Nghiên cứu mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng trực thuộc tổng công ty lắp máy việt nam (LILAMA) được niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam
Trang 1Trong tình hình kinh tế đang có nhiều bất ổn như hiện nay, việc doanhnghiệp có thể đứng vững trên thương trường, vốn đã gặp nhiều khó khăn, theo
thống kê của VCCI(phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam): “năm 2011
đã có 79.014 doanh nghiệp ngừng sản xuất, giải thể Cụ thể, số lượng doanh nghiệp giải thể bao gồm: 2.082 doanh nghiệp tư nhân, 16.748 công ty TNHH một thành viên, 18.826 công ty TNHH hai thành viên trở lên, 41.357 công ty cổ phần, 1 công ty hợp danh”(1) Theo báo cáo chính thức của Bộ kế hoạch và Đầu
tư cho thấy “ lũy kế từ đầu năm đến ngày 21/3/2012, trên 2,2 nghìn doanh
nghiệp đã làm thủ tục giải thể và khoảng trên 9,7 nghìn doanh nhiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng các nghĩa vụ thuế” (2) Qua những con
số trên, có thể thấy các doanh nghiệp đã và đang đối mặt với rất nhiều thách
1() http://vef.vn/2012-03-15-da-co-tren-79-000-doanh-nghiep-giai-the
2() http://m.vneconomy.vn/c0/s9920-11219/doanh-nghiep-om-dau-que-quat-thi-cuu-lam-gi.htm
Trang 2thức và khó khăn Mỗi doanh nghiệp cần phải có bước đi khôn ngoan và hợp lýnhất Trong đó việc hiểu rõ tác động giữa cơ cấu vốn tới hiệu quả kinh doanh làrất cần thiết.
Với tình trạng chung của nền kinh tế hiện nay, thì các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực xây dựng cũng bị ảnh hưởng rất nhiều vì hầu hết các doanhnghiệp hoạt động trong ngành này đều cần lượng vốn rất lớn, chính vì thế để cóthể duy trì hoạt động thì các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ của nhiều nguồn vốn từbên ngoài Mặc dù, tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn chiếm tỷ trọng rất cao nhưng kếtquả hoạt động lại khá tốt, hàng năm đóng góp khá lớn vào ngân sách Nhà nước
và đem lại lợi nhuận không nhỏ Vậy, yếu tố nào đã làm cho những doanhnghiệp này hoạt động hiệu qủa? Việc vay nợ cao có chi phối nhiều tới hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty hay không? Với đề tài khóa luận:
“Nghiên cứu mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng trực thuộc tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”, tôi muốn tìm hiểu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu vốn và mối liên hệ giữa cơ cấu vốnvới hiệu quả hoạt động SXKD trong doanh nghiệp
Trang 3- Phân tích thực trạng cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động SXKD của cáccông ty trong nhóm ngành Lilama.
- Phân tích về mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động SXKD củacác công ty Lilama
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.2 Phạm vi về không gian
Các doanh nghiệp xây dựng trực thuộc Tổng công ty lắp máy Việt Namđược niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1.3.3 Phạm vi về thời gian
- Thời gian nghiên cứu đề tài: từ 13/01/2011 đến 30/05/2012
- Số liệu được thu thập trong vòng 5 năm, từ năm 2007 đến năm 2011
Trang 4PHẦN IITỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm
a) Vốn và nguồn hình thành vốn
Ba yếu tố quan trọng làm tiền đề để một doanh nghiệp đi vào SXKD là:Lao động – công nghệ - tiền vốn, trong đó vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu.Vốn phản ánh năng năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh Đốivới mỗi doanh nghiệp, muốn tiến hành kinh doanh thì phải có vốn và trong nềnkinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa tới sự thành bại trongkinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, ta có thể hiểu: Vốn là một phạm trùkinh tế Vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả giá trị tài sản được sử dụng vàohoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là giá trị ứng ra ban đầu chocác quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời
b) Phân loại vốn
Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sảnđang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp Vốn đầu tư vào các loại tài sản củadoanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, song căn cứ vào đặcđiểm trách nhiệm pháp lý thì có 2 loại là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả (ngắnhạn và dài hạn) Cách phân loại này đồng thời cho thấy thời hạn sử dụng của cácnguồn vốn Tài sản cố định và đầu tư dài hạn được cân đối với nguồn vốn chủ sởhữu và nợ dài hạn
Trang 5 Vốn chủ sở hữu
”Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp nên doanh
nghiệp không có trách nhiệm phải trả vốn đó cho người khác Số liệu về vốn chủ
sở hữu cho thấy trong tổng gía trị tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu được dùng để đảm bảo trả nợ” (3) Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ
sở hữu có thể bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn chủ sở hữu doanh nghiệp
bỏ ra, vốn góp cổ phần huy động bằng việc phát hành cổ phiếu (cổ phiếuthường, cổ phiếu ưu đãi) của công ty cổ phần, nguồn vốn liên doanh do cácthành viên trong doanh nghiệp liên doanh đóng góp, nguồn vốn tự bổ sung từ lợinhuận để lại của doanh nghiệp
Tại một thời điểm, vốn chủ sở hữu có thể được xác định bằng công thức sau:
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Nợ phải trả
”Nợ phải trả là số tiền mà doanh nghiệp vay, thuê tài chính cho nên các doanh nghiệp có trách nhiệm trả cho các chủ nợ số tiền đó sau một thời hạn nhất định” (4) Có 3 nguồn hình thành nợ phải trả:
- Vay nợ: Thông qua các hình thức vay ngân hàng, phát hành trái phiếu,vay cán bộ công nhân viên, vay chính phủ
- Thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việcthuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sởhợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng vàbên thuê là khách hàng
- Các khoản phải trả: Gồm có nợ tiền hàng, nợ thuế, nợ lương,
Nếu phân theo thời hạn, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
- Nợ ngắn hạn: là khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trảtrong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh
3()PGS TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tài chính – Tiền tệ ngân hàng, NXB Thống kê, 2011
4() PGS TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tài chính – Tiền tệ ngân hàng, NXB Thống kê, 2011
Trang 6- Nợ dài hạn: Là khoản nợ mà thời gian trả trên 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinhdoanh Khoản nợ này dùng để đầu tư tài sản cố định và vốn lưu động thường xuyên
Cách phân loại nợ phải trả theo thời gian như trên có tác dụng bố trínguồn trả nợ kịp thời mà không bị đọng vốn, đồng thời giúp đánh giá đúng đắnkhả năng thanh toán của doanh nghiệp
2.1.1.2 Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanhnghiệp, ngành nghề kĩ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế Để tiến hành kinhdoanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó
Số vốn này thể hiện toàn bộ giá trị tài sản, và các nguồn lực của doanh nghiệptrong hoạt động kinh doanh Vì vậy, vốn kinh doanh có vai trò quyết định trongviệc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có vai trò quyết định trong việcthành lập, hoạt động và phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luậtđịnh Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và pháttriển của các doanh nghiệp Tùy theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng nhưphương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanhnghiệp liên doanh,
Vốn kinh doanh là một trong những tiêu thức để phân loại quy mô củadoanh nghiệp, xếp doanh nghiệp vào loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏhay doanh nghiệp trung bình; và là một trong những tiềm năng quan trọng đểdoanh nghiệp sử hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động,nguồn cung ứng hàng hóa, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thônghàng hóa
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ
sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch
Trang 7kinh doanh Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệkinh tế, thúc đẩy các hoạt động kinh tế có hiệu quả.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố giá trị Nó chỉ phát huy đượctác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kì kinh doanh Nếu vốnkhông được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kì kinh doanh thì vốn đã bị thiệthại, đó là hiện tượng mất vốn Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khảnăng thanh toán, nguy cơ phá sản, tức là vốn đã được sử dụng lãng phí và không
có hiệu quả
2.1.1.3 Cơ cấu vốn
a) Khái niệm và các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn
Khái niệm về cơ cấu vốn
Cấu trúc vốn hay cơ cấu vốn là một thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồngốc và phương thức hình thành nên nguồn vốn, để doanh nghiệp có thể sử dụngmua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh Cấu trúc vốn chỉ rađược tỷ lệ nợ phải trả và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng vốn của doanh nghiệp
Bàn về cơ cấu vốn , người ta hay nói về quan hệ tỷ trọng giữa nợ phải trả
và vốn cổ phần, hoặc tỷ lệ giữa tổng nợ phải trả trên tổng tài sản Đây là nhữngchỉ số phản ánh thực trạng huy động nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp, nócho biết tỷ lệ nợ và vốn cổ phần mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt độngkinh doanh của mình
Khi doanh nghiệp sử dụng vốn từ nhiều nguồn huy động khác nhau, do mỗinguồn có chi phí khác nhau nên với cùng một lượng vốn huy động thì chi phí phảitrả cũng khác nhau Do vậy, khi huy động vốn phục vụ kinh doanh, người quản lýtài chính phải tính toán một cơ cấu vốn hợp lý là một việc làm cần thiết
Một cơ cấu vốn gọi là tối ưu nếu nó mang lại giá trị lớn nhất cho doanhnghiệp, hay nói cách khác là thu nhập trên mỗi vốn chủ sở hữu(ROE) là cao nhấtvới chi phí phải trả là nhỏ nhất
Trang 8 Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn
- Hệ số nợ
Hệ số nợ được đo lường bằng tỷ số giữa tổng nợ phải trả và giá trị tổngnguồn vốn Nó cho biết trong tổng nguồn tài trợ vốn kinh doanh của doanhnghiệp thì có bao nhiêu phần trăm vốn được huy động từ nợ vay,bao nhiêu làvốn tự có Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh, điều kiện nền kinh tế và củadoanh nghiệp mà tỷ lệ này có thể thay đổi phù hợp
Hệ số này dùng để xác định khả năng đảm bảo trả nợ của doanh nghiệp
Hệ số nợ càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo hoàn trả trong trườnghợp doanh nghiệp phá sản Ngược lại, nếu hệ số này càng cao thì doanh nghiệpcàng dễ bị mất khả năng thanh toán
Thông thường nếu hệ số nợ ở mức cao, có nghĩa là công ty thường thôngqua các khoản nợ để tài trợ cho các hoạt động của mình Nếu một công ty vay
nợ nhiều để tài trợ cho mức chi phí hoạt động cao của doanh nghiệp thì nó cóthể thu được nhiều lợi nhuận hơn so với việc phát hành cổ phiếu Và nếu lợinhuận công ty thu được cao hơn nhiều so với chi phí đi vay thì các cổ đông củacông ty cũng sẽ thu được nhiều lợi ích Tuy nhiên, lợi nhuận thu được từ cáchoạt động đầu tư và kinh doanh từ các khoản tiền đi vay có thể sẽ không bù đắpđược các chi phí đi vay dẫn tới việc công ty có thể bị phá sản Vì vậy, vay nợhay phát hành thêm cổ phiếu là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp
- Tỷ trọng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh, trong tổng nợ vay của doanh nghiệp thì chiếm baonhiêu phần trăm là nợ ngắn hạn Qua đó, thể hiện rõ về tình hình vay nợ và số nợngắn hạn dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp là cao hay thấp
Từ đó, phần nào đánh giá về tính bến vững tình hình tài chính trong doanh nghiệp
Trang 9- Tỷ trọng nợ dài hạn
Thể hiện số nợ dài hạn của doanh nghiệp chiếm bao nhiêu phần trămtrong tổng nợ vay Vì thời hạn trả lâu hơn nợ ngắn hạn nên đây không phải làmối lo cho các doanh nghiệp như nợ ngắn hạn
b) Vai trò của cơ cấu vốn
Hệ số nợ đo lường mức độ tài chính của doanh nghiệp vay mượn từ bênngoài, cho biết trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì nợ chiếm bao nhiêuphần trăm
Dựa vào hệ số nợ giúp nhà đầu tư có cái nhìn khái quát về sức mạnh tàichính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào để doanh nghiệp cóthể chi trả cho các hoạt động Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợphải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp
sẽ chủ động hơn về mặt tài chính Hệ số này càng lớn thì khả năng gặp khó khăntrong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng cao
Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sởhữu, có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có (nói cáchkhác là doanh nghiệp đang đi chiếm dụng vốn của các đơn vị và cá nhân bênngoài), nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt doanhnghiệp càng gặp nhiều khó khăn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao
Các chỉ số nợ cung cấp thông tin bảo vệ chủ nợ trong tình huống mất khảnăng thanh toán của chủ doanh nghiệp Và thể hiện năng lực tiếp cận các nguồntài chính từ bên ngoài, đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển của doanh nghiệp
Các chủ nợ ngân hàng cũng thường xuyên xem xét, đánh giá kĩ hệ số nợ (vàmột số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không
Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ đượctrừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi
ro về tài chính và lợi ích của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất
Trang 10c) Ưu và nhược điểm của việc sử dụng nợ vay
Một trong những yếu tố cấu thành nên nguồn vốn, cung cấp vốn kinhdoanh rất quan trọng của doanh nghiệp đó chính là các khoản nợ vay từ các tổchức và các cá nhân ngoài doanh nghiệp Tuy nhiên, đã là nợ vay thì phải có trả
và có cái giá của nó Việc sử dụng những khoản vay cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp cũng giống như sử dụng con dao hai lưỡi vậy Ở đây, tôi muốn nói vềnhững lợi ích cũng như những nhược điểm khi doanh nghiệp quyết định dùng nợvay, để có cái nhìn khách quan hơn khi cân nhắc có nên có vay nợ nhiều?
Như đã nói, nợ vay – con dao hai lưỡi, tức là nó có ưu điểm và nhược điểm.Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ vay để thay cho vốnchủ sở hữu đó là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế.Trong khi, cổ tức hay các hình thức khác cho chủ sở hữu phải bị đánh thuế Trênnguyên tắc mà nói, nếu doanh nghiệp thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảmđược thuế doanh nghiệp phải nộp Và vì thế tăng giá trị của doanh nghiệp lên
Ưu điểm thứ hai, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sở hữu- nói mộtcách đơn giản, lãi suất ngân hàng hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều lãi suất
kì vọng của nhà đầu tư Do đó, khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên mộtđồng tiền mặt, và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như giá trị công ty Bên cạnh
đó, nợ giúp cho nhà đầu tư thận trọng hơn trong đầu tư Chính vì vậy, tỷ số vay
nợ của doanh nghiệp còn được gọi là tỷ số đòn bẩy tài chính Nếu doanh nghiệpbiết sử dụng hiệu quả thì lợi ích mang lại cao hơn nhiều so với chi phí phải trảcho việc sử dụng khoản nợ đó Đó chính là đòn bẩy cho sự tăng trưởng và pháttriển của doanh nghiệp
Tuy vậy, doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với vốn chủ
sở hữu Khi đó, công ty sẽ rơi vào tình trạng tài chính không lành mạnh và dẫnđến những rủi ro khác Hay nói cách khác, tỷ lệ nợ cao dễ dẫn đến công ty phásản Thường thì những công ty có tỷ lệ cao sẽ nhát tay trong việc nắm bắt những
cơ hội đầu tư Chúng cũng có khuynh hướng giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu
Trang 11quả trong tương lai như chi phí nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựngthương hiệu Kết quả là những doanh nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội đểtăng giá trị của doanh nghiệp Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mấtkhách hàng, nhân viên và nhà cung cấp.
Ngoài ra, công ty có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ
và nhà đầu tư sắp phải ngừng hoạt động để trả nợ Khi có nguy cơ đó xảy ra, cácnhà đầu tư ”khôn ngoan” sẽ tìm cách đầu tư dưới mức, tức là họ sẽ đầu tư tậptrung vào những dự án rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai nhưng có thểđem lại tiền mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này Trong khi đó,những chủ nợ lại muốn công ty đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giátrị cao trong tương lai Và mâu thuẫn vì thế phát sinh
2.1.2 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm
Khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một chủ đề gâytranh cãi trong tài chính bởi do ý nghĩa rộng lớn của nó Nghiên cứu về hiệu quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quảntrị chiến lược Hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường trên cả phươngdiện tài chính và tổ chức Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận,tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốtlõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp Hiệu quả được đo lường bằng tốc độtăng trưởng doanh thu và thị phần, cho một định nghĩa rộng hơn về hiệu quảhoạt động kinh doanh
Trong phạm vi đánh giá của doanh nghiệp người ta chủ yếu quan tâm tớihiệu quả tài chính (hiệu quả kinh tế) Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất Dovậy việc sử dụng các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 12có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Bản chất củahiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chấtlượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
2.1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp a) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất
- Vòng quay tổng tài sản
Chỉ tiêu này nói lên khả năng quay vòng của một đồng tài sản, hay chínhkhả năng tạo ra doanh thu của một đồng tài sản Chỉ tiêu này càng cao càng thểhiện tài sản quay vòng nhanh, tức doanh thu tạo ra từ một đồng tài sản càngnhiều, khi đó việc sử dụng tài sản trong kinh doanh là có hiệu quả Qua đó, cóthể đánh giá được thực trạng sử dụng tài sản của công ty
- Vòng quay tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn sử dụng trong kỳ đemlại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sửdụng tài sản ngắn hạn càng cao.Kỳ tính vòng quay tài sản ngắn hạn thường làmột năm
- Vòng quay tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản dài hạn sử dụng trong kỳ đượcđầu tư vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu, chỉ tiêu nàycàng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn càng cao Kỳ tính vòng quaytài sản dài hạn thường là một năm
- Vòng quay vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này đo lường khả năng tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu của mộtđồng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ
sở hữu càng lớn
b) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
- Khả năng sinh lời của tổng tài sản (ROA)
Trang 13ROA là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản Đây là chỉtiêu quan trọng trong phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động trong doanhnghiệp Chỉ tiêu này liên kết hai con số cuối cùng c ủa hai báo cáo tài chính cơbản là lãi thuần( hay lợi nhuận sau thuế) của Báo cáo kết quả sản xuất kinhdoanh và tổng tài sản của Bảng cân đối kế toán Quy mô của doanh nghiệp đượcphản ánh qua tổng tài sản, quy mô hoạt động thể hiện ở mức tăng trưởng hoặcsuy thoái của doanh nghiệp, còn quá trình sinh lời phản ánh tình hình tài chính
và phương thức hành động của doanh nghiệp
ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của công ty Tàisản của công ty được hình thành từ nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu Cácnguồn vốn này đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệuquả của việc chuyển từ vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA Chỉtiêu này càng cao càng tốt, nó khẳng định việc sử dụng tài sản trong các hoạtđộng của doanh nghiệp là có hiệu quả
- Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu Chỉ số này
là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được, tạo
ra bao nhiêu đồng tiền lời Hệ số ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụngđồng vốn của cổ đông có hiệu quả, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hàihòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay, để khai thác lợi thế cạnh tranh của mìnhtrong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô
- Tỷ suất doanh lợi doanh thu (ROS)
Thể hiện trong một đồng doanh thu được thì có bao nhiêu đồng lợi nhuậnsau thuế Con số này đặc biệt quan trọng đối với nhà quản lý vì nó phản ánhđược khả năng sinh lời thực sự của một đồng chi phí bỏ ra, và xem xét khả năngkiểm soát các khoản chi tốt hay không, nó thể hiện tính hiệu quả trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.3 Mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 14Nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp rất đa dạng và nhiều chiều Tác động của cơ cấu vốn tớihiệu quả hoạt động kinh doanh qua các con số thực nghiệm đều đã được khẳngđịnh trong các nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học trên thế giới Dưới đây làmột số nghiên cứu tiêu biểu về mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạtđộng kinh doanh
2.1.3.1 Nghiên cứu của Franco Modigliani và Merton Miller
Modigliani và Miller với nghiên cứu về cơ cấu vốn của công ty từ năm
1958, thường gọi là lý thuyết M & M Bằng cách dựa vào những giả định quantrọng như: Giả định về thuế, về chi phí giao dịch, về chi phí kiệt quệ tài chính,
về thị trường hoàn hảo Lý thuyết M & M được phát biểu thành hai nội dungquan trọng: Mệnh đề thứ nhất nói về giá trị công ty, mệnh đề thứ hai nói về chiphí sử dụng vốn Các mệnh đề này lần lượt được xem xét trong hai trường hợpứng với hai giả định chính: Có thuế và không có thuế
a) Lý thuyết M & M trong trường hợp không có thuế
Trong trường hợp này, tất cả các giả định của M & M đều được tuân thủnhằm đơn giản hóa vấn đề cần nghiên cứu Các giả định đầy đủ của lý thuyết M
& M bao gồm:
- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
- Không có chi phí giao dịch
- Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính
- Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau
- Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo
Với những giả định như trên, và những dẫn chứng thuyết phục được đưa
ra, lý thuyết M & M được phát biểu thành hai mệnh đề như sau:
Mệnh đề 1: Trong điều kiện không có thuế, giá trị của công ty có vay nợ(VL ) bằng giá trị công ty không có vay nợ (VU ), nghĩa là VL = VU Do đó, cơ cấu
nợ trên vốn không có ảnh hưởng gì đến giá trị công ty Vì vậy không có cơ cấu
Trang 15nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơcấu vốn.
Mệnh đề 2: Chi phí sử dụng vốn: Lợi nhuận kì vọng trên vốn cổ phần cóquan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ Về mặttoán học, mệnh đề M & M số 2 được biểu diễn dưới dạng công thức:
RE = RU + ( RU - RD)D/E Trong đó:
RE : Lợi nhuận kì vọng hay lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần
RD : Lãi suất hay chi phí sử dụng nợ
RU: Chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần
D : Giá trị nợ hay trái phiếu của công ty phát hành
E : Giá trị vốn cổ phần của công ty
b) Lý thuyết M & M trong trường hợp có thuế
- Mệnh đề 1- Giá trị của công ty: Mệnh đề M & M số 1 xem xét xem giátrị công ty sẽ thay đổi như thế nào khi thay đổi tỷ số nợ trên vốn (D/E) hay còngọi là tỷ số đòn bẩy Để thấy được sự thay đổi này, lý thuyết M & M xem xét giátrị công ty trong trường hợp không vay nợ hay được tài trợ bằng 100% vốn chủ
sở hữu (VU) và giá trị công ty khi có vay nợ (VL) Ngoài ra, dù có vay nợ haykhông vay nợ công ty vẫn phải nộp thuế thu nhập với thuế suất là TC Nếu cóvay nợ (D) bằng cách phát hành trái phiếu công ty sẽ phải trả lãi suất vay là RD.Nếu không vay nợ hay tài trợ hoạt động công ty bằng 100% vốn chủ sở hữu (E)thì chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là R0 Mệnh đề M & M số 1 được phát biểunhư sau:
Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị công ty không có vay
nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế Vềmặt toán học, mệnh đề M & M số 1 được diển tả bởi công thức: VL = VU + TCD
- Mệnh đề 2 – Chi phí sử dụng vốn của công ty trong trường hợp có thuế
Trang 16Trong trường hợp có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệcùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ, nhưng mối quan
hệ này được diển tả bởi công thức: RE = RU + (RU – RD)(1 – TC)D/E
Công thức này được suy ra từ mệnh đề số 1 Trong trường hợp có thuế,giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giácủa lá chắn thuế Do đó, chúng ta có thể biểu diễn bảng cân đối tài sản của công
ty dưới dạng:
VU = Giá trị công ty không có vay nợ D = Nợ
TCD= Hiện giá lá chắn thuế E = Vốn cổ phần
Ngoài ra, quan hệ giữa giá trị công ty và dòng tiền được thể hiện qua công thức:Giá trị công ty = PV (dòng tiền) = Dòng tiền / Chi phí sử dụng vốn
Từ đây ta có dòng tiền kì vọng bên tay trái bảng cân đối là (VURU +
TCDRD) Tương tự, dòng tiền kì vọng bên tay phải bảng cân đối kế toán là (DRD+ ERE) Theo nguyên tắc kế toán, tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn và bởi vìdòng tiền xem xét ở đây là dòng tiền đều mãi mãi và tiền tạo ra ở đây dùng đểtrả cổ tức nên dòng tiền bên tài sản của công ty thuộc về cổ đông, do đó chúng ta
có thể thiết lập cân bằng sau:
VURU + TCDRD = DRD + ERE (*)Chia hai vế phương trình này cho E, sau đó chuyển vế ta được:
Trang 17Đây chính là công thức diễn tả nội dung mệnh đề M & M số 2 cần chứng minh.
Lý thuyết M & M về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giảiđược quan hệ giữa giá trị công ty , chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợvay Tuy nhiên lý thuyết này chưa xem xét đến tác động của một số chi phí kháckhiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty giatăng nợ Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng lên,điều này còn gây nhiều ảnh hưởng khác tới hiệu quả hoạt động kinh doanh củacông ty nữa Do đó, bàn về tác động giữa cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động củacông ty còn gây nhiều tranh cãi, dưới đây tôi đưa ra một số nghiên cứu liên quan
về vấn đề này
2.1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu liên quan khác
Nghiên cứu của Maslis năm (1983) cho thấy giá cổ phiếu có tương quan
thuận (dương) với mức độ tài trợ, cũng như là mối liên hệ giữa hiệu quả hoạtđộng doanh nghiệp với cơ cấu vốn Trong khoảng từ 0,23 đến 0,45 là tỷ lệ nợhiệu quả tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Tối ưu hóa được tỷ lệnày sẽ có lợi cho doanh nghiệp
Nghiên cứu của Dilip Ratha (2003) cho thấy đòn bẩy tài chính có tác
động âm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở các nước đang nước đangphát triển Nghiên cứu cho rằng, với tỷ lệ nợ quá mức là nguyên nhân gây ranhững rắc rối tài chính cho các nước đang ph át triển ở Đông Á (1997 – 1998)
Nghiên cứu của Wei Xu (2005) cho thấy có mối liên hệ vững chắc về
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (đo lường bằng ROE) với cơ cấu tài chính:(1) hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có mối liên hệ cùng chiều (dương) với
tỷ lệ nợ; (2) khi tỷ lệ nợ nằm trong khoảng từ 24,52% và 51,13% thì hiệu quảhoạt động có mối quan hệ theo phương trình bậc hai và bậc ba với tỷ lệ nợ
Nghiên cứu của Berger (2006)về cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng thông qua việc kiểm định lý thuyết chi phí người chủ và ngườiđại diện cho thấy: Cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động các ngân hàng và
Trang 18ngược lại hiệu quả hoạt động cũng có tác động đến cơ cấu vốn Nghiên cứu chorằng, những công ty hoạt động có hiệu quả cũng có thể ảnh hưởng đến sự lựachọn của cơ cấu vốn; lợi nhuận cao hơn có thể hoạt động như một bộ đệm chốnglại rủi ro Các công ty có hiệu quả hơn sẽ lựa chọn một tỷ lệ đòn bẩy cao hơn bởi
vì hiệu quả cao dự kiến sẽ giảm chi phí phá sản và khủng hoảng tài chính.
Nghiên cứu Margaritis (2007)Với mẫu số liệu nghiên cứu làm thực
nghiệm ở 12 240 công ty ở New Zealand, kết hợp với các lý thuyết của Jensen
và Meckling (1976) – mô hình chi phí Sử dụng phân tích các tham số theophương pháp DEA (The non – parametric Data Envelopment Analysis), và phântích hồi quy Cho kết quả về mối quan hệ nhân quả giữa cơ cấu vốn và hiệu quảhoạt động doanh nghiệp cho thấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có ảnhhưởng đến cơ cấu vốn và ngược lại cơ cấu vốn cũng có tác động đến hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp
Các nghiên cứu trên cho nhiều kết luận khác nhau nhưng đều cho thấy cómối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu độc lập, được tiến hành vào nhữngthời điểm khác nhau với điều kiện kinh tế và các đối tượng nghiên cứu cũngkhác nhau Do đó, để có thể khẳng định chính xác về mối liên hệ giữa cơ cấuvốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh, ta cần xem xét và nghiên cứu cho từngđối tượng, trong từng điều kiện kinh doanh cụ thể
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
2.2.1.1 Chọn điểm nghiên cứu
a) Nhóm ngành và phân loại nhóm ngành
Phân loại nhóm ngành trên thế giới
Không có một hệ thống hay tiêu chuẩn phân ngành nào là hoàn chỉnh.Việc xây dựng và sử dụng hệ thống hay tiêu chuẩn phân ngành nào là tùy thuộcvào quan điểm từng cá nhân hay tổ chức liên quan
Trang 19Hiện nay, trên thế giới các lĩnh vực kinh doanh mới xuất hiện ngày càngnhiều vì vậy yêu cầu phải xây dựng một hệ thống phân ngành là hết sức cần thiếttại mỗi quốc gia và các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức liên quan tới lĩnh vựckinh tế mang tính chất thống kê, phân tích thông tin Điều đó không chỉ giúpchúng ta quản lý dữ liệu một cách hiệu quả, khoa học mà còn giúp nâng giá trị
sử dụng của dữ liệu lên mức độ cao, hiệu quả
Hiện tại trên thế giới có rất nhiều cách phân chia ngành kinh tế Sự khácbiệt trong gom – tách các ngành, nhóm ngành tùy thuộc vào quan điểm của từngquốc gia hoặc từng tổ chức Ví dụ như ở Mỹ sử dụng hệ thống phân ngành SIC(Standard Industrial Classification) với 10 nhóm và hệ thống NAICS (The northAmerican Industry Classification Sytem) với 20 nhóm phân ngành cấp 1 được
áp dụng khá phổ biến; ở Anh, UCA SIC2007 có 21 nhóm, trong khi đó hệ thốngphân ngành METI của Nhật Bản chỉ có 5 nhóm,
Hai trong những hệ thống phân ngành xuất phát điểm từ các tổ chức tàichính nổi tiếng trên thế giới là ICB và GICS ICB (Industry ClassificationBenchmark) là hệ thống phân ngành cho các công ty, được phát triển bởi DowJones và công ty FTSE International Limited Hệ thống này gồm 4 phân cấp với
10 nhóm ngành cấp 1 (dầu và gas, vật liệu cơ bản, công nghiệp, hàng tiêu dùng,chăm sóc sức khỏe, dịch vụ tiêu dùng, viễn thông, tiện ích, tài chính, côngnghệ), 18 ngành cấp 2, 39 phân ngành cấp 3 và tổng cộng tới 104 chi tiết ngànhcấp 4 Hiện nay hệ thống ICB được dùng cho Sàn NASDAQ, NYSE và một vàithị trường chứng khoán khác trên thế giới Trong khi đó, GICS (The GlobalIndustry Classification Standard) được phát triển bởi Morgan Stanley vàStandard & Poor’s GICS có khá nhiều điểm tương tự ICB
Tại Việt Nam
Từ những năm 1990 trở lại đây, Việt Nam có 2 hệ thống phân ngành, đó
là hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân 1993 (VSIC 1993) và hệ thống ngànhkinh tế quốc dân 2007 (VSIC 2007) VSIC 2007 có 21 ngành cấp 1, 88 ngành
Trang 20cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5 Hệ thống nàyđược xây dựng dựa trên việc đánh giá thực trạng sử dụng VSIC 1993 và nhữngphát triển của hệ thống này trong ngành Thống kê và các Bộ, ngành khác Bêncạnh đó, VSIC 2007 cũng thiết lập dựa trên việc tham khảo và áp dụng phiênbản mới nhất của Liên hợp quốc về Phân ngành chuẩn quốc tế (ISIC), Dự thảokhung chung của ASEAN về phân ngành trên cơ sở ISIC và kinh nghiệm pháttriển phân loại quốc tế của các nước, đặc biệt là các nước ASEAN
Hiện nay, các tổ chức tài chính tại Việt Nam có áp dụng đa dạng và linhhoạt các tiêu chuẩn khác trên thế giới như ICB,….và cả hệ thống phân ngànhcủa mình Các doanh nghiệp chọn làm nghiên cứu trong khóa luận được sắp xếptheo cấu trúc phân ngành 4 cấp của tiêu chuẩn ICB Theo đó, các công ty trựcthuộc nhóm ngành công nghiệp (mã 2000); tiểu nhóm xây dựng, xây lắp (mã2357); nhóm xây dựng, xây lắp này bao gồm 131 công ty và phân theo đại diệnquản lý vốn Nhà nước (vốn chủ sở hữu), được chia thành 5 nhóm cơ bản:
- Nhóm các công ty trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia ViệtNam(PVX) gồm 13 công ty(5)
- Nhóm các công ty trực thuộc Tổng công ty Lắp máy ViệtNam(LILAMA) bao gồm 11 công ty (danh sách các công ty được thể hiện ởbảng 2.1)
- Nhóm các công ty trực thuộc Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu vàXây dựng Việt Nam(VINACONEX), gồm 15 công ty(6)
- Nhóm các công ty trực thuộc Tổng công ty Sông Đà(Sông Đà) gồm 12công ty(7)
- Nhóm các công ty xây dựng nói chung (nhóm Xây dựng) gồm 60 công ty(8)
5() Phụ lục 01
6() Phụ lục 02
7() Phụ lục 03
8() Phụ lục 04
Trang 21Trong các nhóm trên thì các nhóm PVX, LILAMA, VINACONEX, Sông
Đà là những Tổng công ty nhà nước, trong đó nhà nước nắm giữ trên 50% vốnchủ sở hữu Nhóm xây dựng cuối cùng là nhóm bao gồm các công ty có tỷ trọngvốn sở hữu nhà nước nhỏ và các công ty tư nhân khác
b) Chọn điểm nghiên cứu
Căn cứ vào cách phân loại ngành, nhóm ngành theo tiêu chuẩn ICB nóitrên, tôi chọn 11 công ty trong số 131 công ty xây dựng, xây lắp được niêm yếttrên Sàn chứng khoán Việt Nam, là các công ty trực thuộc Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam (LILAMA)
2.2.1.2 Thu thập tài liệu
Số liệu sử dụng trong đề tài là các Báo cáo đã được kiểm toán xác nhận vàcông bố trên website của mỗi công ty cũng như Sở Giao dịch chứng khoán ViệtNam Các báo cáo này bao gồm:
- Báo cáo tài chính năm của 5 năm, từ 2007 đến năm 2011: Bảng cân đối
kế toán, Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Bản cáo bạch của các công ty
Chi tiết nguồn số liệu của mỗi công ty được thống kê ở phụ lục 05
Trang 22Bảng 2.1: Danh sách các công ty trực thuộc nhóm xây dựng Lilama
Tên công ty Tên quốc tế Địa chỉ Mã chứng
khoán
Sàn giao dịch
Ngày giao dịch đầu tiên
Khối lượng niêm yết lần đầu
1 CTCP Lilama 5 Lilama 5 Joint Stock Company Số 179 Đ.Trần Phú, P.Ba Đình, TX.Bỉm Sơn,
2 CTCP Lilama 18 Lilama 18 Joint Stock Company Số 9-19, Hồ Tùng Mậu, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh LM8 HOSE 15/11/2010 8 050 000
3 CTCP Lilama 3 Lilama 3 Joint Stock Company Lô 24-25 Khu CN Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội LM3 HNX 01/12/2009 5 150 000
4 CTCP Lilama 69-2 Lilama 69-2 Joint Stock Company Số 26, Phố Tản Viên, P.Thượng Lý, Q.Hồng Bàng,
434-436, Đ.Nguyễn Trãi – Xã Trung Văn – H.Từ
10 CTCP Lilama 10 Lilama 10 Joint Stock Company Số nhà 989, Đ.Giải Phóng, Q.Hoàng Mai, Tp.Hà Nội L10 HOSE 25/12/2007 9 000 000
11 CTCP Lilama 7 Lilama 7 Joint Stock Company 323, Đ2/9, Q.Hải Châu, Tp Đà Nẵng LM7 HNX 28/10/2010 4 957 000
Trang 232.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng tài sản và nguồn tài trợ
Nhóm chỉ tiêu này được sử dụng nhằm phản ánh tốc độ tăng trưởng, sựthay đổi kết cấu tài sản và nguồn vốn của các công ty Các chỉ tiêu được thểhiện trong bảng sau
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng tài sản và nguồn vốn
2.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa các công ty Các chỉ tiêu này bao gồm:
a) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất
+ Vòng quay tổng tài sản: Đo lường mức tạo doanh thu của tổng tài sản
Vòng quay tổng tài sản
( Vòng)
= Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân+ Vòng quay tài sản ngắn hạn
Trang 24Vòng quay tài sản ngắn hạn
( Vòng)
= Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân+ Vòng quay tài sản dài hạn
Vòng quay tài sản dài
hạn( Vòng)
= Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân
+ Vòng quay vốn chủ sở hữu
Vòng quay vốn chủ sở hữu
( Vòng)
= Tổng tài sản bình quânDoanh thu thuần
b) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi
+ Khả năng sinh lợi tổng tài sản (ROA)
Khả năng sinh lợi tổng tài sản(ROA)
(%)
= Tổng tài sản bình quânLợi nhuận sau thuế x 100
+ Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu(ROE)
( %)
= Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu x 100
+ Tỷ suất doanh lợi doanh thu (ROS)
Khả năng doanh lợi doanh thu(ROE)
Lợi nhuận sau thuế
x 100Doanh thu thuần
2.2.3 Các phương pháp phân tích
2.2.3.1 Phương pháp phân tích xu hướng
Phương pháp phân tích xu hướng hay còn gọi là phương pháp phân tíchngang Là một quá trình nghiên cứu xu hướng thay đổi các chỉ tiêu qua các thời
kì liên tục
Trong bài nghiên cứu, phương pháp này được dùng để phân tích xuhướng biến động theo thời gian của các yếu tố sau
- Thực trạng biến động tài sản và kết cấu tài sản
- Thực trạng biến động nguồn vốn và kết cấu nguồn vốn
Trang 25- Thực trạng kết quả và hiệu quả kinh doanh của các công ty.
Phương pháp này được làm rõ đối với toàn bộ nhóm ngành và chi tiếtcho từng công ty trong nhóm
Phương pháp phân tích xu hướng được chi tiết hóa theo hai phương pháp:
- Phương pháp đồ thị hóa
- Phương pháp so sánh về mặt số học, sử dụng các chỉ tiêu phân tích: Tốc
độ phát triển bình quân hàng năm, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
a)Tốc độ phát triển bình quân hàng năm: Là tỷ số giữa mức độ kỳ này ( Xn)với mức độ kỳ đứng trước đó ( Xn-1) Nó cho biết mức độ kỳ này bằng bao nhiêulần so với kỳ trước Được biểu diễn bởi công thức sau:
Pn = Xn (n = 1, 2, , n)
Xn-1
b) Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm: Là tỷ số giữa chênh lệch mức độ của 2 kỳ liên tục với kỳ gốc, thể hiện tốc độ phát triển bình quân giữa các chỉ tiêu qua 2 thời kì liên tục.
P 1)
(n-= n 1P1P2 Pn
2.2.3.2 Phương pháp phân tích tỷ trọng
Phân tích tỷ trọng còn gọi là phân tích dọc hay phân tích báo cáo quy môchung Trong bài khóa luận, phương pháp này được sử dụng nhằm tập trungphân tích kết cấu Cụ thể:
- Đối với các công ty thì phương pháp phân tích tỷ trọng được áp dụngnhằm phân loại, phân biệt các công ty trực thuộc Lilama theo các nhóm khácnhau căn cứ vào kết cấu và biến động kết cấu của tài sản, nguồn tài trợ,
- Đối với cả nhóm ngành: phân tích mức độ đóng góp (mức độ tác động)các yếu tố của từng công ty đến cả nhóm Và mức độ biến động hiệu quả của
Trang 26nhóm chịu tác động bởi hiệu quả và tỷ trọng tổng tài sản, vốn chủ sở hữu củatừng công ty đối với cả nhóm như thế nào.
Theo đó, ta có tỷ suất ROA, ROE của nhóm được phân tích như sau:
Tương tự, ta phân tích ROE của nhóm chịu tác động của tỷ trọng vốn chủ
sở hữu của từng công ty như sau:
2.2.3.3 Phương pháp phân tích tỷ số
Phân tích tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phântích Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây
là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được
bổ sung và hoàn thiện Trong phân tích tài chính các tỷ số được phân thành cácnhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt độngcủa doanh nghiệp Trong bài khóa luận này, phương pháp phân tích được sửdụng nhằm tính các chỉ số tài chính: Hiệu suất, hiệu quả hoạt động kinh doanh(ROA, ROE, ROS, ) Kết hợp với phương pháp so sánh, từ đó có những đánhgiá về tình hình tài chính hiện tại của các công ty và cả nhóm
Trang 27Và căn cứ vào các chỉ số tài chính để phản ánh mối liên hệ giữa cơ cấuvốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty trong nhóm.
2.2.3.4 Phương pháp phân tích Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont cho thấy mối quan hệ tương hỗgiữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu Trong bài khóa luận, phương pháp này dùng đểphân tích nhằm nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt,xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là táchmột tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lời của doanh nghiệp như thu nhập trên tàisản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số củachuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tíchảnh hưởng của các tỷ số đó với các tỷ số tổng hợp
Trước hết, chúng ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa hệ số sinh lợidoanh thu và hiệu suất sử dụng tổng tài sản Khi đó:
Tiếp theo, chúng ta xem xét tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp được tạo thành bởi các mối quan hệ giữa tỷ số ROA và hệ số nợcủa công ty
Theo đó, ROE được biểu diễn dưới dạng:
ROE = Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu
Trang 28ROE = Lợi nhuận sau thuế x Tổng tài sản
Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
1 – Hệ số nợ
Từ phân tích trên cho thấy, sự thay đổi của ROE là tổng hợp tác động của
hệ số ROA và hệ số nợ ROE chịu tác động cùng chiều của cả ROA và hệ số nợ.Khi hệ số nợ tăng lên thì ROE sẽ tăng lên vì (1- Hệ số nợ) giảm xuống Do vậy,khi tỷ lệ nợ cao sẽ khuyến khích một hệ quả về lợi nhuận là: Nếu doanh nghiệp
có lợi nhuận trong kì thì lợi nhuận sẽ càng cao và ngược lại nếu doanh nghiệpthua lỗ thì thua lỗ sẽ càng nặng nề Hay nói cách khác, khi doanh nghiệp kinhdoanh có lãi thì hệ số nợ có tác dụng khuyech tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sởhữu (ROE) và ngược lại
PHẦN IIIKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Tổng quan về Tổng công ty Lắp máy Việt Nam
3.1.1.1 Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh
Nhóm ngành xây dựng Lilama gồm 11 công ty được niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam, đều là những công ty thành viên trực thuộcTổng công ty Lắp máy Việt Nam(LILAMA) - Tổng công ty xây dựng của nhànước, được thành lập năm 1960 Bước đầu được thành lập theo mô hình doanh
Trang 29nghiệp nhà nước, nhằm góp phần đáp ứng xây dựng nền công nghiệp nước nhàcũng như phát triển cơ sở hạ tầng CNXH Từ khi chủ trương của Bộ Xây dựng
ra quyết định thực hiện sắp xếp, đổi mới phát triển các tổng công ty nhà nước vàcác doanh nghiệp nhà nước độc lập thuộc Bộ Xây dựng theo hướng cổ phầnhóa Thì các công ty cũng lần lượt được chuyển đổi chính thức thành các công
ty cổ phần với đa phần cổ phiếu là do Tổng công ty nắm giữ, trở thành nhữngcông ty hạch toán độc lập trực thuộc tổng công ty, với các ngành nghề kinhdoanh chủ yếu thuộc lĩnh vực xây lắp
Chi tiết ngành nghề kình doanh của từng công ty được thể hiện trên bảng 3.1.Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp xây lắp chịu sức ép của thịtrường trong và ngoài nước luôn biến đổi, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt,nhất là trong việc đấu thầu xây dựng Do đó, cũng tạo ra nhiều cơ hội và cảthách thức cho doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực Điều đó, càng đòi hỏi doanhnghiệp phải tự nỗ lực, cố gắng tồn tại và phát triển trong thương trường
Bảng 3.1 Đặc điểm ngành nghề của các công ty trực thuộc LILAMA
trường học, bệnh viện, trạm biến thế;…
- Thi công đường giao thông,
Gồm: LO5, LM8, L44, L43, L35, L10, LM7
ống, thiết bị cơ khí,
- Lắp khung nhà xưởng, nhà công nghiệp, dây chuyền sản xuất,
- Lắp thiết bị tự động, hệ thống điện, thiết bị điện,
Gồm: LO5, LM8, LM3, L62, L61, LCD, L44, L43, L35, L10, LM3
bị gầu tải, lọc bụi tĩnh điện,
Gồm: LO5, LM8, LM3, L62, L61, L44, L43, L35, L10,
Trang 30- Kết cấu thép, khung nhà công nghiệp, giàn không gian,
- Thiết bị phi tiêu chuẩn, đường ống công nghiệp,
- Các loại bình bể, si lô chứa,
- Kinh doanh mua bán các vật tư xây dựng, thiết bị điện,
Gồm: - LO5, LM3,
- LO5, LM8, L61, L43, L35, L10
(Nguồn: Tự tổng hợp)
Khi nền kinh tế tăng trưởng cao, nhu cầu về xây dựng nhằm hiện đại hóa
cơ sở hạ tầng là ưu tiên số một Do vậy, cầu về xây dựng tăng lên, hoạt độngcủa các công ty xây lắp cũng có nhiều cơ hội hơn Các công ty có thể mở rộngthêm thị trường, phát triển hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụngvốn Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, đời sống khó khăn, hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp bị chững lại, thì nhu cầu về xây dựng giảm đi, tức làlượng cầu ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trải qua hàng chục năm xây dựng và phát triển, các công ty LILAMA đãtạo nên thương hiệu có uy tín trong ngành lắp máy và chế tạo thiết bị ở ViệtNam, trở thành địa chỉ tin cậy của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, và đượcnhà nước phong tặng nhiều huân huy chương cao quý Với đội ngũ cán bộ vàcông nhân làm việc chuyên nghiệp lành nghề Các công ty chuyên tham gia chếtạo, cung cấp thiết bị, lắp đặt và thực hiện dịch vụ bảo trì, đại tu, sửa chữa cho
Trang 31hàng trăm công trình với chất lượng cao, đặc biệt là các công trình nhiệt điện,lọc hóa dầu.
3.1.1.2 Hoạt động của LILAMA trong thời gian qua
Trong bối cảnh ngành cơ khí Việt Nam đang bị lấn sân và cạnh tranhkhốc liệt của các nhà thầu nước ngoài, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO,với ý chí tự cường; ngành lắp máy Việt Nam lại phải tự khẳng định mình, mộtmặt phải tự đổi mới, tăng năng lực thi công, chế tạo thiết bị, nâng cao khả năngcạnh tranh để giành giật thị trường với các tập đoàn nước ngoài, đảm bảo việclàm và thu nhập cho hàng nghìn lao động trong ngành; mặt khác phải đẩy mạnh
mở rộng thị trường ra ngoài nước thông qua các hợp đồng xuất khẩu cơ khí,đóng tàu, lao động kĩ thuật tay nghề cao và nhận thầu thi công các công trình tạicác nước ngoài
Năm 2009, tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn do khủnghoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, vượt qua những thử thách, nhóm ngành lắpmáy Lilama đã phấn đấu thực hiện giá trị sản xuất, kinh doanh đạt hơn 1 tỷUSD Để thực hiện được mục tiêu này, các công ty đã phải tập trung triển khaihàng loạt các dự án lớn nhỏ Trong quý I- 2009, dự án Nhà máy lọc dầu DungQuất bàn giao cho chủ đầu tư, từ đây những sản phẩm xăng, dầu đầu tiên củaViệt Nam có đóng góp một phần không nhỏ của những người thợ lắp máy đãđược đưa ra thị trường Tiếp đến là việc hoàn thành bàn giao Nhà máy nhiệtđiện Nhơn Trạch 1 tháng 4/2009, nhiệt điện Uông Bí mở rộng tháng 6/2009,nhà máy xi măng Sông Thao trong thang 11/2009 Dự án thủy điện Sông Vàng,Sông Ông cũng đã cơ bản hoàn thành để bắt đầu hòa lưới điện
Bằng trí tuệ và tay nghề của mình, các công ty lắp máy Việt Nam nóichung và Lilama nói riêng đã mang về số lượng lớn ngoại tệ cho đất nước Thiết
bị lọc bụi tĩnh điện, lần đầu do Lilama 69-2 sản xuất đã được hãng Alstom(Nhật Bản) đánh giá rất cao và tiến tới chinh phục thị trường nước ngoài đãmang về gần 10 triệu USD Hướng xuất khẩu tại chỗ được xem là một thế mạnh
Trang 32và đang được các công ty như: Lilama 69-3, Lilama 69-1, Lilama 18, Lilama
454, … phát huy theo hướng chuyên môn hóa Tổng giá trị sản xuất kinh doanhngành giai đoạn 2006 -2010 đạt 77 450 tỷ đồng, gấp 4,8 lần so với thời kì 2001-2005 Giá trị sản xuất kinh doanh tăng từ 10 410,2 tỷ đồng lên đến 18 628 tỷđồng năm 2010, tăng 1,6 lần so với năm 2006 Tăng trưởng bình quân thời kì
2006 – 2010 đạt 1,8%/năm
Trải qua hàng chục năm xây dựng và phát triển, nhóm ngành xây dựng/lắp máy Lilama đã không ngừng phấn đấu để trở thành một trong những nhómngành phát triển vững mạnh của Việt Nam, đã tham gia lắp đặt và đưa vào sửdụng hàng nghìn công trình lớn nhỏ thuộc các lĩnh vực công nghiệp, dân dụng,văn hóa, quốc phòng
3.1.2 Đặc điểm chung về các công ty trực thuộc Tổng công ty Lắp máy Việt Nam
3.1.2.1 Đặc điểm về tài sản của các công ty
Các công ty chủ yếu hoạt động chính trong lĩnh vực xây lắp, do đó có sốvốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh là rất lớn Tính đến thời điểm cuối năm
2011, tình hình tổng tài sản của các công ty thể hiện trên bảng 3.2
Bảng 3.2 Đặc điểm tài sản của các công ty
Trang 336 CTCP Thí nghiệm Cơ điện Lilama LCD 47,7 1,0
ty chiếm tới 23,5% tổng tài sản nhóm (LM8) Trong số 11 công ty thì có 3 công
ty (chiếm gần 30%) có tài sản chiếm trên 50% tổng giá trị tài sản của cả nhóm,bao gồm: LM8 (23,5%), LM3 (15,7%), L10 (15,1%) Các công ty còn lại cómức tỷ trọng dao động chủ yếu trong khoảng từ 3% đến 9,5%, trong đó có LCD
là công ty có tỷ trọng tài sản so với cả nhóm là thấp nhất
3.1.2.2 Đặc điểm nguồn vốn các công ty
Nhóm xây dựng Lilama gồm 11 công ty trực thuộc Tổng công ty lắp máyViệt Nam, được cổ phần hóa thành các công ty cổ phần Trong đó, sở hữu nhànước đều chiếm phần lớn (mà đại diện là Tổng công ty lắp máy Việt Nam), cònlại là các cổ đông tư nhân qua phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.Tính đến thời điểm cuối năm 2011, tình hình vốn chủ sở hữu của các công tythể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Đặc điểm nguồn vốn chủ sở hữu các công ty
STT Mã chứng
khoán
Vốn chủ sở hữu Số lượng cổ phiếu (Cổ phiếu)
Giá trị( Tỷ đ)
Tỷ trọng
Sở hữu nhànước (%)
Trang 34Trong tổng số 4759,5 tỷ đồng tổng giá trị tài sản thì vốn chủ sở hữu của
cả nhóm chỉ có 889 tỷ đồng (chiếm gần 19%) - một tỷ lệ rất thấp Điều nàychứng tỏ, nguồn vốn chủ yếu được huy động cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các công ty là từ các khoản nợ vay Qua bảng 3.3 cho thấy, các công tytrong nhóm có tỷ trọng về vốn chủ sở hữu khá đồng đều nhau, không chênh lệchnhiều như tổng tài sản, trung bình tỷ trọng vốn chủ sở hữu mỗi công ty chiếm9% của cả nhóm Trong đó, công ty có tỷ trọng thấp nhất là LCD (2,4%) và caonhất là công ty L10 (16%)
Số liệu trong bảng 3.3 cho thấy, tất cả các công ty của nhóm thì nhà nướcđóng vai trò chủ sở hữu chính, với phần trăm sở hữu nhà nước đều trên 50%.Bình quân cả nhóm có mức sở hữu nhà nước là 51,16% Như vậy, trong cáccông ty này nhà nước nắm quyền kiểm soát chính
Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu của các công ty cổ phần, ngoài lợinhuận để lại còn có nguồn vốn được huy động từ việc phát hành cổ phiếu Tínhđến thời điểm năm 2011, cả nhóm đã phát hành với tổng số cổ phiếu là 56 861
972 cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong đó, công ty L10 cótổng số cổ phiếu được phát hành nhiều nhất, với 8 900 000 cổ phiếu và là công
Trang 35ty có thời gian niêm yết sớm nhất (25/12/2007), tiếp đến là các công ty như:LM8 (8 050 000 CP), L61 (7 015 000 CP) Ta nhận thấy rằng, các công ty có tổnggiá trị tài sản lớn cũng như có tỷ trọng vốn chủ sở hữu cao trong nhóm chủ yếu làcác công ty có khối lượng cổ phiếu phát hành lớn, điều này cho thấy nguồn hìnhthành nên vốn chủ sở hữu chủ yếu được huy động từ phát hành cổ phiếu.
3.2 Kết quả nghiên cứu
3.2.1 Thực trạng tài sản và nguồn vốn của các công ty
3.2.1.1 Thực trạng biến động tài sản của các công ty
Qua bảng 3.4 cho thấy, tổng tài sản của cả nhóm tăng rất nhanh, với tốc
độ tăng trưởng bình quân qua 5 năm rất cao, xấp xĩ 25%/năm Năm 2007 cảnhóm có tổng giá trị tài sản là 1971,9 tỷ đồng, nhưng đến năm 2011 tổng tài sản
cả nhóm đã lên tới 4759,9 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần Tổng giá trị tài sản của cáccông ty rất lớn, với tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy làm cho lượng tài sảntăng thêm hàng năm là rất lớn
Số liệu trên bảng 3.4 cho thấy trong số 11 công ty của nhóm thì có 5 công
ty (chiếm 45,5%) có tốc độ tăng tổng tài sản hàng năm rất nhanh, đạt trên 20%/năm Đó là các công ty: LM3 (31,7%), L62 (29,7%), L10 (26%), LO5 (23%),L61 (22,5%) Trong đó, công ty LM3 có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nhóm.Đạt tốc độ tăng trưởng tài sản từ 15% đến 20% thì có 2/11 công ty (chiếm18,2%), gồm các công ty: LM8 (19,2%) và L43 (19,5%) Những công ty có tốc
độ tăng trưởng cao thường là những công ty có giá trị tổng tài sản đạt trên 300
tỷ đồng và chiếm tỷ trọng cao về tài sản so với cả nhóm Chính vì thế sự tăng
Trang 36lên nhanh tổng tài sản các công ty này dẫn tới sự tăng lên nhanh của tổng tài sản
cả nhóm (đạt tốc độ 24,6%/năm) Các công ty còn lại có tốc độ tăng tài sản dưới10%/năm Trong đó, có công ty LCD có tốc độ tăng trưởng âm (5,1%/năm),như vậy bình quân qua 5 năm LCD có tổng giá trị tài sản không những khôngtăng mà còn bị giảm đi
Trang 37Bảng 3.4 Biến động tài sản của các công ty (2007 – 2011)
2851, 1
3694, 8
4759,
( Nguồn: Tự tổng hợp)
Trang 38Nhìn chung qua các năm thì tổng tài sản các công ty tăng 24,6%/năm làrất nhanh, trong đó nhanh nhất vào năm 2008, với tốc độ tăng bình quân cảnhóm đạt 33,6% so với năm 2007, và năm 2010 có tốc độ tăng tài sản là 29,8%
so với năm 2009 Cuộc khủng hoảng kinh tế từ nửa cuối năm 2008 đến đầu năm
2009 đã gây nhiều khó khăn cho tất cả các doanh nghiệp nói chung cho nên cácdoanh nghiệp cũng cắt giảm phần vốn vay ngoài là nguyên nhân làm cho tổngtài sản năm 2009 có sự chững lại hẳn so với giai đoạn 2007 – 2008, tốc độ tăngtrưởng tài sản năm này chỉ đạt 8,2%, thấp nhất trong vòng 5 năm qua Tuynhiên nhờ có các quyết sách kịp thời và thích hợp của nhà nước như: Gói kíchcầu hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh với nhiều giải pháp thích ứng như giảmlãi suất cơ bản, hỗ trợ lãi suất lưu động 4%/năm, bảo lãnh tín dụng cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, Đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp khắc phụckhó khăn, tăng quy mô tài chính, thực hiện mở rộng sản xuất Chính vì vậy, từcuối năm 2009 về sau, các công ty LILAMA có tốc độ tăng trưởng tài sản hàngnăm khá ổn định trong khoảng 28%-29%/ năm
Qua bảng 3.5 ta thấy trong kết cấu tài sản các công ty thì tài sản ngắn hạnđều chiếm tỷ trọng lớn, trên 50% tổng giá trị tài sản Bình quân qua 5 năm, cảnhóm có tài sản ngắn hạn chiếm 67,2% tổng giá trị tài sản Và tỷ trọng này khá ổnđịnh qua các năm, chủ yếu dao động trong khoảng 66% đến 70% Trong đó, năm
2011 có tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao nhất , chiếm tới 70,8% tổng giá trị tài sản
Số liệu trên bảng 3.5 cho thấy có 5 trong tổng số 11 công ty của nhóm cótài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng từ 70% trở lên, gồm các công ty: LM8, L62,L44, L43, L35 Trong đó, công ty L44 có tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao nhất,85,7% Chính tỷ trọng lớn của các công ty này góp phần làm cho tổng tài sảnngắn hạn của nhóm cũng tăng lên và chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản Bêncạnh đó, có ba công ty có tỷ trọng tài sản ngắn hạn nằm trong khoảng 60 %-70% là LM3 (64,7%), L61 (66,4%) và L10 (63,9%) Các công ty còn lại đều có
tỷ trọng này đạt từ 50% trở lên Duy nhất chỉ có công ty LCD có tỷ trọng tài sảnngắn hạn là thấp nhất, chưa đạt tới 50% giá trị tổng tài sản
Trang 39Bảng 3.5 Biến động cơ cấu tài sản của các công ty (2007 – 2011)
Trang 40Trong kết cấu tài sản của các công ty LILAMA, tài sản ngắn hạn chiếm tỷtrọng chủ yếu, và việc tăng lên hàng năm của tổng tài sản là do sự tăng lên củatài sản này Để thấy được rõ điều này chúng ta quan sát ở bảng 3.6 dưới đây.
Bảng 3.6 Tốc độ phát triển bình quân của tổng tài sản, tài sản ngắn hạn và
tài sản dài hạn của các công ty
Trong số 11 công ty của nhóm thì có 4 công ty có tài sản dài hạn bị giảmtrong khi tài sản ngắn hạn lại tăng nhanh Bao gồm các công ty: LO5, LM8,L44, L35 Trong đó, điển hình như công ty LM8 có tốc độ tăng tài sản ngắn hạn
là 33,2% / năm thì tài sản dài hạn lại giảm đi 5,4%/năm Với những công ty nàythì tài sản ngắn hạn đóng góp vào tổng tài sản là chính Các công ty còn lại cótài sản ngắn hạn và dài hạn đều tăng, thậm chí có công ty có tốc độ tăng bìnhquân của tài sản dài hạn cao hơn tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn Trong đó, có