Các thành tựu phát triển đất nước đã tạo các điều kiện vật chất và nguồn lực để tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của nhân dân. Ðời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt và ngày càng được nâng cao; cùng với việc thúc đẩy bình đẳng xã hội, việc thụ hưởng các quyền con người của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực được nâng lên đáng kể. Những thành tựu đó được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đặc biệt trong lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền giảm nghèo bền vững và quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế vẫn còn đang đặt ra nhiều việc cần làm nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và thúc đẩy ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân nhằm góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do đó, tôi chọn chủ đề “Nâng cao vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm, thúc đẩy Quyền con người trong thời kỳ hội nhập quốc tế” để làm bài thu hoạch cho môn học Lý luận và Pháp luật về Quyền con người.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Quyền con người 2
1.1 Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại 2
1.2 Trong xã hội có phân chia giai cấp, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp 3
1.3 Quyền con người vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, phụ thuộc vào mỗi quốc gia 3
1.4 Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất 4
1.5 Quyền con người có nguồn gốc tự nhiên song phải được pháp luật quy định, không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm 5
2 Chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Quyền con người 6
2.1 Chính sách đối nội 6
2.1.1 Tăng cường và mở rộng dân chủ 6
2.1.2 Phát huy nhân tố con người, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và ưu tiên, chăm lo các gia đình chính sách xã hội 8
2.1.3 Bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý 9
2.1.4 Ngăn ngừa và trừng trị những hành vi vi phạm quyền con người 11
2.1.5 Tăng cường hoạt động giáo dục, phổ biến về quyền con người, quyền công dân 11
2.2 Chính sách đối ngoại 12
3 Một số giải pháp nâng cao vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm, thúc đẩy Quyền con người trong thời kỳ hội nhập quốc tế 14
3.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật 14
3.2 Xây dựng chế độ trách nhiệm và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát 16
3.3 Thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân hóa giàu nghèo 17
3.4 Tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Qua hơn 33 năm Đổi mới, công tác bảo đảm, thúc đẩy quyền con người đạtđược những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong bối cảnh nềnkinh tế từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, đặc biệt với việc đạtđược kết quả toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong ba Quý đầu năm
2019 và kết quả bước đầu chống tham nhũng, đã thúc đẩy củng cố niềm tin củangười dân, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội Chỉ số phát triển bền vữngcủa Việt Nam năm 2017 tăng 20 bậc, lên mức 68/157 quốc gia, vùng lãnh thổ Ansinh xã hội được bảo đảm; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn khoảng7,2% Số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 13,5 triệu, bảo hiểm thất nghiệp đạt11,4 triệu; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 83% Các thành tựu phát triển đất nước
đã tạo các điều kiện vật chất và nguồn lực để tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy tốt hơncác quyền và tự do cơ bản của nhân dân Ðời sống vật chất, tinh thần của nhân dânđược cải thiện rõ rệt và ngày càng được nâng cao; cùng với việc thúc đẩy bình đẳng
xã hội, việc thụ hưởng các quyền con người của nhân dân trên tất cả các lĩnh vựcđược nâng lên đáng kể Những thành tựu đó được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đặcbiệt trong lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền giảm nghèo bền vững và quyền chocác nhóm dễ bị tổn thương Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế vẫncòn đang đặt ra nhiều việc cần làm nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ của nhândân, bảo đảm và thúc đẩy ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dânnhằm góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh Do đó, tôi chọn chủ đề “Nâng cao vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm, thúc đẩy Quyền con người trong thời kỳ hội nhập quốc tế” để làm bài
thu hoạch cho môn học Lý luận và Pháp luật về Quyền con người Do kiến thức vàtầm hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của tôi không tránh khỏi sai sót rất mongđược các giảng viên góp ý kiến cho bài thu hoạch được hoàn thiện
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2019
Trang 3NỘI DUNG
1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Quyền con người
Giống như ở nhiều quốc gia khác, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xácđịnh những tư tưởng và đường lối chỉ đạo về quyền con người làm cơ sở cho việcbảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên thực tế
Nhìn chung, có thể thấy rằng, các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhànước Việt Nam về quyền con người được hình thành, đúc rút từ các yếu tố cơ bảnthể hiện:
1.1 Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại
Theo Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ươngĐảng: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đạicủa nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quảcủa cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con ngườitrở thành giá trị chung của nhân loại”.1 Về vấn đề này, trong bài phát biểu tại Hộinghị Thế giới về Quyền con người lần thứ hai tổ chức tại Viên (Áo), tháng 6 năm
1993, Phái đoàn Việt Nam cũng khẳng định: Quyền con người là một phạm trùtổng hợp, vừa là“chuẩn mực tuyệt đối” mang tính phổ biến, vừa là“sản phẩm tổnghợp của một quá trình lịch sử lâudài”
Quan điểm coi quyền con người là giátrị chung củatoàn nhân loại về cơ bảncũng là quan điểm chung của cộng đồng quốc tế Cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc
B Gali đã từng khẳng định: quyền con người là ngôn ngữ chung của nhân loại.Quan điểm này cũng được gián tiếp phản ánh trong hệ thống văn kiện pháp lý vềquyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức liênchính phủ khácthông qua từtrước tới nay, thể hiện ở việc xácđịnh tính phổ biến của quyền con người, theo đó,quyền con người là những gìbẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bìnhđẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối
xử vì bất cứ lý do gì như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo,độ tuổi, thànhphần xuất thân
Trang 41.2 Trong xã hội có phân chia giai cấp, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp
Theo Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ươngĐảng: "Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con ngườimang tính giai cấp sâu sắc" Cũng liên quan đến vấn đề này, Chỉ thị số41/2004/CT-TTg ngày 02-12-2004 của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “…cuộcđấu tranh trên vấn đề quyền con người là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâusắc, sẽ diễn ra liên tục, lâu dài và quyết liệt”
Liên quan đến vấn đề trên, nhiều nhà nghiên cứu về quyền con người trênthế giới chorằng, mặc dù xét về bản chất, quyền con người là những giá trị chungcủa toàn nhân loại, là sự kết tinh của những giá trị văn hóa tốt đẹp nhất của tất cảcác dân tộc sau một quá trình phát triển lịch sử lâu dài, song vấn đề quyền conngười đã luôn mang tính chính trị và bị chính trị hóa Do đó, việc giải thích và ápdụng quyền con người thường thể hiện rất rõ sự khác biệt về ý thức hệ Cụ thể, cácnước tư bản thường nhấn mạnh và đôi khi cực đoan hóa các quyền dân sự, chính trịcủa cá nhân, trong khi khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thường đề cao cácquyền tập thể và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, trong khi có lúc coi nhẹ cácquyền cá nhân và các quyền dân sự, chính trị
1.3 Quyền con người vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, phụ thuộc vào mỗi quốc gia
Theo Chỉ thị số 12 của Ban Bí thư Trung ương Đảng: Quyền con người luônluôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế,văn hoá của đất nước Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêuchuẩn, mô thức của nước này cho nước khác Sách trắng về thành tựu quyền conngười của Việt Nam cũng khẳng định: “…quyền con người vừa mang tính phổbiến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương củaLiên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng”, do đó: “…khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực,nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử,chính trị, kinh tế - xã hội,các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập
Trang 5quán của mỗi quốc gia và khu vực Không một nước nào có quyền áp đặt mô hìnhchính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một quốc gia khác”.
Về vấn đề trên, C.Mác – người sáng lập phong trào cộng sản quốc tế - từngviết: "Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế vàsự phát triểnvăn hoá của xã hội do chếđộ kinh tế quyết định" Ở phạm vi khu vực, một số nhàchính trị của các nước châu Á như Lý Quang Diệu (cựu Thủ tướng Singapo), AliAlatas (cựu bộ trưởng ngoại giao Inđônêxia), Mahathir Mohamad (cựu Thủ tướngMalaixia)… cũng từng cổ vũ cho quan điểm về tính đặc thù của quyền con người
qua việc đề xướng lý luận về những giá trị châu Á (Asia values) mà nội dung chủ
yếu cho rằng, do những đặc thù về văn hóa và lịch sử, châu Á cần có những cáchthức và tiêu chuẩn riêng trong vấn đề quyền con người chứ không thể và khôngnên theo những giá trị dân chủ, nhân quyền được cổ vũ bởi các nước phương Tây
1.4 Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất
Sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định:
“ quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của conngười làquyền được sống trong độc lập,
tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình”
Quan điểm kể trên xuất phát từ thực tế là trong suốt chiều dài lịch sử dựngnước, dân tộc Việt Nam đã nhiều lần bị các thế lực nước ngoài đô hộ và phải gánhchịu những hy sinh to lớn trong những cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường quanhiều thế kỷ để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc Chính vì vậy, ngườidân Việt Nam tin rằng, nước mất độc lập thì không thể có cá nhân tự do, haynhững "vong quốc nô" thì không thể có quyền con người Để giành quyền conngười cho mỗi cá nhân thì phải giải phóng dân tộc khỏi áp bức ngoại bang và bảo
vệ quyền tự quyết của dân tộc Thực tế cho thấy, trước năm 1945, trong bối cảnhmột nước thuộc địa, nửa phong kiến, người dân Việt Nam không được hưởng cácquyền con người, quyền công dân Chỉ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhànước Việt Nam ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ người
nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của ngườiViệt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Như thế,
Trang 6quyền con người của người dân Việt Nam gắn liền với các quyền dân tộc cơ bảncủa dân tộc Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề trên, ở cấp độ quốc tế, quyền tự quyết dân tộc đã đượckhẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và tại Điều 1 của cả hai Công ướcquốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người là ICCPR và ICESCR.Năm 1960, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên bố về trao trả độc lậpcho các nước và dân tộc thuộc địa, trong đó khẳng định quyền tự quyết dân tộc làmột trong những quyền con người cơ bản
1.5 Quyền con người có nguồn gốc tự nhiên song phải được pháp luật quy định, không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hộinăm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Nhà nước định ra các đạoluật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người…” Điều này có nghĩa
là để được hiện thực hóa trên thực tế, quyền con người, quyền công dân phải đượcquy định trong pháp luật Ở đây, pháp luật vừa là phương tiện để ghi nhận, vừa làcông cụ để hiện thực hóa và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người Thông quapháp luật, không chỉ các quyền con người, quyền công dân mà cả những nghĩa vụcủa những chủ thể có liên quan được xác lập, tạo thành khuôn khổ pháp lý cho việctôn trọng, thực hiện và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trên thực tế
Trên thế giới, việc pháp điển hóa các quyền tự nhiên thành các tiêu chuẩnpháp lý quốc tế về quyền con người diễn ra một cách có hệ thống kể từ khi Liênhợp quốc ra đời Cho đến ngày nay, hệ thống các văn kiện pháp lý quốc tế vềquyền con người đã bao gồm hang trăm văn kiện, kể cả các văn kiện có hiệu lựctoàn cầu và các văn kiện có hiệu lực ở các khu vực Quá trình pháp điển hóa nhưvậy cũng diễn ra ở hầu hết các quốc gia Ở góc độ nhất định, việc pháp điển hóacác quyền con người vào pháp luật quốc tế và quốc gia cho thấy sự thống nhất vềnhận thức của cộng đồng quốc tế về vai trò và tầm quan trọng của pháp luật vớiviệc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người
Theo Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ươngĐảng: “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách
Trang 7nhiệm công dân Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật Mở rộng dân chủ xãhội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyênchính với mọi hành động xâm phạm lợi ích Tổ quốc, của nhân dân”1 Sách trắng
về thành tựu về quyền con người của Việt Nam cũng khẳng định: “…các quyền và
tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọngquyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa
vụ đối với xã hội”
Về vấn đề trên, trong “Điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp công nhân quốc tếnăm 1864”, C.Mác đã chỉ rõ sự thống nhất biện chứng giữa quyền và nghĩa vụ củacon người: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào
mà không có quyền lợi” Trong luật nhân quyền quốc tế, khoản 1 Điều 29 UDHRnêu rõ rằng: “Tất cả mọi người đều có những nghĩa vụ với cộng đồng mà ở đónhân cách của bản thân họ có thể phát triển một cách tự do và đầy đủ” Theo khoản
2 Điều này: “Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuânthủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôntrọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như nhằm đápứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chungtrong một xã hội dân chủ” Tuyên ngôn về quyền và trách nhiệm của các cá nhân,các nhóm và các tổ chức xã hội được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm
1998 (Điều 17) cũng nêu rằng: “Trong khi thực hiện các quyền và tự do trongTuyên ngôn này, mọi người phải chịu những giới hạn nhất định theo nghĩa vụ quốc
tế và do pháp luật quy định vì mục đích bảo đảm việc công nhận và tôn trọng cácquyền và tự do của người khác và đáp ứng những đòi hỏi của đạo đức, trật tự côngcộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”
2 Chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Quyền con người
Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và thực hiệnnhững chính sách nhằm trực tiếp và gián tiếp bảo vệ thúc đẩy các quyền con người,
có thể khái quát như sau:
2.1 Chính sách đối nội
2.1.1 Tăng cường và mở rộng dân chủ
Trang 8Dân chủ và quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì vậy, đểbảo vệ và thúc đẩy có hiệu quả các quyền con người đòi hỏi phải tăng cường và
mở rộng, phát huy hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Ở đây, mọi tiến bộ đạtđược trong việc mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đều là những tiêuchí để đánh giá việc bảo vệ và thúc đẩy cácquyền con người trên thực tế và ngượclại
Mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những mụctiêuvà hoạt động xuyên suốt của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam kể từ khibắt đầu công cuộc Đổi mới Trong mối quan hệ này, Đảng giữ vai trò hạt nhân lãnhđạo, Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân đồng thời là chủ thể tổchức thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách của của Đảng về dân chủ xã hộichủ nghĩa Cốt lõi tư tưởng của Đảng về mở rộng và pháthuy dânchủ xã hội chủnghĩa thể hiện ở việc hoàn thiện và hiện thực hóa cơ chế bảo đảm sự tham gia cóhiệu quả của mọi tầng lớp nhân dân vào tất cả các quá trình xây dựng, tổ chức thựchiện và giám sát thực hiện cácđường lối, chủ trương, chính sách vàquy địnhphápluật của Đảng và Nhànước trên mọi lĩnh vực
Trong bối cảnh Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế mở rộng giaolưu, hợp tác nhiều mặt, nhiều lĩnh vực với các nước trên thế giới vàngày càng sâuhơn vàođời sống mọi mặt của cộngđồng quốc tế, yêu cầu mở rộng và phát huy dânchủ ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết Mở rộng và phát huy dân chủ xã hộichủ nghĩa được xem là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa củadân, do dân, vì dân và hội nhập quốc tế có hiệu quả Chính sách của Đảng, Nhànước trongvấn đề này hiện nay làtiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền làmchủ xã hội của nhân dân lao động theo phương châm “dânbiết, dân bàn, dân làm,dân kiểm tra” đối với mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước Để thực hiện cơchế này, việc bảo đảm sự công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trìnhcủa các cơ quan và viên chức nhà nước, xây dựng cơ chế phản biện xã hội và giámsát xã hội, từng bước thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở…có ý nghĩa quan trọng
Trang 9Tất cả những điều này đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần bảo đảm sự tôn trọng,bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân.
2.1.2 Phát huy nhân tố con người, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và ưu tiên, chăm lo các gia đình chính sách xã hội
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
kể từ ngày thành lập đến nayđã chứng minh rằng, nhân tố có ý nghĩa quyết địnhtạo nên mọi thắng lợi của cách mạng là con người Chính vì vậy, trong Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản ViệtNam đã chỉ rõ: "Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: Phát huy nhân tố conngười trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân;kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đờisống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài;giữa cá nhânvới tập thể và cộng đồng xã hội"
Trong công cuộc Đổi mới, Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định đặt conngười vào vị trí trung tâm của các chính sách phát triển; coi con người là vốn quýnhất, chăm lo cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ Mọi chủtrương, chính sách phát triển đều xuất phát từ con người, lấy con người là trungtâm Tăng trưởng và phát triển kinh tế vì con người, đi đôi với phát triển các mặt
về văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường Mục tiêunhất quán của mọi chính sách xã hội do Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra đềuhướng trọng tâm vào con người, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chấtcủa mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm những nhu cầu tối thiểu nhất của conngười là ăn, ở mặc, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, khám chữa bệnh và nâng cao thể chấtcủa con người Việt Nam Trong những năm tới, Đảng và Nhà nước Việt Nam xácđịnh các vấn đề ưu tiên là: bảo đảm tốt hơn phúc lợi xã hội; giải quyết ngày càngnhiều việc làm cho người lao động; tập trung làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo;đẩy mạnh công tác bảo hiểm xã hội, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, nâng cao thểchất của nhân dân; thực hiện dân số, kế hoạch hoá gia đình; đấu tranh có hiệu quảvới các tệ nạn xã hội; ngăn chặn và đầy lùi các đại dịch như HIV/AIDS, dịch
Trang 10cúm…; bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó kịp thời với biến đổi khí hậu,đồngthời chú trọng hoàn thiện cơ chế bảo trợ xã hội.
Trong Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người
ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam xác định việc thúc đẩy các chính sách xã hội nhưxóa đói giảm nghèo, tạo việc làm,chăm sóc y tế, giáodục đào tạo vàcủng cố hệthống ansinh xãhội là nhữngưu tiên quốc giatrong việc bảo vệ vàthúc đẩy quyềncon người trong thời gian tới, trong đó đưa ra những camkết cụ thể về những vấn
đề này,bao gồm:
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, chú trọng tạo côngăn việclàm, nâng cao thu nhập, quan tâmphát triển mạng lưới an sinh xã hội, cung cấp cácdịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo và các nhóm người dễ bị tổn thương, chocác vùng sâu vùngxa;
- Phấn đấu đạt phổ cập trung học cơ sở;
- Chú trọng phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; đẩy mạnh công táctuyên truyền chống phân biệt đối xử với nạn nhâncủa tệ buôn bán phụ nữ, trẻ em,
và tạo việc làm, thu nhập cho nạn nhân của việc buôn bán phụ nữ, trẻ em, chútrọng giải quyết vấn đề lao động trẻ em, đặc biệt là vấn để trẻ em đường phố, bạohànhtrẻ em;hợp tác chặt chẽ với các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực trongcông tác chống buôn bán phụ nữ, trẻ em,chống tội phạm xuyên quốc gia;
- Tiếp tục chương trình tiêm chủng vắc xin phòng, chống 7 bệnh cho trẻ em,chú trọng công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS; quan tâm công tácchămsóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, sức khoẻ sinhsản, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng;
- Đẩy mạnh thực hiện chính sách bình đẳng giới, tuyên truyền xóa bỏ phânbiệt đối xử vì lý do giới tính; tạo cơ hội bình đẳng về giáo dục, việc làm và thunhập cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa,phụ nữ người dân tộc thiểu số, đẩy mạnh công tác phòng, chống bạo lực gia đình,công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức trọng nam khinh nữ
2.1.3 Bảo đảm sự bình đẳng giữa các dân tộc, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quyền con người, quyền công dân
Trang 11Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống (54 dân tộc) Mỗidân tộc có bản sắc văn hoá riêng, tạo nên nétđẹp truyền thống trong sự đa dạng,phong phú của nền văn hoá Việt Nam Trải qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranhdựng nước và giữ nước, các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, tương trợ
và giúp đỡ lẫn nhau Trong công cuộc Đổi mới ngày nay, Đảng và Nhà nước ViệtNam tiếp tục thực hiện chính sách nhất quán là bảo đảm quyền bình đẳng giữa cácdân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Chủ nghĩa xã hội và thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính sáchnày được thể hiện rõtrong các cương lĩnh, văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luậtcủa Nhà nước Đơn cử, Điều 5 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001)quy định: “ Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữacác dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dântộc có quyềndung tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tậpquán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sáchphát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồngbào dân tộc thiểu số” Cùng với chủ trương thực hiện chính sách bình đẳng giữacác dân tộc, Nhà nước không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quyền conngười, quyền công dân Từ năm 1986 đến nay, Nhànước đã ban hành hơn 13.000văn bản phápluật về mọi lĩnh vực trongđó cónhiều văn bản cóý nghĩa quan trọngvới việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Hiện tại, Chính phủ đang triểnkhaithực hiện cácChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiếnlược cải cách tư pháp, Chương trình cải cách hành chính,v.v nhằm tiếp tục hoànthiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước phápquyền xãhội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, bảo đảm có hiệu quả cácquyền con người,quyền công dân của mọi người dân.Về vấn đề này, trong Báo cáo quốc gia kiểmđiểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, Chính phủ Việt Namcam kết tiếp tục chương trình cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật
và thể chế, nhằm củng cố Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơnquyền làm chủ của công dân181, đồng thời, xác định việc hoàn thiện khuôn khổ