1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng vô vi của đạo gia ảnh hưởng lên đời sống xã hội ngày nay

32 927 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng vô vi của đạo gia - ảnh hưởng lên đời sống xã hội ngày nay
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Đạo học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 365,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nổi bật là cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Ông là người đầu tiên đưa ra một quan niệm về vũ trụ, làm cốt lõi cho nền văn hóa Trung Hoa, vừa tạo thú sống cho tao nhân quân tử, vừa như một t

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐẠO GIA 4

1 Lịch sử hình thành và phát triển 4

2 Vài nét về cuốn “Đạo đức kinh” 4

3 Nội dung chính trong hệ tư tưởng Đạo gia 5

3.1 Luận về vũ trụ 5

3.2 Lý luận về đạo đức 6

3.3 Học thuyết vô thần 6

3.4 Phác 7

3.5 Tự nhiên 7

3.6 Luật phản phục 7

3.7 Triết lý Vô 7

3.8 Thuyết Vô vi 7

3.9 Xây dựng một quốc gia lý tưởng 8

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA ĐẠO GIA 9

1 Tư tưởng vô vi của Đạo gia 9

1.1 Lý luận chung về thuyết vô vi của Lão Tử 9

1.1.1 Định nghĩa “vô vi” 9

1.1.2 Cơ sở lý luận của “thuyết vô vi” 9

1.2 Tư tưởng vô vi của Đạo gia 9

1.2.1 Vô vi trong đối nhân xử thế 10

1.2.2 Vô vi trong đạo đấu tranh 11

1.2.3 Vô vi trong phương xử kỷ 11

Trang 2

1.3 Tư tưởng vô vi – Góc nhìn từ Đạo Phật 16

1.3.1 Tư tưởng vô vi của Đạo Phật 16

1.3.2 So sánh về vô vi của Đạo gia và vô vi của Đạo Phật 18

CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG VÔ VI LÊN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI NGÀY NAY 22

1 Trong thái độ, quan niệm sống và hành động 22

2 Trong hệ thống chính trị, pháp luật, các quy tắc xã hội 24

3 Trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng 26

4 Trong nền kinh tế 27

5 Trong hoạt động đối ngoại 27

6 Trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp 27

7 Trong quan điểm bảo tồn sinh thái – môi trường tự nhiên 28

8 Trong hoạt động đầu tư – khai thác 28

9 Trong lĩnh vực Văn học – Nghệ thuật – Hội họa 29

10 Trà đạo 30

11 Y học 30

12 Phong thủy 30

13 Ẩm thực 30

14 Dưỡng sinh 31

15 Võ thuật 31

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thời Xuân Thu của Trung Hoa kéo dài từ năm 722 tới năm 481 trước công nguyên với tình trạng chiến tranh liên miên, dân chúng lâm than, xã hội bị suy đồi đạo đức Chính trong bối cảnh lịch sử ấy đã xuất hiện nhiều triết gia với nhiều lý thuyết khác nhau, được gọi là Bách gia chư tử Nổi bật là cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Ông là người đầu tiên đưa ra một quan niệm về vũ trụ, làm cốt lõi cho nền văn hóa Trung Hoa, vừa tạo thú sống cho tao nhân quân tử, vừa như một tôn giáo cho giới bình dân ngưỡng vọng

Nền minh triết của Đạo Đức Kinh cũng được khai triển bởi các danh gia tự xem là môn

đệ của Lão Tử, về sau trở thành một nền học thuật rồi dần dà biến thành một tôn giáo thần bí Trang Tử, một ẩn sĩ họ Trang, tên Chu đã phát triển học thuyết Lão Tử thành một hệ thống tư tưởng sâu sắc thể hiện trong cuốn Nam Hoa Kinh

Quan niệm Vô Vi là tư tưởng triết học độc đáo và đặc sắc của Đạo gia Vô vi là khuynh hướng đưa con người trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợp thể với Đạo

Tại phương Tây, từ khoảng một trăm năm nay, Triết học Lão – Trang ngày càng có mặt trong phạm vi nghiên cứu của nhiều học giả thuộc bộ môn triết ở các đại học, cho tới các trí thức muốn tìm cho mình một lối suy tư và sống thanh thoát giữa lòng xã hội

bị cơ khí hóa và mê thích tiêu thụ Hơn bao giờ hết xã hội càng văn minh thì con người càng đánh mất chính mình Sự tranh giành về quyền lợi, vật chất đã làm cho con người ngày càng mất dần những giá trị đạo đức Quan niệm vô vi của Đạo gia đã trở nên quan trọng, đã góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn

“Vô vi nhi bất vô vi nhi” – Đề tài nghiên cứu sẽ đi sâu tìm hiểu tư tưởng vô vi của Đạo gia và những ảnh hưởng của tư tưởng này lên đời sống xã hội ngày nay./

Trang 4

Chương 1 KHÁI QUÁT ĐẠO GIA

1 Lịch sử hình thành và phát triển

 Đạo giáo, Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ VI trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia

 Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam

Á lân cận như Việt Nam,Hàn Quốc và Nhật Bản

 Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lí

 Vì xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm được số người theo Đạo giáo Đặc biệt có nhiều người theo Đạo giáo sinh sống tại Đài Loan, nơi nhiều trường phái Đạo gia đã lánh nạn Cách mạng văn hoá tại Trung Quốc lục địa Hiện nay, Đạo giáo có khỏang 400 triệu tín đồ tập trung tại các nước Trung Quốc, Singapore, Malaysia và cộng đồng người Hoa hải ngoại.

2 Vài nét về cuốn “Đạo đức kinh”

Trang 5

 Đạo đức kinh là cuốn sách chỉ khoảng 5000 chữ, gồm hai phần Thượng là Đạo Kinh gồm 37 chương, bàn về Đạo lớn của vũ trụ Hạ là Đức Kinh gồm 44 chương bàn về Đức Lão Tử đã viết theo hình thức câu dài ngắn khác nhau, giàu

âm điệu và đọc lên nghe như thơ tự do thời nay Súc tích Không chấm câu Không lý luận Không chứng minh dài dòng Thể được dùng là cổ văn, một loại văn ngắn gọn, dễ thuộc lòng nhưng không dễ hiểu Vì thế, nó có vẻ như chỉ gợi

ý và bắt người đọc phải ngẫm nghĩ, tưởng tượng, lắng nghe tiếng dội lại từ lòng mình Và người đọc có rất nhiều cơ hội tiếp nối quá trình sáng tạo, tư duy, cho tác phẩm sinh động, thấm sâu, được triển khai thêm theo mỗi lần đọc

 Ngoại trừ hai vấn đề chính là Đạo và Đức, sách còn trình bày kiến thức sơ lược

về binh pháp, thiên văn, dưỡng sinh Có người dựa vào nội dung, cắt nghĩa rằng mục đích của Lão Tử là truyền thông điệp trị quốc, một loại triết lý chính trị Có người lại nhấn mạnh tới phẩm chất tâm linh đạo học của nó

 Các bản lưu truyền từ hơn hai ngàn năm nay có khác nhau đôi chút về một số chữ hoặc cách chấm câu Năm 1973, tại Trường Sa, ngành khảo cổ học tìm thấy một bản bạch thư dưới một mộ cổ đời Hán, trong đó phần Đức Kinh được đem lên trước phần Đạo Kinh Bản khai quật này có giá trị tham khảo rất lớn vì hơi khác các bản hiện hành

 Cho tới nay, Đạo Đức Kinh có tới cả trăm bản dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, v.v Riêng trong tiếng Việt có các bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Nghiêm Toản, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tôn Nhan…

3 Nội dung chính trong hệ tư tưởng Đạo gia

Trang 6

vạn vật trong trời đất được tổng hợp trong tác phẩm “ Kinh dịch” : vũ trụ được hình thành từ Âm – Dương, ngũ hành (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ)

 Người đời sau dựa vào đó để phát triển các môn võ thuật, dưỡng sinh, chữa bệnh theo y học cổ truyền – bắt mạch, địa lý phong thủy…

3.2 Lý luận về đạo đức

 Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên vô hình phi cảm tính, phi ngôn

từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật vừa để chỉ con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành biến hóa xảy ra trong thế giới

 Đạo được tạm hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng, mộc mạc, hỗn độn,

mập mờ, thấp thoáng, không có đặc tính, không có hình thể; là cái mắt không thấy, tai không nghe, tay không nắm bắt, ngôn ngữ không thể diễn đạt, tư duy không thể nhận thức được; là cái năng động tự sinh sôi, nảy nở, biến hóa … Lão Tử viết: Có một vật hỗn mang thành tựu giữa trời đất, yên lặng, mênh mông, một mình độc lập, tản mác khắp nơi, không ngừng ở đâu, là mẹ của thế

gian, … cái hỗn mang chưa được đặt tên nên tạm gọi là Đạo

 Đạo vừa là cái có trước vừa là cái nằm trong bản thân sự vật Đạo sinh nhất –

nhất sinh nhị – nhị sinh tam – tam sinh vạn vật

 Đức là phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của Đạo, là sự

trưởng thành của vạn vật, là cái hình thức nhờ đó vạn vật định hình và phân biệt được với nhau, là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật

 Quan niệm về đạo, đức của trường phái đạo gia thể hiện một trình độ khái quát cao của tư duy biện chứng khi giải quyết vấn đề bản nguyên thế giới

3.3 Học thuyết vô thần

 Theo Lão Tử “Đạo tượng đế chi tiên” tức Đạo sinh ra thượng đế, Đạo là mẹ của vạn vật

 Lão Tử không lớn tiếng mạt sát, hay chỉ trích tín ngưỡng của người đương thời

mà miệt mài đi tìm căn nguyên của vũ trụ đó là Đạo và Đức

Trang 7

3.4 Phác

 Theo Lão Tử sinh vật càng nhỏ, càng thấp như con sâu thì đời sống càng đơn giản, chất phác Cũng như loài người thời nguyên thủy, sơ khai thì xã hội đơn giản, tính tình chất phác Càng ngày con người ta càng hóa ra mưu mô, xảo quyệt, gian trá, đời sống càng ngày càng rắc rối, tổ chức xã hội càng phức tạp

mà sinh ra loạn lạc, chiến tranh Từ đó mà ông nhận xét loài người cũng như vạn vật do đạo sinh ra đều phải giữ được chữ Phác (mộc mạc, chất phác) thì mới

có hạnh phúc, mới hợp đạo

3.5 Tự nhiên

 Tự nhiên là một quan điểm quan trọng bậc nhất của học thuyết Lão Tử, chương

25 có viết “Đạo phác tự nhiên” có nghĩa là đạo theo tự nhiên, đạo với tự nhiên là một Hãy để cho vạn vật được sinh ra được vận hành theo luật riêng, theo bản năng của nó, không nên can thiệp vào

3.6 Luật phản phục

 Theo Lão Tử, luật phản phục của Đạo tức là luật tuần hoàn của Vũ trụ: mặt trời mọc rồi lặn rồi hôm sau lại mọc, trăng tròn rồi lại khuyết rồi đến rằm sau lại tròn lại, bốn mùa thay phiên nhau Luật vận hành của Đạo là trở lại lúc đầu, vạn vật trong thiên hạ từ “có” sinh ra, “có” lại từ “không” mà sinh ra Đó là quy luật

vĩnh cữu và bất biến

3.7 Triết lý Vô

 Có thể nói học thuyết của Đạo Lão gia là học thuyết Vô Theo ông, Vạn vật khi

đã phát triển đến cực điểm thì bị “tổn” dần dần cho đến khi trở về “vô” “Vô” là chung cục của một giai đoạn mà cũng là khởi điểm của giai đoạn sau, nó còn là

“bản thủy của trời đất” Vô không có nghĩa là hoàn toàn không có gì, vô là vô sắc, vô thanh, vô hình đối với cảm quan của ta Vô sinh ra hữu, rồi hữu trở về

3.8 Thuyết Vô vi

Trang 8

 Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không

gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận thấy đạo, và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được

3.9 Xây dựng một quốc gia lý tưởng

 Trở về chế độ bộ lạc dân chủ, tự túc, tự lập thời thượng cổ, mọi người sống theo

tự nhiên, tuy có vua (lãnh tụ) nhưng lãnh tụ cũng sống như người khác và không can thiệp vào đời sống của ai cả

Trang 9

Chương 2

TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA ĐẠO GIA - ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NÀY LÊN XÃ HỘI THỜI ẤY

1 Tư tưởng vô vi của Đạo gia

1.1 Lý luận chung về thuyết vô vi của Lão Tử

1.1.1 Định nghĩa “vô vi”

 Vô vi: là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không

gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên Là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức

 Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận thấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được

1.1.2 Cơ sở lý luận của “thuyết vô vi”

Có thể nói những tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia được thể hiện chủ yếu qua tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử Đây cũng là một trong hai bộ sách kinh điển của trường phái Đạo gia thể hiện qua những lý luận về

Đạo và Đức Những lý luận này vừa thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử, vừa là cơ sở lý luận để Lão Tử xây dựng “thuyết vô vi”

1.2 Tư tưởng vô vi của Đạo gia

Vô vi không phải là không làm gì cả, mà đừng làm cái gì đến thái quá, vì “vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản” Cái gì mà thái quá cũng đều nguy hại cả Mục

đích của bất cứ một hành vi nào là cũng để đi đến một kết quả Nhưng nếu lại

đi vào chỗ thái quá, thì kết quả có khi lại còn nguy hiểm cho ta hơn là không

làm gì cả Cho nên vô vi, cũng có nghĩa là bớt đi những gì thái quá: “khứ thậm,

khứ xa, khứ thái” Theo Lão Tử, thì phải để cho con người trở về với cái sống

tự nhiên giản dị của họ Cho nên vô vi là đừng dụng tư tâm mà xen vào cái

sống tự nhiên của mọi vật, càng ít can thiệp đến việc người được bao nhiêu càng quý bấy nhiêu Từ những lý luận của Lão Tử về vô vi được thể hiện khá

Trang 10

nhiều trong tác phẩm ĐẠO ĐỨC KINH của người ta có thể nhận thấy tư tưởng của Lão Tử nói riêng hay của Đạo gia nói chung về vô vi như:

1.2.1 Vô vi trong đối nhân xử thế

 Lão Tử cho rằng trong đối nhân xử thế chúng ta nên: “Từ”; “Kiệm” và “Bất cảm

vi thiên hạ tiên”:

 “Từ”: là yêu tất cả mọi người bất luận đối với người tốt hay kẻ xấu Người

đời không phải thế: Người đời bảo: “dĩ oán báo oán” Nho gia bảo: “dĩ trực

báo oán”, đó là đạo hữu vi Trái lại, Lão Tử nói: “dĩ ân báo oán” Do đó,

Từ là dám xem kẻ thù như người bạn, không lấy oán mà báo oán, cũng

không lấy “trực” mà báo oán, nghĩa là không dám châm thêm vào ngọn lửa

oán thù đến nỗi gần như không dám biết đến hai chữ thù oán là gì

 “Kiệm”: Thiên hạ hạ thì lấy xa xỉ, khoa trương làm mục đích tiến thủ,

tranh nhau đua đòi trong sự xa hoa lộng lẫy càng nhiều bao nhiêu càng hay

bấy nhiêu Lão Tử trái lại khuyên ta: “khứ thậm, khứ xa, khứ thái” và lấy

kiệm ước làm căn bản cho người trị nước

 “Bất cảm vi thiên hạ tiên”: Lão Tử còn khuyên ta “tri chỉ, tri túc” Người

đời đều lấy sự ăn ngồi trên trước làm vinh, và suốt đời chạy mãi theo cái bả

vinh hoa phú quý thì Lão Tử lại bảo ta không nên “đứng trước thiên hạ”,

cần phải khiêm khu, từ tốn và luôn luôn đứng dưới và ngồi sau

 Lão Tử còn dạy: “Bất ngôn chi giáo, vô vi chi ích, thiên hạ hi cập chi.” Có thể hiểu là cách dạy mà không dùng đến lời, cũng như ích lợi của “vô vi”, ít người

Trang 11

1.2.2 Vô vi trong đạo đấu tranh

 Theo đạo hữu vi, thì phải lấy mạnh mà thắng mạnh, còn đạo vô vi thì trái lại lấy

nhu mà chế cương, lấy nhược mà thắng cường và hơn nữa Lão Tử còn viết:

“bất tranh nhi thiện thắng” Nghĩa là Lão Tử chủ trưởng lấy “cái không tranh

mà thắng được một cách vẹn toàn”

 Lão Tử viết: “Dĩ nhu khắc cương” Ông tin rằng: "Nhu nhược thắng cương

cường", và giải thích rằng: "Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng" (Dưới bầu trời này, còn thứ gì yếu mềm hơn

nước, thế mà kẻ mạnh phá được thành trì kiên cố, cũng chẳng thể thắng nổi

nước) Thuyết "Nhu khắc cương", hẳn là một trong những đặc điểm của triết lý Lão Tử Đạo đức kinh, chương 43 Biến dụng, Lão Tử viết tiếp: “Thiên hạ chi

chí nhu, trì sính thiên hạ chi trí kiên Vô hữu nhập vô gián …” Được hiểu là:

Cái mềm nhất trong trời đất chi phối được cái cứng nhất trong trời đất Cái

“không có” lọt được vào chỗ “không có kẽ hở”

1.2.3 Vô vi trong phương xử kỷ

 Để tiêu diệt cái “bản ngã” của mình Người đời thường bảo “biết người là Trí”, Lão Tử lại bảo “biết mình là sáng” Người đời thường bảo “thắng người là có

sức”, ông bảo “thắng mình là sức mạnh” Biết người, thắng người là hữu vi, biết

mình và thắng mình đó là vô vi

 Người đời tranh nhau để làm cho cái bản ngã của mình càng thêm lớn mạnh bằng sự gom góp của cải, tạo dựng quyền thế cho mình càng nhiều càng tốt; trái

lại Lão Tử khuyên ta: “kiến tố bảo phác, thiểu tư quả dục” Nghĩa là phải biết ăn

ở giản dị, tự nhiên, ít riêng tư, ít tham dục, nhất định “không nên tích trữ cho mình” và “lo riêng cho mình” gì cả Và hơn nữa “đừng tự xem mình là sáng”,

“đừng tự cho mình là phải”, “đừng tự cho mình là có công”, “đừng tự cho mình

là trên hết” nhưng phải là “đừng” một cách thành thật, tự nhiên

Trang 12

 Tư tưởng của Lão Tử rất thích hợp với những ai, là kẻ ưa sống gần gũi thiên nhiên, lại có phần tương thông với đức tính khiêm nhường, dung thứ, nhẫn nại của nhà Nho Do đó, người theo Đạo học thích sống vào nơi thâm sơn cùng cốc, tĩnh tịch, xa lánh bụi trần tự tay kiếm ăn, tự mình chữa bệnh, người đời gọi đó là

"Tu Tiên", mang sắc thái huyền bí như một tôn giáo, cho nên thường gọi là

"Đạo giáo"

1.2.4 Vô vi trong chính trị- “đạo trị nước an dân”

 Cũng giống như Khổng Tử, Lão Tử nhận rằng cấn phải có một bậc Thánh quân đứng đầu trị nước, thì thiên hạ mới hạnh phúc Nhưng khác với Khổng Tử, bao

giờ cũng cho rằng bậc quân tử cần phải “tu thân” để rồi “hành đạo” nghĩa là phải “tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” Lão Tử tin rằng càng ít “làm”

chừng nào thì càng tốt bấy nhiêu, và nếu có thể vô vi được thì lại càng hay Theo ông, càng dùng cái trị để mà trị nước thì nước dễ loạn, càng không dùng đến cái trị để mà trị nước thì nước càng dễ trị

 Lão Tử viết: “Dĩ chính trị quốc Dĩ kỳ dụng binh Dĩ vô sự thủ thiên hạ Thiên

hạ đa kỵ húy, nhi dân di bần; dân đa lợi khí, quốc gia tư hôn Nhơn đa kỹ xảo,

kỳ vật tư khởi Pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu” Nghĩa là cần phải lấy sự

ngay thẳng thực thà mà trị nước Trái lại nếu trị nước mà làm như dụng binh, dùng trá ngụy mà trị thì nguy, vì “lấy trí mà trị nước, là cái vạ cho nước” Huống chi bậc trị nước mà ban hành nhiều điều cấm kỵ thì dân chúng càng nghèo khổ, bởi thiếu tự do hành động và ngôn ngữ, mà dân chúng trở nên đa mưu xảo kế để trục lợi thì nước nhà phải sa vào hỗn loạn tăm tối Người dân cần thực thà, ít dục vọng, thì nước mới dễ trị Bậc trị nước mà quá khắt khe, đem pháp lệnh mà áp đặt trên đầu dân để đề phòng, thì chúng dân cũng tìm đủ mánh khóe thủ đoạn để trốn tránh; gây ra mưu mô gian trá càng ngày càng thêm; dân càng khó trị thì bọn đạo tặc càng nhiều Dùng vô vi mà trị thì ít can thiệp đến

việc người, không dùng tư tâm mà hành động, dùng “bất ngôn chi giáo” mà dạy

Trang 13

dân, lấy gương mẫu của mình mà sửa dân thì dân không hay là mình có làm

gì, nhưng rồi chúng tự sửa đổi lấy mình mà không cần đến sự bắt buộc hay cấm

đoán, ban hành pháp lệnh: “Ngã vô vi nhi dân tự hóa” Chính phủ yên tĩnh vô vi

thì dân sẽ biến thành chất phác Chính phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa

 Theo Lão Tử hành động hay nhất là đừng can thiệp đến việc đời; nhưng nếu đời

cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một cách kín đáo, khéo léo Do đó

mà Lão Tử mới viết: “thiện hành vô triệt tích” và Ông gọi đây là giải pháp an

bang tế thế

 Lão Tử viết: “vi nhi vô bất vi, thủ thiên hạ thường dĩ vô sự Cập kỳ hữu sự bất

túc dĩ thủ thiên hạ.” Theo ý đó, không làm mà không gì không làm; muốn được

thiên hạ phải dùng vô vi; dùng hữu vi không đủ để được thiên hạ:

“Vô vi huyền diệu khôn bì, Không làm mà chẳng việc chi không làm

Vô vi mà được thế gian, Càng xoay xở lắm đời càng rối beng.”

 Bậc thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt đạo đức, pháp luật đối với con người để trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên vốn có của nó

 Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thủy chất phác, mơ ước cô lập

cá nhân với xã hội để hòa tan con người vào đạo (tự nhiên) Xã hội lý tưởng theo Lão Tử là xã hội của những nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi,

có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành… Dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy sáng … , nhưng đến già, đến chết

họ không bao giờ qua lại thăm nhau

Chương 80 trong quyển Đạo đức kinh Lão Tử viết:

“Nước ta bé nhỏ dân thưa,

Trang 14

Vài mươi tôi giỏi, ta chưa hề dùng

Dạy dân sợ chết làm lòng, Cho nên dân chẳng vẫy vùng phiêu lưu

Xe kia thuyền nọ đìu hiu, Nào ai muốn cưỡi, muốn chèo mà chi

Binh kia giáp nọ ủ ê, Chẳng ai dở dói nghĩ khoe, nghĩ bày

Dạy dân trở lại thắt dây, Sống đời thuần phác tháng ngày tiêu dao

Cho dân ăn uống thanh tao, Cho dân ăn mặc bảnh bao, chững chàng

Cho dân đời sống bình an, Cho dân phong tục dịu dàng đẹp tươi

Liên bang nào cách mấy mươi,

Gà kêu, chó cắn đòi nơi rõ ràng

Tuy rằng gần gũi tấc gang, Suốt đời dân chúng nào màng tới nơi.”

 Lão Tử viết: “Bất thượng hiền, sử dân bất tranh Bất quí nan đắc chi hóa, sử

dân bất vi đạo Bất kiến khả dục, sử dân tâm bất loạn” Tạm dịch là: “Không

sùng thượng hiền tài, khiến cho dân không tranh Không quí của khó được, khiến cho dân không trộm cướp Không phô trương những gì kích thích lòng

ham muốn, khiến cho lòng dân không loạn.” Hay: “Thị dĩ thánh nhân chi trị, hư

kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt Thường sử dân vô tri vô dục

Sở phù trí giả bất cảm vi dã.” Nghĩa là bậc thánh nhân trị nước là phải làm cho

dân: Trống lòng; No dạ; Yếu chí; Mạnh xương Thường khiến cho dân không biết, không ham Khiến cho kẻ trí không dám làm gì cả

Trang 15

 Vô vi về đạo trị nước, cũng có nghĩa là: “phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi”,

nghĩa là không làm cho dân khôn lanh, mà làm cho dân trở nên thực thà Chữ

“ngu” ở đây không phải có nghĩa là ngu si, mà là “thực thà” tức là cái “ngu” của những bậc thánh trí: “minh đạo nhược muội”

 Chúng ta có thể thấy rằng ngày nay các nhà cầm quyền vì bày vẽ quá nhiều luật pháp, lễ nghi, hình thức, nên đã làm cho dân con mất thiên chân thiên tính, để rồi chạy theo những văn minh, những kiến thức kiến văn giả tạo bên ngoài Những cái đó không đem lại hạnh phúc, an bình cho con người được; trái lại chúng chính là mầm loạn lạc chia ly Vì thế, cho nên theo Lão tử chủ trương không can thiệp vào đời sống dân, không đem kiến văn, kiến thức dạy dân Có thể lý giải:

 Vì con người là một nghệ phẩm tối cao, không được nhào nắn bậy bạ

Đạo Đức kinh chương 29 viết:

“Những muốn nặn muốn nhào thiên hạ, Suy cho cùng chẳng khá được nào

Lòng người nghệ phẩm tối cao

Ai cho ta nặn ta nhào tự do?

Lòng người ai nắm giữ hoài, Già tay nặn bóp bao đời tiêu ma…”

 Vì thánh nhân chỉ giúp cho vạn vật sống tự nhiên theo thiên chân, thiên

lý mà thôi Đạo Đức kinh chương 64 viết:

“Cho nên hiền thánh trên đời, Chỉ say Đạo cả chơi vơi ngàn trùng

Của khan, vật hiếm chẳng mong, Của đời người tế đèo bòng mà chi

Học là học đạo siêu vi, Dạy đời lầm lạc hướng đi tuyệt vời

Trang 16

Giúp ai thanh thả đường trời, Chứ không chọc nước quấy trời uổng công

 Vì đem điều xảo trá, đem kiến văn kiến thức dạy dân, là làm hại dân, làm cho họ trở nên xa Đạo, xa trời, trở nên bất trị, chứ không làm lợi

cho họ Đạo Đức kinh chương 65 viết:

“Nên những kẻ am tường đạo cả, Chẳng đem điều xảo trá dạy dân, Muốn dân chất phác ôn thuần ”

Kết luận về tư tưởng vô vi:

Tóm lại, vô vi là hành động trở về nguồn cội, từ bỏ tất cả những gì phiền phức đa

đoan của văn minh giả tạo đã làm che lấp chân Tánh, cái Đạo nơi lòng “Vi học

nhật ích, vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn dĩ chí ư vô vi” Theo học thì ngày một

thêm, còn theo đạo thì càng ngày càng bớt… bớt rồi lại bớt nữa, bớt cho đến vô vi Tuy nhiên, đạo vô vi không phải là không làm gì cả, mà thực sự: “Vi vô nhi vô bất

vi” nghĩa là không làm mà không có gì là không làm, làm một cách hết sức tự nhiên

và kín đáo (thiện hành vô triệt tích), đem cái tự nhiên mà giúp một cách tự nhiên,

không tư tâm, không vị kỷ Người thi ân không biết là thi ân, người thọ ân cũng không dè là thọ ân Bậc trị nước mà dùng đến cái đạo vô vi, dân không hay là mình

bị trị dĩ nhiên được thiên hạ, mà tự mình cũng không bao giờ bị hại

1.3 Tư tưởng vô vi – Góc nhìn từ Đạo Phật

1.3.1 Tư tưởng vô vi của Đạo Phật

 Nếu nhận định nghiêm túc thì khái niệm vô vi chỉ có ở Lão học, nó

không giống với với khái niệm “vô của tánh không trung đạo duyên

khởi” “Vô của tánh không trung đạo duyên khởi” của triết lý Trung

Quốc có nguồn gốc từ tư tưởng kinh “Bát Nhã” và luận “Duy thức” của

Phật giáo Đại thừa Ấn Độ và được truyền vào Trung Quốc Tư tưởng “vô

của tánh không trung đạo duyên khởi” ở Trung Quốc được duy trì và

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w