SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5; SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5; SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5; SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5; SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5; SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5; SKKN VĂN 5 Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5;
Trang 1MỤC LỤC
1 Cơ sở đề xuất giải pháp 2
1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp 2
1.2 Mục tiêu của giải pháp 2
1.3 Các căn cứ đề xuất giải pháp 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
2 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp 4
2.1 Quá trình hình thành nên giải pháp 4
2.2 Thực trạng 5
2.3 Nội dung giải pháp 6
3 Hiệu quả áp dụng 19
4 Kết luận và kiến nghị 19
4.1 Kết luận 19
4.2 Kiến nghị 20
Tài liệu tham khảo 23
Trang 21 Cơ sở đề xuất giải pháp:
Mục đích, tầm quan trọng là như vậy, nhưng thực tiễn hiện nay rất hiếm gặpnhững: “ mầm non” văn học, hiếm gặp những bài văn hay in đậm dấu ấn “họctrò Tiểu học” Phần lớn bài văn của các em mang phong cách “khiểu ngữ” nôm
na Khá hơn chút nữa là sự đủ ý nhưng khô khan, “na ná” giống văn mẫu (văncủa cô, của bạn hoặc trong tài liệu tham khảo)
Mặt khác, theo chương trình sách giáo khoa, việc dạy các kĩ năng bộ phậncủa bài văn được chú trọng hơn trước thì tình trạng viết bài văn chưa đạt, chưahay lại càng phổ biến
Vậy nên vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có được bài văn hay, pháthuy được vốn sống, vốn hiểu biết của các em Có lẽ đây là vấn đề mà nhiều giáoviên trăn trở, muốn tìm những giải pháp thích hợp tháo gỡ được tình trạng trên.Xuất phát từ lý do đó, với kinh nghiệm giảng dạy và trách nhiệm của mình, tôi
xin chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5”
1.2 Mục tiêu của giải pháp:
- Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm của văn tả người, phân biệt được sự khácbiệt giữa văn tả người và các kiểu bài văn khác
- Hình thành khả năng quan sát của các em, giúp các em có sự lựa chọn chitiết để quan sát và miêu tả một cách tinh tế Giúp các em tích lũy vốn từ, biết lựachọn từ ngữ thích hợp để đặt câu văn có hình ảnh, tạo nên những đoạn văn hay.Biết cách sắp xếp ý khi viết bài, xây dựng bố cục rõ ràng, khoa học Có thóiquen sử dụng các biện pháp tu từ, biện pháp nghệ thuật trong viết văn
Trang 3Đứng trước thực trạng viết văn nói chung và thể loại văn tả người nói riêng,tôi thấy cần có những biện pháp cụ thể, thiết thực, khả thi để giúp học sinh viếtvăn tốt hơn Đó chính là mục tiêu nghiên cứu của giải pháp này.
1.3 Các căn cứ đề xuất giải pháp:
- Khảo sát thực tế chất lượng viết văn miêu tả, kiểu bài tả người của học
sinh Từ đó đánh giá được khả năng viết văn của các em
- Dựa vào lý luận dạy học và kinh nghiệm thông qua thực tế để đề ra các giảipháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng viết văn kiểu bài tả người cho họcsinh lớp 5
1.4 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 5C trường Tiểu học
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi áp dụng: Học sinh lớp 5C trường Tiểu học
- Giới hạn lĩnh vực: Đề tài tập trung nghiên cứu về: “Nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5”
1.6 Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được giải pháp này, tôi sử
dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát, khảo sát: Qua khảo sát thực tế dạy học, khảo sát các
bài viết của học sinh lớp 5C trường Tiểu học Tiến hành xem, khảo sát các tàiliệu liên quan
- Phương pháp phân tích: Tiến hành phân tích thực tế sách giáo khoa, thực tếdạy học phân môn Tập làm văn, phân tích những đoạn văn, bài văn của học sinh
để thấy được những ưu điểm và hạn chế về kĩ năng viết văn của học sinh
- Phương pháp tổng hợp: Dựa vào thực tế dạy học và kinh nghiệm của bảnthân dựa vào những lý luận làm cơ sở cho dạy Tập làm văn để đưa ra nhữngbiện pháp cụ thể giúp học sinh viết văn tốt hơn, sinh động hơn bài văn tả người
- Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng những đề xuất, đã đưa những bài tậpluyện viết văn mà giải pháp đã xây dựng để học sinh làm thực nghiệm Dựa vàokết quả đó làm cơ sở đánh giá các biện pháp, các bài tập mà giải pháp đã nêu ra
Trang 42 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp:
2.1 Quá trình hình thành nên giải pháp:
Trong trường tiểu học, phân môn tập làm văn chiếm vị trí quan trọng Tậplàm văn giúp học sinh vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt của các em Mặtkhác, phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh vănbản, góp phần hiện thực hoá mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy Tiếng Việt.Sản phẩm của Tập làm văn là các bài văn viết hoặc nói ở các thể loại dochương trình quy định Do vậy, nhiệm vụ cơ bản của phân môn Tập làm văn làgiúp học sinh nắm được cách viết văn theo nhiều loại phong cách khác nhau Từ
đó góp phần rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách chocác em
Hơn thế nữa, học sinh tiểu học có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, thích khámphá nên cuộc sống xung quanh các em luôn lung linh sắc màu Và các em đãđưa những thơ ngây, lung linh ấy vào bài văn Do đó, bài văn của các em thườngrất chân thật, hồn nhiên và mới lạ Những đối tượng văn tả người đề cập đếnthường là những con người rất gần gũi với các em nên bài văn của các em chứanhiều tình cảm chân thành, xúc động gây ấn tượng tốt cho người đọc
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay các em có rất nhiều hạn chế khi làm văn, đó là:
- Các em thường “sợ” và “ngại” viết văn Do vậy các em chưa tạo cho mìnhmột hứng thú viết văn
- Khi làm bài văn, các em chưa biết cách chọn lọc, lột tả cái riêng của cácđối tượng miêu tả mà thường dùng các nét đặc điểm chung gắn cho mọi đốitượng
- Bài văn của các em thường “na ná” giống nhau Đa phần giống văn của côhoặc chép văn mẫu, tính sáng tạo chưa cao
- Các em chưa có phương pháp làm bài văn cụ thể Việc tiếp thu kiến thứccòn hời hợt
- Số lượng chữ ít dẫn đến bài văn thường ngắn Câu văn thiếu hình ảnh,mang tính liệt kê các nét tả hình dáng, tính cách
Trang 5- Cảm xúc bộc lộ chưa tinh tế.
Tất cả những điều nêu trên cho thấy chất lượng viết văn của học sinh là chưacao Mặt khác, theo sách giáo khoa, thì việc dạy các kĩ năng bộ phận được chútrọng hơn, điều này gây khó khăn cho cá em khi liên kết các kĩ năng đó để tạobài văn Đa phần các em chỉ viết được đoạn văn chứ chưa đảm bảo bài văn
2.2 Thực trạng:
2.2.1 Thuận lợi:
- Ban giám hiệu hết sức quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho việc dạy vàhọc, đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng ca chất lượnggiáo dục
- Đa số học sinh trong lớp có ý thức ham học hỏi, ngoan, biết vâng lời, tíchcực trong giờ học
2.2.2 Khó khăn:
a Đối với giáo viên:
- Khi dạy văn tả cảnh thông thường giáo viên chỉ có con đường duy nhất làhình thành các hiểu biết về lý thuyết, các kỹ năng làm bài qua phân tích các bàimẫu trong sách giáo khoa Chính vì vậy chưa gây hứng thú cho học sinh khi họckiểu bài văn tả người
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa chú trọng việc rèn cho học sinh
kĩ năng quan sát và dùng ngôn ngữ diễn đạt lại những gì mình đã quan sát được.Chưa tổ chức được nhiều hoạt động nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ ở học sinh
- Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn từ ngữ khi miêu tả người của giáo viên cònhạn chế, chưa có những câu văn mượt mà nhưng vẫn chân thực, gần gũi,… Đặcbiệt, khi học sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay hình ảnh chưa hợplí,… giáo viên chưa chỉnh sửa kịp thời nên chưa thổi hồn, làm cầu nối nâng tìnhyêu văn học cho các em
- Bản thân giáo viên đôi khi chưa đầu tư đúng mức cho các tiết dạy Tập làmvăn
Trang 6b Đối với học sinh:
- Phần lớn học sinh không thích học phân môn tập làm văn vì môn này khó
Nó đòi hỏi sự sáng tạo và năng khiếu của các em
- Vốn từ ngữ của các em còn hạn chế nên khi viết văn thường bị lặp lại từ,lời văn chưa lưu loát, diễn đạt chưa trôi chảy, thiếu hình ảnh, cảm xúc
- Nhiều em không nắm được cấu trúc ngữ pháp nên sử dụng dấu câu tùytiện Một số học sinh làm theo văn mẫu hoặc chỉ viết theo gợi ý của giáo viênhướng dẫn Chưa sáng tạo trong cách dùng từ đặt câu
c Đối với phụ huynh:
- Đa số phụ huynh là dân làm nông, ít có điều kiện quan tâm đến con emmình Một số gia đình ở tạm trú có hoàn cảnh khó khăn chưa quan tâm đến con
em mình
- Đa số HS thuộc hoàn cảnh gia đình khó khăn, việc đầu tư về thời gian đểgiáo dục cũng như điều kiện học tập còn hạn chế, đôi lúc còn phó mặt cho nhàtrường hoặc GVCN
2.3 Nội dung của giải pháp:
2.3.1 Cung cấp cho học sinh phương pháp làm văn tả người:
- Học sinh cần nắm được 4 yêu cầu khi làm bài văn tả người:
+ Cụ thể hoá sự vật (tả ai?)
+ Cá thể hoá sự vật (tả như thế nào?)
+ Mục đích hoá sự vật (tả với mục đích gì?)
+ Cảm xúc hoá sự vật (tình cảm, thái độ ra sao?)
- Cung cấp cho học sinh 5 bước làm bài văn tả người:
+ Bước 1: Tìm hiểu đề
+ Bước 2: Quan sát, tìm ý
+ Bước 3: Lập dàn ý
+ Bước 4: Viết bài
+ Bước 5: Kiểm tra lại bài
- Cụ thể ở mỗi bước, giáo viên cần làm những việc như sau:
Trang 7* Bước 1: Tìm hiểu đề.
Tác dụng giúp học sinh xác định được yêu cầu của đề, tránh lạc đề
Cách thực hiện: Hướng dẫn các em làm các thao tác sau:
- Sửa lỗi từ, câu, dấu câu
- Sửa lỗi đoạn
- Thêm nội dung, chi tiết hay
Trang 82.3.2 Tích hợp mở rộng vốn từ cho học sinh:
2.3.2.1.Tích lũy kinh nghiệm, chọn lọc hình ảnh qua các bài tập đọc:
Giáo viên cần giúp học sinh tích lũy vốn từ về tả người, tả cây cối qua cácbài tập đọc hay trong sách giáo khoa Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cầnchỉ ra các từ ngữ miêu tả, chọn vài trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, sựsáng tạo của nhà văn khi sử dụng nó
Ví dụ: Trong bài tập đọc: “Bàn tay mẹ”
Cần đi sâu khai thác hình ảnh: “Đôi bàn tay mẹ gầy gầy, xương xương, sờvào thấy ram ráp.”
Hoặc bài: “Bà cụ bán hàng nước chè” Cần đi sâu vào khai thác hình ảnh
đặc sắc như: “Mái tóc cụ trắng hơn cả mớ tóc của các diễn viên tuồng chèo hayđóng vai các bà cụ nhân đức” Hình ảnh đó đã khắc hoạ nên một bà cụ đẹp lão,hiền hậu và tốt bụng
2.3.2.2 Mở rộng vốn từ trong môn Luyện từ và câu:
Ở những tiết Luyện từ và câu, giáo viên cho học sinh được mở rộng vốn từqua các tiết dạy về từ cùng nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ láy, từ ghép,…sau đó lựa chọn chép vào sổ tay
Ví dụ: Cho học sinh làm bài tập sau:
Bài 1: Tìm các từ đồng nghĩa miêu tả:
- Vóc dáng cao lớn của một người (cao cao, cao lớn, lênh khênh, vạm vỡ, )
mịn màng, tai tái, vàng vọt, ngăm ngăm,
Trắng như trứng gà bóc
Trang 9…Đôi mắt Long lanh, đen láy, tròn xoe, hấp háy,
ngơ ngác,
Mắt phượng mày ngài
Khuôn mặt Trái xoan, tròn trĩnh,bầu bĩnh, vuông
chữ điền,hao gầy,…
Giọng nói
Oang oang,nhỏ nhẹ, ấm áp,trầm ấm,thánh thót, lảnh lót,
Ăn to nói lớn
Người khôn nói tiếngnhẹ nhàng dễ nghe.Tính tình Hiền lành, nhân hậu, dịu dàng, đảm
đang,… xấu, dữ dằn,độc ác, thô tục,…
Hiền như bụt
Dữ như cọp
2.3.2.3 Sử dụng một số biện pháp tu từ vào viết văn:
a So sánh: Để giúp các em biết cách chọn hình ảnh so sánh khi viết văn, tôi
cho các em làm các bài tập sau:
+ Đen dài như dòng suối (tả cô giáo, mẹ)
+ Đen óng, mượt như tơ (tả bạn, tả em bé)
Trang 10- Đôi mắt:
+ Sáng như sao
+ Như vành trăng khuyết (ngủ)
+ Như hòn bi ve long lanh
+ Mái tóc của mẹ em rất dài
+ Hàm răng của cô rất trắng
Mục đích của bài tập trên là giúp học sinh viết được những câu văn tả ngoạihình có biện pháp so sánh
Giáo viên hướng dẫn chọn các hình ảnh so sánhđó là: Đôi mắt, mái tóc,hàm răng
Ví dụ:
+ Đôi mắt em bé ngủ giống như vầng trăng khuyết
+ Mái tóc mẹ óng ả như dòng suối mát
+ Hàm răng của cô trắng đều như hàng ngô nếp
Khi đọc lên sẽ thấy câu văn có hình ảnh hơn
b Nhân hoá: Biện pháp này thường được dùng nhiều trong văn tả cảnh để
biến các vật như : mây, gió, trăng, hoa… thành có hồn Song trong văn tả người,
tả cây cối nếu biết dùng nhân hoá thì giá trị tăng lên rất nhiều
Ví dụ: Cho học sinh phân tích để hiểu giá trị của các câu sau:
Tả em bé:
+ Bé đùa giỡn cùng chị gió Ánh trăng rắc phấn trên khuôn mặt bụ bẫm.Màn đêm ngủ trong đôi mắt thơ ngây
Hoặc khi tả mẹ:
Trang 11“Giọt nắng nhảy trên lưng mẹ, trốn chạy trên từng nếp nhăn của khuôn mặthao gầy ấy và giọt nắng cười trong đôi mắt yêu thương.”
Hình ảnh “chị gió”; “ánh trăng rắc “màn đêm ngủ,…” “giọt nắng nhảy,trốn, cười ” đã khắc hoạ những nét đẹp nhất về ngoại hình của bé, của mẹ Câuvăn chứa đựng một cảm xúc chân thành mà tinh tế Bài văn vì thế trở nên cóhình ảnh hơn
2.3.2.4 Tập dùng đảo ngữ:
Khi học sinh đã hiểu khái niệm đảo ngữ, hiểu được tác dụng của đảo ngữ,giáo viên cho học sinh tập dùng đảo ngữ để viết văn
Ví dụ: Dùng đảo ngữ để viết lại những câu văn sau cho sinh động:
+ Tính Hằng rất hồn nhiên ngây thơ
+ Hà mặc cái áo đỏ chót, mái tóc đuôi gà vắt vẻo
+ Đôi mắt Lan to, đen tròn, ngơ ngác
Mục đích của bài tập này giúp học sinh biết cách viết nhấn mạnh vào đặcđiểm cần miêu tả, làm cho câu văn có điểm” nhấn” hơn
Đáp án:
+ Hồn nhiên ngây thơ là nét đáng yêu của Hằng
+ Đỏ chót một màu áo, vắt vẻo một đuôi gà đó là bạn Hà của tôi
+ To, đen tròn, ngơ ngác, mắt bé Lan thật đẹp
Rõ ràng câu văn đã khắc hoạ nổi bật các đặc điểm tiêu biểu của đối tượngmiêu tả Giáo viên cùng lưu ý học sinh chỉ dùng đảo ngữ trong các trường hợpnhấn mạnh các đặc điểm về ngoại hình hoặc tính cách tiêu biểu, đặc sắc Tránhlạm dụng dùng đảo ngữ
Như vậy, khi học sinh biết sử dụng các biện pháp tu từ vào viết văn thì chắcchắn rằng câu văn của các em sẽ hay hơn, có hồn hơn Có được những câu vănnhư vậy thì bài văn của các em sẽ có “đốm sáng” tạo nên nét nổi bật trong bài
2.3.2.5 Tập viết câu văn, đoạn văn sinh động:
Việc áp dụng các biện pháp tu từ vào viết văn đã là bước “ khởi động” đểhọc sinh tiếp tục có được những câu văn, đoạn văn sinh động Sinh động là sự
Trang 12kết hợp giữa cái hay của các biện pháp tu từ với sự hiểu biết, cảm nhận của họcsinh và cảm xúc chân thành kết hợp được 3 yếu tố đó, dứt khoát có được nhữngcâu văn sinh động.
Ví dụ: Bài 1: So sánh các cặp câu sau và cho biết câu văn nào hay hơn?
1a Khuôn mặt bà nhăn nheo
1b Những tháng ngày vất vả, cực nhọc hằn sâu trong từng nếp nhăn trênkhuôn mặt phúc hậu của bà
2a Mẹ đang khâu áo cho em
2b Mẹ ngồi đó, dáng nghiêng nghiêng, cặm cụi từng đường kim, mũi chỉđều chứa chan tình yêu thương của mẹ dành cho em
Mục đích của bài tập này giúp các em biết chọn lựa những câu văn sinhđộng
Đáp án:
Học sinh phát hiện câu 1.b,2.b hay hơn vì nó là sự kết hợp của sự hiểu biếtvới cảm xúc chân thành, sự đánh giá về nỗi vất vả của bà, tình yêu thương của
mẹ Qua đó, khắc sâu cho học sinh cách viết có cảm xúc
Bài 2: Hãy viết lại đoạn văn sau cho sinh động hơn:
“Bà đã già Lưng còng, da nhăn nheo Tóc bà bạc rụng gần hết Đôi mắt mờđục, hàm răng cái còn cái mất.”
Mục đích của bài tập này là giúp học sinh viết lại đoạn văn sinh động hơnbằng cách phát triển từ, dùng tu từ, lồng cảm xúc vào câu văn Tôi hướng dẫnhọc sinh phải biết liên tưởng các nét như: lưng còng, tóc bạc, mắt mờ, da nhănnheo” với những nỗi vất vả của cuộc đời Từ đó thể hiện lòng yêu thương, kínhtrọng bà
Đáp án: “Bà đã già lắm rồi Chiếc lưng còng rạp như cả cuộc đời bà nặng
gánh những lo toan, cực nhọc Từng nếp nhăn trên khuôn mặt, nơi khoé mắt như nếp gấp của những tháng ngày vất vả, dãi nắng, dầm mưa Mái tóc lơ phơ, bạc trắng kia như nhuộm cả trời sương, gió Hàm răng cái còn, cái mất như
Trang 13những buồn vui trong cuộc đời khó nhọc Đôi mắt mờ đục kia đã sáng soi cho bao cuộc đời con cháu.”
Vốn sống, cảm xúc chân thành được bộc lộ dưới các biện pháp tu từ sẽ tạonên “linh hồn” cho bài văn
2.3.2.6 Các kĩ năng, thủ pháp trong văn tả người:
a Tập viết mở bài: Trong chương trình dạng văn tả người cũng có hướng
dẫn học sinh cách làm mở bài Tuy nhiên học sinh mới hiểu phần lý thuyết màchưa biết cách làm thế nào cho hay và sinh động Để học sinh viết tốt phần mởbài, giáo viên cần cho học sinh hiểu thế nào là mở bài trực tiếp, gián tiếp, ưunhược điểm của từng loại
* Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay đối tượng miêu tả.
+ Ưu điểm: Ngắn gọn, tự nhiên, giản dị
+ Nhược điểm: Nếu mở bài không khéo sẽ gây cảm giác khô khan, ít hấpdẫn Ở kiểu mở bài này, giáo viên hướng dẫn như sau:
Ví dụ: Tả mẹ: “Trong gia đình, người em yêu quý nhất là mẹ.”
Tả bạn: “Cả lớp em, ai cũng yêu quý bạn An.”
* Mở bài gián tiếp: Là nói chuyện khác liên quan đến người định tả Có
nhiều cách mở bài gián tiếp như:
+ Bằng một câu thơ, câu hát
+ Bằng một điểm riêng của người định tả
+ Bằng một tình huống bất ngờ
+ Bằng một lời đối thoại…
Ví dụ: Đề bài: “Tả mẹ của em”
Giáo viên cho học sinh luyện tập làm phần mở bài bằng cách thi làm mở bàigián tiếp theo nhóm và theo các cách vừa hướng dẫn, sau đó bình chọn mở bàihay nhất Tôi đã thực hiện và chọn được một số mở bài sau:
+ Mở bài bằng các câu thơ, câu hát:
“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…Nghe câu hát ấy lòng em lại xốn xang bao cảm xúc Nỗi niềm nhớ về mẹ kính yêu lại trào dâng”