1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường một nghiên cứu ở miền tây nước mỹ

10 414 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 75,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO TỔNG QUANTên đề tài báo cáo: Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường: Một nghiên cứu ở miền tây nước Mỹ Brent Steel, Peter List, Denise Lach, Bruce Shindler S

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG QUAN

Tên đề tài báo cáo: Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường: Một nghiên cứu ở miền tây nước Mỹ

Brent Steel, Peter List, Denise Lach, Bruce Shindler

Sở Khoa học Chính trị, Triết học, Xã hội học và tài nguyên rừng, Đại học bang Oregon,

307 Social Hall, Corvallis, OR 97.331-6.206, Hoa Kỳ

I Giới thiệu

1 Lý do chọn đề tài

Việc có những bất đồng giữa các nhà khoa học và bộ phận lập chính sách về mục tiêu khoa học và mục tiêu kinh tế chính trị đòi hỏi việc xác định rõ vai trò của khoa học và các nhà khoa học trong quá trình lập chính sách Giả thuyết cho là những nhà khoa học và cả những thông tin khoa học sẽ sẽ cải thiện chất lượng của các quyết định chính sách phức tạp

Hơn nữa trong những năm gần đây, đã có những sự chú ý mạnh giữa các nhà ra quyết định, các nhóm lợi ích, và công dân như nhau về tầm quan trọng của chính sách môi trường dựa trên cơ

Trang 2

sở khoa học ở các cấp địa phương, khu vực, quốc gia, và mức độ quản lí quốc tế (Johnson et al, 1999; Sarewitz etal, 2000.)

Chính vì vậy việc tìm hiểu “Vai trò của khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường” là một đòi hỏi cần được giải quyết trong thời gian sớm nhất có thể để có thể áp dụng vào trong phương thức hình thành và quản lí chính sách ở Việt Nam Vì vậy đây là một trong những tài liệu tham khảo có tính chất quan trọng để các nhà quản lí của Việt Nam có thể học hỏi

2 Tổng quan

a Vị trí địa lý

Miền Tây Hoa Kỳ là vùng lớn nhất, chiếm hơn một nửa diện tích của quốc gia Đây cũng

là khu vực có sự đa dạng nhất về địa hình, bao gồm những khu vực như dãy núi Rocky Mountains, thảo nguyên Great Plains, các vùng phía tây của khu rừng Miền Nam và vùng vịnh Gulf Coast

Theo điều tra dân số năm 2000, dân số của phương Tây cũng rất đa dạng như: 68,5% người da trắng, 24,3% người Hispanic hoặc Latino (của bất kỳ chủng tộc), 12,1% của một số chủng tộc khác, 7,9% Châu Á, 4,9% đen hoặc người Mỹ gốc Phi, 4,3% của 2 hay nhiều chủng tộc, 1,8% Mỹ Ấn Độ và Thổ Dân Alaska, 0,5% người dân bản địa Hawaii và Thái Bình Dương

Theo định nghĩa của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, khu vực phương Tây của Hoa Kỳ bao gồm 13 tiểu bang (với tổng số dân ước tính 2010 của 71.945.553) và được phân chia thành hai đơn

vị nhỏ hơn, hoặc bộ phận:

Bộ phận vùng bang miền núi: Montana, Wyoming, Colorado, New Mexico, Idaho, Utah, Arizona, và Nevada

Bộ phận vùng Thái Bình Dương: Washington, Oregon, California, Alaska và Hawaii.

Phương Tây vẫn là một trong những khu vực thưa thớt định cư tại Hoa Kỳ với 49,5 người/dặm vuông (19/km²) Chỉ Texas với 78,0 người/dặm vuông (30/km²), Washington với 86,0 người/dặm vuông (33/km ²), và California với 213,4 người/dặm vuông (82/km²) vượt quá mức trung bình toàn quốc là 77,98 người/dặm vuông (30/km²)

b Tác giả

Brent Steel: là giáo sư khoa học chính trị và là giám đốc của Chương trình Thạc sĩ Chính

sách công tại Đại học bang Oregon Ông là biên tập viên của chương trình quản lý đất công ở miền

Trang 3

Tây nước Mỹ (1997), đồng biên soạn chính sách môi trường toàn cầu và Quản trị (1999), và đồng tác giả của môi trường chính trị và chính sách: Một số quan niệm so sánh (2003)

Peter List: là cựu chủ tịch và là giáo sư triết học và bây giờ là giảng viên danh dự tại Đại

học bang Oregon Nghiên cứu của ông tập trung vào vấn đề đạo đức liên quan đến chính sách môi trường, bao gồm cả sự tham gia của các nhóm công cộng khác nhau trong quá trình ra quyết định

Denise Lach: là trợ lý giáo sư xã hội học và đồng giám đốc của Trung tâm Nước sạch và

bền vững môi trường tại Đại học bang Oregon Các ấn phẩm nghiên cứu của Lach tập trung vào các vấn đề môi trường của các cá nhân và tổ chức, bao gồm cả việc sử dụng các thông tin khoa học trong các bên liên quan, ra quyết định và sự tham gia của công dân, và vai trò của sự tin tưởng chấp nhận công khai của chính sách tài nguyên

Bruce Shindler là phó giáo sư tài nguyên rừng tại Đại học bang Oregon.Nghiên cứu và các

ấn phẩm của ông tập trung vào vai trò của công chúng trong nguồn tài nguyên thiên nhiên ra quyết định, nhận thức của công chúng quản lý tài nguyên, và hội nhập các giá trị công cộng vào quản lý tài nguyên

c báo cáo: Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường: Một nghiên cứu ở

miền tây nước Mỹ

Bài báo được đăng trong tạp chí sciencedirect năm 2004, và được đăng tải trên trang web www. sciencedirect com/

ScienceDirect là một trong những trang tổng hợp trực tuyến lớn nhất của nghiên cứu khoa học được công bố trên thế giới Nó được điều hành bởi nhà xuất bản Elsevier và chứa gần 10 triệu bài viết từ hơn 2.500 tạp chí và hơn 6.000 sách điện tử, các công trình tham khảo, truyện tranh và sách được phát hành bởi Elsevier Các bài viết được nhóm lại trong bốn mục chính: Khoa học Vật

lý và Kỹ thuật, Khoa học đời sống, Khoa học Y tế, và Khoa học Xã hội và Nhân văn Đối với hầu hết các bài viết trên trang web, tóm tắt của bài báo được cho xem miễn phí, truy cập đến các văn bản đầy đủ của bài viết (PDF, và HTML cho các ấn phẩm mới hơn) đòi hỏi phải mua một tài khoản hoặc trả tiền cho mỗi lần xem

Đây là một địa chỉ uy tính cho các nhà khoa học có thể đưa những bài báo cáo khoa học của mình cho mọi người làm tư liệu tham khảo và học tập

Trang 4

II Giới thiệu bài báo

1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu vai trò của khoa học và các nhà khoa học trong quá trình thực hiện chính sách môi trường

3 Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập từ các cuộc phỏng vấn và các cuộc điều tra của bốn nhóm khác nhau liên quan đến chính sách và quản lý môi trường ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương (Oregon, Washington, Đông Nam Alaska, Bắc California): các nhà khoa học sinh thái học tại các trường đại học và gencies liên bang, tài nguyên thiên nhiên và quản lý môi trường của các chương trình của tiểu bang và liên bang; các thành viên của các nhóm lợi ích (ví dụ, các nhóm hoạt động môi trường, vv ); và “công dân quan tâm” (“attentive public”)

Phương pháp phân tích vai trò và ý kiến của các bên khảo sát

Đưa ra những đề xuất cho vấn đề đang khảo sát

4 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này liên quan đến miền tây nước Mỹ, nó có ý nghĩa rộng lớn hơn cho sự hiểu biết vai trò của các nhà khoa học trong các bối cảnh chính sách môi trường và tài nguyên thiên nhiên với nhiều bên liên quan và những người tham gia

Nghiên cứu kiểm tra thái độ của các nhà khoa học, quản lý tài nguyên thiên nhiên, các nhóm lợi ích, và công chúng liên quan đến vai trò của khoa học và các nhà khoa học trong chính sách tài nguyên môi trường và tự nhiên

Nghiên cứu này xem xét thái độ về khoa học và quy trình khoa học, cụ thể hơn là một phần của “khoa học truyền thống” hoặc cái nhìn của khoa học “về sau”, và sau đó điều tra các mối quan

hệ giữa thái độ đối với khoa học thực chứng và vai trò của các nhà khoa học trong quá trình chính sách môi trường

Giả thuyết cho là những nhà khoa học và cả những thông tin khoa học sẽ sẽ cải thiện chất lượng của các quyết định chính sách phức tạp Tuy nhiên, một số khác đã lập luận rằng, khoa học

và các nhà khoa học chỉ là một nguồn chuyên môn liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên và không nhất thiết phải tăng cường sự tham gia để làm tốt hơn chính sách

Trang 5

Nhà khao học 189 155 82

Đại diện của các nhóm

lợi ích

5 Kết quả nghiên cứu

Trong các cuộc phỏng vấn và các cuộc khảo sát với các thành viên trong bốn nhóm từ Tây Bắc Thái Bình Dương, chúng tôi nhận thấy rằng có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm về cái gì tạo ra khoa học, bao gồm cả sự chấp nhận của chủ nghĩa thực chứng, phần lớn trong số những người trả lời rằng các nhà khoa học nghiên cứu để làm việc chặt chẽ với các nhà quản lý để giải thích và tích hợp các phát minh khoa học vào các quyết định quản lý, và những người trả lời này với định hướng thực chứng, một số lợi ích trong vận động khoa học và ra quyết định của các nhà khoa học sinh thái Các nhà khoa học sinh thái có nhiều những nghi ngờ về khả năng của họ để cung cấp những câu trả lời khoa học và cũng miễn cưỡng hơn khi tham gia trực tiếp trong quá trình chính sách so với điều những người khác muốn họ được

Các kết quả được báo cáo trong nghiên cứu này cho thấy rằng nhóm công chúng quan tâm

và đại diện nhóm lợi ích chu đáo đã tham gia trong chính sách và quy trình quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương có những kỳ vọng cao đối với khả năng của khoa học phải khách quan và để cung cấp thông tin quan trọng để các nhà quản lý khi thực hiện quyết định về việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Bảng 1: Thái độ đối với chủ nghĩa thực chứng

Báo cáo Các nhà khoa

học: % đồng ýa, Nghĩa là (S.D.)

Các nhà quản lý:

% đồng ý Nghĩa

là (S.D.)

Các nhóm lợi ích:

% đồng ý, Nghĩa

là (S.D.)

Attentive công cộng: % đồng ý, Nghĩa là (S.D.)

Sử dụng các

phương pháp

khoa học là chỉ

có một số cách để

xác định những

gì là đúng hay sai

về thế giới

F-test=6.427∗∗∗

27%, 2,47 (1,24) 22%, 2,.52 (1,14) 36%, 2,91 (1,36) 37%, 2,96 (1,39)

Sự tiến bộ của 37%, 2,96 (1,39) 17%, 2,46 (1,00) 21%, 2,93 (1,46) 34%, 3,32 (1,48)

Trang 6

kiến thức là một

quá trình tuyến

tính điều khiển

bởi các thí

nghiệm trọng

điểm

F-test=23.536∗∗∗

Khoa học cung

cấp những kiến

thức về thế giới

F-test =1.621

75%, 3,78 (0,90) 63%, 3,60 (0,80) 70%, 3,83 (0,99) 61%, 3,68 (1,09)

Nó có thể loại bỏ

các giá trị và

đánh giá giá trị từ

việc giải thích

các dữ liệu khoa

học,

F-test=4.355∗∗

25%, 2,77 (1,15) 26%, 2,53 (1,06) 34%, 2,84 (1,39) 34%, 3,02 (1,48)

Sự kiện mô tả

trạng thái thực sự

của công việc về

thế giới, F-test =

5,338**

37%, 3,09 (1,10) 25%, 2,85 (0,91) 38%, 3,22 (1,31) 40%, 3,34 (1,33)

Ý nghĩa của chỉ

số chủ nghĩa thực

chứng

Quy mô sử dụng: 1: không đồng ý, 2: không đồng ý, 3: trung lập, 4: đồng ý, và 5: hoàn toàn đồng ý

a Tỷ lệ phần trăm đồng ý và hoàn toàn đồng ý

** Ý nghĩa mức P <0,01

*** Ý nghĩa mức P <0,001

Bảng 2: Thái độ đối với vận động chính sách khoa học

Báo cáo Các nhà khoa

học: % đồng ýa, Nghĩa là (S.D.)

Các nhà quản lý:

% đồng ý Nghĩa

là (S.D.)

Các nhóm lợi ích:

% đồng ý, Nghĩa

là (S.D.)

Attentive công cộng: % đồng ý, Nghĩa là (S.D.)

Các nhà khoa học

chỉ nên báo cáo

39%, 2.86 (1.37) 43%, 3.18 (1.21) 26%, 2.45 (1.25) 31%, 2.72 (1.39)

Trang 7

các kết quả khoa

học và để lại

những người

khác để làm cho

các quyết định

quản lý nguồn tài

nguyên thiên

nhiên, F-test =

7,588***

Các nhà khoa học

báo cáo kết quả

khoa học và sau

đó giải thích kết

quả cho những

người khác tham

gia vào các quyết

định quản lý tài

nguyên thiên

nhiên, F-test =

3,696**

87%, 4.18 (0.85 78%, 3.92 (0.86 76%, 3.99 (0.89) 68%, 3.86 (1.09)

Các nhà khoa học

phải làm việc

chặt chẽ với các

nhà quản lý và

những người

khác để tích hợp

các kết quả khoa

học trong các

quyết định quản

lý, F-test = 1,867

77%, 4.09 (0.94) 90%, 4.30 (0.76) 84%, 4.20 (0.89) 83%, 4.28 (0.89)

Các nhà khoa học

cần phải tích cực

vận động cho các

chính sách quản

lý tài nguyên

thiên nhiên cụ thể

họ thích, F-test =

28,847***

16%, 2.20 (1.17) 8%, 2.19 (1.01) 46%, 3.21 (1.14) 36%, 2.95 (1.32)

Các nhà khoa học

sẽ có trách nhiệm

ra quyết định về

quản lý tài

nguyên thiên

nhiên; F-test =

32,110***

4%, 1.66 (0.89) 7%, 1.79 (0.98) 26%, 2.65 (1.13) 21%, 2.47 (1.18)

Trang 8

Quy mô sử dụng: 1: không đồng ý, 2: không đồng ý, 3: trung lập, 4: đồng ý, và 5: hoàn toàn đồng ý

a Tỷ lệ phần trăm đồng ý và hoàn toàn đồng ý

*** Ý nghĩa leve LP ≤ 0,001

Bảng 3: Tương quan giữa thái độ đối với phương pháp khoa học (chỉ số chủ nghĩa thực chứng) và vai trò của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường

Các nhà khoa học Các nhà quản lý Các nhóm lợi ích Công chúng quan

tâm Báo cáo 0.12,n=146 −0.06,n=160 −0.05, n=113 −0.24∗∗, n=177 Giải thích −0.05,n=146 0.02,n=160 0.04,n=112 0.28∗∗∗, n=180 Tích hợp −0.16∗, n=146 −0.01,n=160 0.33∗∗∗, n=114 0.30∗∗∗, n=180 Ủng hộ 0.27∗∗, n=159 0.03,n=145 0.19∗, n=112 0.38∗∗∗, n=180 Đưa ra quyết

∗∗, n=160 0.26∗∗, n=112 0.420∗∗, n=180 Lưu ý: Các mối tương quan (Pearson r) giữa chỉ số chủ nghĩa thực chứng trong Bảng 1 và các vai trò khác nhau cho các nhà khoa học trong quá trình hoạch định chính sách trong Bảng 2

* Ý nghĩa mức P <0,05

** Ý nghĩa mức P <0,01

*** Ý nghĩa mức P <0,001

Bảng 4: ước tính hồi quy hậu cần cho vai trò của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường

Biến số Báo cáo B

(S.E.)

Giải thích: B (S.E.)

Tích hợp: B (S.E.)

Ủng hộ: B (S.E.)

Đưa ra quyết định: B (S.E.) Tuổi 0,006 (0,010) 0,003 (0,010) 0,013 (0,012) -0,003 (0,011) -0,017 (0,013) Giới Tính -0,60** (226) -0,115 (0,235) -0,017 (0,281) -0,281 (0,251) 0,249 (0,289) Giáo dục -571 * (0,273) 0,290 (0,298) 0,025 (0,368) 0,273 (3,43) 0,109 (0,383)

(0,024) 0,074

**

***

***

***

(0,040) Bên trái -0,458*

(0,237) 0,002 (0,260) 0,204 (0,309 0,668

** (0,258) 0,309 (0,305)

Bên phải 0,281 (0,341) )-0,349

(0,350)

-0,230 (0,412) 0,074 (0,437) 0,407 (0,511)

Chủ nghĩa

thực chứng

-0,032 (0,023) 0,026 (0,025) 0,060***

(0,009)

0,117***

(0,028)

0,133***

(0,033)

Trang 9

Cá nhà quản

-0,570* (0,298)

-0,222 (0,359) 1,413***

(0,349)

-0,074 (0,432) 1,007 (0,580)

Các nhóm lợi

ích

-0,943**

(0,346)

-0,580 (0,381) 0,544 (0,414) 1,591***

(0,383)

1,951***

(0,531)

Công khai -1,264***

(0,379) -0,649 (0,420) 0,839 (0,483) 1,597

***(0,459) 1,836**(0,605)

Tỷ lệ phần

trăm phân

loại chính xác

Lưu ý: Biến phụ thuộc vận động khoa học (xem bảng 2) đã được dichotomized để sử dụng trong hồi quy logistic (1: hoàn toàn đồng ý và đồng ý, 0: khác)

* Ý nghĩa mức P <0,05

** Ý nghĩa mức P <0,01

*** Ý nghĩa mức P <0,001

III Tóm tắt và kết luận

Các kết quả được báo cáo trong nghiên cứu này cho thấy rằng công chúng quan tâm và đại diện nhóm lợi ích chu đáo đã tham gia trong chính sách và quy trình quản lý tài nguyên thiên nhiên

ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương có những kỳ vọng cao đối với khả năng của khoa học phải khách quan và để cung cấp thông tin quan trọng để các nhà quản lý khi thực hiện quyết định về việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Sự chấp nhận của họ về thái độ của những nhà thực chứng về khoa học và quá trình khoa học dẫn đến việc chúng được hỗ trợ tích cực hơn của khoa học trong quá trình xây dựng chính sách hơn là các nhà khoa học được tổ chức Mặt khác, nó là thú vị để lưu ý rằng nhiều người trong số các nhà khoa học trong nghiên cứu này không chỉ hoài nghi về khả năng của họ để tìm “chân lý” và “sự thật” mà các công chúng quan tâm và các thành viên của nhóm lợi ích, họ cũng miễn cưỡng để hỗ trợ một vai trò vận động hoặc để tin rằng họ nên làm những quyết định của chính họ một cách tự nhiên Trong khi có nhiều những ý kiến khác nhau giữa những nhà khoa học về những bức tranh thực chứng của quá trình khoa học, có hỗ trợ cho khoa học “tích hợp” hoặc khoa học “bình thường”, nơi các nhà khoa học trực tiếp liên quan đến mình trong chính sách và quản lý

Trang 10

Trong cuộc phỏng vấn trước khi cuộc khảo sát của chúng tôi, chúng tôi đã học được rằng

sẽ có những rủi ro liên quan đến cho các nhà khoa học nghiên cứu làm việc chặt chẽ với các nhà quản lý, các nhóm lợi ích công cộng, và công chúng để xây dựng các chính sách môi trường mới Không chỉ một số nhà khoa học đã có để lại những tiện nghi của các phòng thí nghiệm của họ và lĩnh vực công tác và các khả năng tương tác của họ với các nhà khoa học đồng nghiệp, họ - những người giúp trong quá trình xây dựng chinh sách cũng sẽ phải học cách làm việc hiệu quả hơn với các cơ quan và nhân viên quản lý, các nhóm lợi ích công cộng, và công chúng trong bối cảnh không quen thuộc Rõ ràng, công việc của họ chắc chắn sẽ dưới sự giám sát chặt chẽ của nhóm công cộng và lợi ích hơn trong bối cảnh khoa học truyền thống, và các cuộc phỏng vấn của chúng tôi chỉ ra rằng có nhiều vai trò đặc quyền và trong một số trường hợp vai trò an toàn nhiều hơn mà các nhà khoa học nghiên cứu có kinh nghiệm hiện tại như là một nhân tố của "khách quan" kiến thức sẽ được đặt câu hỏi, thậm chí bởi một số đồng nghiệp của họ Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ

ra rằng ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, đã có rất nhiều tranh cãi về các vấn đề chính sách môi trường, các nhà khoa học nghiên cứu có uy tín với công chúng vì những gì công chúng tin rằng về bản chất của khoa học và vai trò của các nhà khoa học

Trong các bộ phận khác của Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, nhiều loại tài nguyên thiên nhiên khác nhau và các vấn đề môi trường về chính sách nổi bật hơn so với các bên có liên quan đến việc định đoạt của rừng, thủy sản và sinh thái đồng cỏ Ví dụ, nhiều tranh cãi trong khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương đã tập trung vào việc bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong khu vực rừng già

và các hệ thống sông lớn, trong khi ở một số vùng khác của đất nước tranh cãi về môi trường đã tập trung vào các loài khác, các loại khác của các hệ sinh thái, và quản lý đất tư nhân Ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, các nhà khoa học đã làm nổi bật liên quan đến cả việc quản lý tài nguyên đất và nước của liên bang và sự phát triển chính sách dựa trên khoa học về phục hồi hệ sinh thái Nhóm công chúng và quản lý tài nguyên quen với việc kêu gọi các nhà khoa học công cộng để hỗ trợ họ trong việc giải quyết các câu hỏi chính sách môi trường Các loại yếu tố lịch sử, sau đó, có thể giải thích cho một số thái độ của bốn nhóm của chúng tôi liên quan đến khoa học và vai trò của các nhà khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, những tranh cãi về môi trường và các loài chắc chắn không phải duy nhất phía Tây Bắc Thái Bình Dương, và nghiên cứu để tiếp tục là cần thiết để điều tra xem liệu các kết quả của nghiên cứu này có thể áp dụng với các khu vực khác của đất nước

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thái độ đối với chủ nghĩa thực chứng - Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường một nghiên cứu ở miền tây nước mỹ
Bảng 1 Thái độ đối với chủ nghĩa thực chứng (Trang 5)
Bảng 2: Thái độ đối với vận động chính sách khoa học - Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường một nghiên cứu ở miền tây nước mỹ
Bảng 2 Thái độ đối với vận động chính sách khoa học (Trang 6)
Bảng 4: ước tính hồi quy hậu cần cho vai trò của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường - Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường một nghiên cứu ở miền tây nước mỹ
Bảng 4 ước tính hồi quy hậu cần cho vai trò của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường (Trang 8)
Bảng 3: Tương quan giữa thái độ đối với phương pháp khoa học (chỉ số chủ nghĩa thực chứng) và vai trò của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường - Vai trò của khoa học trong quá trình chính sách môi trường một nghiên cứu ở miền tây nước mỹ
Bảng 3 Tương quan giữa thái độ đối với phương pháp khoa học (chỉ số chủ nghĩa thực chứng) và vai trò của các nhà khoa học trong quá trình xây dựng chính sách môi trường (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w