Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của mỗi quốc gia chính là con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo. Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai trò đặc biệt của nhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin trong tiến trình xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người. Với những lý luận về vấn đề con người được trình bày khoa học trong triết học Mác – Lê nin và được đúc kết sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đặt ra là Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng những lý luận khoa học trên như thế nào? Để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Sau khi học xong chương trình triết học, căn cứ vào tình hình thực tế Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài tiểu luận triết học là: “Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay” Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của mỗi quốc gia chính là con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo. Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai trò đặc biệt của nhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin trong tiến trình xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người. Với những lý luận về vấn đề con người được trình bày khoa học trong triết học Mác – Lê nin và được đúc kết sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đặt ra là Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng những lý luận khoa học trên như thế nào? Để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Sau khi học xong chương trình triết học, căn cứ vào tình hình thực tế Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài tiểu luận triết học là: “Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay”
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa: CNH - HĐH
Trang 2xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội
và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng
kể vào con người.
Với những lý luận về vấn đề con người được trình bày khoa học trong triết họcMác – Lê nin và được đúc kết sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh Vấn đề đặt ra làĐảng và Nhà nước ta đã vận dụng những lý luận khoa học trên như thế nào? Để phục
vụ cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam Sau khi học xong chương trình triết học, căn cứvào tình hình thực tế Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài tiểu luận triết học là:
“Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay”
Trang 3NỘI DUNG CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI1.1 Một số quan điểm về con người ngoài triết học Mác – Lênin
Trong lịch sử triết học, con người là một đề tài được các triết gia triết học phươngĐông và phương Tây quan tâm nghiên cứu Có rất nhiều quan điểm khác nhau về conngười đã được đưa ra, có thể chú ý đến những quan điểm sau:
Quan điểm triết học trước Mác, coi con người là một thực thể tự nhiên – thực thể
xã hội Song họ cũng không vượt qua tính chất siêu hình và thậm chí còn là duy tâm.Theo triết học Phương Đông với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vậtchất phác thơ ngây Điều này được biểu hiện trong tư tưởng triết học Phật giáo, NhoGiáo, Lão Giáo, quan niệm về bản chất con người củng thể hiện một cách phong phú.Chẳng hạn như Khổng Tử quy tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnhhưởng bởi phong tục, tập quán xấu mà bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp Cũng nhưKhổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt conngười hường tới các giá trị đạo đức tốt đẹp Tuân Tử cho rằng bản chất con người khisinh ra là ác nhưng có thể cải biến được, qua một quá trình chống lại cái ác ấy thì conngười mới tốt được Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ “ Đạo” Do vậy con ngườicần phải sống theo lẽ tự nhiên thuần phát, không hành động một cách giả tạo, gò éptrái với quy luật tự nhiên
Cũng như triết học phương Đông, triết học phương Tây cũng có nhiều quanniệm khác nhau về con người Đặc biệt là Kitô giáo, họ nhận thức con người trên cơ sởthế giới quan duy tâm và thần bí Triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu cũng đã có sự phânbiệt con người với giới tự nhiên, nhưng cũng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại conngười Triết học thời kỳ phục hưng cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính củacon người, xem con người là một thực thể có trí tuệ
Nói chung nền triết học thời bấy giờ, vấn đề con người vẫn chưa được nhậnthức đầy đủ cả về bản chất, về mặt sinh học và xã hội Con người mới chỉ được nhấnmạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội Bởi vì họ đã quy đặc trưng bản chất conngười theo khuynh hướng tuyệt đối hoá những thuộc tính tự nhiên hoặc thuộc tính xãhội, mà không thấy được vai trò của thực tiễn Chẳng hạn, khi phê phán quan điểm duytâm của Hêghen thì Phơbách cho rằng vấn đề giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất
Trang 4của con người Vì chỉ có con người mới có tư duy và sự tồn tại của con người cũngnhư tư duy của con người không thể tách khỏi quá trình tâm sinh học Tuy nhiên,Phơibách đã mắc phải sai lầm khi ông tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người hoặctách con người ra khỏi quan hệ hiện thực của xã hội hoặc ông quy bản chất con ngườivào tính tộc loại, mà đặc trưng của nó là tình cảm đạo đức, tôn giáo và tình yêu.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác,
dù đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình,đều không phản ánh đúng bản chất con người Họ đều xem xét con người một cáchtrừu tượng, tuyệt đối hoá về mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tựnhiên – sinh học mà không thấy được mặt xã hội trong đời sống con người Tuy vậycũng không thể phủ nhận hết những thành tựu trong việc phân tích, quan sát conngười, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do
Đó là những tiền đề có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành tư tưởng về con ngườicủa triết học Macxít sau này
1.2 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về bản chất con người
1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội
Kế thừa các quan điểm tiến bộ trong lịch sử triết học, dựa trên những thànhtựu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hóa và thuyết tế bào, triết học Mác
đã khẳng định con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa làsản phẩm hoạt động của chính bản thân con người Con người là sự thống nhất giữayếu tố sinh học với yếu tố xã hội – là thực thể sinh vật – xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tựnhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài Yếu tốsinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vìvậy giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” Con người là một bộ phận của tựnhiên
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhấtquy định bản chất của con người Đặc trưng quy định sự khác biệt của con người vớithế giới loài vật là mặt xã hội Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt độngsản xuất vật chất Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra củacải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình; Hình thành và pháttriển ngôn ngữ và tư duy; Xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy lao động chính là yếu tố
Trang 5quyết định bản chất xã hội của con ngươi, đồng thời hình thành nhân cách cá nhântrong cộng đồng xã hội Theo Mác, xã hội suy cho cùng là sản phẩm của sự tác độngqua lại giữa người với người Con người tạo ra xã hội, là thành viên của xã hội Mọibiểu hiện sinh hoạt của con người là biể hiện và là khẳng định của xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển, conngười luôn phải chịu sự tác động của ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thốngnhất với nhau Bao gồm: Hệ thống quy luật tự nhiên chịu sự quy định của mặt sinhhọc, hệ thống quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học củacon người , hệ thống quy luật xã hội quy định các quan hệ giữa người với người trong
xã hội
1.2.2 Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội
1.2.2.1 Con người là chủ thể của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữusinh Song, điều quan trọng hơn cả là: Con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xãhội C.Mác đã khẳng định “ Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người làsản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chính nhữngcon người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáodục” Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Ăngghen cũng cho rằng : “ thúvật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay củachúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúngtham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết vàkhông phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểutheo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử củamình một cách có ý thức bấy nhiêu”
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tácđộng vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triểncủa lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Conngười thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thếgiới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình.Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính
Trang 6bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại củacon người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên cơ sởnắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinhthần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu docon người đặt ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xãhội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạnphát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất con người trong mối quan hệ với điềukiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động, biến đổi cũng không phải thay đổi cho phùhợp Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở,tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Mặc dù là “tổng hoà các quan hệ xãhội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sángtạo Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thểnói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dùkhông trùng khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm chohoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môitrường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằmđạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua
đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trênnhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người,
sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướngcon người tới hoạt động vật chất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người vàhoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người
1.2.2.2 Con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Từ khi xuất hiện đến nay, loài người luôn cháy bỏng hoài bão được sống tự do,hạnh phúc và không ngừng đấu tranh để hoài bão đó được trở thành hiện thực Trongcác chế độ xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (chế độ chiếm hữu
nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản) Các giai cấp thống trị luôn dùng mọi thủđoạn để tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do và hạnh phúc của số đông quần chúng laođộng Cho nên loài người không ngừng đấu tranh chống lại sự áp bức bất công đó
Trang 7Xã hội ngày càng văn minh, đó là xu hướng chủ yếu của xã hội Nhưng chođến nay, bước tiến của nền văn minh vẫn chứa đựng những yếu tố, những khuynhhướng đi ngược lại lợi ích chung của loài người, nhiều thành tựu của khoa học – kỹthuật được sử dụng để huỷ diệt con người Công nghiệp hoá học tạo ra năng suất, chấtlượng lao động cao, nhưng lại gây ô nhiễm môi trường, máy móc thay thế sức ngườinhưng lại đẩy hàng chục triệu người vào thất nghiệp, xu thế hội nhập mở cửa tạo ra cơhội phát triển cho mỗi người, cho các quốc gia nhưng lại nảy sinh những biểu hiện tiêucực về lối sống làm mất bản sắc văn hoá dân tộc Ông Nobel đã phát minh ra thuốc
nổ và nhờ thuốc nổ trở thành giàu có Nhưng bản thân ông lại không ngờ thuốc nổ lại
sử dụng rộng rãi trong chiến tranh, tàn sát hàng chục triệu người vô tội Ân hận về điều
đó, ông đã để lại di chúc, đề nghị sử dụng gia tài mà ông có được do phát minh thuốc
nổ, làm giải thưởng cho những ai có công trình khoa học đem lại hạnh phúc cho conngười Như vậy, Nobel đã đề xuất một tư tưởng: Văn minh phải hướng tới nhân đạo
Thế kỷ XXI chắc chắn sẽ có nhiều biến đổi to lớn, khoa học và công nghệ sẽ
có những bước tiến bất ngờ Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người, mỗi quốc gia làphải làm chủ được các thành tựu của văn minh Vậy con người là chủ thể của lịch sửnên chính con người chứ không phải đối tượng nào khác, phải loại trừ những yếu tốngăn cản tự do, hạnh phúc của con người, đồng thời thúc đẩy làm biến đổi xã hội theochiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn Thế giới hiện nay còn chứa đựng những yếu tốkhác đe doạ tự do và hạnh phúc của con người như đói nghèo, dịch bệnh, thất học, ônhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội, nguy cơ khủng bố, chiến tranh… Do đó mọichủ trương chính sách, mọi hành động của cộng đồng quốc tế, của các quốc gia vàhành động của mỗi cá nhân phải nhằm bảo vệ con người, vì tự do hạnh phúc của conngười
Vì con người là chủ thể của lịch sử nên con người cần được tôn trọng, cầnphải đảm bảo các quyền chính đág của mình, phải là mục tiêu của mọi tiến bộ xã hội.Chủ Nghĩa Tư bản hiện đại vẫn đang còn sự phát triển Nhưng theo qui luật tiến hoácủa lịch sử, tương lai sẽ thuộc về một xã hội tốt đẹp hơn Một xã hội không có tìnhtrạng áp bức, bóc lột, một xã hội thống nhất và văn minh với nhân đạo, một xã hội màtrong đó mọi người có cuộc sống tự do, hạnh phúc, và xã hội đó chỉ có thể là XHCN
Trang 81.2.3 Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập vớigiới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành bản chất củacon người Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lênluận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người không phải là mộtcái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười là tổng hoà những quan hệ xã hội”
Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện,hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội Luận đề đã khẳng định bản chất xã hội không
có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Trái lại, điều đó muốnnhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới động vật trước hết là bản chất xã hội
và đó cũng là để khắc phục sự thiếu sót của những nhà triết học trước Mác, không thấyđược bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổbiến, là cái mang tính quy luật Vì vậy cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt,phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trongcộng đồng xã hội
Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn toànphụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật, trở thành conngười của xã hội, sáng tạo ra lịch sử Với vai trò là chủ thể của lịch sử con người phảiđược tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả năng của mình Nhưng khôngphải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ điều kiện để phát triển toàn diện Vì vậy,một vấn đề đã và đang đặt ra là các quốc gia nói riêng, nhân loại nói chung, phải coicon người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội
1.3 Chủ nghĩa xã hội là sự phát triển toàn diện của con người
Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mọi người có cuộc sống tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân là mục tiêu cao cả củaXHCN Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tộtbật là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồngbào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
Chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội đã trải qua bước phát triển quanh co, đầy thử tháchcủa lịch sử, nhưng đang vững bước đi lên và đạt nhiều kết quả trong mục tiêu vì sựphát triển toàn diện của con người
Trang 9Nước ta là một nước nghèo đang trong giai đoạn quá độ đi lên Chủ Nghĩa XãHội Tuy vậy, Đảng và nhà nước luôn coi trọng con người, coi con người là mục tiêucủa sự phát triển của xã hội, thể hiện ở các nhiệm vụ phát triển sau:
- Đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, nâng cao rõ rệtđời sống vật chất tinh thần của nhân dân
- Thực hiện công bằng trong phân phối, thực hiện bình đẳng trong các quan
hệ xã hội
- Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Phát triển kinh
tế phù hợp với các vùng, miền nhiều khó khăn, thực hiện chương trình xoá đói giảmnghèo
- Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân
- Đẩy mạnh hoạt động của thể dục thể thao, nâng cao thể trạng tầm vóc của conngười Việt Nam
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phấn đấu vì sự công bằng xã hội.Trong giáo dục, thực hiện: giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội vănminh
Những mục tiêu trên đang được Đảng và nhân dân ta thực hiện nhằm xâydựng một xã hội: dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng, dân chu, văn minh
Trang 10CHƯƠNG 2 KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
HIỆN NAY2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tố con người
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tiến trình xây dựng
xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người.
Từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chú trọng đến quyền làm chủ của nhân dân lao động “thực chất là tôn trọng con người, phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới”[1] Với quan điểm này, mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều chú trọng đến việc chăm lo bồi dưỡng phát huy nhân tố con người.
Vấn đề con người được đề cập đầu tiên tại Đại hội lần thứ IV của Đảng và
được đề cập cụ thể, trực tiếp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua tại Đại hội VII (năm 1991) Trong
Cương lĩnh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo Vì vậy, phương hướng, mục tiêu lớn của chính sách xã hội được đề cập trong Cương lĩnh, Đảng ta chỉ rõ: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [2].
Quan điểm này của Đảng được xây dựng trên những cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm lịch sử cụ thể của đất nước Do
Trang 11đó, Đảng ta khẳng định phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện các chính sách xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà trong xã hội, trong đó con người được đặt vào vị trí trung tâm
Đại hội toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta xác định đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người - động lực trực tiếp của sự phát triển Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khoá VII, Đảng ta nhấn mạnh: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta… Chúng ta cần tìm hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn gốc của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia, phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái, thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người với con người trong sản xuất và trong đời sống”[3].
Như vậy, những nội dung trong quan điểm này xét đến cùng là vì cuộc sống hạnh phúc của mỗi con người mà Đảng ta luôn quan tâm, là sự thể hiện tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong hiện thực cuộc sống.
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trong bối cảnh đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới, với những thành tựu to lớn của hơn 10 năm đổi mới
đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện và tiền đề cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tư tưởng chủ đạo của chiến lược con người là thực hiện “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”[4] Vấn đề con người và chiến lược con người đã được Đại hội cụ thể hoá thành các quốc sách lớn thích ứng với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đó là các chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người và thực hiện công bằng xã hội Mục đích cao nhất của hệ thống chính sách này nhằm phát triển trí tuệ của người Việt Nam, nguồn vốn quyết định nhất, quý giá nhất của chúng ta trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong khi công cuộc đổi mới đất nước đang
đi dần vào chiều sâu và phải giải quyết những nhiệm vụ hết sức phức tạp thì Đảng ta chủ trương bằng mọi giá phải “Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước,
ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà
ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ”[5] Đồng thời, Đảng
ta đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết
Trang 12quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”[6].
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển
giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng là “lấy việc phát huy nhân tố con
người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Nhất quán tư tưởng chiến lược phát triển con người trong thời kỳ đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Xã hội ta là xã hội vì con người và coi con người luôn giữ vị trí trung tâm của sự phát triển kinh
tế xã hội Con người trước hết là tiềm năng trí tuệ, tinh thần, đạo đức, là nhân tố quyết định là vốn quý nhất của chúng ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Quan điểm đó được thực hiện ở chủ trương “phát triển giáo dục và đào tạo
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[7].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người đều xuất phát từ quan điểm cho rằng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hành động kinh tế, văn hoá xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng là phục vụ nhân dân.
Có thể nói, Đại hội lần này đã thể hiện tư duy đổi mới, khoa học của Đảng trong điều kiện lịch sử mới của đất nước Một mặt, quan điểm đó phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội; mặt khác phù hợp với nguyện vọng chân chính của nhân dân cũng như bản chất nhân văn, tính ưu việt của chế độ xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng
Thực tiễn cho thấy, việc giải quyết vấn đề phát triển con người Việt Nam những năm qua được đánh giá có nhiều chuyển biến tích cực và đạt kết quả quan trọng Quá trình cách mạng Việt Nam chứng tỏ rằng trong những thời điểm lịch
sử hiểm nghèo, những tình thế hết sức khó khăn, con người Việt Nam đều rất sáng tạo, năng động và luôn tìm ra những lối thoát, những đường hướng đi lên làm kinh ngạc cả bạn bè quốc tế Lịch sử cũng chứng minh: thời kỳ nào cách mạng biết phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, tạo mọi điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người thì con người Việt Nam luôn biết "chuyển bại
Trang 13thành thắng", chuyển từ tình thế khó khăn thành lợi thế trong đó con người là động lực trung tâm Do đó, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước; gắn vấn đề nhân tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, sống trong một xã hội công bằng và nhân ái, với những quan hệ
xã hội lành mạnh Con người và sự phát triển con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho con người phát triển”[8].
Hiện nay, việc xây dựng con người Việt Nam theo quan điểm của Đảng, là
sự chuẩn bị tích cực, chủ động nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho tương lai và triển vọng của đất nước trên con đường phát triển theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế không thể không dựa vào nhân tố con người, vì vậy cần phải bồi dưỡng, phát triển con người Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, nhân tố con người Xây dựng con người Việt Nam chính là xây dựng nhân cách của con người với nội dung toàn diện, từ bồi dưỡng và phát triển thể lực, năng lực, trí tuệ với phương pháp tư duy khoa học sáng tạo Xây dựng con người Việt Nam hướng tới sự phát triển không chỉ chất lượng cá thể con người mà còn là sự phát triển của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Kế thừa quan điểm về phát huy nhân tố con người từ các đại hội trước, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu
rõ mục tiêu tổng quát là: “Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được khẳng định là khâu đột phá thứ hai Đây được xem là khâu đột phá phù hợp với hoàn cảnh nguồn nhân lực của đất nước trong bối cảnh Việt Nam tích cực, chủ động tham gia hội nhập quốc tế, với sự cạnh tranh diễn ra vô cùng quyết liệt và cuộc cách mạng khoa học, công nghệ.
Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức đòi hỏi nước ta phải nâng cao chất lượng
Trang 14nguồn lực con người Đại hội XI đưa ra quan điểm phát huy nhân tố con người ở nhiều chiều trên cơ sở “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”[9] Quan điểm này thực chất là sự tiếp nối tư tưởng của Đảng coi con người là chủ thể, là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển xã hội và là sự nghiệp của cách mạng Việt Nam Đặc biệt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội” Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa
XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được tiếp tục khẳng định việc: Xây dựng nền văn hóa
và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh nhân tố con người gắn với xây dựng văn hoá làm nền tảng tinh thần với hàm ý văn hoá và con người là cặp đôi biện chứng, trong đó con người là chủ thể sáng tạo văn hoá và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn hoá Yếu tố con người được đề cập là những con người rất cụ thể, con người phải có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, trách nhiệm xã hội,… việc xây dựng con người phải thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể của từng người, chứ không nói chung chung Đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”[10] Đảng ta khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa
và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật”[11] Đây là quan điểm mà Đảng ta luôn nhất quán, mang tính định hướng chiến lược trong xây dựng, phát triển con người Việt Nam.