sử dụng
Tất cả các công trình của công ty từ lúc bắt đầu đến khi hoàn thành phải trải
qua các giai đoạn nhất định Khái quát từng công việc chính của quy trình thi công
qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ quy trình xây dựng và thi công công trình
(Nguồn: Phòng nhân sự)
2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý:
Bộ máy quản lý được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức Với mô hình
này, những quyết định quản lý do các phòng chức năng nghiên cứu đề xuất với
Trang 36Giám đốc, khi Giám đốc thông qua thành lệnh, được truyền đạt xuống dưới theotuyến đó quy định.
Giám đốc điều hành: Là người đứng đầu giữ chức vụ cao nhất trong Công
ty, đại diện của Công ty trước pháp luật, là người đưa ra các quyết định cuối cùngđối với mọi hoạt động của Công ty
Các phó giám đốc: Là người giúp việc cho giám đốc, được giám đốc phân công
phụ trách từng khối công việc, giải quyết chỉ đạo điều hành các công việc được giám đốccông ty giao Sau khi hoàn thành công việc phải báo cáo lại kết quả
Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ về công tác tổ chức hành chính, bảo vệ an
ninh… như phân công lao động, bảo vệ xây dựng các nội quy, quy chế, kĩ thuật lao động
Phòng kế hoạch dự án đầu tư: thực hiện xây dựng các kế hoạch, dự án đầu tư cho
từng tháng, từng quý, từng năm, sau đó trình ban giám đốc xem xét kí duyệt Xây dựngcác dự án tham mưu cho giám đốc trong các vấn đề mang tính chiến lược, căn cứ vàonhu cầu thị trường và các khách hàng của công ty Căn cứ vào chiến lược xây dựng đầu
tư của công ty, xúc tiến và phát triển quan hệ đối ngoại tốt đẹp với các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tạo thuận lợi cho hoạt động của công ty
Phòng kế toán tài chính: có nhiệm vụ giúp Giám đốc điều hành tổ chức chỉ đạo
thực hiện công tác kế toán và thống kê đồng thời kiểm tra kiểm soát công tác tài chínhcủa Công ty Có trách nhiệm quản lí vốn, quỹ tài sản và đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả,lập báo cáo quyết toán hàng quý, hàng năm với cấp trên, cơ quan thuế và các đối tượngkhác
Trang 37GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
Phó giám đốc kế hoạch dự án Phó giám đốc kĩ thuật thi công
Phó giám đốc tổ chức hành chính Phó giám đốc tài chớnh
Phòng giám sát kĩ thuật thi công: tổ chức giám sát kiểm tra các dự án, công trình
trong quá trình thi công, thực hiện đảm bảo các công trình được thực hiện theo đúng yêu
cầu về mặt kĩ thuật và bảo đảm chất lượng theo đúng yêu cầu
Đội xây dựng: chuyên làm nhiệm vụ xây dựng, lắp đặt công trình, hạng mục
công trình theo thiết kế và yêu cầu của công trình Công nhân xây dựng chủ yếu là
thuê ngoài
Ghi chú: : Quan hệ chỉ đạo
Sơ đồ 3.2: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
(Nguồn: Phòng nhân sự)
án đầu tư
ĐỘI XÂY DỰNG
Phòng kếtoán tàichính
Phònggiám sát
kĩ thuậtthi công
Trang 38Kế toán vật tư Kế toán công nợ Kế toán TSCĐ Kế toán tổng hợp
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Kế toán thanh toán
3.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán.
Trong công ty xây dựng, công tác kế toán là khâu quan trọng trong quá trìnhquản lý về đầu tư xây dựng của doanh nghiệp xây dựng nói riêng và của cả ngànhxây dựng nói chung Những yêu cầu của công tác kế toán là chức năng, nhiệm vụcủa phòng kế toán Phòng kế toán của công ty TNHH xây dựng công trình Hoàng
Hà được thể hiện qua sơ đồ sau:
Ghi chú: : Quan hệ chỉ đạo
(Nguồn: phòng nhân sự)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán, thống kê
thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế theo cơ chế quản lý mới, đồng thời làmnhiệm vụ kiểm soát viên kinh tế tài chính, chịu trách nhiệm trực tiếp với thủ trưởngđơn vị về báo cáo tài chính, các chứng từ tài liệu về công tác kế toán của đơn vị
Kế toán tiền lương: có nhiệm vụ tính lương cho toàn thể cán bộ công nhân
viên trong Công ty
Kế toán
tiền
lương
Thủ quỹ
Trang 39Kế toán thanh toán: có nhiệm vụ ghi chép theo dõi tình hình thu chi quỹ tiền
mặt và tiền gửi ngân hàng của Công ty, mở sổ theo dõi chi tiết tiền mặt, tiền gửingân hàng
Kế toán vật tư: có nhiệm vụ ghi chép phản ánh tình hình nhập xuất nguyên
vật liệu, vật tư tại các công trình, hạng mục công trình
Kế toán công nợ: có nhiệm vụ theo dõi và hạch toán tình hình thanh toán
khối lượng xây lắp hoàn thành với khách hàng, tình hình thanh toán với người bán,thanh toán các khoản lương, các khoản tạm ứng với cán bộ công nhân viên củatoàn công ty
Kế toán TSCĐ: theo dõi sự biến động của TSCĐ.
Kế toán tổng hợp: là trợ lý cho kế toán trưởng, tổng hợp thông tin số liệu
giúp kế toán trưởng lập báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh
Thủ quỹ: quản lý quỹ tiền mặt của công ty và thực hiện việc thu chi tiền mặt
và ghi sổ quỹ tiền mặt các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo phiếu thu và phiếu chi
3.1.4 Tình hình lao động của công ty qua 3 năm.
Lao động có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của công ty Việc sử dụng đúng đắn và hợp lý lao động là mộttrong nguyên tắc trong sản xuất kinh doanh để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinhdoanh phát triển Từ đó chúng ta tìm hiểu tình hình lao động tại công ty
Trang 40Theo tính chất : Qua ba năm gần đây, tình hình lao động của công ty có sự
tăng lên không đáng kể Năm 2009, là 32 người, năm 2010 là 34 người, năm 2011tăng lên 37 người Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, nên đâychủ yếu là nhân viên quản lý của công ty Tuy nhiên, vẫn có một phần đáng kểcông việc, ngoài công việc quản lý như sửa chữa máy móc, theo dõi hoạt động sảnxuất kinh doanh trong quyền hạn được bộ máy quản lý giao vẫn đòi hỏi lao độngphải có trình độ cao đẳng, đại học như kế toán văn phòng, nhân viên kỹ thuật…
Theo trình độ chuyên môn: Với đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, cử nhân và công
nhân kỹ thuật lành nghề được đào tạo chính quy luôn là lực lượng hùng hậu đã vàđang tham gia hàng trăm công trình dân dụng và công nghiệp với những địa bànkhác nhau, lớn nhỏ khác nhau góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
Bảng 3.1: Tình hình lao động của công ty (2009 – 2011)