Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty viễn thông quốc tế
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, kinh
tế Việt Nam cũng đã và đang có những biến chuyển tích cực, dần thoát khỏi tình trạng của một nước đang phát triển Có được thành quả đó là nhờ vào sự nỗ lực trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng và nhà nước trong công cuộc tác động đến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối đầu với sự cạnh tranh hết sức gay gắt của thị trường trong và ngoài nước Để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường thời mở cửa thì các doanh nghiệp cần phải có những cơ chế quản lý kinh tế hiệu quả Qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy trong các cơ chế quản lý kinh tế, quản lý con người là vấn đề cốt lõi nhất, cũng đồng thời là vấn đề tinh tế nhất, phức tạp nhất Muốn đạt được mục tiêu của mình, chủ doanh nghiệp cần hết sức quan tâm đến khía cạnh của đời sống người lao động Đó chính là lợi ích của họ Một trong những vấn đề nhạy cảm nhất đối với người lao động hiện nay vẫn là vấn
đề về tiền lương
Tiền lương (tiền công) chính là phần thù lao mà doanh nghiệp trả cho người lao động để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của công nhân viên bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Tiền lương gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà công nhân viên đã thực hiện, tiền lương là phần thu nhập chính của công nhân viên Do vậy, điều tất yếu mà họ đòi hỏi là mức tiền công xứng đáng so với sức lao động mà họ đã bỏ ra Việc lựa chọn được chính sách tiền lương hợp lý không những kích thích người lao động ngày
Trang 2càng gắn bó, hăng say với công việc của mình mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, giảm giá thành Cùng với tiền lương, để đảm bảo tái tạo sức lao động và cuộc sống lâu dài cho người lao động, theo chế độ tài chính hiện hành, doanh nghiệp còn phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một bộ phận chi phí gồm các khoản trích về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội Bảo hiểm y tế dùng tài trợ cho việc phòng, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của người lao động Bảo hiểm thất nghiệp dùng trợ cấp cho những cá nhân đã từng là cán bộ công nhân viên là nhân viên trong doanh nghiệp khi thất nghiệp Kinh phí công đoàn chủ yếu dùng cho hoạt động tổ chức công đoàn trong việc chăm sóc bảo vệ quyền lợi cho người lao động
Cùng với tiền lương (tiền công) các khoản trích theo lương hợp thành khoản chi phí về lao động sống trong giá thành sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Qua thời gian thực tập tại công ty Viễn thông quốc tế, tôi nhận thấy kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương có ý nghĩa vô cùng quan trọng Do đó,
tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương tại Công ty Viễn thông quốc tế”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trang 3Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Viễn thông quốc tế.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ 13/01/2012 đến ngày 30/05/2012 với số liệu sử dụng nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2012, đi sâu nghiên cứu về hạch toán tiền lương tháng 12 năm 2011
- Phạm vi về không gian: Tại Công ty Viễn thông quốc tế
- Phạm vi về nội dung: Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Trang 4PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1.1 Bản chất tiền lương và các khoản trích theo lương
2.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tiền lương và các khoản trích theo lương
a) Khái niệm và đặc điểm tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế chính trị xã hội Nó không chỉ là phản ánh thu nhập thuần túy quyết định sự ổn định và phát triển của người lao động
mà nó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, của xã hội.Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến Tiền lương phản ánh sự trả công cho người lao động dựa trên nguyên tắc lao động nhằm tái sản xuất sức lao động
Về mặt kinh tế, có thể hiểu tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động Tiền lương tuân theo các quy luật cung cầu, giá trị thị trường và pháp luật hiện hành của nhà nước Đồng thời tiền lương phải bao gồm
đủ các yếu tố cấu thành, để đảm bảo là nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và gia đình họ
Trang 5Đối với thành phần kinh tế tư nhân, sức lao động rõ ràng trở thành hàng hóa vì người sử dụng tư liệu sản xuất không đồng thời sở hữu tư liệu sản xuất
Họ là người làm thuê, bán sức lao động cho người có tư liệu sản xuất Giá trị của sức lao động thông qua sự thỏa mãn của hai bên căn cứ vào pháp luật hiện hành.Thành phần kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, tập thể người lao động từ giám đốc đến công nhân đều là người cung cấp sức lao động và được nhà nước trả công Nhà nước giao quyền sử dụng, quản lý tư liệu sản xuất cho tập thể người lao động Giám đốc và công nhân viên chức là người làm chủ được ủy quyền không đầy đủ và không được tự quyền về tư liệu đó Tuy nhiên những đặc thù riêng trong sử dụng lao động của khu vực kinh tế, nhà nước có hình thức sở hữu khác nhau, nên các quan hệ thuê mướn, mua bán, hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thỏa thuận về tiền lương và cơ chế quản lý tiền lương cũng được thể hiện theo nhiều hình thức khác nhau
Trong nền sản xuất hàng hóa, tiền lương là một bộ phận của chi phí, sản xuất, cấu thành nên giá trị sản phẩm Trong công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chính sách của tiền lương được coi như phương tiện quan trọng là đòn bẩy kinh tế, nhằm khuyến khích tinh thần hăng say lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc, từ đó không những tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
mà còn kích thích sự sang tạo, hăng say với công việc của người lao động Trên
cơ sở đó, doanh nghiệp có những biện pháp kịp thời, động viên khuyến khích người lao động nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng lao động
Tóm lại, tiền lương là phần thu nhập được người sử dụng lao động trả cho người lao động trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng tùy theo thời gian, khối lượng công việc và chất lượng lao động mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp
b) Các khoản trích theo lương
Trang 6Ngoài tiền lương, để đảm bảo tái tạo sức lao động và cuộc sống lâu dài cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp còn phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (SXKD) một bộ phận chi phí cho người lao động, được hưởng một phần sản phẩm xã hội dưới hình thái tiền tệ, trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức, thất nghiệp, đó là các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ.
- BHXH là một trong những chính sách kinh tế xã hội quan trọng của nhà nước Nó không chỉ xác định khía cạnh kinh tế mà còn phản ánh chế độ xã hội,
là khoản mà người cán bộ công nhân viên được hưởng trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tử tuất, thất nghiệp, nghỉ hưu …
- Bảo hiểm y tế (BHYT) dùng để tài trợ cho việc phòng chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người lao động BHYT thực chất là sự trợ cấp về y tế cho người tham gia bảo hiểm nhằm giúp họ một phần nào đó trang trải tiền khám chữa bệnh, tiền viện phí, thuốc thang
- Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) : dùng tài trợ cho những người thất nghiệp
là người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm BHTN bao gồm các chế độ : trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm
Nguyên tắc đóng BHTN:
+ Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN.+ Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN
Hàng tháng, người sử dụng lao động đóng BHTN theo mức quy định và trích tiền lương, tiền công của từng người lao động để đóng cùng một lúc vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần
Trang 7- Kinh phí công đoàn (KPCĐ): Đây là nguồn kinh phí của một đoàn thể đại diện cho người lao động, nói lên tiếng nói chung của người lao động, bảo vệ cho người lao động KPCĐ ngoài chức năng duy trì hoạt động tổ chức, nó còn chi để thăm hỏi người ốm, trợ cấp khó khăn cho người lao động.
KPCĐ là khoản thu cho bộ phận công đoàn, một tổ chức độc lập có tư cách pháp nhân tự hạch toán thu chi với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho người lao động KPCĐ được hình thành từ việc trích nộp của doanh nghiệp theo tỷ lệ 2% trên thực tế tổng số tiền lương phải trả cho công nhân viên (CNV) trong tháng, tính vào chi phí SXKD Số KPCĐ được trích cũng được phân cấp quản lý và chi tiêu theo chế độ quy định Một phần nộp lên cơ quan quản lý công đoàn cấp trên, và một phần để lại doanh nghiệp, để chi tiêu hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp
Cùng với tiền lương và các khoản trích nộp nói trên hợp thành chi phí về lao động sống trong giá thành sản phẩm Việc tính toán chi phí về lao động sống trong giá thành sản phẩm phải trên cơ sở theo dõi và quản lý quá trình huy động,
sử dụng lao động trong sản xuất kinh doanh Việc tính đúng thù lao lao động, thanh toán kịp thời đầy đủ tiền lương và các khoản liên quan cho người lao động nhằm kích thích việc sử dụng lao động hợp lý và có hiệu quả
2.1.1.2 Ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán tiền lương
a) Ý nghĩa của kế toán tiền lương
Tiền lương đóng vai trò quan trọng, đặc biệt đối với sự phát triển của doanh nghiệp Không chỉ trên phương diện đòn bẩy kinh tế, tiền lương còn liên quan trực tiếp đến giá thành sản phẩm Vì vậy, việc tính lương cho người lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất và việc phân bổ tiền lương vào giá thành sản phầm và chi phí lưu thông chính xác sẽ tránh được hiện tượng lãi giả, lỗ thật Đây là yêu cầu cốt lõi đối với công tác tiền lương của doanh nghiệp Từ công tác hạch toán tiền lương, giúp cho các nhà quản lý biết được tình hình sử dụng lao động, quỹ lương và cách phân phối quỹ lương
Trang 8Tổ chức tốt cách hạch toán tiền lương sẽ góp phần quản lý chặt chẽ, có hiệu quả quỹ tiền lương, giúp cho doanh nghiệp tính toán đúng và phân bổ vào giá thành một cách hợp lý.
Từ ý nghĩa quan trọng của tiền lương nói trên thì việc theo dõi việc tính lương và các khoản trích theo lương, thu nhập của người lao động là vô cùng cần thiết Ngoài mục đích kích thích người lao động quan tâm đến thời gian và chất lượng lao động, nó còn góp phần tích lũy khi tính đúng giá thành sản phẩm, làm căn cứ để xác định các khoản nghĩa vụ phải nộp cho ngân sách nhà nước.b) Nhiệm vụ của kế toán tiền lương
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ là vấn đề quan tâm của công nhân viên và doanh nghiệp, mà nó còn là vấn đề Nhà nước đặc biệt chú ý vì nó liên quan đến chi phí hoạt động của doanh nghiệp và các chính sách của nhà nước Vì vậy, cần tổ chức thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép phản ánh, tổng hợp một cách trung thực và kịp thời đầy
đủ, chính xác tình hình hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động Thực hiện tình hình huy động và sử dụng lao động, tình hình chấp nhận chính sách, chế độ tiền lương, các khoản thanh toán với công nhân viên và tình hình sử dụng quỹ này
- Tính toán phân bổ chính xác đúng tiền lương và BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh hay vào thu nhập của bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp Thực hiện đầy đủ, đúng đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động tiền lương, mở sổ, thẻ kế toán và hạch toán đúng phương pháp
- Lập báo cáo về lao động tiền lương, các khoản thanh toán với công nhân viên thuộc trách nhiệm của kế toán, tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động các quỹ lương, quỹ bảo hiểm, đề xuất các biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động, đấu tranh chống hành vi vô trách nhiệm,
vi phạm kỷ luật, vi phạm chế độ lao động, tiền lương
Trang 92.1.1.3 Chức năng của tiền lương
Chức năng thước đo giá trị
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian khối lượng công việc hoàn thành cho doanh nghiệp
Chức năng tái sản xuất sức lao động
C.Mác nói: “Sức lao động là toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực cho con người sáng tạo ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội”, bản chất của sức lao động là sản phẩm luôn được hoàn thiện nâng cao chất lượng, còn bản chất của tái sản xuất sức lao động là một lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể duy trì và phát triển sức lao động của bản thân minh, sản xuất ra sức lao động mới (nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ sau), tích lũy lao động nâng cao trình
độ kỹ năng lao động
Chức năng đòn bẩy kinh tế
Thực tế cho thấy, khi tiền lương được trả công xứng đáng thì sẽ tạo ra niềm say
mê, hứng thú làm việc, phát huy tinh thần sáng tạo, không ngừng hoàn thiện nâng cao trình độ, gắn liền trách nhiệm với lợi ích của doanh nghiệp Tiền lương là công
cụ khuyến khích vật chất, là động lực thúc đẩy của kinh tế và xã hội đi lên
Chức năng giám sát lao động
Người sử dụng lao động thông qua việc trả lương cho người lao động có kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kế hoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương xứng với kết quả thu được Nhà nước giám sát lao động bằng chế độ tiền lương đảm bảo quyền lợi tối thiểu mà người lao động được hưởng từ người sử dụng lao động, tránh sự bóc lột sức lao động
Chức năng điều hòa lao động
Khi một nền kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực ngày càng gay gắt thì chính sách về tiền lương và thang lương không thể tách rời Hệ thống thang lương, bảng lương là điều kiện
Trang 10để điều tiết lao động, nó sẽ tạo ra một cơ cấu hợp lý, một sự phân bổ lao động đồng đều trong xã hội, góp phần ổn định chung thị trường lao động của cả nước.
Chức năng tích lũy
Tiền lương là phần thu nhập của người lao động, vì vậy lao động tạo ra thu nhập không những để duy trì cuộc sống hàng ngày mà còn để tiết kiệm dự phòng cho cuộc sống sau này khi hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro trong cuộc sống
2.1.1.4 Phân loại tiền lương
- Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
- Tiền lương chính và tiền lương phụ
2.1.2 Quỹ lương trong doanh nghiệp
2.1.2.1 Quỹ lương
Quỹ lương của một doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương doanh nghiệp phải trả cho tất cả lao động mà mình quản lý, sử dụng Quỹ lương bao gồm các khoản sau:
+ Tiền lương tháng, ngày theo hệ thống bảng lương của Nhà nước
+ Tiền lương trả theo sản phẩm
+ Tiền lương công nhận cho lao động ngoài biên chế
+ Tiền lương trả cho người lao động khi làm ra sản phẩm hỏng, sản phẩm xấu+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc do thiết bị máy móc ngừng hoạt động vì nguyên nhân khách quan
+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian điều động công tác hoặc huy động đi làm nghĩa vụ của Nhà nước và xã hội;
+ Tiền lương trả cho người lao động nghỉ phép định kỳ, nghỉ theo chế độ Nhà nước;
+ Tiền lương trả cho người đi học nhưng vẫn thuộc biên chế;
Trang 11+ Các loại tiền thưởng thường xuyên;
+ Các phụ cấp theo chế độ quy định và phụ cấp khác được ghi trong quỹ lương
Như vậy, việc quản lý tiền lương là hết sức quan trọng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý theo nguyên tắc sau:
- Tiền lương phải được quản lý chặt chẽ và chi theo đúng mục dích gắn với kết quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở các định mức lao động và đơn giá tiền lương hợp lý được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Ngoài ra, doanh nghiệp không được sử dụng quỹ lương vào mục đích khác ngoài việc chi trả tiền lương, tiền công gắn với kết quả lao động
* Xác định quỹ tiền lương
Để xác định quỹ tiền lương thì doanh nghiệp không được tự xây dựng cho mình đơn giá tiền lương phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh, mà đồng thời phải được sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nhà nước định giá đối với các sản phẩm trọng yếu, sản phẩm đặc thù Các bộ ngành, địa phương quyết định đơn giá tiền lương cho một số sản phẩm đặc thù của mình Các sản phẩm không thuộc diện trên thì doanh nghiệp tự xác định đơn giá song phải đăng ký với cơ quan Nhà nước
Tùy vào các đặc điểm sản xuất kinh doanh, lao động, triển vọng của doanh nghiệp mà cách xác định đơn giá tiền lương, quỹ lương cho phù hợp
2.1.2.2 Quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
- Quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng
số quỹ tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp của công nhân viên thực tế phát sinh trong tháng
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương cấp bậc và khoản phụ cấp (Chức vụ, khu vực, thâm niên) của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng theo chế độ hiện hành, tỷ
lệ trích là 24% (tính từ thời điểm 01/01/2012) trong đó:
Trang 12+ 17% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
+ 7% do người lao động nộp bằng cách khấu trừ vào phần tiền lương hàng tháng của họ
Quỹ BHXH được sử dụng để chi tiêu phụ cấp cho người lao động trong các trường hợp:
+ Nếu người lao động bị ốm đau phải nghỉ việc thì được hưởng tiền BHXH trả thay lương Mức lương này phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH của người lao động, thời gian hưởng BHXH vì đau ốm và được xác định theo tỷ lệ phần trăm của mức lương hàng tháng (thông thường là 75%)
Trường hợp thai sản thì người nữ lao động được hưởng thời gian đi khám thai, thời gian nghỉ việc do sẩy thai, thời gian nghỉ trước và sau khi sinh đẻ (mức thời gian nghỉ này tùy thuộc vào loại lao động và tình trạng sinh con) trợ cấp bằng 100% tiền lương
+ Đối với tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người lao động (người hưởng BHXH) sẽ được hưởng 100% lương trong những ngày điều trị Khi lành bệnh, tùy theo mức độ suy giảm sức khỏe do Hội đồng y khoa xác định, người
bị tai nạn (hay bị bệnh) sẽ được hưởng các mức trợ cấp khác nhau Trường hợp suy giảm dưới 30% khả năng lao động thì sẽ được trợ cấp một lần tùy theo hệ số trên mức tiền lương tối thiểu và người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí công việc thích hợp và lâu dài để ổn định cuộc sống Nếu mức suy giảm trên 30% thì sẽ được trợ cấp hàng tháng theo hạng thương tật Từ 61% trở lên được hưởng 100% mức lương tối thiểu Nếu người bị nạn mất ngay sau khi tai nạn thì gia đình được hưởng trợ cấp một lần bằng 24 tháng lương tối thiểu và được hưởng chế độ tử tuất
+ Chế độ hưu trí được hưởng một lần trước khi nghỉ hưu cộng số tiền lương hàng tháng (không dưới mức lương tối thiểu)
Trang 13+ Chế độ tử tuất gồm có trợ cấp chôn cất bằng 7 tháng lương tối thiểu và trợ cấp tiền tử tuất phụ thuộc số năm đóng BHXH của người lao động.
+ Chi phí về sự nghiệp BHXH và quản lý BHXH gồm : Chi phúc lợi công cộng nhằm nâng cao sức khỏe, tuổi thọ và đời sống vật chất, tinh thần của các công nhân viên chức khi họ đang công tác hoặc đã nghỉ hưu như các chi phí cho nhà nghỉ, nhà an dưỡng Chi phí về quản lý, chi phí hội nghị chuyên ngành BHXH, chi cho công tác BHXH
Quỹ BHXH do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thực hiện việc quản lý Nguồn quỹ BHXH do cơ quan chuyên trách cấp trên quản lý và chi trả các trường hợp nghỉ hưu, mất sức Ở tại doanh nghiệp được phân cấp trực tiếp chi trả một số trường hợp như ốm đau, thai sản, và tổng hợp chi tiêu để quyết toán với cơ quan chuyên trách
- Quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm và một phần của doanh nghiệp Việc đóng góp BHYT không bắt buộc với tất cả các thành viên trong xã hội, chỉ những người đóng góp mới được hưởng bảo hiểm Cụ thể:
+ Người lao động đóng 1,5% trích từ tiền lương của mình
+ Người sử dụng lao động đóng 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD)
- Quỹ BHTN được hình thành từ các nguồn: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN Quỹ BHTN dùng để: trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm
+ Trợ cấp thất nghiệp: mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi
bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo quy
Trang 14định của pháp luật Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng BHTN của người lao động.
+ Hỗ trợ học nghề: người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu học nghề, được hỗ trợ học nghề thực hiện thông qua các cơ sở dạy nghề, không hỗ trợ bằng tiền để người lao động tự học nghề Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động bằng mức chi phí học nghề trình độ sơ cấp theo quy định của pháp luật dạy nghề Trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp,
có nhu cầu học nghề, với mức chi phí cao hơn mức chi phí học nghề trình độ sơ cấp theo quy định của pháp luật thì phần vượt quá mức chi phí học nghề trình độ
sơ cấp, do người lao động tự chi trả Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo nghề của từng nghề và từng lao động nhưng không quá 6 tháng Thời gian bắt đầu để được hỗ trợ học nghề tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng
+ Hỗ trợ tìm việc làm: người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Thời gian người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm giới thiệu việc làm hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và không quá tổng thời gian mà ngươi lao động
đó được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Quyết định của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và xã hội
- Quỹ KPCĐ cũng được hình thành do việc trích lập vào chi phí SXKD của doanh nghiệp hàng tháng theo tỷ lệ quy định là 2% trên tổng số tiền lương thực trả cho công nhân viên trong kỳ Số KPCĐ do doanh nghiệp trích phải nộp 1% cho Liên đoàn lao động địa phương và còn 1% để lại chi tiêu duy trì hoạt động công đoàn cấp cơ sở
Trang 152.1.3 Chế độ tiền lương
2.1.3.1 Chế độ tiền lương cấp bậc
Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước và xí nghiệp , doanh nghiệp áp dụng để trả lương cho người lao động Dựa vào chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định Chế độ tiền lương cấp bậc nhằm mục đích xác định chất lượng lao động, so sánh chất lượng lao động trong các ngành khác nhau và trong từng nghề Cho nên chế độ tiền lương cấp bậc có tác dụng tích cực điều chỉnh tiền lương giữa các ngành – nghề một cách hợp lý Đồng thời cũng giảm được tính bình quân trong việc trả lương Tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có cách áp dụng chế độ tiền lương cấp bậc do Nhà nước ban hành vào thực tế sao cho phù hợp và phát huy được tác dụng của tiền lương cấp bậc
Hiện nay mức lương tối thiểu quy định ở nước ta là 1.050.000 đồng/bậc 1(1/5/2012) Chế độ tiền lương cấp bậc rất tiện dụng nhưng chỉ áp dụng với công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm, còn những người không trực tiếp tạo ra sản phẩm như cán bộ quản lý, nhân viên văn phòng thì do kết quả lao động khó có thể định mức được nên phải áp dụng chế độ tiền lương chức vụ
2.1.3.2 Chế độ tiền lương chức vụ
Chế độ tiền lương chức vụ là toàn bộ những quy định của nhà nước mà các yếu tố chức năng quản lý Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và các doanh nghiệp áp dụng để trả lương cho cán bộ quản lý Tiền lương trong chế độ này trả theo thời gian, thường trả theo tháng và dựa vào bảng lương chức vụ
2.1.4 Các hình thức trả lương
Lựa chọn hình thức trả lương phù hợp có tác dụng khuyến khích CBCNV không ngừng nâng cao năng suất lao động, sử dụng hợp lý, đầy đủ thời gian làm việc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Để lựa chọn hình thức trả
Trang 16lương doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tính chất của từng loại công việc và điều kiện trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp hiện nay thường áp dụng hai hình thức trả lương chủ yếu là:
- Hình thức trả lương theo thời gian
- Hình thức trả lương theo sản phẩm
Mỗi hình thức trả lương đều có ưu và nhược điểm riêng của nó, vì việc có rất nhiều doanh nghiệp đã kết hợp hai hình thức trả lương cho cán bộ công nhân viên cho phù hợp với đặc điểm sản xuất xã hội và đặc biệt tạo ra sự công bằng trong phân phối thu nhập
2.1.4.1 Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương theo thời gian là tiền lương được xác định căn cứ vào thời gian làm việc, cấp bậc hoặc theo chức danh và thang lương theo tiêu chuẩn nhà nước quy định
Tiền lương làm theo thời gian có thể theo tháng, theo ngày, theo giờ công tác Đơn vị thời gian để trả công thời gian càng ngắn thì việc trả lương càng sát với mức độ hao phí lao động của mỗi người Do đó, mà hiện nay các doanh nghiệp thường chọn hình thức trả lương theo ngày
Tiền lương trả theo thời gian có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, phản ánh được trình độ lỹ thuật và điều kiện làm việc của người công nhân Song nhược điểm cơ bản của nó là chưa gắn tiền lương với kết quả lao động của từng người
Do đó, không kích thích người công nhân tận dụng thời gian lao động, nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm Hình thức trả lương theo thời gian có hai loại:
- Lương thời gian giản đơn
- Lương thời gian có thưởng
Thời gianlàm việc
Đơn giá tiềnlương thời gianTiền lương
thời gian
Trang 17a) Lương thời gian giản đơn.
Theo hình thức này tiền lương của người công nhân được xác định căn cứ vào mức lương cấp bậc và thời gian làm việc thực tế
Hình thức này có nhược điểm cơ bản là không xét đến thái độ lao động , đến hình thức sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị nên không tránh được hiện tượng chủ nghĩa bình quân, trong thực tế phương pháp này ít được sử dụng
b) Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng
Hình thức này dựa trên sự kết hợp giữa tiền lương theo thời gian giản đơn với các chế độ tiền thưởng Hình thức này có tác dụng thúc đẩy công nhân viên tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, đảm bảo chất lượng sản phẩm
Với việc trả lương theo thời gian, chưa đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó chưa tính đến một cách đầy đủ chức năng đòn bẩy kinh tế của tiền lương trong việc kích thích phát triển sản xuất, chưa phát huy hết khả năng có sẵn của người lao động để làm ra của cải xã hội Vì vậy, khi áp dụng hình thức trả lương theo thời gian cần thiết phải áp dụng một số biện pháp phối hợp như: Khuyến khích vật chất, kiểm tra chấp hành kỷ luật lao động nhằm tạo cho người lao động ý thức thật sự, tự giác làm việc, làm việc có kỷ luật và nâng cao năng suất lao động
Trang 18Hình thức trả lương này có ưu điểm hơn hẳn so với hình thức trả lương theo thời gian Tuy nhiên, việc trả lương theo sản phẩm cũng cũng dễ dẫn đến việc trả lương chạy theo số lượng, làm ẩu, vi phạm quy trình, vi phạm kỹ thuật,
sử dụng thiết bị quá mức và một số hiện tượng tiêu cực khác nữa Vì vậy, khi áp dụng hình thức trả lương này, cần phải làm tốt một số công tác như: Coi trọng công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, công nhân, tránh khuynh hướng chạy theo số lượng hay thu nhập đơn thuần mà xem thường chất lượng và các yêu cầu
về kinh tế trong sản xuất, xây dựng, và hoàn thiện hệ thống xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, đặc biệt là định mức lao động, để làm căn cứ cho việc trả lương theo sản phẩm một cách chính xác, cải tiến công tác tổ chức sản xuất, tổ chức lao động đảm bảo sản xuất cân đối, nhịp nhàng, liên tục, phù hợp với trình độ tay nghề của công nhân, phù hợp với cấp bậc công việc, xây dựng và kiện toàn một số chế độ cần thiết để trả lương theo sản phẩm như: Chế độ thống kê, hạch toán thành phẩm, phế phẩm, chế độ kiểm nhận sản phẩm về số lượng và chất lượng
Hiện nay, nước ta đang áp dụng 6 chế độ lương sản phẩm:
- Trả lương theo sản phẩm cá nhân trực tiếp
- Trả lương theo sản phẩm tập thể
- Trả lương theo sản phẩm cá nhân gián tiếp
- Lương sản phẩm lũy tiến
Trang 19trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Hợp đồng lao động được áp dụng với các tổ chức, cá nhân thuộc các ngành, các thành phần kinh tế có sử dụng, thuê mướn lao động và đối với những người lao động làm công và được trả tiền công (tiền lương)
Hợp đồng lao động được giao kết theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, không trái với pháp luật và thỏa ước lao động tập thể ở những nơi có ký kết thỏa ước lao động tập thể Nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên giao kết được thể hiện trong hợp đồng lao động Nhà nước khuyến khích việc giao kết hợp đồng lao động với thỏa thuận mà người lao động được hưởng điều kiện lao động tốt hơn so với điều kiện quy định trong pháp luật lao động Hợp đồng lao động so hai bên thỏa thuận nhất thiết phải có những nội dung chủ yếu sau đây : Công việc phải làm, tiền công (tiền lương), nơi làm việc, thời hạn hợp đồng, những điều kiện theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và BHXH đối với người lao động
Tiền công (tiền lương) trả cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Hai bên giao kết hợp đồng lao động có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những thỏa thuận trong hợp đồng lao động Bên nào vi phạm hợp đồng lao động
mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm và phải bồi thường theo mức độ thiệt hại
2.1.5.2 Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN)
Thuế thu nhập cá nhân là: khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước.Cách thức và phương pháp nộp thuế được quy định chi tiết tại khoản 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, điều 2 Nghị định 100/2008/NĐ – CP ngày 08/9/2008 Quy định chi tiết một số điều của Thuế thu nhập cá nhân, mục II.1, phần A, Thông tư 84/2008/TT – BTC ngày 30/9/2008, hướng dẫn thi hành một
Trang 20số điều của thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn chi tiết nghị định 100/2008/NĐ- CP ngày 08/9/2008 Theo đó, đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật thuế TNCN phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
Ta có biểu thuế toàn phần như sau:
Biểu mẫu 2.1: Biểu thuế toàn phần
Mức
thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm (Triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng (Triệu đồng)
Thuế suất (%)
(Nguồn: Điều 22 Luật thuế thu nhập cá nhân)
2.1.6 Hạch toán chi tiết tiền lương và các khoản trích theo lương
2.1.6.1 Hạch toán lao động
Hạch toán chi tiết tiền lương là việc ghi chép, phản ánh chi tiết thông tin về đối tượng quản lý, theo từng đối tượng Hạch toán chi tiết có vai trò rất quan trọng vì đây là việc ghi chép ban đầu, là cơ sở để tiến hành công việc phía trước.Hạch toán chi tiết tiền lương trong doanh nghiệp, là việc ghi chép phản ánh chính xác những thông tin về lao động, thời gian lao động, kết quả lao động, tính toán lương phải trả để làm cơ sở cho kế toán tổng hợp tiền lương
Trang 212.1.6.2 Hạch toán số lượng lao động.
Tổ chức hạch toán lao động nhằm mục đích cung cấp thông tin về số lượng, kết cấu lao động trong toàn doanh nghiệp, số lượng lao động hiện có và đang sử dụng của doanh nghiệp Bao gồm cả lao động dài hạn và ngắn hạn, lao động gián tiếp và lao động trực tiếp … các thông tin cần cung cấp là hình thức tăng, giảm, di chuyển lao động, được phân loại theo các tiêu thức được phân loại như: Trình độ thành thạo nghề nghiệp của người lao động Những thông tin đó
là căn cứ để hạch toán và thanh toán lương cho người lao động Để theo dõi số lượng lao động, các doanh nghiệp thường sử dụng: Số danh sách theo dõi lao động, được mở cho toàn doanh nghiệp và cho từng bộ phận lao động Số còn lại
mở cho từng loại lao động như ngành nghề, trình độ chuyên môn
2.1.6.3 Hạch toán thời gian lao động
Tổ chức hạch toán thời gian lao động, có nhiệm vụ phản ánh kịp thời chính xác số ngày công, giờ công làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất, nghỉ việc của từng lao động, từng đơn vị sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp Việc
tổ chức thời gian lao động, có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động, làm căn cứ cho việc tính lương, tính thưởng chính xác tới người lao động
Nội dung hạch toán tổ chức thời gian lao động, là tổ chức hoạt động một số chứng từ sổ sách như bảng chấm công, dùng để theo dõi thời gian làm việc thực
tế, nghỉ việc, vắng mặt của người lao động Bảng này được lập chi tiết cho từng
bộ phận (phòng ban) và được dùng trong tháng Ngoài ra, còn một số chứng từ khác như: Phiếu làm them giờ, phiếu làm đêm, phiếu nghỉ việc do những lý do tạm thời khác
2.1.6.4 Hạch toán kết quả lao động
Tổ chức hạch toán kết quả lao động, phải đảm bảo đưa ra được chính xác các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng sản phẩm, khối lượng công việc từng người, từng bộ phận Đây vừa là chỉ tiêu, vừa là căn cứ tính lương, tính thưởng
Trang 22cho công nhân, kiểm tra tình hình thực hiện định mức lao động của từng người, từng bộ phận của doanh nghiệp Hạch toán tổ chức kết quả lao động được thực hiện trên các chứng từ ban đầu thích hợp.
Kế toán sử dụng các loại chứng từ khác nhau, tùy theo loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp Mặc dù sử dụng các loại chứng từ khác nhau, nhưng các chứng từ này đều bao gồm các nội dung cần thiết như: Tên công nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao động, số lượng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu, kỳ hạn và chất lượng công việc hoàn thành … Đó chính
là các báo cáo và kết quả như: Phiếu giao nhận sản phẩm, phiếu khoán, hợp đồng giao khoán, phiếu báo làm thêm giờ, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, bảng kê năng suất tổ, bảng kê khối lượng công việc hoàn thành, bảng kê sản lượng từng người …
Chứng từ hạch toán lao động phải do người lập ký (tổ trưởng), cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận, được lãnh đạo duyệt y (quản đốc phán xưởng, trưởng bộ phận) Sau đó, được chuyển cho nhân viên hạch toán phân xưởng để tổng hợp kết quả lao động toàn đơn vị, rồi chuyển về phòng lao động tiền lương xác nhận Cuối cùng chuyển về phòng kế toán để làm căn cứ tính lương, tính thưởng Để tổng hợp kết quả lao động, tại mỗi phân xưởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động, do các tổ gửi đến, hàng ngày (hoặc định kỳ), nhân viên hạch toán phân xưởng ghi kết quả lao động của từng người, từng bộ phận vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý liên quan Phòng kế toán doanh nghiệp phải
mở sổ tổng hợp lao động, để tổng hợp kết quả chung của toàn doanh nghiệp
2.1.7 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
2.1.7.1 Kế toán tổng hợp tiền lương
Hạch toán tổng hợp tiền lương phải trả cho người lao động kế toán sử dụng
TK (tài khoản) 334 – Phải trả người lao động Tài khoản này dùng để phản ánh
Trang 23các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân và những người làm hợp đồng của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản khác thuộc về thu nhập của công nhân và người lao động.
a) Kết cấu và nội dung TK 334
- Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản phải trả khác
cho công nhân viên
b) Phương pháp hạch toán phải trả người lao động
Căn cứ để hạch toán tiền lương phải trả công nhân viên là các bảng chấm công, bảng nghiệm thu khối lượng sản phẩm công việc hoàn thành và các chứng
từ khác có liên quan Tài khoản để sử dụng hạch toán là TK334 và các TK khác
có liên quan: TK 622, 627, 641, 642, 241, 141, 338, …
Phương pháp hạch toán tổng quát được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 24Sơ đồ 2.1: Sơ đồ hạch toán tổng quát tiền lương
(Nguồn: Theo QĐ 15 của Bộ Tài Chính)
Các khoản khấu trừ vào
tiếp cho CNV
Trích mức lương phép Lương phép
TT trả
Trang 252.1.7.2 Kế toán tổng hợp BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
Khi phản ánh tình hình thanh toán và trích lập, sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ kế toán sử dụng TK338 – Phải trả, phải nộp khác Khi hạch toán thì kế toán sử dụng các tài khoản cấp hai để theo dõi từng tài khoản:TK338.2: Kinh phí công đoàn
TK338.3: Bảo hiểm xã hội
TK338.4: Bảo hiểm y tế
TK338.9: Bảo hiểm thất nghiệp
TK338.2 – Kinh phí công đoàn
Đây là tài khoản nguồn, nội dung TK338.2 phản ánh tình hình trích và thanh toán KPCĐ ở đơn vị Kết cấu như sau:
Bên Nợ:
- Phản ánh chi tiêu KPCĐ tại doanh nghiệp
- KPCĐ đã nộp cho công đoàn cấp trên
TK338.3 – Bảo hiểm xã hội
Là tài khoản phản ánh nguồn, nội dung TK338(3) phản ánh nguồn hình thành BHXH, thanh toán BHXH đối với người lao động Kết cấu:
Bên Nợ:
- BHXH đã thanh toán với công nhân viên tại đơn vị
- BHXH đã nộp cho cơ quan quản lý
Bên Có:
- Trích BHXH vào chi phí sản xuất kinh doanh cho từng đối tượng
- Khấu trừ BHXH vào thu nhập của công nhân viên
Trang 26- BHXH chi vượt được cấp bù.
- Trích BHYT vào chi phí sản xuất kinh doanh
- Trích BHYT tính vào lương của công nhân viên
Số dư Có:
- BHYT đã trích để mua BHYT cho công nhân viên
TK338.9 Bảo hiểm thất nghiệp
Là tài khoản dùng để phản ánh tình hình trích và thanh toán BHTN cho đối tượng là người lao động trong đơn vị
Bên Nợ:
- BHXH đã thanh toán với công nhân viên tại đơn vị
- BHXH đã nộp cho cơ quan quản lý
Bên Có:
- Trích BHXH vào chi phí sản xuất kinh doanh cho từng đối tượng
- Khấu trừ BHXH vào thu nhập của công nhân viên
Phương pháp hạch toán được thể hiện qua sơ đồ:
Trang 27Sơ đồ 2.2: Sơ đồ hạch toán BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
(Nguồn: Theo QĐ 15 của Bộ Tài Chính)
TK 334
BHXH,BHYT,BHTN khấu trừ vào lương của CNV
TK 338(2,3,4,9)
TK 334
TK 111,112
Chi KPCĐ, BHXH tại doanh nghiệp
TK 641,642,622,627
TK 111,112
Nhận tiền cấp bù của Quỹ BHXH
Trang 282.1.7.3 Chứng từ kế toán:
Hàng tháng kế toán căn cứ vào bảng chấm công để lập bảng thanh toán tiền lương, sau đó tính tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người lao động Khoản thanh toán trợ cấp BHXH cũng được lập tương tự Kế toán căn cứ vào
“Phiếu nghỉ hưởng BHXH” để lập bảng thanh toán BHXH cho người lao động
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu của đề tài, ta cần dùng các phương pháp sau đây:
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
- Thu thập từ các văn bản luật, chính sách, quyết định của Bộ Tài Chính
về các quy định, chuẩn mực kế toán hiện hành, sách, báo, tạp chí và kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài… phục vụ cho khái quát cơ sở lí luận của đề tài, từ đó đi sâu vào nghiên cứu
- Thu thập các số liệu, dữ liệu từ nguồn dữ liệu tại các phòng ban trong công ty cụ thể: Thu thập các văn bản, tài liệu của công ty như báo cáo tài chính, thống kê lao động, các quy định, hồ sơ công ty để phân tích tình hình cơ bản của công ty Thu thập các chứng từ như hóa đơn mua bán hàng hóa, các bảng kê khai các loại sổ sách phục vụ cho việc phân tích mô tả công tác kế toán tiền lương tại công ty
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý bằng phần mềm excel
- Xử lý bằng phần mềm kế toán: Phần mềm kế toán bưu điện
Trang 292.2.3 Phương pháp chuyên môn kế toán
- Phương pháp tổng hợp và cân đối: Là phương pháp khái quát tình hình tài sản và kết quả kinh doanh của đơn vị hạch toán của từng thời kỳ nhất định bằng cách lập các báo cáo có tính tổng hợp và cân đối như: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ …
- Phương pháp chứng từ kiểm kê: Phương pháp này sẽ giúp chúng ta có được những thông tin và kiểm tra được sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Từ đó, căn cứ vào nguyên tắc hạch toán kế toán theo quy định của Bộ tài chính (BTC) mà chúng ta biết được phương pháp hạch toán kế toán tiền lương
và các khoản trích theo lương của Công ty có tuân thủ đúng quy định của Bộ Tài Chính hay không? Hạch toán tiền lương dựa trên các chứng từ gốc như: Bảng thanh toán lương, Phiếu báo làm thêm giờ … Kiểm kê là phương pháp dùng để kiểm tra tại chỗ tình hình hiện có của các loại tài sản, vật tư, tiền vốn,… để đối chiếu với số liệu ghi trong sổ kế toán, nhằm phát hiện những chênh lệch và có biện pháp xử lý kịp thời
- Phương pháp tính giá: Là phương pháp thông tin và kiểm tra về chi phí trực tiếp và gián tiếp cho từng loại hoạt động Phương pháp này dùng để tính ra đơn giá ngày công cho cán bộ công nhân viên trong công ty
- Phương pháp tài khoản và ghi sổ kép: Phương pháp tài khoản sử dụng để phân loại đối tượng chung của kế toán thành các đối tượng kế toán cụ thể để ghi chép phản ánh và kiểm tra có hệ thống tình hình và sự vận động của từng đối tượng kế toán Cùng với đó, ghi sổ kép là phương thức phản ánh các nghiệp vụ phát sinh vào tài khoản kế toán theo quan hệ đối ứng vốn có với cùng một số tiền bằng nhau, từ đó áp dụng để hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Trang 30PHẦN 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Tên doanh nghiệp: Công ty Viễn thông quốc tế
- Tên giao dịch Quốc tế: Vietnam Telecom International (VTI)
- Địa chỉ: 97 Nguyễn Chí Thanh – Ba Đình Hà Nội
- Công ty Viễn thông quốc tế (VTI), được thành lập vào ngày 31/03/1990, theo Quyết định số 374/QĐ – TCBĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, được thành lập lại theo Quyết định số 423/QĐ – TCBĐ ngày 09/09/1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, là doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực Viễn thông Quốc tế
Công ty Viễn thông Quốc tế (gọi tắt là Công ty): Là tổ chức kinh tế - đơn
vị thành viên, hạch toán phụ thuộc vào Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn, có bộ máy quản lý và điều hành, có con dấu theo mẫu của doanh nghiệp Nhà nước, được mở tài khoản
ở Ngân hàng trong và ngoài nước theo quy định của Nhà nước, Quản trị tài chính của Tập đoàn
Được coi là “mắt xích”, là khâu đột phá trong chiến lược phát triển của ngành Bưu chính – Viễn thông, Viễn thông quốc tế là lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu Năm 1991, công ty được tiếp nhận quản lý hợp đồng hợp tác kinh doanh 10 năm trong lĩnh vực Viễn thông quốc tế giữa Tổng công ty Bưu chính
Trang 31Viễn thông Việt Nam (VNPT) ký kết với hãng Viễn thông Telstra của Australia Trong giai đoạn này, công ty đã tổ chức và đào tạo được một đội ngũ kỹ thuật và cán bộ có trình độ cao, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi trong chiến lược tăng tốc của ngành.
Năm 1996 là mốc đánh dấu giai đoạn phát triển cao nhất của VTI Mạng lưới Viễn thông Quốc tế trong giai đoạn này đã được trang bị trên cả ba miền và đồng bộ phần lớn các hướng đi quốc tế Bên cạnh những dịch vụ truyền thông như: Điện thoại, điện báo, Telex … VTI đã phát triển thêm những dịch vụ mới như: Vinasat, cho thuê kênh riêng, truyền hình hội nghị … Cho đến nay, VTI đã
có mạng lưới liên lạc trực tiếp đến hầu hết các nước trên thế giới, đa dạng hóa các dịch vụ và được tín nhiệm bầu làm thành viên và hội đồng điều hành tổ chức Viễn thông Quốc tế thế giới (ITU)
Hiện nay, Công ty VTI đã ký kết quan hệ làm ăn với hơn 40 tổ chức Viễn thông Quốc tế của hơn 26 nước, có liên hệ với hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu Viễn thông quốc tế
3.1.2 Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
Công ty Viễn thông Quốc tế tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến 3 chức năng, với 3 cấp quản lý Hiện nay công ty có tất cả hơn 1500 cán
bộ công nhân viên, trong đó số lao động quản lý là 115 cán bộ công nhân viên
Trang 32Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy quản lý của công ty Viễn thông quốc tế
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán – thống kê)
PHÒNG KINH DOANH
– HỢP TÁC QUỐC TẾ
PHÒNG KẾ HOẠCH
PHÒNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
BAN QUẢN LÝ
DỰ ÁN
TRUNG TÂM VIỄN THÔNG QUỐC TẾ KHU VỰC 3
TRUNG TÂM VINASAT
Trang 33 Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của bộ phận quản lý:
Ban giám đốc: Gồm 1 phó Giám đốc và 3 phó giám đốc
Giám đốc là người đứng đầu chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước Tập đoàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của công ty.Bên cạnh Giám đốc là 3 phó Giám đốc được Giám đốc ủy quyền phụ trách các lĩnh vực: kinh doanh, kỹ thuật và hành chính
Lãnh đạo và phòng tổng hợp:
Tổng hợp các mặt hoạt động của công ty phục vụ cho công tác điều hành của Giám đốc, việc giao ban định kỳ, công tác sơ kết, tổng kết theo tháng, quý, năm của công ty và tổng hợp các báo cáo văn phòng của Tổng công ty theo quy định Tổng hợp tình hình hoạt động từng ngày của công ty, báo cáo Giám đốc và giải quyết các công việc được Giám đốc ủy nhiệm, đôn đốc, kiểm tra, nhắc nhở các đơn vị thực hiện nhiệm vụ Giám đốc giao Công ty có 3 trung tâm Viễn thông quốc tế khu vực 1, 2, 3 trực thuộc quản lý khai thác mạng Viễn thông quốc tế ở khu vực Bắc, Trung, Nam
Phòng hành chính quản trị:
Tổ chức thực hiện công tác hành chính quản trị và công tác đời sống của cán bộ công nhân viên khối quản lý công ty Quản lý các loại con dấu hành chính của công ty một cách an toàn và theo đúng pháp luật, lưu trữ an toàn các công văn tài liệu theo yêu cầu của đơn vị Quản lý tài sản, mặt bằng làm việc của khối văn phòng công ty
Phòng tổ chức cán bộ - lao động tiền lương:
Có trách nhiệm giúp Giám đốc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các chế
độ chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành về công tác tổ chức nhân sự, công tác tổ chức cán bộ đào tạo, bảo hộ lao động, tiền lương trong toàn công ty
Phòng kinh doanh – hợp tác quốc tế:
Xây dựng kế hoạch chiến lược kinh doanh các dịch vụ Viễn thông quốc
tế Tổ chức thực hiện kinh doanh có hiệu quả dịch vụ Viễn thông quốc tế theo
Trang 34phân cấp quản lý của Tập đoàn và các cấp có thẩm quyền Xây dựng giá cước các dịch vụ Viễn thông để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi đưa dịch vụ vào kinh doanh Quản lý theo dõi đánh giá có hiệu quả các dịch vụ Viễn thông quốc tế và thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Phòng Viễn thông:
Quản lý và khai thác mạng Viễn thông quốc tế, nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển và quy hoạch mạng lưới Viễn thông quốc tế ngắn hạn và dài hạn Điều hành xử lý sự cố thông tin trên mạng lưới Viễn thông quốc tế, đồng thời quản lý công tác khoa học kỹ thuật, công tác biên soạn các quy chế khai thác bảo dưỡng thiết bị trong phạm vi công ty
Phòng kiểm toán nội bộ:
Tổ chức kiểm tra các đơn vị về thực hiện công tác tài chính kế toán thống
kê theo quy định của pháp luật
Phòng thanh toán quốc tế:
Lập kế hoạch doanh thu thanh toán quốc tế hàng năm, tổ chức theo dõi công nợ giữa công ty Viễn thông quốc tế với các đối tác, xử lý các khiếu nại trong thanh toán quốc tế Tổ chức thực hiện việc thanh toán các dịch vụ Viễn thông quốc tế với nước ngoài Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc thanh toán tài chính với các đối tác quốc tế
Phòng đầu tư phát triển:
Quản lý thống nhất hướng dẫn thực hiện các công tác quản lý đầu tư và xây dựng trong công ty, xác định phương hướng xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn về công tác đầu tư phát triển Thực hiện các chức trách nhiệm vụ của chủ đầu tư đối với các dự án đầu tư giao cho các đơn vị trực thuộc thực hiện Kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị thực hiện đúng pháp luật
Phòng kế hoạch:
Tổng hợp cân đối và xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn, và
kế hoạch hàng năm Xây dựng và phân bổ các loại chỉ tiêu kế hoạch hàng năm
Trang 35về phát triển mạng lưới, sản lượng, doanh thu, chi phí của từng dịch vụ Viễn thông quốc tế cho các đơn vị trực thuộc.
Phòng tin học:
Xây dựng phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác tin học trong toàn công ty và tổ chức thực hiện khi được duyệt, tổ chức quản lý và khai thác hệ thống tin học phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty Đề xuất việc quản lý, khai thác, phát triền có hiệu quả hệ thống tin học trong lĩnh vực Viễn thông Quốc tế của Việt Nam
Phòng tài chính – kế toán – thống kê:
Giúp Giám đốc quản lý tài chính, vật tư, tài sản Tổ chức công tác kế toán thống kê về sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản theo điều lệ tổ chức kế toán của Nhà nước và chế độ kế toán của ngành
Quyết toán các công trình xây dựng cơ bản theo phân cấp và duyệt quyết toán hàng năm theo quy chế tài chính của Tập đoàn để trình Giám đốc quyết định
Xây dựng và trình duyệt Giám đốc ký ban hành các quy định về công tác tài chính kế toán thống kê nội bộ của công ty
Phòng tiếp thị bán hàng:
Chịu trách nhiệm quảng bá hình ảnh cùng với việc phân phối dịch vụ của công ty tới người tiêu dùng
3.1.3 Bộ máy kế toán của công ty
Bộ máy kế toán của Công ty Viễn thông quốc tế được hình thành cùng với
sự phát triển của Công ty Bộ máy này được tổ chức gọn nhẹ, phù hợp với cơ cấu tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Do đặc điểm là một đơn vị trực thuộc Tập đoàn Bưu Chính Viễn thông Việt Nam, được hạch toán toàn ngành, công tác kế toán của Công ty mang tính chất độc lập chưa đầy đủ
Trang 36Cũng như ở phần lớn các đơn vị sản xuất kinh doanh khác của ngành Bưu chính Viễn thông, doanh thu của Công ty Viễn thông quốc tế được phân thành hai loại: doanh thu bưu chính viễn thông và doanh thu khác Doanh thu bưu chính viễn thông là doanh thu cước Doanh thu cước được hạch toán toàn ngành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông sẽ căn cứ vào mức độ đóng góp của các bộ phận để phân phối lại doanh thu và lợi nhuận Ngoài ra để đảm bảo quyền tự chủ
và tính năng động sáng tạo, Tập đoàn Bưu chính có cho phép công ty được tiến hành một số hoạt động kinh doanh khác Tại công ty Viễn thông quốc tế, doanh thu khác bao gồm những khoản thu từ kinh doanh, sửa chữa, bảo hành thiết bị viễn thông, …
Đối với mảng doanh thu bưu chính viễn thông, bộ phận kế toán của công ty sau khi hoàn thành các bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính theo biểu mẫu quy định sẽ tiếp tục công việc theo dõi hoạt động kế toán tài chính cho công ty Sau khi các dữ liệu kế toán của các khối sản xuất hoàn thành sẽ được chuyển toàn bộ cho bộ phận văn phòng của công ty mà cụ thể là phòng Tài chính kế toán thống kê Tại đây, các cán bộ của phòng sẽ xử lý các số liệu nhận được Từ
đó, lập báo cáo tài chính, quyết toán trả lương cho cán bộ công nhân viên trong công ty, báo cáo lên lãnh đạo công ty và tiếp tục báo cáo lên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Như vậy, việc tổ chức hạch toán kế toán của Công ty Viễn thông quốc tế đều thuộc về trách nhiệm của các cán bộ phòng Tài chính kế toán – thống kê Từ việc thu thập, xử lý thông tin kinh tế, phục vụ cho công tác quản lý, lãnh đạo công ty có thể kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh của công ty, giám sát việc
sử dụng nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán, nâng cao hiệu quả sản xuất và thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo theo quy định Dưới đây là sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty:
Trang 37Sơ đồ 3.2: Sơ đồ bộ máy kế toán
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán – thống kê)
Trong bộ máy kế toán của công ty, kế toán trưởng là người đứng đầu, chịu trách nhiệm chung về công tác kế toán tài chính của công ty Phó phòng kế toán
là người đứng thứ hai trong bộ phận kế toán của công ty, có trách nhiệm giúp kế toán trưởng phân công công việc cho phù hợp và định hình các vấn đề vướng mắc và giải quyết chúng khi không có mặt kế toán trưởng tại công ty Sau đó báo cáo tình hình chung cho kế toán trưởng
Sự phân công công việc cụ thể trong phòng Tài chính kế toán – thống kê của Công ty như sau:
- Kế toán doanh thu công nợ: Chịu trách nhiệm về mảng doanh thu của công
ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh, về mảng thu chi công nợ với khách hàng
- Kế toán ngân hàng: Chịu trách nhiệm về lĩnh vực có qua quyết toán, giao dịch với ngân hàng
Kế toán trưởng
Phó phòng kế toán
Kế toán ngân hàng
Kế toán chuyên quản
Kế toán tổng hợp
Kế toán XDCB
Kế toán tiền mặt, lương
Kế toán thuế
Trang 38- Kế toán chuyên quản: Chịu trách nhiệm về lĩnh vực kế toán của các khối trực thuộc công ty như: Trung tâm Viễn thông 1, Trung tâm Viễn thông 2, Trung tâm Viễn thông 3, Trung tâm Vinasat, Ban quản lý dự án.
- Kế toán tổng hợp: Làm nhiệm vụ tổng hợp trên tất cả các sổ sách của công
ty Bộ phận kế toán này có trách nhiệm lập báo cáo tài chính và báo cáo kế toán nội bộ khi lãnh đạo cấp trên có yêu cầu
- Kế toán XDCB: Có trách nhiệm về lĩnh vực XDCB của công ty
- Kế toán tiền mặt, tiền lương: Chịu trách nhiệm về mảng thu chi bằng tiền mặt, tạm ứng, quyết toán công tác phí, lập bảng thanh toán lương, tính lương cho cán bộ công nhân viên trong công ty
- Kế toán thuế: Theo dõi các hóa đơn đầu vào và đầu ra của công ty Từ đó, hạch toán thuế GTGT, TNCN, TNDN và các loại thuế khác mà công ty có nghĩa
vụ phải nộp
Các phần hành kế toán của công ty có các nhiệm vụ khác nhau nhưng giữa các bộ phận có sự liên kết chặt chẽ, mật thiết trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình
- Phương pháp trích khấu hao: Công ty áp dụng theo phương pháp trích khấu hao theo đường thẳng để tính khấu hao TSCĐ và tính khấu hao theo năm
Hiện tại công ty đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký ghi sổ Ta có sơ
đồ luân chuyển chứng từ của hình thức sổ như sau:
Trang 39Sơ đồ 3.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
Công ty áp dụng ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ, đảm bảo thống nhất trình tự ghi sổ, tổng hợp, lập báo cáo kế toán và sử dụng máy vi tính vào công tác kế toán
3.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty
Tài sản và nguồn vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu của mỗi doanh nghiệp,
nó là tiền đề vật chất cơ bản đảm bảo cho sự ra đời và hoạt động của tất cả các doanh nghiệp Với Công ty Viễn thông quốc tế cũng vậy, tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty được thể hiện qua bảng sau:
Trang 40Bảng 3.1: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty qua 3 năm
ĐVT: VNĐ
A Tài sản ngắn hạn 100 863.240.804 995.782.709 1.085.592.690
II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 120
III Các khoản phải thu ngắn hạn 130 808.585.144 873.910.243 886.859.339
1 Phải thu khách hàng 131 1.190.606.957 968.911.710 758.221.495
2 Trả trước cho người bán 132 6.667.274 9.063.392 10.461.044
3 Phải thu nội bộ ngắn hạn 133 145.021.507 163.921.856 186.823.210
4 Các khoản phải thu khác 135 4.922.808 2.681.675 120.444
5 Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi 139 -538.633.402 -270.668.390 -68.766.854
2 Thuế GTGT được khấu trừ 152
3 Thuế và các khoản phải thu nhà nước 158 197.034 58.709 56.149
1 Chi phí trả trước dài hạn 261 7.580.665 8.019.143 8.608.755
3 Người mua trả tiền trước 313 928.726 954.877 983.437
4 Thuế và các khoản phải trả nhà nước 314 30.182.815 18.545.286 14.946.524
5 Phải trả người lao động 315 16.128.408 25.629.077 38.282.597