1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

truyen thống ngoại giao việt nam

27 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 49,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản sắc ngoại giao Việt Nam là một phần của bản sắc dân tộc Việt Nam, hình thành và phát triển cùng với triết lý và truyền thống ngoại giao Việt Nam. Đó là những nhận thức, tư tưởng, tri thức được đúc kết, kế thừa, bổ sung và không ngừng hoàn thiện thông qua hoạt động ngoại giao của các thế hệ cha ông, với đỉnh cao là ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh. Truyền thống ngoại giao Việt Nam có những đặc điểm rất đỗi tự hào, kiên định chủ trương “nội yên ngoại tĩnh”, thể hiện tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thân thiện với láng giềng, ngoại giao tâm công, lấy lẽ phải, công lý và chính nghĩa để thuyết phục lòng người. Các chính sách ngoại giao của nước ta được thực thi một cách thiên biến vạn hóa, đa dạng, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, mang đậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái chính trị của mỗi chế độ, triều đại phong kiến Việt Nam. Nhưng trên hết, tất cả đều luôn vì lợi ích quốc gia dân tộc, nhằm giữ vững độc lập, tự chủ, ngăn chặn họa xâm lăng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xây dựng nền hòa bình dài lâu cho dân tộc. Trong bản sắc của ngoại giao Việt Nam, tinh thần độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc là nguyên tắc bất biến. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử, xuất phát từ tinh thần yêu nước của dân tộc không trông đợi vào bên ngoài, mà phải dựa vào chính mình để bảo vệ lợi ích chân chính của đất nước, dân tộc. Với mong muốn tìm hiểu những truyền thống ngoại giao Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữa nước của cha ông ta trong lịch sử, tôi lựa chọn bài thu hoạch có tựa đề: “Truyền thống ngoại giao của Việt Nam từ thủa dựng nước và giữ nước đến cách mạng tháng Tám năm 1945” làm bài thu hoạch giữa kỳ bộ môn Chính sách đối ngoại Việt Nam. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong Viện để bài làm của em được hoàn thiện hơn.

Trang 1

TRUYỀN THỐNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ THỦA DỰNG NƯỚC

những đặc điểm rất đỗi tự hào, kiên định chủ trương “nội yên ngoại tĩnh”, thể hiệntinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thân thiện với láng giềng, ngoại giao tâmcông, lấy lẽ phải, công lý và chính nghĩa để thuyết phục lòng người. Các chính sáchngoại giao của nước ta được thực thi một cách thiên biến vạn hóa, đa dạng, phùhợp với từng thời kỳ lịch sử, mang đậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắcthái chính trị của mỗi chế độ, triều đại phong kiến Việt Nam Nhưng trên hết, tất cảđều luôn vì lợi ích quốc gia - dân tộc, nhằm giữ vững độc lập, tự chủ, ngăn chặnhọa xâm lăng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xây dựng nền hòa bình dài lâu cho dântộc Trong bản sắc của ngoại giao Việt Nam, tinh thần độc lập, tự cường và bảođảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến Đó là sợi chỉ đỏxuyên suốt chiều dài lịch sử, xuất phát từ tinh thần yêu nước của dân tộc - khôngtrông đợi vào bên ngoài, mà phải dựa vào chính mình để bảo vệ lợi ích chân chínhcủa đất nước, dân tộc Với mong muốn tìm hiểu những truyền thống ngoại giaoViệt Nam trong lịch sử dựng nước và giữa nước của cha ông ta trong lịch sử, tôi

lựa chọn bài thu hoạch có tựa đề: “Truyền thống ngoại giao của Việt Nam từ

thủa dựng nước và giữ nước đến cách mạng tháng Tám năm 1945” làm bài thuhoạch giữa kỳ bộ môn Chính sách đối ngoại Việt Nam Rất mong nhận được sự

Trang 2

đóng góp ý kiến của các thầy cô trong Viện để bài làm của em được hoàn thiệnhơn.

NỘI DUNG

1 HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

1.1 Những ngày đầu dựng nước

Ở Việt Nam, qua các di chỉ khảo cổ, khoảng 300.000 năm trước (thời đại đồ

đá cũ) đã xuất hiện người vượn (các di chỉ Núi Đọ, Thanh Hoá; Thẩm Hai, LạngSơn; Nậm Tum, Sơn La; Tân Mài, Quảng Ninh); 10.000 năm trước (thời đại đồ đágiữa), có người nguyên thuỷ (di chỉ Hoà Bình); 8.000 năm trước (thời đại đồ đámới), có các bộ tộc người (các di chỉ văn hoá Bắc Sơn, Lạng Sơn; Bầu Tró, QuảngBình; Hạ Long, Quảng Ninh; Cù lao Rùa, Đồng Nai); 4.000 năm trước (thời đại đồđồng), có bộ lạc Lạc Việt; và vào năm 2879 trước Công nguyên, đã hình thành nhànước cổ với tên nước là Văn Lang, kinh đô ở Phong Châu, Phú Thọ Nhà nước VănLang được xây dựng qua 18 đời vua Hùng1, kéo dài tới năm 257 trước Côngnguyên

Qua truyền thuyết và những tư liệu thành văn của Trung Quốc, chúng tađược biết vào năm 2353 trước Công nguyên (tức là năm thứ 5 đời Vua ĐườngNghiêu của Trung Quốc) đã có một sứ bộ của Việt Nam tới thăm Trung Quốc Đây

là hoạt động ngoại giao đầu tiên được biết đến của tổ tiên ta thời Hùng vương.Theo sử sách của Trung Quốc2, sứ bộ Việt Nam đã phải qua hai lần thông dịch mớitới được Trung Quốc Điều đó cho thấy, trên đường tới Trung Quốc, sứ bộ ViệtNam đã có tiếp xúc ngoại giao với các dân tộc khác Sứ bộ ta đã đem tặng VuaNghiêu một con rùa lớn nghìn năm tuổi, trên mai có khắc chữ ghi sự việc từ khitrời đất mới mở mang Đây là một tặng vật hết sức có ý nghĩa, thể hiện trình độ văn

1 18 đời vua Hùng: Kinh Dương Vương; Lạc Long Quân; Hùng Quốc Vương; Hùng Hoa Vương; Hùng Hi Vương; Hùng Huy Vương; Hùng Chiêu Vương; Hùng Vĩ Vương; Hùng Định Vương; Hùng Uy Vưong; Hùng Trịnh Vương; Hùng Võ Vương; Hùng Việt Vương; Hùng Anh Vương; Hùng Triệu Vương; Hùng Tạo Vương; Hùng Nghị Vương; Hùng Duệ Vương.

2 Như: Cương mục tiên biện; Ngự phê thống giám tập lãm; Sử ký Tư Mã Thiên

Trang 3

hiến của dân tộc ta (chữ viết; hiểu biết về trời đất, nguồn gốc xã hội loài người, lịchpháp…), thể hiện thiện chí xây dựng mối quan hệ bang giao hoà hiếu lâu bền vớiTrung Quốc nói riêng và các dân tộc khác nói chung (ở phương Đông, con rùađược coi là biểu tượng của sự trường tồn).

Hơn một nghìn năm sau, sử sách Trung Quốc lại ghi chép về chuyến thămthứ hai của sứ bộ Việt Nam vào năm 1110 trước Công nguyên (tức là năm thứ 6đời Vua Thành Vương, nhà Chu) Theo sử sách Trung Quốc ghi lại, phải qua ba lầnthông dịch, sứ bộ Việt Nam mới đến được Kinh đô nhà Chu (ở vùng Cam Túc) và

đã tặng Vua Thành Vương nhà Chu loài chim quý ở phương Nam là chim trĩ trắng;Vua nhà Chu cũng trân trọng đáp lại, cho làm 5 cỗ xe có gắn kim chỉ nam để đưa

sứ bộ Việt Nam về nước

Qua hai sự kiện lịch sử này, có thể thấy rằng: (1) Dân tộc ta đã dựng nướcsớm và là một dân tộc có nền văn hiến lâu đời; (2) Dân tộc ta sớm có các hoạt độngngoại giao và rất chủ động trong việc thiết lập các mối quan hệ bang giao thânthiện với các dân tộc khác; (3) Từ thủa đầu dựng nước, tổ tiên ta đã đặt nền móngcho truyền thống ngoại giao hoà hiếu của Việt Nam

1.2 Thời kỳ chống Bắc thuộc (từ đầu thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến

đầu thế kỷ X):

a- Mở đầu thời kỳ chống Bắc thuộc:

Năm 257 trước Công nguyên, Thục Phán đã thống nhất nước Văn Lang vànước Âu Việt lập nên nước Âu Lạc; xưng là An Dương Vương; đóng đô ở Cổ Loa(Đông Anh, Hà Nội)

Năm 207 trước Công nguyên, nhân lúc nhà Tần ở Trung Quốc bị suy yếu vàsụp đổ, Triệu Đà - một viên quan nhà Tần – đã chiếm giữ vùng đất Nam Hải(Quảng Đông), Quế Lâm (Bắc và Đông Quảng Tây) và Tượng (Quảng Tây – NamQuý Châu), lập nên nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, bắt đầu thôntính nước ta (khi đó gọi là Âu Lạc)

Năm 179 trước Công nguyên, sau nhiều lần tiến quân đánh Âu Lạc khôngthành, Triệu Đà lập kế giảng hoà với An Dương Vương, cầu hôn con gái An Dương

Trang 4

Vương là Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thuỷ và đưa Trọng Thuỷ sang gửi

rể ở Cổ Loa Như truyền thuyết về nỏ thần và mối tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ đã

mô tả, với kế sách này, Triệu Đà đã đánh chiếm được Âu Lạc, sáp nhập vào nướcNam Việt Nước ta rơi vào thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, kéo dài hơn

1000 năm đến đầu thế kỷ thứ X sau Công nguyên

b- Trong thời kỳ chống Bắc thuộc đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của nhândân ta chống chính quyền đô hộ:

(1) Năm 40 - đầu năm 44 sau Công nguyên, khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (2) Năm 190, nhân dân huyện Tượng Lâm (vùng núi Hoành Sơn) khởi nghĩadưới cờ của thủ lĩnh người Chàm là Khu Liên, giải phóng hoàn toàn huyện TượngLâm và lập thành một vương quốc nhỏ gọi là Lâm Ấp (sau này đổi tên thànhChăm-pa rồi Chiêm Thành)

(3) Sang thế kỷ III (năm 248), cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu

(4) Năm 468, cuộc khởi nghĩa của Lý Trường Nhân giành thắng lợi, buộcnhà Tống và tiếp đó là nhà Tề phải phong anh em Lý Trường Nhân và Lý ThúcHiến làm Thứ sử cầm quyền tự trị ở nước ta trong vòng gần 20 năm (đến năm485)

(5) Giữa thế kỷ thứ VI, phong trào khởi nghĩa lớn do Lý Bí (tức Lý Nam Đế)

và Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương) lãnh đạo đã giành thắng lợi; tháng2/544, Lý Bí tuyên bố lập nhà nước độc lập với tên gọi là Vạn Xuân, xưng là NamViệt Đế, mở đầu triều Tiền Lý tồn tại trong hơn nửa thế kỷ (đến năm 602)

(6) Năm 713, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa, giải phóng vùng ChâuHoan (Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay), được suy tôn làm Hoàng đế gọi là Mai HắcĐế; đến năm 714 thì giành độc lập trong cả nước Điểm độc đáo trong chiến tranhgiải phóng dân tộc của Mai Thúc Loan là đã liên minh với các nước láng giềng đểchống xâm lược Theo sử Trung Quốc Tân Đường thư, Mai Thúc Loan đã vậnđộng được các nước Lâm Ấp, Chân Lạp (Cam-pu-chia ngày nay) và cả Kim Lân(Ma-lai-xi-a ngày nay) đưa quân sang phối hợp đánh quân Đường Chính quyềnđộc lập của Mai Hắc Đế tồn tại được trên 10 năm thì Ông mất

Trang 5

(7) Năm 767, Phùng Hưng (con trai một vị tướng của Mai Thúc Loan làPhùng Hạp Khanh) phất cờ khởi nghĩa Trong 25 năm liền, nghĩa quân PhùngHưng kiên trì đánh giặc, từng bước mở rộng vùng giải phóng; Phùng Hưng đượcnhân dân suy tôn làm Bố Cái Đại Vương.

(8) Năm 905, triều đại nhà Đường ở Trung Quốc bắt đầu sụp đổ, Trung Quốclâm vào thời kỳ “Ngũ đại Thập quốc” (5 triều đại – 10 nước3) kéo dài đến năm

960 Nhân cơ hội này, Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng người Việt có thế lực lâu đời

ở đất Hồng Châu (Hải Dương ngày nay), đã tiến hành binh biến, đánh đuổi quân đô

hộ nhà Đường, dựng quyền tự chủ cho đất nước Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết Độ

sứ, “thay mặt” nhà Đường cầm quyền ở nước ta Với kế sách này, con và cháu củaKhúc Thừa Dụ là Khúc Hạo (năm 907) và Khúc Thừa Mỹ (năm 917), tiếp đó làmột viên tướng của Khúc Thừa Dụ là Dương Đình Nghệ (năm 931) thay nhau làmTiết Độ sứ, duy trì nền tự chủ, tự trị của nước ta hơn 3 thập niên, cho đến năm 937,khi một viên tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn làm phản, giếtDương Đình Nghệ rồi rước quân Nam Hán về đô hộ nước ta

(9) Năm 938, Ngô Quyền (con rể Dương Đình Nghệ) đưa quân từ Ái Châu(vùng Thanh Hoá ngày nay) ra bắc diệt Kiều Công Tiễn, rồi tổ chức đánh trận BạchĐằng tiêu diệt thuỷ quân Nam Hán Chiến thắng Bạch Đằng là sự kiện lịch sử,chấm dứt thời kỳ nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ hơn 1000năm, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc ta

Qua các sự kiện lịch sử nêu trên, có thể thấy: Dân tộc ta có truyền thống yêunước, ý chí độc lập dân tộc, kiên quyết đánh đuổi ngoại xâm

Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) năm 713 đã khởi đầutruyền thống kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh của khối liên minh chiếnđấu với các nước láng giềng trong đấu tranh giải phóng dân tộc

Kế sách hoà hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ đầu thế kỷ thứ X là mộtđóng góp quan trọng vào truyền thống đối ngoại Việt Nam - đó là: căn cứ vào so

3 “5 triều đại” là: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu “10 nước” là:

Trang 6

sánh lực lượng cụ thể để giành thắng lợi từng bước và chuẩn bị các điều kiện chothắng lợi trọn vẹn; đưa ra phương án (tự nhận làm Tiết Độ sứ) buộc đối phươngphải chấp thuận và thừa nhận trên thực tế chủ quyền dân tộc của Việt Nam.

1.3 Thời kỳ các triều đại phong kiến (từ thế kỷ X đến khi Pháp xâm lược

Việt Nam 1858):

a- Khái lược lịch sử các triều đại phong kiến ở nước ta4:

Triều đại nhà Ngô: Sau chiến thắng Bạch Đằng, đánh thắng quân Nam Hán,đầu năm 939, Ngô Quyền lên ngôi Vua, lập ra triều Nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa.Năm 944, Ngô Quyền mất; em vợ Ngô Quyền Là Dương Tam Kha cướp ngôi Vua;các tướng lĩnh nổi lên chống Dương Tam Kha, mối người chiếm giữ một vùng;hình thành tình trạng cát cứ “12 sứ quân”, kéo dài hơn 20 năm

Triều đại nhà Đinh: Năm 967, một trong 12 sứ quân là Đinh Bộ Lĩnh dẹpxong 12 sứ quân, thống nhất đất nước Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Vua, xưng là ĐạiThắng Minh Hoàng Đế (Đinh Tiên Hoàng), đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ởHoa Lư Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai lớn là Đinh Liễn bị cận thần sáthại; con nhỏ là Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi (vua Đinh Phế Đế)

Triều đại Tiền Lê: Năm 980, trước nguy cơ nhà Tống (Trung Quốc) đưaquân sang xâm lược nước ta, các quan võ trong triều đình Vua Đinh Toàn làm đảochính cung đình, buộc Vua Đinh Toàn phải trao ngôi cho Phó vương Lê Hoàn Vua

Lê Hoàn xưng là Đại Hành Hoàng đế (Lê Đại Hành) Năm 1005, Vua Lê Hoànmất; các con giết hại nhau tranh ngôi; cuối cùng, con trai thứ 5 là Lê Long Đĩnhgiành được ngôi Vua (Lê Ngoạ Triều), trị vì đến năm 1009

Triều đại nhà Lý: Năm 1009, Vua Lê Long Đĩnh mất; Lý Công Uẩn, mộtquan trong triều, được triều thần tôn lên làm Vua (Lý Thái Tổ), đặt tên nước là ĐạiViệt, đóng đô ở Thăng Long, mở đầu triều Lý kéo dài hơn 2 thế kỷ (đến năm1225), qua 9 đời Vua: Lý Thái Tổ (lên ngôi năm 1009); Lý Thái Tông (năm 1028);

4 Xem: Viện Sử học: Việt Nam - những sự kiện lịch sử (từ khởi thuỷ đến 1858) Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002; Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (chủ biên): Đại

cương lịch sử Việt Nam: Toàn tập: Từ thời nguyên thủy đến năm 2000 Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 2005; Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ: Đại cương

Lịch sử Việt Nam, tập II, 1858-1945 Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003

Trang 7

Lý Thánh Tông (năm 1054, đổi tên nước là Đại Việt); Lý Nhân Tông (năm 1072);

Lý Thần Tông (năm 1128); Lý Anh Tông (năm 1138); Lý Cao Tông (năm 1175);

Lý Huệ Tông (năm 1210); Lý Chiêu Hoàng (năm 1224; Lý Huệ Tông không cócon trai, lại ốm yếu, nên xuất gia đi tu, truyền ngôi cho công chúa Lý Phật Kim)

Triều đại nhà Trần: Năm 1225, thấy Lý Chiêu Hoàng yêu thích Trần Cảnh,Trần Thủ Độ (đứng đầu quan võ) lập mưu để Lý Chiêu Hoàng cưới Trần Cảnh.Năm 1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần TháiTông); kết thúc thời nhà Lý, mở đầu thời nhà Trần ở nước ta, kéo dài đến năm

1400, qua các đời Vua: Trần Thái Tông; Trần Thánh Tông (được truyền ngôi năm1258); Trần Nhân Tông (được truyền ngôi năm 1278); Trần Anh Tông (đượctruyền ngôi năm 1293); Trần Minh Tông (được truyền ngôi năm 1314); Trần HiếnTông (được truyền ngôi năm 1329); Trần Dụ Tông (nối ngôi năm 1341); TrầnNghệ Tông (1370, sau khi truất Dương Nhật Lễ cướp ngôi năm 1369); Trần DuệTông (được truyền ngôi năm 1372); Trần Đế Hiện (được truyền ngôi năm 1377);Trần Thuận Tông (được truyền ngôi năm 1389); Trần Thiếu Đế (lên ngôi năm

1398, sau khi Hồ Quý Ly ép Thuận Tông phải nhường ngôi; đến năm 1400, HồQuý Ly chiếm ngôi Vua) Thời Trần, tên nước là Đại Việt; đóng đô ở Thăng Long

Triều đại nhà Hồ: Năm 1400, Hồ Quý Ly chiếm ngôi Vua từ Trần Thiếu Đế,lập nên nhà Hồ, tồn tại trong 7 năm, qua các đời Vua: Hồ Quý Ly; Hồ Hán Thương(1401) Năm 1407, nhà Hồ bị quân xâm lược nhà Minh đánh tan Ở thời nhà Hồ,tên nước là Đại Ngu, đóng đô ở Tây Đô (Thanh Hoá)

Triều đại Hậu Trần: Cuối năm 1407, Trần Ng«i được tôn lên làm Vua, xưng

là Giản Định hoàng đế, mở đầu thời Hậu Trần ở nước ta; qua 2 đời Vua: Giản Địnhđế; Trùng Quang đế (được tôn lên ngôi năm 1409) Cuối năm 1413, quân Minh tiếnđánh, bắt được Trùng Quang đế; cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần thất bại

Triều đại Hậu Lê: Đầu năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn(Thanh Hoá), xưng là Bình Định vương, tổ chức phong trào đánh đuổi giặc Minh.Sau hơn 10 năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, đến cuối năm 1428, cuộc chiếntranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi lãnh đạo đã giành được thắng lợi; Lê Lợi lên

Trang 8

ngôi Hoàng đế (Lê Thái Tổ), đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (HàNội) Triều nhà Lê ở nước ta kéo dài đến năm 1527, qua các đời Vua: Lê Thái Tổ(lên ngôi năm 1428); Lê Thái Tông (nối ngôi năm 1433); Lê Nhân Tông (nối ngôinăm 1442, khi đó mới 01 tuổi); Lê Nghi Dân (giết Lê Nhân Tông, chiếm ngôi năm1459); Lê Thánh Tông (được các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt tôn lên ngôi Vuasau khi truất ngôi Nghi Dân, năm 1460); Lê Hiến Tông (nối ngôi năm 1497); LêTúc Tông (nối ngôi năm 1504); Lê Uy Mục (được tôn lên ngôi khi Lê Túc Tôngmất, cuối năm 1505); Lê Tương Dực (đoạt ngôi, năm 1510); Lê Chiêu Tông (đượctôn lên ngôi sau cuộc binh biến của cận thần Trịnh Duy Sản, giết Lê Tương Dực;năm 1516; từ đây, nhà Lê suy yếu); Lê Cung Hoàng (được Thái phó Mạc ĐăngDung đưa lên ngôi năm 1523, sau khi lấn át rồi phế truất Lê Chiêu Tông).

Triều đại nhà Mạc: Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng phảinhường ngôi; mở đầu triều nhà Mạc; qua các đời Vua: Mạc Đăng Dung; Mạc ĐăngDoanh (được truyền ngôi, năm 1530); Mạc Phúc Hải (nối ngôi, năm 1540); MạcPhúc Nguyên (nối ngôi, năm 1546); Mạc Mậu Hợp (nối ngôi, năm 1562); MạcKính Cung (được tôn lên ngôi Vua sau khi Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt vàhành quyết, năm 1593; một năm sau, năm 1594, Mạc Kính Cung thua trận, kết thúctriều nhà Mạc) Từ năm 1533, cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim đưa một người concủa Vua Lê Chiêu Tông lên làm Vua (Lê Trang Tông), mở đầu sự nghiệp khôi phụcnhà Lê; năm 1545, Nguyễn Kim bị mưu sát, con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm nốinghiệp, được phong làm Thái sư (từ đây hình thành nên cục diện “Vua Lê - chúaTrịnh” rồi cục diện “Trịnh - Nguyễn” sau này)

Triều đại Lê Trung hưng: Năm 1594, sau khi đánh tan nhà Mạc, Vua Lê ThếTông (nối ngôi các đời Vua Lê Trang Tông, Lê Trung Tông, Lê Anh Tông, từ năm1573) với sự trợ giúp của Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) nắm quyền cai trị đất nước(triều nhà Lê Trung hưng) Năm 1599, Trịnh Tùng mở phủ chúa; bắt đầu cục diện

“Vua Lê - Chúa Trịnh” Năm 1614, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (con trai NguyễnHoàng, cháu nội Nguyễn Kim) tổ chức chính quyền riêng ở “Đàng trong”, ly khaivới chính quyền “Vua Lê - Chúa Trịnh” ở “Đàng ngoài”; bắt đầu thời Trịnh -

Trang 9

Nguyễn Năm 1627 bắt đầu chiến tranh Trịnh - Nguyễn đến năm 1672 thì chấmdứt; hai bên lấy sông Gianh làm đường phân giới; đất nước bị chia cắt thành haimiền (từ sông Gianh trở ra do Vua Lê - chúa Trịnh cai quản; từ sông Gianh, QuảngBình, trở vào do chúa Nguyễn quản lý).

Triều đại Tây Sơn: Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ Năm 1783,quân Tây Sơn đánh đổ nhà chúa Nguyễn ở Đàng trong; chúa Nguyễn Ánh trao con

cả là Hoàng tử Cảnh cho Giám mục người Pháp Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine)đưa sang Pháp cầu viện binh; bản thân Nguyễn Ánh chạy sang cầu cứu Vua Xiêmgiúp đánh lại Tây Sơn Năm 1785, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ

đã đánh trận Rạch Gầm - Xoài Mút (trên sông Mỹ Tho) tiêu diệt quân Xiêm Năm

1786, Nguyễn Huệ tiến quân ra Đàng ngoài, giương cờ “phù Lê diệt Trịnh”, vànhanh chóng chiếm được Thăng Long Năm 1788, 20 vạn quân Thanh kéo vàoxâm lược nước ta; Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (Quang Trung), đầu năm 1789tiến quân thần tốc ra bắc tiêu diệt quân Thanh Năm 1792, Vua Quang Trung mấtđột ngột; con trai là Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi (Vua Cảnh Thịnh); nhà TâySơn bắt đầu suy yếu; đến năm 1802 thì sụp đổ Thời nhà Tây Sơn đóng đô ở PhúXuân (Huế)

Triều đại nhà Nguyễn: Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lênngôi Vua (Gia Long), đóng đô ở Huế, mở đầu triều Nguyễn - triều đại phong kiếncuối cùng ở nước ta Năm 1804, Vua Gia Long đặt tên nước là Việt Nam, đóng đô

ở Phú Xuân (Huế) Triều Nguyễn đã trải qua các đời Vua: Gia Long (lên ngôi năm1802); Minh Mạng (nối ngôi, năm 1820); Thiệu Trị (nối ngôi, năm 1841); Tự Đức(nối ngôi, năm 1847); Dục Đức (nối ngôi, năm 1883; làm vua được 3 ngày thì bịphế truất và bị giết); Hiệp Hoà (lên ngôi, năm 1883; làm vua được 4 tháng thì bịmưu sát); Kiến Phúc (lên ngôi, năm 1883); Hàm Nghi (nối ngôi, năm 1884); ĐồngKhánh (lên ngôi, năm 1885, sau khi Pháp phế truất Hàm Nghi); Thành Thái (lênngôi, năm 1889, sau khi Đồng Khánh mất); Duy Tân (lên ngôi, năm 1907, sau khiPháp phế truất Thành Thái); Khải Định (lên ngôi, năm 1916, sau khi Pháp phế truất

Trang 10

Duy Tân); Bảo Đại (nối ngôi, năm 1926) Ngày 30/8/1945, Bảo Đại thoái vị; kếtthúc triều Nguyễn và thời đại các triều đình phong kiến Việt Nam.

b- Các sự kiện đối ngoại lớn của Việt Nam dưới các triều đại phong kiến:(1) Lê Hoàn đánh thắng quân xâm lược nhà Tống: Cuối năm 980, Vua Tống(Trung Quốc) sai sứ giả sang nước ta đưa thư đòi mẹ con Vua Đinh Toàn sangchầu, buộc nước ta phải thần phục; đe doạ nếu không sẽ cho quân sang “làm cỏ”nước ta Trước nguy cơ xâm lược từ phía nhà Tống, các quan võ trong triều đìnhVua Đinh Toàn làm đảo chính cung đình, buộc Vua Đinh Toàn phải trao ngôi choPhó vương Lê Hoàn (Lê Đại Hành) Dưới sự chỉ huy của Vua Lê Đại Hành, tháng4/981, quân ta đánh tan 3 đạo quân Tống: đạo quân đường bộ bị tiêu diệt ở ChiLăng; một đạo quân đường thuỷ bị tiêu diệt ở Bạch Đằng; một đạo quân đườngthuỷ bị tiêu diệt ở Tây Kết Sau khi đánh ta quân xâm lược, Vua Lê Đại Hành chủđộng cử sứ giả sang Tống khôi phục quan hệ hoà hiếu giữa hai nước Trong tiếpđón các sứ thần của nhà Tống, Vua Lê Đại Hành bố trí những người tài giỏi đóngvai phục vụ, khiến các sứ thần Tống rất nể phục5

(2) Lý Thường Kiệt và bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta: Năm

1075, dưới thời Vua Lý Nhân Tông, nước ta đứng trước nguy cơ xâm lược từ phíaNhà Tống (Trung Quốc) Thái uý Lý Thuờng Kiệt (quan Đại thần chuyên lo côngviệc quân sự) đưa ra kế sách “ngồi im đợi giặc không bằng đem quân ra trước đểchặn thế mạnh của giặc” Tháng 9/1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy 2 cánh quân thuỷ

- bộ tiến đánh các căn cứ chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta của Nhà Tống ởvùng Quảng Tây, Quảng Đông; đến đầu năm 1076 thì hạ được căn cứ quan trọngnhất trong kế hoạch chuẩn bị xâm lược nước ta của Nhà Tống là căn cứ Ung Châu.Trước và trong khi tiến quân vào đất Tống, Lý Thường Kiệt cho truyền “Lệ bố”(bố cáo) kể tội triều đình Nhà Tống; nêu rõ mục đích cuộc tiến quân của ta khôngphải là để cướp đất, hại dân Tống, mà là để “dẹp tan làn sóng yêu nghiệt” từ phía

5 Chuyện sư Đỗ Thuận chèo đò, vịnh thơ cùng Sứ thần Lý Giác (năm 987): Lý Giác: “Nga nga lưỡng nga nga - Ngưỡng diện hướng thiên nha” - Đỗ Nhuận: “Bạch mao phô lục thuỷ - Hồng trạo bãi thanh ba” Lý Giác mượn 2 câu đầu trong bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ Lạc Tấn Vương nổi tiếng đời Đường; còn Đỗ Nhuận thì mượn 2 câu cuối; hai người đều có thay đổi một vài chữ

Trang 11

quan lại nhà Tống, “cứu dân khỏi nơi chìm đắm”, truy bắt bọn phản tặc người Việttrốn theo nhà Tống… “Lệ bố” của Lý Thường Kiệt được dân Tống vùng biên ảihoan nghênh, nên cuộc tiến quân diễn ra thuận lợi Sau khi hạ thành Ung Châu, LýThường Kiệt rút quân về nước; cho đắp ở bờ nam sông Cầu một bức thành đất dàigần 30 km để chặn đường quân Tống Đầu năm 1077, Tướng nhà Tống là QuáchQuỳ đem đại quân đánh nước ta, đến sông Cầu không vượt được thành đất kiên cốcủa quân ta, buộc phải dừng lại và bị quân ta vây chặt ở bờ bắc sông Cầu Trongtrận đánh không cho quân Tống đặt chân lên bờ nam sông Cầu, Lý Thường Kiệt đãđọc bài thơ khích lệ tướng sĩ ta:

“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành kham thủ bại hư”

Bài thơ này của Lý Thường Kiệt được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầutiên của dân tộc ta Sau khi vây chặt quân Tống, Lý Thường Kiệt tâu với Vua LýNhân Tông: “Dùng biện sĩ để bàn hoà, khiến tướng giặc phải buông vũ khí, quân ta

đỡ tốn xương máu mà giữ yên xã tắc” Theo kế sách này, Lý Thường Kiệt bắn tincho Quách Quỳ: “rút quân về thì giao hảo”; mở đường cho địch rút quân Sauchiến thắng của Lý Thường Kiệt, suốt 200 năm sau, nhà Tống không dám đưa quânsang xâm lược nước ta

(3) Ba lần đánh thắng quân Nguyên: Sau khi chiếm được Trung Quốc, quânNguyên (Mông Cổ) tiếp tục tiến xuống phía Nam xâm lược nước ta và đã bị quândân ta thời nhà Trần 3 lần đánh bại Lần thứ nhất là vào thời vua Trần Thái Tông,năm 1257-1258: cuối năm 1257, quân Nguyên 3 lần cử sứ sang ta đe doạ đều bị tabắt giam; đầu năm 1258, quân Nguyên tiến đánh Thăng Long; nhà Trần thực hiện

kế sách “vườn không – nhà trống”, chủ động rút trước; địch vào Thăng Longkhông có bóng người, không có lương thực, phải đóng quân bên ngoài; chờ địchhết lương thực, quân bị đói, mất sức chiến đấu, quân ta tập kích; địch bị thiệt hạinặng nề, buộc phải rút quân Lần thứ hai là vào thời vua Trần Nhân Tông, năm

Trang 12

1285: tháng 7/1284, Vua Nguyên Hốt Tất Liệt phong con trai thứ chín của mình làThoát Hoan làm Trấn Nam Vương dẫn đại quân xuống nước ta; tháng 1/1285, VuaTrần Nhân Tông tổ chức Hội nghị Diên Hồng, cả dân tộc đồng lòng quyết tâmđánh giặc; quân ta một lần nữa dùng kế sách “vườn không – nhà trống”, chủ độnglui quân; đến tháng 5/1285, quân ta phản công, đánh tan quân địch ở Tây Kết, HàmTử; tiếp đó, tháng 6/1285, quân ta đánh tan quân địch ở Chương Dương, Vạn Kiếp,buộc địch phải rút chạy về nước Lần thứ ba cũng vào thời Vua Trần Nhân Tông,năm 1287-1288: tháng 10/1287, Thoát Hoan một lần nữa dẫn 50 vạn quân sangxâm lược nước ta, lại vấp phải thế trận “vườn không – nhà trống” triệt để của quândân nhà Trần; rút kinh nghiệm lần trước, quân Nguyên cử đội quân lương đi đườngthuỷ sang tiếp lương; nắm được ý đồ của địch, quân ta phục kích, đánh tan độiquân lương của địch ở Vân Đồn (Cẩm Phả); không thể thực hiện ý đồ đánh nhanhthắng nhanh và không có lương thực, tháng 4/1288, địch buộc phải rút quân; lúcnày, quân ta mới tấn công, tiêu diệt toàn bộ cánh quân địch rút theo đường thuỷ(trận Bạch Đằng), bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi; Thoát Hoan dẫn cánh quânđường bộ chạy thoát về nước Ba lần đánh thắng quân Nguyên xâm lược, kẻ đãthống trị hầu khắp Á - Âu, là một chiến công hiển hách của dân tộc ta.

(4) Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi thăm Chiêm Thành6 (năm 1301): Theo

sử sách ghi lại, đây là chuyến thăm chính thức nước ngoài đầu tiên của một vị vua

6 Chiêm Thành khi đó là một vương quốc nhỏ nằm ở phía nam Đại Việt (tên nước ta thời Trần); vốn là một vùng đất thuộc Âu Lạc (tên nước ta thời An Dương Vương, trước thời kỳ Bắc thuộc) Năm 190, dưới thời Bắc thuộc, nhân dân huyện Tượng Lâm (vùng núi Hoành Sơn, Quảng Nam – Đà Nẵng) khởi nghĩa dưới cờ của thủ lĩnh người Chàm là Khu Liên, giải phóng hoàn toàn huyện Tượng Lâm và lập thành một vương quốc nhỏ gọi là Lâm Ấp, sau này đổi tên thành Chăm-pa rồi Chiêm Thành Chiêm Thành nhiều lần xâm phạm bờ cõi Đại Việt và bị các triều vua Việt đánh trả và từng bước sáp nhập trở lại vào nước ta Năm

1069, vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm Thành là Chế Củ; Chế Củ xin dâng đất 3 châu của Chiêm Thành (nay là vùng Quảng Bình, Quảng Trị) để chuộc tội; Lý Thánh Tông nhận đất và tha Chế Củ Năm 1305, Chế Mân dâng 2 châu Ô và

Lý (vùng Thừa Thiên Huế ngày nay) làm lễ cầu hôn Công chúa Huyền Trân Năm 1402,

Hồ Quý Ly cho quân sang đánh Chiêm Thành, vua Chiêm Thành dâng đất Chiêm Động (Quảng Nam); Hồ Quý Ly bắt dâng thêm đất Cổ Luỹ (Quảng Ngãi) Năm 1470, vua Lê Thánh Tông đem quân đánh và bắt được vua Chiêm Thành Trà Toàn; từ đó dòng dõi vua Chiêm Thành suy yếu; Chiêm Thành sáp nhập trở lại vào nước ta.

Trang 13

Việt Nam Trong chuyến thăm, Trần Nhân Tông nhận lời gả con gái mình là Côngchúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân

(5) Lê Lợi và Nguyễn Trãi vừa đánh, vừa đàm, buộc giặc Minh phải đầuhàng trong danh dự qua Hội thề Đông Quan (ngày 10/12/1427): Trong cuộc khởinghĩa chống ách đô hộ của quân Minh (1418-1428), Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã pháttriển kế sách “vừa đánh - vừa đàm” thành nghệ thuật và vận dụng hết sức nhuầnnhuyễn, hiệu quả, đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi cuối cùng Sau 5 năm khởinghĩa, đến năm 1423, lực lượng của Lê Lợi vẫn còn mỏng Để củng cố và pháttriển lực lượng, Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương phải có một thời gian tạm thờihoà hoãn theo tinh thần “trong sửa chiến cụ, ngoài giả hoà thân” (lời Nguyễn Trãi)

Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi đàm phán với địch và cuộc đàm phán đầu năm 1423

đã thành công, tạo điều kiện cho nghĩa quân có gần 1 năm để xây dựng lực lượng

để từ tháng 10/1424 mở các chiến dịch quân sự tấn công quân địch và đến tháng8/1425 đã giải phóng được nửa nước phía nam (từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá); từ

đó tiến ra bắc, lần luợt giải phóng các vùng Tây Bắc và Đông Bắc, buộc địch phải

co cụm về thành Đông Quan (Hà Nội), chia cắt quân Minh đô hộ ở nước ta với nhàMinh (Trung Quốc) Tháng 1/1427, nhà Minh cử Liễu Thăng và Mộc Thạch đưaviện binh, chia thành 2 cánh sang cứu quân Minh do Vương Thông chỉ huy đang bịnghĩa quân Lê Lợi bao vây ở thành Đông Quan Đạo quân của Liễu Thăng gồm 10vạn quân, từ Quảng Tây tiến sang nước ta; đạo quân của Mộc Thạch gồm 5 vạnquân, từ Vân Nam tiến sang Biết Mộc Thạch tuổi cao, quân ít, lại từng nếm mùithất bại tại chiến trường Việt Nam, Nguyễn Trãi viết thư cho Mộc Thạch, nêu rõthế tất thắng của nghĩa quân, triển vọng chôn vùi thanh danh của Mộc Thạch vàmong muốn của Lê Lợi giữ quan hệ giao hảo láng giềng với Trung Quốc; khiếnMộc Thạch dừng quân ở biên giới, “nghe ngóng” động tĩnh từ phía cánh quân LiễuThăng Chỉ bằng một bức thư tiến công ngoại giao, Nguyễn Trãi đã chặn đượcbước tiến của một đạo quân địch; tạo điều kiện của nghĩa quân dồn sức đánh bạiđội quân Liễu Thăng Biết Liễu Thăng là tướng trẻ, hiếu danh, hiếu thắng, NguyễnTrãi cũng gửi thư cho Liễu Thăng, dùng lời lẽ nhún nhường khiÕn Liễu Thăng

Ngày đăng: 06/10/2021, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w