DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNHHình 1: Phân ranh tự nhiên của một khu rừng ngập mặn theo độ mặn tăng dần từ trái sang phải Hình 2: Lưới thức ăn từ hệ sinh vật rừng ngập mặn Hình 3: Độ cao của sóng
Trang 1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Đại học Quốc Gia Hà Nội
TIỂU LUẬN VAI TRÒ, HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NGẬP NƯỚC ĐỒ SƠN, HẢI
PHÒNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hạnh Lê Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thu Hà
Hà Nội, 12/2012
Trang 2DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Hình 1: Phân ranh tự nhiên của một khu rừng ngập mặn theo độ mặn tăng dần từ
trái sang phải
Hình 2: Lưới thức ăn từ hệ sinh vật rừng ngập mặn
Hình 3: Độ cao của sóng trước và sau khi đi qua rừng Trang tại Bàng La, Đồ Sơn
sau cơn bão Washi năm 2005
Hình 4: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn cửa sông Văn Úc
Bảng 1: Các loại đất ngập nước Đồ Sơn
Bảng 2: Chỉ số NDVI rừng ngập mặn tại một số quận Hải Phòng qua các năm Bảng 3: Giá trị sinh học cửa sông Văn Úc
Trang 3MỞ ĐẦU
Đất ngập nước là những vùng đất có độ ẩm bão hòa, tạm thời hay vĩnh viễn Đất ngập nước ở Việt Nam chiếm một lượng không nhỏ về diện tích và số lượng, là nơi có trữ lượng tài nguyên sinh vật dồi dào Tuy nhiên, do chưa đánh giá được tầm quan trọng cũng như độ đa dạng của các loại đất ngập nước nói riêng và ở Đồ Sơn, Hải Phòng nói chung, việc bảo tồn và sử dụng đất ngập nước không hiệu quả trong thời gian dài gây ra lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này Trong khuôn khổ bài tiểu luận, tác giả phân tích các yếu tố tác động đến đất ngập nước Đồ Sơn, liệt kê các loại đất ngập nước và hiện trạng phát triển của chúng Từ đó, tác giả đánh giá tiềm năng và đề xuất một số biện pháp để nâng cao hiệu quả khai thác đất ngập nước tại khu vực này
TỔNG QUAN
Đồ Sơn là bán đảo nằm phía Đông Nam Hải Phòng, phía Đông, Tây, Nam giáp biển, phía Bức giáp huyện Kiến Thụy Bán đảo Đồ Sơn hình thành do bồi tụ phù sa
từ sông Lạch Tray và Văn Úc Bán đảo có lịch sử hình thành từ triều Nguyễn, trải qua nhiều năm phát triển, hiện nay, bán đảo trở thành một trong những khu du lịch nổi tiếng nhất miền Bắc
Hệ sinh vật bán đảo Đồ Sơn chịu ảnh hưởng từ nguồn tài nguyên cửa sông Văn
Úc, vốn rất giàu có, sông Thái Bình và Lạch Tray nên vốn rất đa dạng Tuy nhiên,
do quá trình khai thác quá mức trong thời gian dài,, hệ sinh vật Đồ Sơn bị suy giảm Phần lớn, các hệ sinh thái còn tồn tại là hệ sinh thái nhân tạo
Địa hình Đồ Sơn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hoạt động thủy triều, sóng biển, lấn biển của cửa sông và nâng trồi và hoạt động canh tác của người dân, tạo nên địa hình đa dạng gồm 4 nhóm chính: đồi núi thấp ven biển, đồng bằng ngập triều và không ngập triều, các bờ luồng, lạch nước biển Chính vì vậy, đất ngập nước của Đồ Sơn tương đối đa dạng về loại hình, bao gồm đất ngập nước tự nhiên và nhân tạo
Trang 4PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp hồi cứu tài liệu: tham khảo, tổng hợp và chọn lọc những tài liệu liên quan đến đất ngập nước Đồ Sơn
Phương pháp thực địa: khảo sát, kiểm tra và thu thập thêm thông tin về đất ngập nước trong chuyến đi thực tập Đồ Sơn và tháng 4/2012
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Các nhân tố môi trường khu vực:
1.1 Điều kiện địa hình:
Các dạng địa hình Đồ Sơn bao gồm đồi núi thấp ven biển, đồng bằng ngập triều, đồng bằng không ngập triều và bờ ngầm ngập nước Bờ biển trải qua các giai đoạn kiến tạo khác nhau và hàng năm vẫn lấn ra biển nhờ phù sa bồi tụ từ các con sông Bề mặt địa hình bao gồm địa hình có nguồn gốc sông, địa hình nguồn gốc biển và địa hình nguồn gốc sông – biển hỗn hợp Chính
vì vậy, Đồ Sơn có cả các dạng đất ngập nước thường xuyên và không thường xuyên, đất ngập nước ven biển và sâu trong nội địa
1.2 Điều kiện khí hậu:
Đồ Sơn nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng nhiệt ẩm phong phú Độ ẩm trung bình mùa đông không dưới 80%, thường xuyên khoảng 90 – 95% vào mùa hè Vào tháng 5, 6, do ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới Ấn Độ Dương nên độ ẩm dưới 50% Ngoài ra, do vị trí sát biển,
Đồ Sơn chịu ảnh hưởng của khối không khí đất – biển
Lượng mưa trung bình năm khoảng 1660 mm, cao hơn mức trung bình của cả nước (1400 mm/năm) Mưa lớn tập trung cao nhất vào tháng 8 (325mm) Thêm vào đó, đây là nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng từ các cơn bão Mỗi năm có từ 1 – 2 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào Đồ Sơn và 5 – 6 cơn bão gián tiếp ảnh hưởng Bão xuất hiện rải rác từ tháng 6 đến tháng 10 kèm theo gió (vận tốc 20 m/s) và mưa Ước tính, lượng mưa từ các cơn bão chiếm
Trang 525 – 30% lượng mưa cả năm Ngoài ra, hiện tượng giông lốc xuất hiện với tần suất lớn (100 – 120 ngày/năm)
Lượng ẩm phong phú kèm theo lượng mưa dồi dào là một trong những nguyên nhân chính hình thành các loại đất ngập nước nằm sâu trong nội địa bán đảo Đồ Sơn
1.3 Đặc điểm thủy hải văn:
Chế độ thủy văn: Đồ Sơn chịu ảnh hưởng từ chế độ thủy văn của ba con sông lớn Lạch Tray, Văn Úc và Thái Bình Đồ Sơn mang các đặc điểm đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển
Chế độ hải văn: Đồ Sơn chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều biên độ lớn Ven biển hình thành nhiều vũng vịnh và vùng đất ngập nước ven biển điển hình
1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng:
Thổ nhưỡng Đồ Sơn mang đặc điểm tiêu biểu của các loại đất ngập nước, bao gồm:
- Đất cát đỏ tập trung gần cửa sông, hình thành do phù sa bồi tụ, là nơi được sử dụng để trồng lúa
- Đất cát trắng ven biển
- Đất chua phèn, pH 2, 5 – 3, 5
- Đất mặn sú vẹt, pH 6, 5 – 8, 3 tập trung ven biển, tại các bãi ngập triều không thường xuyên, thành phần là xác sú, vẹt
2 Các hệ sinh thái ĐNN Đồ Sơn
Dựa vào hệ thống phân loại của IUCN, đất ngập nước Đồ Sơn được chia thành các loại sau:
Kiểu đất ngập nước Mô tả Thuộc
biển
Đất ngập nước dưới triều
Thủy vực không có cây dưới 6m khi triều thấp, bao gồm cả vũng, vịnh và
eo biển
Trang 6Thảm thực vật dưới triều, chủ yếu là
có tác dụng giữ phù sa, là nơi sinh
đẻ của nhiều loài thủy hải sản Gian triều Bờ biển đá bao gồm vách đá và bờ
đá, hoặc bãi gian bùn triều, cát di động, các lạch triều
Phân bố ven đảo Hòn Dáu Thuộc
cửa sông
Dưới triều Nước vùng cửa sông
Thuộc vùng cửa sông Bạch Đằng và Văn Úc
Gian triều Bãi gian triều bùn cát
Rừng ngập mặn gian triều, đất giàu mùn bã hữu cơ
Phân bố ở rìa sông, cửa vịnh Đất
ngập
nước
nhân tạo
Nuôi trồng thủy hải sản
Đầm nuôi bao gồm đầm tôm, cá
Đất ngập nước Đất được tưới nước, kênh dẫn nước
bao gồm ruộng lúa nước Đất cày ngập nước theo mùa Làm muối Ruộng muối và nước muối
Phân bố tại làng Bàng La
Bảng 1: Các loại đất ngập nước Đồ Sơn (Nguồn: Giáo trình thực tập Đồ Sơn)
3 Hiện trạng các vùng đất ngập nước Đồ Sơn
3.1 Hiện trạng phát triển các đầm nuôi:
Trang 7Nuôi trồng thủy hải sản là một trong những ngành nghề chính của địa phương Lượng hải sản nuôi trồng hàng năm đạt 750 tấn, giá trị 12, 5 tỷ đồng, đóng góp 1/3 lượng thủy hải sản đánh bắt và nuôi trồng của địa phương Diện tích nuôi trồng năm 2012 đạt 410ha, sản lượng 250 tấn (Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2012, Ủy ban nhân dân Đồ Sơn) Tuy nhiên, thủy hải sản tại Đồ Sơn không đủ cung cấp cho nhu cầu của người dân và khách du lịch Phần lớn thủy hải sản Đồ Sơn nhập từ các nơi như Cát Bà, Móng Cái Hiện nay, diện tích đầm nuôi đang thu hẹp dần, sản lượng nuôi trồng giảm do những nguyên nhân sau:
- Ô nhiễm nước từ khu công nghiệp Đồ Sơn Nước thải từ khu công nghiệp không qua xử lý, có chứa hóa chất và hàm lượng kim loại nặng cao là nguyên nhân gây ra ô nhiễm đất và nước tại các khu vực lân cận Từ khi khu công nghiệp Đồ Sơn được xây dựng, nước thải từ các nhà máy hòa vào hệ thống nước trong vùng làm chết tôm, cá và những loài mẫn cảm với chất lượng nước, làm giảm sản lượng của các đầm nuôi xung quanh
- Mất diện tích nuôi trồng do dự án xây dựng sân golf Gân Golf Đồ Sơn xây dựng hứa hẹn tạo ra hoạt động du lịch và sinh kế mới của người dân trong vùng, nhưng đồng thời san lấp nhiều đầm nuôi trồng thủy sản để lấy diện tích xây dựng Bên cạnh đó, người dân được đền bù tiền nhưng chưa được tạo lập sinh kế mới gây ra thất nghiệp và nhiều tệ nạn khác
- Hệ thống thủy lợi bị phá vỡ: việc xây dựng sân golf và khu công nghiệp đồng thời san lấp các kênh mương dẫn nước tới các đầm nuôi phía sâu trong vùng, phá vỡ hệ thống cấp và thoát nước Tham khảo ý kiến nhiều
hộ dân nuôi trồng quanh khu vực sân golf vào tháng 4/2012 cho thấy, nước trong đầm nuôi được máy bơm bơm ra ngoài nhưng không có chỗ lưu thông nên lại được các đầm nuôi khác bơm vào Nước chứa hàm lượng chất hữu cơ hòa tan và TSS cao, làm giảm sản lượng nuôi trồng
- Hiện tượng thủy triều đỏ làm giảm lượng oxy trong nước, thủy sản bị chết ngạt; Theo ông Lê Thanh Tùng – phó trưởng phòng Công nghệ sinh học
Trang 8biển, viện Nghiên cứu hải sản cho biết, vào đợt lấy mẫu phân tích đầu tháng 4 năm 2012, tại khu vực Đồ Sơn, Cát Bà, hiện tượng thủy triều đỏ
do loại tảo Noctiluca scintillans Loại tảo này không sinh độc tố, nhưng với mật độ cao, sinh sản nhanh, chúng gây ra tình trạng cạn kiệt oxy và chất dinh dưỡng trong thủy vực, làm chết các loài thủy sản
- Ảnh hưởng từ các đợt bão biển: bão biển gây ra sạt lở đê kè và ngập úng trên diện rộng Cơn bão biển ngày 18 tháng 9 năm 2011 gây ngập úng huyện Cát Hải, sạt đê Đồng Bài, hàng trăm hecta đồng muối, đầm thủy sản bị cuốn trôi
- Con giống nhiễm bệnh, chất lượng kém: hiện nay Đồ Sơn chưa có trung tâm nuôi trồng và gây giống và kiểm soát Con giống từ Đồ Sơn được nhập ngoại từ các vùng như Hạ Long, Cát Bà, Đà Nẵng nên phần lớn nhiễm bệnh trên đường vận chuyển
3.2 Hiện trạng phát triển rừng ngập mặn:
Trước kia Đồ Sơn có rừng ngập mặn nhưng bị phá hủy trong quá trình định cư và khai hoang Từ năm 2005, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Phòng phát động chiến dịch trồng mới rừng ngập mặn với sự cộng tác của các tổ chức tình nguyện Đến nay, rừng được trồng mới nhưng chưa phục hồi được các chức năng cơ bản, đa dạng sinh học còn nghèo nàn
Nước triều cao trung bình
Nước triều thấp trung bình Đước
Dà Vẹt
Mắm
Bần
Hình 1: Phân ranh tự nhiên của một khu rừng ngập mặn theo độ mặn tăng
dần từ trái sang phải (Nguồn: Phan Nguyên Hồng)
Trang 9Rừng ngập mặn Đồ Sơn mới hình thành 3 lớp cây cơ bản: vẹt, đước và mắm Chỉ số phát triển rừng ngập mặn Đồ Sơn được tính theo NDVI – Chỉ
số thực vật chuẩn (Normalized Different Vegetation Index), được sử dụng để đánh giá mật độ phân bố của thực vật và tình trạng phát triển của cây trồng trên một diện rộng Chỉ số NDVI thể hiện mức độ rậm rạp và sức khỏe của thảm thực vật Chỉ số này được tính bằng công thức:
NDVI = (NRI – RED)/(NRI + RED)
Trong đó: RED và NIR là số đo phổ phản xạ thu được ở vùng bước sóng hồng ngoại và cảm hồng ngoại tương ứng Chỉ số NDVI dao động từ 0 -> 1, càng gần 1 chứng tỏ mật độ cây càng lớn
Năm
1989 Năm 1995 Năm 2001 Năm 2007
Thuỷ Nguyên 0,25 0,23 0,19 0,2
Bảng 2: Chỉ số NDVI rừng ngập mặn tại một số quận Hải Phòng qua các
năm (Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ biển 2009)
3.3 Hiện trạng phát triển các vùng đất ngập nước khác:
Ở Đồ Sơn có nhiều vụng, là các vùng đất ngập nước thường xuyên ở sâu trong đất liền, phân bố ở bát vạn Đồ Sơn, từng được làm bến cá Hiện nay, một số vụng trở thành bãi tắm, còn lại một cảng cá nhỏ gần đền Vạn Ngang
Đồ Sơn có một lạch triều được dùng làm bến cá lâu đời, hiện đang bị ô nhiễm nặng bởi nước thải từ các hoạt động sơ chế hải sản từ trên bờ và bị nông hóa dần do tác động bồi lắng của phù sa
4 Vai trò đất ngập nước Đồ Sơn đối với tự nhiên và kinh tế - xã hội
4.1 Vai trò đất ngập nước Đồ Sơn đối với tự nhiên
- Đóng góp quan trọng cho đa dạng sinh học địa phương
Cửa sông Văn Úc
Trang 10Diện tích (ha) 6989.8
Số lượng thực vật 167
Số lượng các loại đất ngập nước
4
Số lượng các loài di trú 90
Số lượng các loài đặc hữu 2
Bảng 3: Giá trị sinh học cửa sông Văn Úc (Nguồn: dự án Ngăn ngừa xu
hướng suy thoái môi trường biển Đông và Vịnh Thái Lan)
- Sản xuất sinh khối, tạo nguồn thức ăn cho gia súc và vật nuôi
Tích lũy chất dinh dưỡng cho vi sinh vật, phát triển nguồn lợi thủy hải sản Đất ngập nước là nơi sinh sống của ấu trùng, ấu thể thủy hải sản Ngoài ra, các vi sinh vật trong đất ngập nước bao gồm vi khuẩn, nấm sợi, nấm men, xạ khuẩn, có vai trò quan trọng trong việc phân hủy các hợp chất hữu cơ, tạo thành mùn bã giàu dinh dưỡng – thức ăn chính của các loại ấu thể hải sản
Hình 2:Lưới thức ăn từ hệ sinh vật rừng ngập mặn (Nguồn: Dianiel G.
Spelchan)
4.2 Vai trò đất ngập nước Đồ Sơn đối với kinh tế- xã hội
Trang 11Đối với hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, rừng ngập mặn là nơi ươm giống cho các ấu trùng, ấu thể thủy sản và cung cấp môi trường cho chúng phát triển, làm tăng năng suất địa phương Bên cạnh đây, rừng ngập mặn có chức năng phòng hộ, chắn sóng, chắn bão Độ cao và tác động của sóng giảm đáng kể khi đi qua rừng ngập mặn Nhờ thế, khu vực đầm nuôi được bảo vệ Theo kết quả tính toán, độ cao của sóng khi đi qua rừng ngập mặn tại khu vực quận Bàng La, Đồ Sơn giảm 80 – 88%, tùy theo mật độ và
độ cao của cây
Hình 3:Độ cao của sóng trước và sau khi đi qua rừng Trang tại Bàng La, Đồ
Sơn sau cơn bão Washi năm 2005 (Nguồn: Phan Nguyên Hồng, 2006)
Đối với ngành nông nghiệp, đất ngập nước bao gồm diện tích trồng lúa
và làm muối – hai nghề có lịch sử phát triển lâu đời ở quận Đồ Sơn Sản lượng trồng lúa tại hai phường Ngọc Xuyên và Vạn Sơn khoảng 1 152 tấn thóc/năm Bên cạnh đó, Bàng La là nơi có nghề làm muối truyền thống, cung cấp sinh kế cho 1, 2 ngàn người, chiếm 1/6 dân số phường (7, 8 ngàn người) Diện tích làm muối tại phường Bàng La năm 2010 là 112 ha
Trang 12Đối với ngành du lịch, đất ngập nước đóng vai trò điều hòa vi khí hậu Nhờ có đất ngập nước, nhiệt độ tại khu vực luôn được duy trì ở trạng thái ổn định, là nhân tố thức đẩy hoạt động du lịch khí hậu, một trong những hoạt động chính của Đồ Sơn vào cả mùa đông và mùa hè Thêm nữa, đất ngập nước là nơi có cảnh quan phong phú, đa dạng về loại hình và số lượng Phát triển cùng với đất ngập nước là các hệ sinh thái nông nghiệp và rừng ngập mặn, là nơi học tập và nghiên cứu lý tưởng của sinh viên ngành môi trường
và địa chất Ngoài ra, đất ngập nước và các hệ sinh thái đi kèm cung cấp phong cảnh đẹp, phục vụ hoạt động tham quan chụp ảnh
Đối với đời sống người dân, đất ngập nước nói chung và rừng ngập mặn nói riêng đóng vai trò phòng hộ Thứ nhất, hệ sinh thái rừng ngập mặn là rào chắn vững chắc hạn chế tác động của gió bão tới đê biển và các hộ dân vùng nội địa Thứ hai, nhờ hệ thống cây dây leo và thân gỗ giữ đất, chống sạt lở,
đê quai biển tại Đồ Sơn được bảo vệ Ngoài những chức năng trên, rừng ngập mặn là nơi lọc oxy, chắn bụi và làm sạch không khí Đồng thời, đây là địa điểm vui chơi dạo mát của người dân địa phương và tạo cho những hộ dân quanh đó bầu không khí yên lành, trong sạch Đó là những giá trị nhân văn khó có thể đo đếm hay định giá được
Trang 13Hình 4: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn cửa sông Văn Úc (Nguồn: Tạp chí khoa
học và công nghệ biển 2009)
5 Tiềm năng phát triển đất ngập nước tại Đồ Sơn
Vùng đất ngập nước tự nhiên Đồ Sơn có thể phát triển theo các hướng sau:
- Phát triển đa dạng sinh học nhờ rừng ngập mặn Rừng ngập mặn Đồ Sơn gần cửa sông Văn Úc, một trong những khu hệ đất ngập nước đa dạng nhất ở Việt Nam Mở rộng rừng ngập mặn ở Đồ Sơn là tạo thêm môi trường sống cho các loài cá và chim di cư ở cửa sông Văn Úc về cư trú, tạo hên khu hệ thực vật rộng lớn và giàu có
- Phát triển các hoạt động du lịch sinh thái Cảnh quan đất ngập nước Đồ Sơn như đảo Hòn Dáu, rừng ngập mặn, cảng cá là nơi giàu giá trị nhân văn Tập trung vào phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường
là hướng đi giàu tiềm năng cho khu vực