Hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần ra đời, các ngân hàng nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường tài chính Việt Nam một cách mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngâ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường ngoại hối Việt Nam mới thực sự chuyển mình và bước đầu phát triển khi nền kinh tế mở cửa hội nhập với thế giới, nhất là sau khi gia nhập WTO Nước ta đã từng bước mở rộng trên lĩnh vực tài chính - ngân hàng, trong đó, phải kể đến thị trường tài chính quốc tế Hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần ra đời, các ngân hàng nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường tài chính Việt Nam một cách mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng được đẩy mạnh và dần giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các chính sách nói chung và chính sách tỷ giá nói riêng phải điều chỉnh linh hoạt thích ứng với môi trường quốc tế thường xuyên thay đổi, giảm thiểu các cú sốc bất lợi bên ngoài tác động đến nền kinh tế nội địa, đồng thời hướng tới một tỷ giá thị trường, là sản phẩm của quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
Trang 2Việc tăng tính linh hoạt của tỷ giá sẽ giúp đối phó được với các cú sốc từ bên ngoài
và có được sự kiểm soát tốt hơn đối với các điều kiện tiền tệ trong nước Quan điểm chung trong việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái là cần phải đẩy mạnh quá trình tự do hóa tỷ giá hối đoái, tiến tới tỷ giá hối đoái sẽ phải do thị trường quyết định
Song song đó, hiện nay, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên sử dụng lãi suất như một công cụ hữu hiệu để điều chỉnh thị trường Theo đó, khi lãi suất thay đổi sẽ tác động làm cho tỷ giá thay đổi theo Trong bối cảnh nhân tố lãi suất đóng vai trò chính gây ra sự biến động nhanh và mạnh của tỷ giá tại thị trường ngoại hối Việt Nam thì “học thuyết ngang giá lãi suất” trở nên rất có ý nghĩa Học thuyết này vừa giúp các cá nhân tham gia vào thị trường ngoại hối dự đoán và xác định tỷ giá trong tương lai để có biện pháp phòng ngừa rủi ro và hoạch định chiến lược kinh doanh hiệu quả, lại vừa giúp NHNN có một căn
cứ khoa học để đưa ra những chính sách điều chỉnh tỷ giá một cách phù hợp
Chính vì những lý do trên mà nhóm em xin chọn đề tài: “Vận dụng học thuyết ngang giá sức mua, ngang giá lãi suất vào cơ chế vận hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam” để phân tích nhằm mục đích hiểu rõ hơn môn Tài chính quốc tế nói chung và vấn đề tỷ giá hối đoái của Việt Nam nói riêng Nhờ sự giảng dạy và hướng dẫn của thầy Thái đã giúp nhóm
em hoàn thành chuyên đề này.Tuy nhiên, do thời gian có hạn và trình độ, kinh nghiệm của các thành viên trong nhóm còn hạn chế, nên không thể tránh khỏi những sai sót Nhóm em mong thầy góp ý thêm, nhóm em xin chân thành cảm ơn
Kết cấu bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về thị trường ngoại hối , học thuyết ngang giá lãi suất và ngang giá sức mua
Chương II: Thực trạng cơ chế điều hành của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương III: Vận dụng học thuyết “ngang giá sức mua” và “ngang giá lãi suất” vào cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI ,
HỌC THUYẾT NGANG GIÁ LÃI SUẤT VÀ NGANG GIÁ SỨC MUA
1 Một số khái niệm về thị trường ngoại hối
1.1 Lãi suất
Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là “giá trị của tín dụng, giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau” Khi đến hạn người vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền
dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền vốn trên số tiền lãi gọi là
lãi suất Hay theo một cách diễn đạt khác thì “lãi suất là cái giá mà người vay phải trả để được sử dụng số tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức mà người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu”.
1.2 Ngoại hối
Trang 3Khái niệm ngoại hối được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc
gia “Ngoại hối (foreign exchange) bao gồm các phương tiện tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế”.
Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm:
- Ngoại tệ: Là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR) Ngoại tệ có thể là tiền xu tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền
- Các giấy tờ có giá trị như séc thương mại, chấp phiếu ngân hàng, kỳ phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Vàng tiêu chuẩn quốc tế Đây là vàng được sử dụng với vai trò là tiền trong thanh toán quốc tế
- Đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ
Trong khuôn khổ của Khóa luận này khái niệm ngoại hối chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là ngoại tệ
1.3 Tỷ giá
1.3.1 Khái niệm tỷ giá.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng Các hoạt động thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thực hiện thanh toán với nhau Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia Hai đồng tiền được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ
nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá Vậy có thể định nghĩa: “Tỷ giá là giá của một đồng tiền được biểu thị qua đồng tiền khác”.
Trong thực tế hầu hết các quốc gia sử dụng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp, do đó tỷ giá còn được định nghĩa theo nghĩa hẹp, hay theo cách nhìn từ thực tế như sau: “Tỷ giá là
số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ” Ví dụ như tỷ giá USD tại Việt Nam được định nghĩa là số đơn vị VNĐ trên 1USD.
1.3.2 Chính sách tỷ giá hối đoái.
Theo định nghĩa thì “Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ (mà đại diện thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và
hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia” Chính sách
tỷ giá là một bộ phận trong chính sách kinh tế nên nó cũng phải phù hợp với mục tiêu kinh
tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau
Với cách hiểu về chính sách tỷ giá như trên thì hai yếu tố then chốt làm nên những chính sách tỷ giá đó là chế độ tỷ giá và các công cụ can thiệp lên tỷ giá
- Chế độ tỷ giá : Các quốc gia luôn xây dựng những quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của riêng mình Tập hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của mỗi quốc gia tạo nên chế độ tỷ giá của quốc gia đó Nếu căn cứ vào mức độ can thiệp tăng dần của chính phủ có thể chia ra ba chế độ tỷ giá đặc trưng: Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn;
Trang 4chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết; chế độ tỷ giá cố định Chế độ tỷ giá của các quốc gia thường là không giống nhau và có thể thay đổi qua thời gian.
- Các công cụ của chính sách tỷ giá Tùy theo tính chất tác động lên tỷ giá mà các công cụ này được chia thành nhóm công cụ trực tiếp và nhóm công cụ gián tiếp Nhóm công cụ trực tiếp thường là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối thông qua việc mua bán đồng nội tệ và gián tiếp làm cho tỷ giá thay đổi, ngoài ra các công cụ trực tiếp còn phải kể đến các mệnh lệnh hành chính của chính phủ như các quy định về kết hối, hay quy định về hạn chế đối tượng được phép mua bán ngoại tệ… Nhóm công cụ gián tiếp bao gồm các công cụ như lãi suất tái chiết khấu, thuế quan, hạn ngạch v v Trong đó công cụ lãi suất tái chiết khấu thường được sử dụng nhiều nhất và cũng tỏ ra hiệu quả nhất
1.4 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối.
Căn cứ vào tính chất giao dịch trên thị trường ngoại hối và nội dung kinh doanh, người
ta chia các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối thành:
- Nghiệp vụ giao ngay (The Spot Operations)
- Nghiệp vụ kỳ hạn (The Forward Operations)
- Nghiệp vụ hoán đổi (The Swaps Operations)
- Nghiệp vụ tương lai (The Currency Futures)
- Nghiệp vụ quyền chọn (The Currency Options)
Trong đó:
- Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi được thực hiện phi tập trung The Over The Counter (OTC)
- Nghiệp vụ quyền chọn có thể được:
• Thực hiện phi tập trung (OTC) hoặc là:
• Thực hiện tập trung trên sở giao dịch
- Nghiệp vụ tương lai chỉ được thực hiện trên sở giao dịch
Nghiệp vụ giao ngay còn được gọi là nghiệp vụ gốc, còn các nghiệp vụ khác là phái sinh, tức được bắt nguồn từ nghiệp vụ giao ngay Nghiệp vụ giao ngay được gọi là nghiệp
vụ gốc bởi vì tỷ giá áp dụng cho nghiệp vụ giao ngay được hình thành từ quan hệ cung cầu trên thị trường, trong khi đó bốn nghiệp vụ còn lại gọi là phái sinh, bởi vì tỷ giá áp dụng cho các nghiệp vụ này không được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường
mà được bắt nguồn từ tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền
2 Học thuyết ngang giá sức mua (PPP)
TGHĐ được xác định trên cơ sở so sánh sức mua của hai tiền tệ với nhau gọi là
ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity = PPP)
Là lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi Gustav Cassel Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này
Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá
Công thức tính ngang giá sức mua một cách tương đối như sau:
"S" là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2
"P1" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1
Trang 5"P2" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2
Thuyết Ngang giá Sức Mua (PPP Theory) chỉ ra rằng: “Tỷ giá hối đoái giữa hai loại tiền tệ sẽ được điều chỉnh sao cho giá của cùng một loại mặt hàng ở thị trường nội địa của hai nước đó có mức giá tương đương nhau Vậy, ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền là
cơ sở hình thành tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối
Một tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua sẽ cân bằng sức mua của hai loại tiền tệ khác nhau tại mỗi quốc gia với một giỏ hàng hoá nhất định Loại tỉ giá hối đoái đặc biệt này thường được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống của người dân tại hai hay nhiều quốc gia khác nhau Điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền sẽ cho kết quả khả quan hơn là chỉ đơn thuần so sánh tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các quốc gia sử dụng các đồng tiền đó Tuy nhiên việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái cũng gây nhiều tranh cãi vì việc tạo một giỏ hàng hoá để so sánh sức mua tiền tệ giữa các quốc gia là vô cùng khó khăn
Thị trường ngoại hối có sự biến động rất mạnh mẽ nhưng có rất nhiều người tin rằng tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua phản ánh sự cân bằng về giá trị trong dài hạn Nếu
sử dụng tỉ giá thị trường, không có sự điều chỉnh thì kết quả có thể sẽ có sự sai lệch bởi vì giá cả của các hàng hoá và dịch vụ phi thương mại ở các nước nghèo thì thường thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Vd : với 1 đôla ở Việt Nam ta có thể mua được nhiều thứ hơn 1 đôla tiêu ở Mỹ
Sự khác biệt giữa tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua và tỉ giá hối đoái thị trường là rất lớn Ví dụ: theo các thống kê về tình hình phát triển thế giới của World Bank năm 2005, nếu tính ngang giá sức mua thì 1 đôla Mỹ tương đương 1.8 nhân dan tệ của Trung Quốc (tính vào năm 2003), tuy nhiên, tỉ giá danh nghĩa giữa hai đồng tiền này là 1 đôla bằng 7.9 nhân dân tệ Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa, vd GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là khoảng 1.800$ trong khi nếu tính theo ngang giá sức mua, con số này lên tới 7.204$_một con số khẳng định vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới Tuy nhiên, cũng tính theo ngang giá sức mua, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản sẽ sụt xuống còn 30.615$ trong khi đó con số danh nghĩa là 37.600$
Việc tính toán ngang giá sức mua là rất phức tạp vì trên thực tế có sự khác biệt lớn
về mức giá giữa các quốc gia, chênh lệch trong giá thực phẩm có thể lớn hơn so với sự chênh lệch trong giá nhà ở, hoặc có thể không biến động nhiều bằng giá các dịch vụ giải trí Người dân ở các quốc gia khác nhau có thói quen tiêu dùng khác nhau tức là sẽ có các giỏ hàng hoá khác nhau Vì vậy việc so sánh giá cả của các giỏ hàng hoá khác nhau thông qua chỉ số giá cả là rất cần thiết Đây cũng lại là một nhiệm vụ rất khó khăn bởi mô hình mua bán và thậm chí các hàng hoá mua bán trên thị trường cũng rất khác nhau giữa các nước.Ngoài ra, khi tiến hành so sánh ngang giá sức mua giữa các thời kì cần tính đến những tác động của nhân tố lạm phát
* Quy luật một giá: The absolue PPP
Các hàng hóa giống hệt nhau được bán tại các nước khác nhau phải được bán theo cùng một giá khi chúng được thể hiện cùng một đồng tiền
Quy luật một giá bị phá vỡ, thì kinh doanh chênh lệch giá thông qua các hành vi mua hàng hóa ở thị trường có giá thấp và bán ở thị trường có giá cao giúp khôi phục trở về trạng thái cân bằng
a Chế độ tỷ giá cố định
Trang 6S cố định: hành vi kinh doanh chênh lệch giá làm cho giá hàng hóa ở nước ngoài tăng lên và giá hàng hóa trong nước giảm xuống Dẫn đến hai vế của bất đẳng thức bằng nhau và thị trường trở lại trạng thái cân bằng.
Kết luận: trong chế độ tỷ giá cố định, trạng thái cân bằng của quy luật một giá được thiết lập thông qua quá trình chu chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, làm cho giá cả ở các thị trường khác nhau thay đổi và trở nên ngang bằng với nhau Quá trình này diễn ra chậm chạp, nghĩa là các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá thường tồn tại
và kéo dài
b Chế độ tỷ giá thả nổi
Do tỷ giá S thả nổi nên có thể thay đổi một cách linh hoạt
Trong chế độ tỷ giá thả nổi, trạng thái cân bằng của Quy luật một giá được thiết lập trở lại thông qua sự thay đổi của tỷ giá hơn là thay đổi giá cả hàng hóa Quá trình này diễn
ra nhanh chóng và hiệu quả
- Điều kiện PPP mẫu tuyệt đối
Tính giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ giống nhau bất kỳ ở trong nước và nước ngoài S= P / P*
- Điều kiện PPP mẫu tương đối
S Tỷ lệ % thay đổi tỷ giá sau một năm
P Tỷ lệ % thay đổi giá cả sau 1 năm ở trong nước
P* Tỷ lệ % thay đổi giá cả sau 1 năm ở nước ngoài
- Hàng hóa có thể tham gia thương mại quốc tế (International non-tradeables goods – ITG)
- Hàng hóa không thể tham gia thương mại quốc tế
(International tradeables goods – NITG)
PPP thỏa mãn trước hết là ITG hơn là NITG
Tỷ giá có xu hướng vận động về sát với PPP trong dài hạn Điều này chứng tỏ PPP có thể phát tín hiệu hữu ích trong việc xác định tỷ giá trong dài hạn
* Những nguyên nhân làm cho tỷ giá lệch khỏi PPP
o So sánh các hàng hóa chỉ tương tự nhau chứ không phải là giống hệt nhau
o Chỉ phản ánh tương đối quy luật một giá
o Độ lệch càng nghiêm trọng khi kiểm chứng mức độ chính xác của PPP giữa một quốc gia là phát triển và một quốc gia đang phát triển, vì hai quốc gia này có cơ cấu tiêu dùng rất khác nhau
o Không thể điều khiển hành vi kinh doanh chênh lệch giá với nhiều hàng hóa
và dịch vụ trong rổ hàng hóa để tính chỉ số giá chung
3 Học thuyết ngang giá lãi suất (IRP)
Học thuyết ngang giá lãi suất (IRP) phát biểu rằng sự khác biệt lãi suất giữa 2 quốc gia thì cân bằng với sự khác biệt giữa tỷ giá giao ngay với tỷ giá kỳ hạn Lý thuyết ngang giá lãi suất đóng một vai trò quan trọng trong các thị trường ngoại hối, cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất, tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn Nó giải thích vì sao tỷ giá kỳ hạn khác với
tỷ giá giao ngay và mức độ chênh lệch sẽ có Lý thuyết này liên quan đến một thời điểm nhất định (tỷ giá kỳ hạn), khẳng định tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng sự sai biệt trong lãi suất
3.1 Tiêu chí lựa chọn đồng tiền đi vay và đầu tư
Trang 7Cách tiếp cận để đưa ra quy luật ngang giá lãi suất là thông qua việc phân tích các quyết định đầu tư và đi vay trên thị trường tiền tệ quốc tế Một thực tế là, các nhà đầu tư luôn tìm kiếm cơ hội có mức lãi suất cao nhất, còn các nhà đi vay luôn muốn vay với mức lãi suất thấp nhất Thực tế này đã tạo ra áp lực làm cho lãi suất đầu tư và lãi suất đi vay có xu hướng bằng nhau với mọi đồng tiền, đây cũng là cơ sở để tạo nên quy luật ngang giá lãi suất Trong quá trình nghiên cứu chúng ta tập trung vào các mức lãi suất của các đồng tiền khác nhau chứ không tập trung vào các quốc gia khác nhau bởi vì các chứng khoán thường được phát hành bằng các đồng tiền khác nhau ngay trong một quốc gia Ví dụ như tại Việt Nam Ngân hàng Ngoại thương đồng thời phát hành kỳ phiếu bằng nội tệ (VND) và kỳ phiếu bằng các ngoại tệ khác, như USD, EUR, GBP Ngoài ra cần chú ý rằng chính đồng tiền ghi trên chứng khoán mới bộc lộ rủi ro tỷ giá, còn quốc gia phát hành chứng khoán chỉ bộc lộ rủi ro quốc gia Đối với hầu hết các quốc gia trong những thời kỳ nhất định thì rủi ro
tỷ giá luôn là mối quan tâm thường trực còn rủi ro quốc gia chỉ là thoảng qua
Sau đây để thống nhất chúng ta quy định nhà đầu tư Việt Nam gọi tắt là VNI, nhà đi vay gọi là VNB
3.1.1 Lựa chọn đồng tiền đầu tư
Giả sử có một lượng tiền nhàn rỗi thời hạn 3 tháng và quyết định đầu tư trên thị trường tiền tệ Có hai cách lựa chọn đầu tư, đó là đầu tư vào các chứng khoán ghi bằng nội tệ (gọi
là đầu tư nội tệ) hoặc đầu tư vào các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ (gọi là đầu tư vào ngoại tệ) Vậy thì VNI sẽ quyết định đầu tư vào ngoại tệ hay nội tệ? Tiêu chí quyết định đầu tư dựa trên cơ sở so sánh mức lãi suất thu được quy thành nội tệ từ hai cách đầu tư là như thế nào? Khi quan sát bảng yết lãi suất của các NHTM, ta thấy rằng cùng một thời hạn nhưng mức lãi suất của các đồng tiền khác nhau là rất khác nhau, đồng tiền này có mức lãi suất cao, đồng tiền kia lại có mức lãi suất thấp Tuy nhiên mức lãi suất của ngoại tệ quy thành nội tệ còn phụ thuộc vào biến động của tỷ giá trong tương lai Ví dụ ngoại tệ mà VNI đầu
tư bị giảm giá trước khi chứng khoán đến hạn, làm phát sinh một khoản lỗ tỷ giá khi quy về VND Nếu sử dụng hợp đồng kỳ hạn thì sẽ tránh được rủi ro tỷ giá, nhưng chênh lệch lãi suất từ các đồng tiền khác nhau quy thành nội tệ trở nên rất nhỏ
Giả sử VNI có số tiền nhàn rỗi bằng VND là PVND thời hạn 3 tháng và quyết định đầu tư vào kỳ phiếu ngân hàng Các thông số thị trường như sau:
Mức lãi suất/năm kỳ hạn 3 tháng của VND là RVND
Mức lãi suất/năm kỳ hạn 3 tháng của USD là RUSD
Mức tỷ giá giao ngay là S(VND/USD) = S
Mức tỷ giá kỳ hạn 3 tháng F1/4(VND/USD) = F1/4
VNI cân nhắc chọn một trong hai phương án để đầu tư sao cho có hiệu quả nhất là: đầu
tư vào VND hay đầu tư vào USD Chúng ta hình thành tiêu chí quyết định đầu tư trên cơ sở tính gốc và lãi thu được quy về VND
Phương án 1: Đầu tư vào nội tệ VND
Cứ 1 VND đầu tư vào kỳ phiếu ngân hàng, kỳ hạn 3 tháng, khi đến hạn ta thu được cả gốc lẫn lãi là:
Trang 8Muốn đầu tư vào USD, ta phải tiến hành các bước sau:
Bước 1: Bán 1 USD trên thị trường ngoại hối theo tỷ giá giao ngay S để nhận một lượng
USD là: USD
S
1
=
Bước 2: Dùng số USD thu được để mua kỳ phiếu USD ngân hàng kỳ hạn 3 tháng Khi đến
hạn gốc và lãi thu được bằng USD là:
USD
4
R1S
sử dụng hợp đồng kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá thì lượng VND cuối cùng thu được sẽ
là một số đảm bảo chắc chắn
Bước 3: Nếu tại thời điểm đầu tư vào USD, VNI bán kỳ hạn 3 tháng toàn bộ gốc và lãi
bằng USD dự tính thu được để nhận VND, thì sau 3 tháng khi kỳ phiếu bằng USD đến hạn, VNI sẽ giao cả gốc lẫn lãi bằng USD để nhận VND theo tỷ giá kỳ hạn là F1/4 Như vậy cứ 1VND đầu tư vào USD, sẽ thu được cả gốc lẫn và lãi bằng VND đảm bảo chắc chắn là:
VND
4
R1S
R1S
R1S
F
Trang 9R1
F
VND
Công thức tính lãi suất quy đổi:
Để quyết định đầu tư vào đồng tiền nào, chúng ta hình thành công thức tính mức lãi suất đầu tư vào USD quy VND, sau đó so sánh với mức lãi suất của VND để quyết định chọn đồng tiền đầu tư như sau:
Công thức tổng quát tính mức lãi suất là:
0
0 n / 1
P
P P n
Trong đó: P0 là khoản tiền gốc
P1/n là khoản tiền gốc và lãi khi đến hạn
t là thời gian tính theo năm
n là đại lượng biểu thị một năm bằng bao nhiêu lần thời hạn hợp đồng (n=1/t) Trong phương án đầu tư vào USD và quy VND ta có:
F
n / 1
Thời hạn hợp đồng là 3 tháng nên n=4
Gọi mức lãi suất đầu tư bằng USD quy đổi thành VND là VND
USD
R Thay các thông số thích hợp vào công thức trên ta có:
Trang 10VND USD VND +
=
4
R1S
F
R1
VND = + 4
R 1 P
VND USD VND
R1
R1S
F
VND
Qua phân tích trên cho thấy, việc chỉ so sánh đơn thuần mức lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau là chưa đủ căn cứ để quyết định đầu tư Để quyết định đầu tư vào đồng tiền nào thì cần phải đề cập đến yếu tố tỷ giá kỳ hạn, trên cơ sở đó mới có thể so sánh và lựa chọn đồng tiền đầu tư
3.1.2 Lựa chọn đồng tiền đi vay.
Giả sử, VNB có nhu cầu vốn bằng USD là PVND thời hạn 3 tháng và quyết định đi vay trên thị trường tiền tệ Các thông số thị trường hiện hành như sau:
- Mức lãi suất/năm kỳ hạn 3 tháng cỷa VND là RVND
- Mức lãi suất/năm kỳ hạn 3 tháng của USD là RUSD
- Mức tỷ giá giao ngay S(VND/USD) =S
- Mức tỷ giá kỳ hạn 3 tháng F1/4(VND/USD) = F1/4
VNB cân nhắc chọn một trong hai phương án đi vay để có chi phí thấp nhất là: đi vay bằng VND hay đi vay bằng USD Hãy hình thành tiêu chí quyết định chọn đồng tiền đi vay; tính gốc và lãi phải trả bằng VND
Phương án 1: Đi vay bằng nộ tệ VND:
Cứ mỗi 1 VND đi vay, kỳ hạn 3 tháng, khi đến hạn, gốc và lãi phải trả bằng VND là:
Trang 11Phương án 2: Đi vay bằng ngoại tệ, ví dụ USD:
Muốn đi vay bằng USD, ta phải tiến hành các bước sau:
Bước 1: Để có 1 VND ngày hôm nay, thì số USD phải đi vay là:
Bước 2: Gốc và lãi phải trả bằng USD sau 3 tháng là:
USD
4
R1S
Bước 3: Ngay ngày hôm nay, VNB ký hợp đồng mua USD ( gốc và lãi phải trả) kỳ hạn 3
tháng, chi phí phải trả (gốc và lãi) bằng VND cho mỗi VND đi vay thông qua phương án vay USD là:
VND
4
R1.S
Bước 4: So sánh chi phí (gốc và lãi) bằng VND giữa hai phương án để ra quyết định đi
vay như sau:
a/ Quyết định đi vay bằng VND khi:
R1S
R1S
F
Trang 12c/ Quyết định vay hai đồng tiền là như nhau khi:
R1S
R1S
F
VND
Công thức tính lãi suất quy đổi:
Để quyết định đi vay đồng tiền nào, chúng ta tính mức lãi suất đi vay USD quy VND, sau đó đem so sánh với mức lãi suất của VND để quyết định chọn đồng tiền đi vay như sau:
Gọi mức lãi suất đi vay USD quy đổi ra VND là: VND
VND USD VND +
=
= VND
4
R1S
F
Trang 13VND = + 4
R 1 P
VND USD VND
R1
R1S
F
VND
Qua phân tích trên cho thấy, việc chỉ so sánh đơn thuần mức lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau là chưa đủ căn cứ để quyết định đi vay Để quyết định nên đi vay đồng tiền nào thì cần phải đề cập đến yếu tố tỷ giá kỳ hạn, trên cơ sở đó mới có thể so sánh và lựa chọn đồng tiền đi vay
3.2 Quy luật ngang giá lãi suất có bảo hiểm-CIP
3.2.1 Khái niệm về ngang giá lãi suất
Quy luật ngang giá trên thị trường tiền tệ, đó là ngang giá lãi suất ( Interest Rate Parity- IRP) Thông thường IRP được nghiên cứu trong hai trường hợp:
- Ngang giá lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá (Covered Interest Parity-CIP)
- Ngang giá lãi suất không có bảo hiểm rủi ro tỷ giá (Uncovered Interest Parity-UIP)
Để hình thành IRP chúng ta đưa ra 5 giả thiết:
1 Không tồn tại chi phí giao dịch
2 Không tồn tại hàng rào chu chuyển vốn (thuế, những hạn chế)
3 Kinh doanh tiền tệ quốc tế không chịu rủi ro quốc gia
4 Các chứng khoán có chất lượng như nhau
5 Thị trường tiền tệ cạnh tranh hoàn hảo
Với những giả thiết này cho thấy, các chứng khoán ghi bằng nội tệ và ghi bằng ngoại tệ
có thể thay thế hoàn hảo cho nhau (perfect substitutes), nghĩa là không có bất cứ một hạn
chế nào, thì quy luật “Ngang giá lãi suất có bảo hiểm- CIP” được phát biểu như sau: “Hoạt
động đầu tư (hay đi vay) trên thị trường tiền tệ có bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ có mức lãi suất là như nhau cho dù đồng tiền đầu tư (hay đi vay) là đồng tiền nào”.
3.2.2 Công thức ngang giá lãi suất có bảo hiểm – CIP
Trong ví dụ trên ta có CIP được biểu diễn như sau:
F1/4 USD
Nếu ta quy ước
Trang 14S là tỷ giá giao ngay giữa VND và USD
t 1 R 1 RS
R 1
R R S
S F
R 1
R R +
− Mà *
3.2.3 Kinh doanh chênh lệch lãi suất duy trì CIP
Quy luật CIP được duy trì trên cơ sở kinh doanh chênh lệch giá (lãi suất) trên thị trường tiền tệ Các nhà kinh doanh chênh lệch lãi suất luôn tận dụng mọi thời cơ để kiếm lợi nhuận khi lãi suất giữa các đồng tiền được yết không nhất quán với nhau Đặc biệt do hoạt động kinh doanh chênh lệch không chịu rủi ro tỷ giá (vì sử dụng hợp đồng kỳ hạn), không phải
bỏ vốn kinh doanh, và ngày nay các thị trường tài chính trên thế giới là rất linh hoạt và liên kết với nhau cho nên hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất rất cạnh tranh và phát triển hoàn hảo Đây chính là những động lực khiến cho quy luật CIP hình thành và duy trì Để xem quy luật CIP được hình thành và duy trì như thế nào, chúng ta xét hai tình huống có thế xảy ra như sau:
Trang 151 Đầu tư vào USD có bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ có lãi nhiều hơn so với đầu tư vào VND.
2 Đi vay bằng VND có bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ có chi phí thấp hơn so với đi vay bằng USD
3 Nếu đồng thời đi vay bằng VND và đầu tư vào USD có bảo hiểm rủi ro tỷ giá (tức kinh doanh chênh lệch lãi suất) sẽ có lãi
Hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm tập trung vào việc đi vay đồng tiền có lãi suất thấp là VND và đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao là USD, và trở thành lực lượng thị trường hình thành và duy trì CIP
Quá trình này diễn ra và tác động đến thị trường như sau:
Bước 1: Vay VND kỳ hạn 3 tháng, làm cho lãi suất RVND tăng, tức làm cho vế trái của bất đẳng thức (1.9) tăng lên
Bước 2 : Dùng số VND vay được để mua USD giao ngay, làm cho tỷ giá giao ngay S
tăng lên, và tác động làm cho vế phải của bất đẳng thức (1.9) giảm xuống
Bước 3: Dùng số USD mua được để đầu tư kỳ hạn 3 tháng làm cho lãi suất RUSD giảm, và tác động làm cho vế phải của bất đẳng thức (1.9) giảm xuống
Bước 4: Bán kỳ hạn 3 tháng toàn bộ gốc và lãi thu được bằng USD để nhận lại VND, làm cho tỷ giá kỳ hạn F1/4 giảm, và tác động làm cho vế phải của bất đẳng thức (1.9) giảm xuống
Tất cả các bước từ 1 đến 4 được thực hiện đồng thời tại thời điểm ngày hôm nay
Bước 5: Tại thời điểm sau 3 tháng, thu lãi kinh doanh trên 1 VND đi vay (đơn vị: VND),
R1S
R
Các bước kinh doanh chênh lệch lãi suất từ 1 đến 4 làm cho bất phương trình (1.9) có xu hướng vận động về trạng thái cân bằng Khi 2 về của bất phương trình có xu hướng bằng nhau thì mọi hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất sẽ tự động dừng lại, lúc đó 2 đồng tiền là VND và USD sẽ trở nên ngang giá lãi suất với nhau
Tình huống 2: Nếu Nếu RVND > VND
USD
R Lập luận tương tự cũng đi đến kết luận: Trạng thái trên chỉ là tạm thời và các lực lượng thị trường luôn có xu hướng làm cho hai vế của bất đẳng thức trở nên cân bằng trong dài hạn
Tóm lại: Với các giả thiết đã cho thì các lực lượng thị trường luôn có xu hướng làm cho
lãi suất của các đồng tiền khác nhau là ngang nhau khi quy về một đồng tiền chung Như vậy quy luật CIP là quy luật thị trường làm cho lãi suất của các đồng tiền trở nên ngang giá
Trang 163.2.4 Những nhân tố làm cho CIP bị lệch trong thực tế
Theo học thuyết ngang giá lãi suất, nếu chu chuyển vốn quốc tế là hoàn toàn tự do, các quốc gia đều có độ rủi ro như nhau, bỏ qua chi phí giao dịch và thuế khóa, thì đầu tư có bảo hiểm rủi ro tỷ giá vào các đồng tiền khác nhau sẽ mang lại kết quả như nhau, nghĩa là không tồn tại hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất Nếu các mức lãi suất có bảo hiểm không bằng nhau, nghĩa là các thông số thị trường không thỏa mãn CIP, thì các hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất sẽ vào cuộc, làm cho các mức lãi suất có bảo hiểm trở về trạng thái cân bằng
Trong thực tế, do các giả thiết nêu trên chỉ là tương đối, nên giữa các mức lãi suất có bảo hiểm luôn tồn tại một độ lệch nhất định mà các hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất vẫn không thể vào cuộc Một câu hỏi đặt ra là: giữa các mức lãi suất có bảo hiểm luôn tồn tại một độ lệch nhất định, thế thì tại sao các hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất không hoạt động để đưa các mức lãi suất trở về trạng thái cân bằng, tức để CIP được duy trì? Những nhân tố cản trở hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất bao gồm:
- Chi phí thu thập và xử lý thông tin
Khi hình thành CIP, chúng ta giả định rằng, nhà đầu tư được miễn phí hoàn toàn khi thu thập và xử lỳ thông tin cần thiết về lãi suất và tỷ giá để tìm kiếm các cơ hội đầu tư có lãi nhất Trong thực tế là không hoàn toàn như vậy, các nhà đầu tư phải mua thông tin và chịu chi phí xử lý thông tin Cũng giống như chi phí giao dịch, chi phí thu thập và xử lý thông tin cũng làm cho CIP bị lệch trong thực tế Tuy nhiên nhân tố chi phí thu thập và xử lý thông tin không làm cho CIP bị lệch nhiều, bởi vì cuộc cách mang về công nghệ thông tin
đã làm giảm đáng kể chi phí liên quan đến thu thập và xử lý thông tin
- Can thiệp của chính phủ.
Can thiệp của chính phủ cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chu chuyển vốn khiến cho CIP bị sai lệch Can thiệp của chính phủ bao gồm việc kiểm soát và điều tiết các giao dịch tài chính và quản lý các giao dịch ngoại hối Hình thức can thiệp cơ bản của chính phủ là việc ấn định mức trần lãi suất nội tệ Hành vi can thiệp lãi suất của chính phủ đã tạo nên độ lệch trong thu nhập giữa đầu tư bằng nội tệ và đầu tư bằng ngoại tệ Và đây cũng là nguyên nhân tạo nên mức thu nhập có bảo hiểm có lợi hơn khi đầu tư bằng ngoại tệ Do đầu tư bằng ngoại tệ có lợi hơn nên đã kích thích các luồng vốn chảy ra Để hạn chế luồng vốn chảy ra, chính phủ lại áp dụng các biện pháp kiểm soát ngoại hối như hạn chế việc mua ngoại tệ, buộc các khoản thu ngoại tệ phải kết hối trong một thời gian nhất định, và kết quả
là đầu tư nước ngoài bị hạn chế Trong trường hợp này can thiệp của chính phủ đã duy trì
và kéo dài độ lệch của CIP
Trang 17- Trở ngại tài chính và thị trường không hoàn hảo
Khi tham gia thị trường ngoại hối kỳ hạn, những nhà đầu tư phải tiến hành ký quĩ Khoản ký quỹ này nhằm đảm bảo để nhà đầu tư thực hiện hợp đồng kỳ hạn Thông thường những khoản ký quĩ này không được hưởng lãi hoặc được hưởng mức lãi suất rất thấp, điều này hàm ý rằng khi đầu tư vào ngoại tệ có bảo hiểm đã phát sinh chi phí bổ sung từ hành vi tham gia ký quĩ Đây có thể là lý do khiến cho mức lãi suất đầu tư vào ngoại tệ có bảo hiểm
có thế cao hơn so với mức lãi suất nội tệ mà không làm phát sinh bất cứ một hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất nào Do hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất không thể phát sinh, nên giữa các mức lãi suất có bảo hiểm luôn tồn tại một độ lệch nhất định, nghĩa là CIP không được duy trì tuyệt đối
Những nhân tố khác cũng có thể ngăn cản hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất, như nguồn vốn không có sẵn để dùng vào mục đích đầu tư, các NHTM áp dụng hạn mức tín dụng đối với khách hàng, khiến cho khách hàng bỏ lỡ cơ hội kinh doanh chênh lệch giá Ngoài ra, tính chất không hoàn hảo của thị trường vốn như sự độc quyền, thiếu thông tin, thị trường nhỏ bé .v v cũng là những nguyên nhân ngăn cản hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất và làm cho CIP không được duy trì
- Tính không đồng nhất của các tài sản
Trong khi xây dựng CIP chúng ta đã ngầm giả định rằng các mức lãi suất được áp dụng đối với các tài sản ghi bằng nội tệ và ghi bằng nội tệ có chất lượng đồng nhất với nhau Nghĩa là các tài sản này phải có cùng một chất lượng về các tiêu chí như: thanh khoản, kỳ hạn đến hạn, mức độ rủi ro… Một trong những nguyên nhân khiến cho CIP không được duy trì là các tài sản không hoàn toàn đồng nhất với nhau Yếu tố rủi ro bao gồm rủi ro vỡ
nợ và rủi ro chính trị là nguyên nhân khiến cho CIP không được duy trì Rủi ro vỡ nợ xảy
ra khi người phát hành chứng khoán không có khả năng thực hiện tất cả các cam kết nợ của mình, nghĩa là không có khả năng thanh thanh toán tiền lãi và tiền gốc của các khoản nợ
Rõ ràng là đối với một tài sản có mức độ rủi ro vỡ nợ cao thì mức lãi suất áp dụng cũng phải cao Điều này khiến cho mức lãi suất có bảo hiểm đầu tư vào tài sản này có độ rủi ro cao hơn mà các hoạt động đầu cơ chênh lệch lãi suất vẫn không thể phát sinh Nghĩa là CIP không được duy trì
Khi các chứng khoán được ghi bằng các đồng tiền khác nhau và được giao dịch tại các quốc gia khác nhau có thể làm CIP không được duy trì do có phát sinh rủi ro chính trị của quốc gia Rủi ro chính trị bao gồm khả năng các nguồn vốn đầu tư ở nước ngoài bị phong tỏa, không được chuyển đổi sang các chứng khoán khác, hạn chế chuyển sang đồng tiền khác hay bị tịch thu xung công quĩ
3.3 Quy luật UIP và hiệu ứng Fisher quốc tế
Theo học thuyết ngang giá lãi suất đồng tiền của một quốc gia nào đó có lãi suất thấp hơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia
nọ có lãi suất cao hơn Nói cách khác, trừ kỳ hạn hoặc bù kỳ hạn trên giá kỳ hạn là xấp xỉ tương đương với chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Ngược lại, hiệu ứng Fisher quốc tế chú trọng đến việc tỷ giá giao ngay của một đồng tiền sẽ thay đổi theo thời gian, khẳng định rằng tỷ giá giao ngay sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất giữa hai nước
3.3.1 Tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay dự tính
Trang 18Ở trên chúng ta đã khám phá ra quy luật ngang giá lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá Trong thực tế, dưới áp lực của những hành vi đầu cơ làm cho tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay dự tính tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn có xu hướng bằng nhau Thật vậy: Gọi tỷ giá hợp đồng kỳ hạn t là Ft( VND/USD)
Tỷ giá giao ngay dự tính tại thời điểm sau thời hạn t là St(VND/USD)
Ta chứng minh rằng các lực lượng thị trường làm cho: Ft = St
Có hai khả năng xảy ra:
Khả năng 1: Nếu Stk (VND/USD)> Ft(VND/USD) Các nhà đầu tư sẽ mua kỳ hạn USD tại mức tỷ giá Ft để sau thời gian t, tức là tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn, bán lại USD với tỷ giá giao ngay dự tính là Stk Lãi phát sinh dự tính trên 1 USD giao dịch sẽ là: St - Ft > 0
Thông qua hành vi đầu cơ mua kỳ hạn USD, các lực lượng thị trường đã làm cho tỷ giá
kỳ hạn Ft (VND/USD) tăng lên sát với tỷ giá giao ngay dự tính St (VND/USD) Các hành vi đầu cơ chỉ dừng lại chừng nào Ft = St
Khả năng 2: Nếu St (VND/USD)< Ft(VND/USD) Các nhà đầu tư sẽ bán kỳ hạn USD tại mức tỷ giá Ft để sau thời gian t, tức là tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn, mua lại USD với tỷ giá giao ngay dự tính là St Lãi phát sinh dự tính trên 1 USD giao dịch sẽ là: Ft - St > 0
Thông qua hành vi đầu cơ bán kỳ hạn USD, các lực lượng thị trường đã làm cho tỷ giá
kỳ hạn Ft (VND/USD) giảm xuống sát với tỷ giá giao ngay dự tính St (VND/USD) Các hành vi đầu cơ chỉ dừng lại chừng nào Ft = St
Qua phân tích trên cho thấy nếu thị trường ở trạng thái khả năng 1 hay khả năng 2 thì cũng chỉ là tạm thời; xu hướng của thị trường là làm cho tỷ giá kỳ hạn phải phản ánh tỷ giá giao ngay tại thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn
3.3.2 Hiệu ứng Fisher quốc tế
Hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect - IFE) sử dụng lãi suất để giải thích tại sao tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời gian, nhưng nó có liên quan chặt chẽ với lý thuyết ngang giá sức mua vì lãi suất thường có sự quan hệ mật thiết với tỷ lệ lạm phát Do đó, chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia có thể là kết quả chênh lệch trong lạm phát Hiệu ứng Fisher cho rằng lãi suất thực khi đầu tư bằng ngoại tệ hay ngoại tệ là có xu hường bằng nhau
Trang 19tế đã chạy khỏi ngoại tệ để chuyển sang nội tệ, kết quả là làm cho lãi suất của nội tệ giảm xuống và lãi suất của ngoại tệ tăng lên Các luồng vốn tiếp tục chạy khỏi nội tệ và chảy vào nội tệ chừng nào mức lãi suất thực giữa hai đồng tiền chưa bằng nhau.
Điều ngược lại sẽ xảy ra nếu *
r
r R
R < , kết quả cũng làm cho lãi suất thực của hai đồng tiền có xu hướng bằng nhau Đây chính là nội dung của “ Hiệu ứng Fisher quốc tế”
Trang 20CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI THỊ
TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM
1 Tổng quan về thị trường ngoái hối Việt Nam
Hơn 30 năm sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn do phải hứng chịu những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại Tuy nhiên với những đổi mới trong chính sách điều hành nền kinh tế, Việt Nam đã từng bước đạt được những thành tựu đáng tự hào trong việc tái thiết cũng như duy trì và phát triển nền kinh tế
Trong suốt thập niên 80, mô hình XHCN đã được áp dụng thống nhất trên phạm
vi cả nước Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã phát huy hiệu quả trong giai đoạn chiến tranh
và một số năm tiếp theo đó Nhưng việc duy trì quá lâu một cơ chế bao cấp của nhà nước như vậy đã làm nảy sinh mâu thuẫn, rối loạn sâu sắc trong việc phát triển kinh tế đất nước Tăng trưởng kinh tế hàng năm chỉ đạt 4 - 5%, lạm phát luôn ở mức cao, cuộc sống người dân nghèo khổ Trong giai đoạn này, thị trường nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng chưa có điều kiện hình thành và phát triển Tỷ giá hối đoái chính thức được quyết định bởi NHNN mà không dựa trên cơ sở các biến số kinh tế Việt Nam duy trì chế độ tỷ giá cố định
và đa tỷ giá, tỷ giá mậu dịch ở mức 225 VND trên 1 USD trong khi tỷ giá phi mậu dịch là
386 VND trên 1 USD Sự bất hợp lý trong tỷ giá, đồng Việt Nam được định giá quá cao đã làm cho hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng Dưới những áp lực gây ra bởi sự mất cân bằng của tỷ giá, năm 1998 NHNN đã công bố tỷ giá chính thức mới ở mức: 900 VND trên 1 USD với tỷ giá mậu dịch và 3500 VND trên một USD với tỷ giá phi mậu dịch Tháng 3 năm 1988, lần đầu tiên tỷ giá mậu dịch và phi mậu dịch cùng thống nhất ở mức 4500 VND trên 1 USD và tiến gần hơn tới tỷ giá trên thị trường tự do
Mặc dù nền kinh tế nước ta đã bắt đầu thực hiện chuyển đổi với chính sách “đổi mới” kể từ năm 1986, Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự quản lý của nhà nước, nhưng phải bắt đầu từ năm 1989 nền kinh
tế nước ta mới có những thay đổi mang tính toàn diện Với chính sách mở cửa, khuyến khích các hoạt động sản suất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế, lần đầu tiên tư nhân được nhìn nhận với vai trò một thành phần kinh tế chính thức Các hoạt động của hệ thống tài chính nói chung đã dần mang tính thị trường Kinh tế Việt Nam đã từng bước đổi mới, dần hoàn thiện, phát triển và tiếp cận gần hơn với thị trường ngoại hối quốc tế
Trước năm 1988 chỉ duy nhất Ngân hàng Ngoại thương được phép hoạt động và kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài khoản ở nước ngoài Nhưng với việc
Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 161/HĐBT ngày 18/10/1988 về “Điều lệ quản lý
ngoại hối” theo đó cho phép các ngân hàng chuyên doanh khác, các ngân hàng liên doanh
với nước ngoài, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối hoặc dịch vụ thu ngoại tệ khi có sự cho phép của NHNN Việt Nam Như vậy có thể nói lần đầu tiên ở Việt Nam thế độc quyền trong kinh doanh ngoại hối đã được dỡ bỏ Sau quyết định này các NHTM nói chung muốn kinh doanh ngoại hối có thể làm thủ tục để NHNN cấp phép Đây được xem như sự khởi đầu tạo ra môi trường và điều kiện hoạt động của thị trường ngoại hối, hình thành một sân chơi chứa đựng yếu tố cạnh tranh của thị trường
Trang 21Năm 1991 là năm đánh dấu mốc lịch sử về việc hình thành nền móng cho thị
trường ngoại hối Việt Nam với Quyết định số 107 NH/QĐ về việc ban hành “Quy chế tổ
chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT)” Trên cơ sở của Quy chế này, hai TTGDNT tại TP.HCM và Hà Nội lần lượt ra đời vào tháng 8 và tháng 11 năm
1991 Dưới sự hoạt động của hai TTGD, tỷ giá được điều chỉnh trong một biên độ giao động nhất định, chênh lệch giữa tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá chính thức dần được rút ngắn từ mức 1800 VND mỗi USD năm 1991 giảm xuống còn 29 Đồng trên một USD năm 1994
Trước những nhu cầu bức thiết trong quan hệ giao dịch, thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể, nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, phù hợp với quá trình phát triển tài chính toàn cầu, cùng với việc hệ thống các NHTM đã phát triển cao
về mặt số lượng cũng như chất lượng, NHNN đã ban hành Quyết định số 203 QĐ-NH ngày 20/10/1994 thành lập Thị trường ngoại tệ Liên ngân hàng và ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH”, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình hình thành và phát
triển thị trường ngoại hối Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế Dưới sự quản lý của nhà nước, hoạt động của thị trường ngoại hối nước ta đã có những thay đổi mang định hướng thị trường hơn, những thay đổi này cũng giúp hạn chế những ảnh hưởng bất lợi tới từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 Nhìn chung cán cân thương mại và cán cân tài khoản vãng lai đã dần được cải thiên, môi trường kinh doanh trong nước trở nên thuận lợi hơn, giúp thu hút được nhiều hơn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Từ năm 1999 đến nay hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng không ngừng phát triển Tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng là cơ sở để các NHTM quyết định tỷ giá mua vào và bán ra Tỷ giá này ngày càng phù hợp hơn với các chỉ số khác của nền kinh tế Hệ thống các NHTM trở thành môi trường hữu hiệu để qua đó NHNN thực thi các chính sách về quản lý ngoại hối Với các chính sách ngoại hối và tiền tệ phù hợp cho mỗi giai đoạn, hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam ngày một hiệu quả, sự biến động của tỷ giá đã theo hướng cân bằng hơn, chênh lệch giữa tỷ giá trên thị trường tụ do và
tỷ giá chính thức được thu hẹp dần
Biểu đồ 1.1
Trang 22Nguồn: Vụ quản lý ngoại hối - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhìn chung, sau khi từ bỏ mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiến hành đổi mới, đặt mục tiêu xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hàng loạt các chính sách kinh tế nói chung, chính sách tài chính tiền tệ, ngoại hối nói riêng đã được thực thi đưa nền kinh tế nước ta vượt qua giai đoạn tăng trưởng chậm cùng lạm phát phi
mã, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho thị trường ngoại hối từng bước hình thành và phát triển Dưới những chính sách quản lý ngoại, điều hành tỷ giá phù hợp của NHNN, tổ chức thị trường ngoại hối Việt Nam đã được định hình một cách rõ ràng Hoạt động của hệ thống các NHTM trong thị trường ngoại hối Việt Nam đã góp phần thực hiện những mục tiêu chung như phát triển thị trường, bình ổn tỷ giá, thực thi những chính sách tài chính - tiền tệ đáp ứng yêu cầu đặt ra đó là ổn định và phát triển kinh tế
2 Tổ chức của thị trường ngoại hối Việt Nam
Chỉ từ khi thị trường Interbank được thành lập thì cấu trúc của thị trường ngoại hối nước ta mới thực sự hình thành một cách rõ ràng Theo đó tổ chức của thị trường ngoại hối Việt Nam có thể được khái quát như sau:
Phân loại thị trường ngoại hối ở Việt Nam:
Thị trường chính thức: là thị trường Interbank (thị trường Liên ngân hàng) Tỷ
giá giao dịch chính thức trên thị trường còn gọi là tỷ giá bình quân Liên ngân hàng và được xem như tỷ giá chính thức (OER) Tỷ giá giao dịch bình quân Liên ngân hàng là cơ sở để các NHTM quyết định tỷ giá mua vào và bán ra trong ngày làm việc tiếp theo của thị trường
Thị trường bán lẻ: Các giao dịch ngoại hối diễn ra với nhiều tỷ giá khác nhau,
tỷ giá giao dịch có thể là tỷ giá được yết trên cơ sở tỷ giá chính thức, hoặc một mức tỷ giá thịnh hành nhất được thị trường quyết định Thị trường bán lẻ bao gồm:
Trang 23- Thị trường mà các NHTM giao dịch với khách hàng hoặc giữa các NHTM và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ do NHNN cho phép với nhau Đây
là thị trường hợp pháp và có tổ chức Tất cả các giao dịch mua bán và mức tỷ giá áp dụng trên thị trường này đều tuân thủ các chính sách điều hành tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối của NHNN
- Thị trường chợ đen: nơi mà các giao dịch ngoại hối diễn ra với mức tỷ giá thả nổi, không kiểm soát Thị trường chợ đen là thị trường bất hợp pháp Theo nghị định hiện hành về quản lý ngoại hối ở nước ta thì không cho phép bất cứ một giao dịch ngoại hối nào trên thị trường này, nhưng thực tế ở Việt Nam thị trường chợ đen vẫn tồn tại Chính phủ Việt Nam coi sự hoạt động của thị trường này như một dấu hiệu để kiểm chứng tính hiệu quả trong việc thực thi các chính sách ngoại hối bằng việc nhận biết những thay đổi bất thường trên thị trường, chính phủ có thế đưa ra các giải pháp phù hợp để ngăn chặn và daayr lùi những ảnh hưởng bất lợi tới thị trường ngoại hối nói chung
Tổ chức của thị trường ngoại hối Việt Nam:
Thị trường ngoại hối Việt Nam ở đây được người viết tiếp cận dưới góc nhìn là thị trường hợp pháp và có tổ chức Các hoạt động diễn ra trên thị trường được chính phủ cho phép Tổ chức của thị trường được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Bảng 1.1: Tổ chức Thị trường ngoại hối Việt Nam
Nhóm khách hàng mua bán lẻ: bao gồm người cư trú và phi cư trú, có nhu cầu
mua và bán ngoại hối phục vụ mục đích cá nhân như các hoạt động XNK, đầu tư v Các giao dịch ngoại hối của họ phải được thực hiện với các NHTM hoặc các công ty tài chính (gọi tắt là các NHTM) được NHNN cho phép thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại hối Theo luật về quản lý ngoại hối thì người cư trú hay người phi cư trú có thể là một cá nhân, một tổ chức kinh tế hoặc phi kinh tế, hay các công ty XNK Cũng theo luật về quản lý ngoại hối của Việt Nam thì tất cả các giao dịch bán ngoại hối của khách hàng với các ngân hàng thương mại được diễn ra mà không yêu cầu chứng minh nguốn gốc của lượng ngoại
tệ đem bán Nhưng tất cả các giao dịch trong đó khách hàng muốn mua ngoại tệ từ các NHTM đều cần chứng từ chứng minh mục đích sử dụng hợp pháp của số ngoại tệ sau khi mua
Ngân hàng nhà nước VN
NHTM & Tổ chức
tín dụng
NHTM & Tổ chức tín dụng
NHTM & Tổ chức tín dụng
Khách hàng mua bán
lẻ
Khách hàng mua bán
lẻ
Trang 24Các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính được NHNN cho phép
hoạt động kinh doanh ngoại hối Đây chính là các thành viên chính thức của thị trường Interbank Kể từ khi thành lập số lượng các thành viên tham gia Interbank ngày một tăng lên và hiện nay đã có hơn 80 NHTM và TCTD tham gia vào Interbank
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò là ngân hàng trung ương, đồng
thời chịu trách nhiệm quản lý ngoại hối quốc gia NHNN cũng là cơ quan ban hàng những chính sách tiền tệ, ngoại hối và tỷ giá, trực tiếp điều hành và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến ngoại hối trên thị trường Interbank
3 Cơ chế điều hành tỷ giá tại thị trường ngoại hối Việt Nam
Cơ chế điều hành tỷ giá của một quốc gia bao gồm cơ chế xác định và cơ chế can thiệp lên tỷ giá mà quốc gia đó áp dụng Căn cứ vào cơ chế xác định và cơ chế can thiệp lên tỷ giá thì chính sách tỷ giá của Việt Nam cho đến nay có thể chia thành bốn thời kỳ như sau:
- Thời kỳ thứ nhất: Trước năm 1989 Đặc trưng của thời kỳ này là:
Nhà nước độc quyền về ngoại thương và ngoại hối, do đó tỷ giá cũng do nhà nước độc quyền xác định Không tính đến yếu tố cung cầu ngoại tệ trên thị trường Đây chính là thời kỳ chế độ tỷ giá cố định, đa tỷ giá với tính chất phi thị trường sâu sắc
- Thời kỳ thứ 2: Từ 1989 đến 1991 Đặc trưng của thời kỳ này là, bãi bỏ chế độ
đa tỷ giá, chuyển sang áp dụng chế độ đơn tỷ giá (tỷ giá chính thức) và được điều chỉnh mạnh theo tín hiệu của thị trường Chính vì vậy nhiều người coi thời kỳ này là thời kỳ “thả nổi” của tỷ giá Nhà nước không có khả năng kiểm soát
- Thời kỳ thứ 3: Từ năm1992 đến 2/1999 Đặc trưng của thời kỳ này là tỷ giá
chính thức được ấn định trên cơ sở:
+ Đấu thầu tại trung tâm giao dịch ngoại tệ từ 10/1991 đến 31/12/1994 Do đó, nội dung tỷ giá đã hàm chứa cung cầu ngoại tệ trên thị trường
+ Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ Liên ngân hàng từ 1/1995 đến 2/1999 Chính vì vậy nội dung của tỷ giá đã phản ánh cung cầu ngoại tệ và khách quan hơn so với trước
+ Ngoài ra trong giai đoạn này đã nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á 1997 – 1998
- Thời kỳ thứ 4: Từ tháng 3/1999 đến nay Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là,
thay vì ấn định và công bố tỷ giá chính thức, NHNN bây giờ chỉ “thông báo” tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng Đây là thời điểm chuyển từ chế độ tỷ giá cố định (tỷ giá chính thức) sang chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Ngày 25/02/1999 Thống đốc NHNN đã ký ban hành Quyết định số 64/QĐ-NHNN
về việc “công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam với các ngoại tệ” và Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 về việc “Quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng (TCTD) được phép kinh doanh ngoại tệ” Nội dung đổi mới của cơ