1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận chính sách đối ngoại việt nam sau hơn 30 năm đổi mới

22 47 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 68,52 KB
File đính kèm Tiểu luận Chính sách.rar (65 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở trong nước, Việt Nam phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng, kéo dài. Về đối ngoại, Việt Nam phải đương đầu với tình trạng bị cô lập về chính trị, bị bao vây cấm vận về kinh tế. Trong khi đó, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra như vũ bão, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa nổi lên, đặt ra những cơ hội và thách thức cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia đều ưu tiên cho phát triển kinh tế, quá trình giao lưu và thâm nhập qua lại giữa các quốc gia ngày càng trở nên sôi động và chặt chẽ. Sự đơn lẻ của mỗi quốc gia trở nên hết sức mong manh trước những rủi ro, biến động của nền kinh tế thế giới, cũng như năng lực quá nhỏ bé không thể giải quyết được những vấn đề mang tính toàn cầu. Trong bối cảnh quốc tế như vậy cũng như nhiều nước khác Việt Nam phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình để thích nghi với điều kiện mới, đây là đòi hỏi khách quan, cấp bách đặt ra cho cách mạng nước ta. Để nhìn lại những kết quả đã đạt được của nền đối ngoại Việt Nam trong hơn 30 năm qua và phương hướng công tác đối ngoại thời gian tới, tôi đã chọn đề tài “Đường lối chính sách đối ngoại của Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới và phương hướng trong thời kỳ hội nhập quốc tế” làm bài thu hoạch cho môn học Quan hệ Quốc tế

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Điểm lại những nét chính của CSĐN Việt Nam sau khi Đổi mới 2

1.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986-1991 2

1.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1991-2000 4

1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay 5

2 Kết quả đạt được của đường lối chính sách và hoạt động đối ngoại của Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới: 8

2.1 Thành tựu của sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới: 8

2.1.1 Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam: 8

2.1.2 Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: 9

2.1.3 Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội: 10

2.1.4 Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: 12

2.1.5 Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân: 13

2.2 Đóng góp của đường lối chính sách và hoạt động đối ngoại của Việt Nam vào thành tựu chung 15

3 Phương hướng của đường lối chính sách và hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế 16

KẾT LUẬN 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hơn ba mươi năm trước đây Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới trongbối cảnh quốc tế có nhiều biến động hết sức phức tạp, nhất là sau khi chế độXHCN bị xoá bỏ ở Đông Âu, Liên Xô tan rã và phong trào cách mạng thế giớitạm thời rơi vào thoái trào Trong những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước tađứng trước những khó khăn rất hiểm nghèo Ở trong nước, Việt Nam phải đốimặt với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, kéo dài Về đối ngoại,Việt Nam phải đương đầu với tình trạng bị cô lập về chính trị, bị bao vây cấmvận về kinh tế Trong khi đó, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ diễn ra như vũ bão, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa nổi lên, đặt ranhững cơ hội và thách thức cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Dưới tácđộng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, các quốcgia đều ưu tiên cho phát triển kinh tế, quá trình giao lưu và thâm nhập qua lạigiữa các quốc gia ngày càng trở nên sôi động và chặt chẽ Sự đơn lẻ của mỗiquốc gia trở nên hết sức mong manh trước những rủi ro, biến động của nền kinh

tế thế giới, cũng như năng lực quá nhỏ bé không thể giải quyết được những vấn

đề mang tính toàn cầu Trong bối cảnh quốc tế như vậy cũng như nhiều nướckhác Việt Nam phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình để thích nghivới điều kiện mới, đây là đòi hỏi khách quan, cấp bách đặt ra cho cách mạngnước ta

Để nhìn lại những kết quả đã đạt được của nền đối ngoại Việt Nam tronghơn 30 năm qua và phương hướng công tác đối ngoại thời gian tới, tôi đã chọn

đề tài “Đường lối chính sách đối ngoại của Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới

và phương hướng trong thời kỳ hội nhập quốc tế” làm bài thu hoạch cho môn

học Quan hệ Quốc tế Do kiến thức và tầm hiểu biết còn hạn chế nên bài viết củatôi không tránh khỏi sai sót rất mong được thầy, cô giáo xem xét và góp ý kiếncho bài tiểu luận được hoàn thiện

Trang 3

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2019.

1.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986-1991:

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) trên cơ sở phân tích đúng tình hình và xuthế quốc tế, đánh giá sát tình hình trong nước, với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đã

đi đến những quyết định có ý nghĩa lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cáchtoàn diện, trước hết là đổi mới về kinh tế

Về đối ngoại, Đại hội VI nêu nhiệm vụ hàng đầu là “tranh thủ điều kiện quốc

tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Triển khaiđường lối đối ngoại đã được Đại hội thông qua, ngày 20-5-1988, Nghị quyết Trungương 13 với chủ đề “giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế” khẳng định rằng, trongbối cảnh thế giới và khu vực hiện nay, nước ta có cơ hội lớn để thực hiện nhiệm vụchiến lược bao trùm đó Trên cơ sở làm rõ một số quan điểm về chiến tranh và hoàbình, an ninh và phát triển, kinh tế với quốc phòng và quan hệ quốc tế, dân tộc vàquốc tế, mở rộng hợp tác quốc tế với đoàn kết quốc tế, quan hệ đồng minh, làm nghĩa

vụ quốc tế…, Nghị quyết đề ra một loạt chính sách nhằm chuyển toàn bộ quan hệ đốingoại của Việt Nam từ đối đầu sang đối thoại, nhằm phá thế bị bao vây, cấm vận, giữvững hoà bình, ổn định và phát triển kinh tế

Trang 4

Nghị quyết đặt nhiệm vụ giải quyết vấn đề Cam-pu-chia lên hàng đầu, đồngthời thúc đẩy đối thoại với các nước ASEAN, Trung Quốc và Hoa Kỳ Với các giảipháp được đưa ra cho vấn đề Cam-pu-chia đều nhận được sự chấp thuận của các bên,ngày 23-10-1991, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết Đồng thời với quátrình chuẩn bị Hiệp định quốc tế về Cam-pu-chia, Việt Nam và các nước ASEAN đãxúc tiến đối thoại trên tinh thần hữu nghị.

Với Trung Quốc, để thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt - Trung,thực hiện chủ trương “ kiên trì và chủ động để bình thường hoá quan hệ Việt -Trung và khôi phục quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước”, Việt Nam đã thựchiện một số bước mạnh mẽ theo hướng hoà dịu, nối lại đàm phán từ tháng 1-1989.Sau khi hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết, đoàn cấp cao của Việt Namsang thăm Trung Quốc (tháng 11-1991), quan hệ Việt Nam – Trung Quốc được bìnhthường hoá, quan hệ giữa hai Đảng cũng được khôi phục

Cùng với những tiến triển trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước, Mỹ cũngrút bỏ sự ủng hộ đối với “Chính phủ ba phái có Khơme đỏ”, bắt đầu đối thoại vớiViệt Nam về vấn đề Cam-pu-chia và các vấn đề hai bên cùng quan tâm Cuộc gặp gỡ

Bộ trưởng ngoại giao hai nước ngày 29-9-1990 đánh dấu một bước hoà dịu trongquan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

Các nước phát triển phương Tây đã lần lượt nối lại quan hệ với Việt Nam, đầutiên là các nước Tây Bắc Âu rồi Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân… Việt Nam đã bình thườnghoá quan hệ với các nước này trước khi bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ vàTrung Quốc

Nhìn lại chặng đường đầu tiên trong công cuộc đổi mới, chủ trương “Hoà bình

để phát triển” đã tạo nên một bước đột phá lớn về mặt ngoại giao, chấm dứt thời kỳnặng nề, đặt nền móng cho việc lập lại quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước

tư bản phát triển, mở đường cho việc sớm thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, mở racục diện mới, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng lại đất nước sau 30

Trang 5

năm chiến tranh và 10 năm khủng hoảng, góp sức đưa đến những thành công to lớn,

có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước

1.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1991-2000:

Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra biến động to lớnvới sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, kéotheo sự thoái trào của phong trào cách mạng, phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế Đây là một tổn thất nặng nề của cách mạng thế giới và cũng là một thiệt thòi lớnđối với Việt Nam Việt Nam không còn đồng minh chiến lược, không còn chỗ dựaquan trọng về chính trị, mất đi một nguồn viện trợ to lớn về kinh tế…Trong khi đó,đất nước lại chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Hơn lúc nào hết,tình hình quốc tế đòi hỏi ngoại giao Việt Nam phải thật tỉnh táo, tiếp tục đổi mới tưduy đối ngoại, nắm vững hơn nữa xu thế quốc tế, tìm cách tiếp cận và tranh thủ cácđối tượng khác nhau trong quan hệ quốc tế

Trên tinh thần đó, Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) thông qua “Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội”, trong đó, về đốingoại đã xác định “Với chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam tuyên bố rằng: ViệtNam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển”(1) Cương lĩnh và Nghị quyết Đại hội đề ra chính sáchđối ngoại đa phương hóa, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, hợp tác và cùng có lợi vớitất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau, trên cơ sở cácnguyên tắc cùng tồn tại hoà bình…”

Nếu như trước đây Việt Nam có phương châm “thêm bạn bớt thù”, thì nay ViệtNam làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới; trước Việt Nam ưu tiênhợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, nay Việt Nam mạnh mẽ đề ra đa phương hoá,

đa dạng hoá quan hệ quốc tế…Đó là những nét sáng tạo, đổi mới tư duy đối ngoạitheo hướng rộng mở, uyển chuyển, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế chungtrên thế giới Theo phương châm đó, ngoại giao tiếp tục thắng lợi, đẩy mạnh các hoạt

Trang 6

động, mở rộng quan hệ với các nước, trước hết là các nước lớn, mở rộng quan hệ vớicác khu vực, các tổ chức quốc tế, tạo thuận lợi cho việc hội nhập kinh tế quốc tế.Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và sau đó nhanh chóng thamgia Hiệp định thương mại tự do ASEAN Trở thành thành viên của ASEAN, ViệtNam hội nhập vào khu vực, gắn kết với các nước trong khu vực có nguyện vọng xâydựng một khu vực hoà bình, an ninh, phát triển, không có vũ khí hạt nhân, có quan hệhữu nghị với tất cả các nước Nguyện vọng đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm vàlợi ích của Việt Nam.

Ngày 3-2-1994, Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn (Bill Clinton) tuyên bố bãi bỏlệnh cấm vận với Việt Nam và ngày 11-7-1995, tuyên bố chính thức bình thường hoáquan hệ với Việt Nam Với việc bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, lần đầu tiên,Việt Nam có quan hệ với tất cả các nước trên thế giới Cũng từ đây, nước ta khaithông được quan hệ với Liên minh châu Âu (EU), để đến ngày 20-10-1990, hai bênchính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Tiếp đến, tháng 7-1995, Việt Nam và EU kýhiệp định khung về hợp tác giữa hai bên Hiệp định này có ý nghĩa to lớn, đánh dấumột giai đoạn mới trong quan hệ giữa Việt Nam và EU Từ Hiệp định khung với cả

EU, quan hệ song phương giữa Việt Nam với từng nước thành viên của EU cũngđược mở rộng thêm

Tiếp tục lộ trình hội nhập khu vực và thế giới, Việt Nam đã chính thức trởthành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)vào tháng 11-1998, ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng là một nỗ lực và thànhcông lớn của Việt Nam trên đường hội nhập, tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu(ASEM) với tư cách là một trong 25 thành viên sáng lập

Trước đây ngoại giao đã “làm kinh tế”, nay với đà hội nhập kinh tế quốc tế, vaitrò của ngoại giao càng lớn hơn, nặng nề hơn Những sự kiện ngoại giao lớn trongnăm 1995 nói riêng và trong những năm cuối của thập niên 90 đã góp phần tạo nênmột vị thế, một hình ảnh mới của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 7

1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay:

Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có thêm những chuyển động lớn với nhữngphức tạp, bất ổn khó lường Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển vớitốc độ cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế thế giới và quốc tế hoá nền kinh tế

và đời sống xã hội Quá trình toàn cầu hoá kinh tế gia tăng cả về chiều rộng và bềsâu, trở thành một xu thế khách quan cuốn hút mọi quốc gia tham gia Toàn cầu hoákinh tế với cốt lõi là tự do hoá thương mại và đầu tư đã giúp các nước mở rộng thịtrường, tranh thủ vốn và công nghệ để phát triển, nhưng cũng đặt ra những thách thứcmới Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia và vịthế quốc gia đó trên trường quốc tế

Trong bối cảnh chung đó, Đảng ta nhận định mặc dù cạnh tranh quốc tế diễn ra gaygắt, chiến tranh và xung đột vẫn diễn ra ở một số nơi trên thế giới, nhưng xu thế hoàbình, hợp tác, đặc biệt là hợp tác về kinh tế, vẫn là chủ đạo Để hội nhập kinh tế quốc

tế, thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010),ngày 27-11-2001, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế quốc tế: “chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nângcao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc quốc gia bảo vệ môitrường”… Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định “thực hiện nhất quánđường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đadạng hoá quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời

mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” Mục tiêu cụ thể được đặt ra lúc này là gianhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đến tháng 11-2006, sau hơn 10 năm đàmphán, Việt Nam được chính thức kết nạp, trở thành thành viên thứ 150 của WTO.Đây là một dấu mốc quan trọng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra nhiềuthuận lợi cho đất nước, phát triển thương mại, tranh thủ đầu tư nước ngoài phát triển

Trang 8

kinh tế Một năm sau khi gia nhập WTO (năm 2007), GDP của Việt Nam tăng8,48%, xuất khẩu đạt 21,5%, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 20,3 tỉ USD.

Bên cạnh những thuận lợi, kết quả đạt được, Việt Nam vẫn còn phải đối mặtvới nhiều khó khăn, thách thức, chẳng hạn, phải chấp nhận sau 12 năm mới đượccông nhận có nền kinh tế thị trường đầy đủ Ngoại giao đã phối hợp với các ngànhliên quan vận động một số nước bạn bè công nhận sớm công nhận Việt Nam có nềnkinh tế thị trường đầy đủ gồm ASEAN, Nga, U-crai-na, Ấn Độ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân và một số nước Nam Mỹ Vượt qua khó khăn, tranh thủ lợi thế mới, ngoại giao đãgóp sức tham mưu, mở đường, làm cầu nối để các cơ quan kinh tế thương mại tiếpxúc, lập quan hệ hợp tác với các cơ quan kinh tế, xí nghiệp nước ngoài Đến nay ViệtNam đã có quan hệ thương mại đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ, trong đó cácđối tác buôn bán lớn nhất là Trung Quốc với 25 tỉ USD thương mại hai chiều (năm2010) và Mỹ 16 tỉ USD (2010)

Thắng lợi ngoại giao trong 10 năm cuối thế kỷ trước và 17 năm đầu thế kỷ này

đã đưa tới và hội tụ nổi bật trong năm 2010 với những hoạt động toàn diện, sôi nổi,đặc biệt là hoàn thành xuất sắc vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 Với cương vị Chủ tịch,Việt Nam đã tổ chức tốt tất cả các hội nghị diễn ra trong năm Chỉ tính riêng tại Hộinghị cấp cao ASEAN 17 và các hội nghị liên quan, Việt Nam đã đón 17 vị Tổngthống, Thủ tướng các nước ASEAN, các nước đối thoại ASEAN và gần 2600 đạibiểu, 900 phóng viên quốc tế Với một lịch hoạt động cấp cao dày đặc (14 hội nghị),Việt Nam đã điều hành thông suốt, êm đẹp, bảo đảm chương trình, thời gian, công tác

lễ tân, hậu cần, thông tin, an ninh, nhưng quan trọng hơn là đã hoàn thành một khốilượng rất lớn nội dung với nhiều vấn đề có tầm chiến lược, phức tạp và nhạy cảm,đưa ra được các định hướng ưu tiên, các giải pháp thoả đáng, các cách ứng xử, cácquyết sách hợp lý, nhận được sự ủng hộ và đồng thuận của nhiều bên

Bên cạnh công tác điều hành với cương vị Chủ tịch ASEAN, ngoại giao đaphương còn được triển khai ở các cấp độ khu vực, liên khu vực và toàn cầu thông qua

Trang 9

các hoạt động tại các diễn đàn ASEM, APEC, G20…Về ngoại giao song phương,trong năm 2018, Việt Nam cũng đạt được những thành công lớn với tất cả các đối táctrọng điểm, mở rộng diện các nước có quan hệ đối tác chiến lược.

2 Kết quả đạt được của đường lối chính sách và hoạt động đối ngoại của Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới:

2.1 Thành tựu của sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới:

Sau hơn 30 năm đổi mới là một chặng đường lịch sử quan trọng trong sựnghiệp phát triển của đất nước và dân tộc Việt Nam Đổi mới mang tầm vóc và ýnghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, là sự nghiệp cách mạng tolớn của nhân dân Việt Nam vì “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập,dân chủ và giàu mạnh” (Hồ Chí Minh), góp phần vào mục tiêu hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của thời đại

2.1.1 Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội của Việt Nam:

Trong quá trình đổi mới, nhờ nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát tình hình thực tiễn thế giới vàtrong nước, từng bước tổng kết thực tiễn khái quát lý luận, khắc phục những quanđiểm ấu trĩ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí và bảo thủ, Đảng Cộng sản Việt Nam đãnâng cao nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam Qua hơn 30 năm đổi mới với 6 nhiệm kỳ đại hội Đảng, mỗi kỳ đạihội đánh dấu một bước tiến rõ rệt trong nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế, chínhtrị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trên con đường đổi mới theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Những thành tựu lý luận về chủ nghĩa xã hội, về xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá đội lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh (bổ sung, pháttriển năm 2011) đã xác định tám đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;

Trang 10

có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sảnxuất tiến bộ phù hợp; cón nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người

có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộctrong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng pháttriển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thếgiới” Cương lĩnh cũng xác định tám phương hướng cơ bản và tám mối quan hệ lớncần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt Có thể coi đó là đường lốichung để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

2.1.2 Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:

Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng xác định phải đổi mới tư duy, trước hết là

tư duy kinh tế

Đảng ta đã quyết định từ bỏ mô hình tập trung bao cấp, chuyển sang phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình kinh tế tổngquát của thời kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hìnhthức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Từng bước hoàn thiện thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnhtranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng,

ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm;đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế trithức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, cóhiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, coi trọngphát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và cácngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình

độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông

Trang 11

thôn mới Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền; thúc đẩy phát triển nhanhcác vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiềukhó khăn, vùng sâu, vùng xa Xây dựng nền kinh tế độ lập, tự chủ, đồng thời chủđộng, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Nhờ có đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và giải pháp phù hợp, trong hơn

30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế gây ấntượng, được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều.Sau 10 năm đổi mới (1996) đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội; sau

25 năm đổi mới (năm 2010) đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém pháttriển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình Trong giai đoạn 2001- 2010,kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm Tổng sản phẩm trongnước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26 lần so với năm

2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1168USD, năm 2014 ước tính khoảng 1900 USD/ người Trong 5 năm 2011-2015, do sựtác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái kinh tế toàn cầu nên nền kinh

tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP bị giảm sút Tuy vậy, tốc độ tăngGDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8% Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch

đề ra Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu

đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 17,5% Cơ cấu kinh tế đượcchuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực côngnghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm xuống Năm 2010, trong cơcấu GDP, khu vực công nghiệp chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khuvực nông nghiệp chiếm 20,6% Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại,đồng bộ; nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng lên ( năm 2013 là 49%), đờisống nhân dân ngày càng được cải thiện

Ngày đăng: 06/10/2021, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w