1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TƯ TƯỞNG TRIẾT học của âm DƯƠNG GIA và sự ẢNH HƯỞNG của nó đến đời SỐNG văn hóa TINH THẦN của NGƯỜI VIỆT

24 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng triết học của Âm Dương gia và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của Người Việt
Tác giả Nguyễn Thị Minh Hiếu
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Mưa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Báo cáo tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 285,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên lý Âm dương thống nhất, tác động, chuyển hóa lẫn nhau Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách "Quốc ngữ".Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho

Trang 1

BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

Đề tài:

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

GVHD : TS BÙI VĂN MƯA

Trang 2

I NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH C ỦA THUYẾT ÂM D ƯƠNG GIA

[3] 1

II TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ÂM D ƯƠNG GIA [1], [4], [5] 2

II.1 Lý luận Âm dương 2

a Phạm trù Âm dương 2

b Nguyên lý Âm dương thống nhất, tác động, chuyển hóa lẫn nhau 2

II.2 Lý luận Ngũ hành 4

a Nguồn gốc 4

b Phạm trù Ngũ hành 5

c Quy luật ngũ hành tương sinh tương kh ắc 6

II.3 Thái cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng 7

II.4 Âm Dương trong Bát quái 9

II.5 Ngũ hành trong Đông y 9

a Hệ thống tạng phủ 9

b Hệ thống kinh mạch 11

c Hệ thống huyệt đạo 12

III SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ÂM DƯƠNG GIA ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT [2] 12

III.1 Vận hành Âm Dương Tiên R ồng trong văn hóa Việt Nam 12

III.2 Chữ Thời trong dòng Biến Dịch của Âm Dương 14

III.3 Kinh nghiệm sống trong nếp sống thuận lý theo thi ên thiên 15

III.4 Âm Dương trong các huy ền thoại 17

III.5 Tình thương là cái bất biến trong nếp sống Việt Nam 18

III.6 Âm Dương hóa mọi hiện tượng ngoại nhập 19

III.7 Cùng ăn ở hít thở với nguyên lý vận hành Âm Dương 19

IV KẾT LUẬN 21

V TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 3

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN

HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT

I NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA THUYẾT

ÂM DƯƠNG GIA [3]

Cĩ người cho rằng khái niệm Âm - Dương là do Phục Hy sáng tạo ra, nhưng Phục Hy lànhân vật huyền thoại nên điều này thiếu cơ sở khoa học

Nhân vật đại biểu cho Âm D ương gia là Châu Diễn (k 305-240 tr.C.N.) Ơng ngườinước Tề, chuyên nghiên cứu trời và đất, rất giỏi biện luận n ên cĩ biệt hiệu là Ðàm ThiênDiễn Châu Diễn từng giảng học tại cung Tắc Hạ, một trung tâm học thuật của n ước Tề

cĩ mục đích chuẩn bị điển ch ương cho việc trị thiên hạ Trung tâm quy tụ cả ngàn chư

tử thuộc các học phái Ðạo, Nho, Pháp, Danh, Binh, Âm D ương, v.v , trong đĩ h ọcthuyết Hồng Lão của Ðạo gia nổi bật hơn cả Học cung này cực thịnh suốt gần 150năm; Tuân Tử từng ba lần giữ chức Tế tửu tức thủ l ãnh học thuật ở đĩ

Là người duy nghiệm chủ nghĩa, Châu Diễn chủ trương “Tiên nghiệm hậu suy: trước

thực nghiệm rồi sau sẽ suy luận ra” Kế thừa v à phát huy thuyết Ngũ hành, ơng đưa raquan điểm Ngũ hành tương sinh tương kh ắc, nhằm tìm hiểu mối quan hệ đa dạng củacác hành chất tự nhiên trong khi chúng tương tác nhau theo t ừng cặp này và tương khắcnhau theo từng cặp khác Ơng cịn cho rằng lịch sử liên tục khai triển và biến đổi, khơng

chuyển động theo ý chí chủ quan của con ng ười Tiếc rằng hai tác phẩm Châu

Tử và Châu Tử chung thuỷ đã mất; hậu thế chỉ cịn tìm thấy một số dấu vết về cuộc đời

và tư tưởng của ơng trong sách Sử ký và Lã thị Xuân Thu.

Học phái Âm Dương gia đạt tới đỉnh cao vào cuối thời Chiến quốc Ban đầu, thuật ngữ

Âm Dương được dùng để chỉ tồn bộ các lý thuyết tìm cách giải thích vũ trụ bằng sự kếthợp các năng lượng Âm và Dương Theo quan ni ệm của Âm Dương gia, tồn thể vũ trụsinh ra từ sự kết hợp nguyên lý đực và nguyên lý cái – Dương và Âm – được tượngtrưng trong kinh Dịch bằng quẻ Càn thuần Dương và quẻ Khơn thuần Âm; hai quẻ ấy lànguồn gốc của các quẻ khác Mỗi quẻ t ương ứng với một năng lượng tự nhiên nhất định.Phái Âm Dương cũng dùng các con số lẻ (Dương) với các con số chẵn (Âm) bổ sungcho nhau để giải thích vũ trụ Về sau, họ lại d ùng các con số ấy để thiết lập mối liên hệgiữa các năng lượng Âm và Dương với Ngũ hành Ngày nay, cĩ ngư ời cho rằng: mãbinary kết hợp các 0 và các 1 để biểu hiện chuỗi mẫu tự trong máy tính được người sángchế ra nĩ lấy cảm hứng từ các vạch Âm D ương từ Bát Quái và các hào

Thuyết Âm Dương được phát triển thành hai nhánh, đĩ là nhánh tam tài - ngũ hành ởphía nam, và nhánh tứ tượng - bát quái ở phía bắc Sau đĩ, hai l ý thuyết này được tổng

Trang 4

hợp và gọi chung là Âm Dương Ngũ Hành Ngày nay hệ thống Âm Dương Ngũ Hànhđược dùng đồng nhất chứ không phân chia hai nhánh nữa.

II TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ÂM D ƯƠNG GIA [1], [4], [5]

Bao gồm 2 lý luận tiêu biểu: Lý luận Âm dương và Lý luận Ngũ hành

II.1 Lý luận Âm dương

a Phạm trù Âm dương

Âm và Dương vừa là những luồng khí vũ trụ vừa l à những phạm trù để phân loại Trong

tự nhiên, mọi cái gì nóng, sáng, đực, hoạt động…đều là dương, ngược lại mọi cái gìlạnh, tối, cái, thụ động…đều l à âm Âm và Dương khác nhau, đ ối lập nhau nhưng lạithống nhất, không tách rời nhau, trong cái n ày có cái kia Âm và Dương tác đ ộng,chuyển hóa lẫn nhau, tạo ra sự sinh th ành, biến hóa không ngừng

b Nguyên lý Âm dương thống nhất, tác động, chuyển hóa lẫn nhau

Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách "Quốc ngữ".Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ,một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi v à một dạng có âm tính, ti êu cực,lạnh nhạt, nhu nhược Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ

Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì

dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách không bốc

lên được thì có động đất".

Lão Tử (khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm âm d ương Ông

nói: “Trong vạn vật, không có vật n ào mà không cõng âm và b ồng dương”, ông không

những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm d ương của trời đất mà còn muốn khẳng địnhtrong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn, đó l à âm dương

Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch" T ương truyền,Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long mã trên sông Hoàng

Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch th ành nét Đầu tiên vạchmột nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt ( ) là vạchchẵn để làm phù hiệu cho khí âm Hai vạch ( -), ( ) là hai phù hiệu cổ xưa nhất củangười Trung Quốc, nó bao tr ùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật g ì không được tạothành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa bởi âm d ương biến đổi chonhau Các học giả từ thời thượng cổ đã nhận thấy những quy luật vận động của tự nhi ênbằng trực quan, cảm tính của m ình và ký thác những nhận thức vào hai vạch ( ) (-) vàtạo nên sức sống cho hai vạch đó Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động v à biếnhóa không ngừng, do sự giao cảm của âm d ương mà ra, đồng thời coi âm dương là hai

Trang 5

mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi

mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến to àn thể vũ trụ

Theo lý thuyết trong "Kinh Dịch" th ì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực lànguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai nghi, hai nghisinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ" Nh ư vậy, tác giả của “Kinh Dịch" đãquan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động Trong thái cực, thiếu d ương vận độngđến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đếnthái âm thì trong lòng thái âm l ại nảy sinh thiếu dương Cứ như thế, âm dương biến hoáliên tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ V ì thế, các nhà làm Dịchmới gọi tác phẩm của mình là "Kinh Dịch” Ở "Kinh Dịch", âm d ương được quan nệm

là những mặt, những hiện t ượng đối lập Như trong tự nhiên: sáng tối, trời đất, đông tây, trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi Qua các hiện tượng tựnhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đ ã bước đầu phát hiện được những mặt đốilập tồn tại trong các hiện t ượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm chứa âm dương trongnó: "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật n ào cũng có một thái cực, thái cực l à âmdương) Nhìn chung, toàn bộ “Kinh dịch” đều lấy âm d ương làm nền tảng cho họcthuyết của mình

-Vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật li ên quan tới sự sống con người được bànnhiều nhất trong nội dung trao đổi y học, y thuật giữa Ho àng đế và Kỳ Bá qua tác phẩm

"Hoàng đế Nội kinh" Tác phẩm n ày lấy âm dương để xem xét nguồn gốc của các tật

bệnh "Âm dương, đó là cái đạo của trời đất, kỷ cương của vạn vật, cha mẹ của sự biến

hóa, gốc ngọn của sự sinh sát, phủ tạng của thần minh, trị bệnh phải cần ở gốc, cho n ên tích luỹ dương làm trời, tích lũy âm làm đất, âm tĩnh đương động, dương sinh âm

trưởng, dương sát âm tàng, dương hóa khí, âm tàng h ình".

Tác phẩm này còn bàn đến tính phổ biến của khái niệm âm d ương Theo tác phẩm thìtrời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc d ương, mặt trăng thuộc âm Âm d ương làkhái niệm phổ biến của trời đất Mọi sự vật, hiện t ượng trong vũ trụ đều có thể lấy âmdương làm đại biểu Thông qua quy luật biến đổi âm d ương trong tự nhiên mà cố thể suydiễn, phân tích luật âm d ương trong cơ thể con người

Từ những quan niệm tr ên về âm dương, người xưa đã khái quát thành quy lu ật để khẳngđịnh tính phổ biến của học thuyết n ày: trước hết, âm dương là hai mặt đối lập với nhaunhưng lại thống nhất với nhau, c ùng tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện t ượng củagiới tự nhiên Âm dương đối lập, mâu thuẫn nhau tr ên nhiều phương diện Về tính chất:dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh Về đường đi lối về: dương là thăng (đi lên),

âm là giáng (đi xuống), "cái này đi ra thì cái kia đi vào, cái này dịch sang bên trái, thì cáikia dịch sang bên phải"

Song âm dương không ph ải là hai mặt tách rời nhau và chỉ có đấu tranh với nhau m à cònthống nhất với nhau, nương tựa vào nhau để tồn tại, "âm là cái dương vẫn tìm, mềm là

cái dương vẫn lấn" Trong vũ trụ, cái gì cũng thế, "cô dương thì bất sinh, cô âm thì bất

Trang 6

trường" Nếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh thành, biến hóa được Nếu một mặt mất đi th ì mặt kia cũng mất theo, "dương cô thì âm tuyệt", âm

dương phải lấy nhau để làm tiền đề tồn tại cho mình Ngay cả cái gọi là âm dương cũngchỉ có ý nghĩa tương đối, vì trong dương bao giờ cũng có âm, trong âm bao giờ cũng códương Khi dương phát triển đến thái dương thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu dươngrồi, khi âm phát triển đến thái âm th ì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu âm rồi Sở dĩ gọi

là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương, sở dĩ gọi là dương vì trong nó phần dương

lấn phần âm Âm dương bao giờ cũng nương tựa vào nhau Sách Lão Tử viết: "phúc là

chỗ núp của họa, họa là chỗ dựa của phúc”.

Bên cạnh quy luật âm dương đối lập, thống nhất còn có quy luật tiêu trưởng và thăngbằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhaugiữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối của sự vật Nếu mặtnày phát triển thái quá sẽ làm cho mặt khác suy kém và ngược lại Từ đó làm cho haimặt âm dương của sự vật biến động không ngừng Sự thắng p hục, tiêu trưởng của âm

dương theo quy luật "vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản " Sự vận động của hai mặt âm dương đến mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau gọi l à "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương" Sự tác động lẫn nhau giữa âm đ ương luôn nảy sinh hiện tượng bên này

kém, bên kia hơn, bên này ti ến, bên kia lùi Đó chính là quá tr ình vận động, biến hóa vàphát triển của sự vật, đồng thời cũng l à quá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương

Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động vàphát triển của một dạng vật chất, âm d ương tương tác với nhau gây nên mọi sự biến hóacủa vũ trụ Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giao cảm âm dương Điều kiện của sự giaocảm đó là sự vật phải trung và "hòa" với nhau Âm dương giao hòa cảm ứng là vĩnhviễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi sự vật, hiện t ượng Vì vậy, quy luật âmdương cũng là quy luật phổ biến của sự vận động v à phát triển không ngừng của mọi sựvật khách quan

Trang 7

thời của Chu Dịch (1150 BC) và Kinh Thi thời Khổng Tử (khoảng 500 BC), v ì bằngchứng rõ rệt nhất là Chu Dịch không hề nói đến luật Sinh Khắc của thuyết Ngũ h ành.

Nhiều người vẫn thường nhầm lẫn nếu không chịu tìm hiểu, do bởi quá nhiều sách vở

"Ngụy Thư " mê hoặc, khi cho rằng thuyết Ngũ hành có cơ sở từ Dịch lý mà ra, quatrung gian là Hà Ðồ và Lạc Thư, còn gọi là Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái Thật sự,các bậc hậu sinh đã quá tinh khôn để lồng nó vào trong Dịch lý, và qua các phương ti ệndùng Thần Thánh để thuyết phục, biến nó thành một phần tử thiết yếu của Dịch học.Bằng chứng cụ thể như đã nói trên, Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái chỉ là sản phẩmcủa các vị học giả hậu sinh, áp đặt lên Dịch lý của thuyết Ngũ hành, qua hình ảnh do rùathần và ngựa thần để tăng thêm tính thuyết phục Ðúng hơn, thuyết Ngũ hành đã đóngvai trò như là một loại cây "Tầm gởi", mới đầu đâm rễ sống bám vào cây Dịch lý, rồi từ

từ phát triển mạnh để bao phủ, áp đảo và làm lu mờ vai trò của cây chủ nhà

Dù xuất hiện vào thời điểm nào thì thuyết Ngũ hành, theo ý kiến chung của các học giả

về triết Ðông, là công trình nghiên c ứu độc lập riêng biệt của nhà thông thái nào đó, vàkhông phải sản phẩm trực tiếp có được từ Kinh Dịch mà ra Bằng chứng là thuyết Ngũhành không hề nói về nguồn gốc, hay giải thích Ngũ H ành bắt đầu từ đâu, và do cái gìsinh ra Còn như nếu chịu ảnh hưởng của lý thuyết Dịch, th ì chắc phải là 4 hay 8, chớkhông phải 5 Có thể tin được rằng, khởi thủy các nh à thông thái chỉ muốn làm côngviệc duy nhất là nghiên cứu các nguyên liệu chính trong thiên nhiên gồm 5 thành phần,đồng thời cũng đưa ra những quy tắc khi kết hợp 2 nguy ên liệu lại với nhau Vào thờicực thịnh bắt đầu đi lên của Trung Hoa lúc bấy giờ, kỹ thuật luyện kim để đúc vũ khí,dụng cụ canh nông để trồng l úa gạo, và nhất là xây dựng nhà ở đã có rồi, nên chắc phải

có nhuc ầu tìm hiểu, nghiên cứu về đặc tính của các vật liệu có thể dung được trongthiên nhiên

Nói cho công bằng, ưu điểm độc đáo trong thuyết Ngũ hành chính là đưa ra khái niệm

về luật Sinh Khắc, cơ sở chính cho các bộ môn khoa học kỹ thuật của nền văn minh Áchâu trong hơn hai mươi th ế kỷ Về sau, trong thời Xuân Thu và tiếp theo là Nhà Hán,các học giả nhờ am hiểu rõ sự hổ tương giữa hai thuyết Dịch lý và Ngũ hành, nên ghépvào nhau để cho thêm nhiều ứng dụng Ðó là một nhu cầu cần thiết rất hợp lý giữa lýthuyết và thực hành Theo ngôn ngữ ngày nay là Khoa học và Kỹ thuật

b Phạm trù Ngũ hành

Ngũ hành là năm yếu tố tạo nên vạn vật, bao gồm: Kim, mộc, t hủy, hỏa, thổ Đây khôngđơn thuần là 5 dạng vật chất cụ thể, mà là năm nguyên tố chung nhất để xét mối t ươngquan của vạn vật

Trang 8

c Quy luật ngũ hành tương sinh tương kh ắc

Ngũ Hành có 2 quy luật cơ bản: tương sinh và tương kh ắc Các quy luật này dựa trênnhững quan sát cụ thể của người xưa về thiên nhiên

a) Tương sinh

Mộc sinh Hỏa (cây đốt sinh ra lửa)

Hỏa sinh Thổ (tro lửa lại sinh chất m àu cho đất)Thổ sinh Kim (lòng đất sinh ra kim loại)

Kim sinh Thủy (kim loại nấu chảy th ành nước)

Thủy sinh Mộc (nước tưới cho cây)

b) Tương khắc

Mộc khắc Thổ (tụ thắng tán - rễ cây đâm xuyên đất)

Thổ khắc Thủy (thực thắng h ư - đê đất chắn nước)Thủy khắc Hỏa (chúng thắng quả - nước dập tắt lửa)

Hỏa khắc Kim (tinh thắng ki ên - lửa nung chảy kim loại)

Kim khắc Mộc (cương thắng nhu - dao rìu kim loại đốn cây)

c) Quy luật ngũ hành chế hóa

Mộc khắc Thổ, Thổ sinh Kim, Kim lại khắc MộcKim khắc Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa lại khắc Kim

Hỏa khắc Kim, Kim sinh Thủy, Thủy lại khắc Hỏa

Thủy khắc Hỏa, Hỏa sinh T hổ, Thổ lại khắc Thủy

Thổ khắc Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc lại khắc Thổ

Trang 9

Vì ngũ hành không phải chỉ 5 loại vật chất đ ơn giản, nên ta có thể quy nhiều thứ vàongũ hành Sau đây là vài ví d ụ:

KIM Tây và Tây

Bắc

MỘC Đông và Đông

Nam

Đông Bắc vàTây Nam

– 9 – 12

Một luật phụ thuộc cũng quan trọng không kém, tuy không có tên gọi chính thức, nhưngđược hiểu ngầm và tuyệt đối tôn trọng là luật "Bảo tồn" Mỗi Hành A đều phải sinh ramột Hành B, và đồng thời cũng được sinh ra bởi một hành C khác Tương tự cho luậtkhắc, Hành A trên phải khắc một Hành D, và "bị" khắc lại bởi một H ành E Như vậy,bất cứ một Hành nào trong Ngũ Hành đều có liên hệ chặt chẽ như trói buộc với 4 Hànhcòn lại Ðây chính là lý do giải thích tại sao người phát minh ra thuyết Ngũ hành đã phảidùng đến số "Hành" tối thiểu là 5 Các học giả từ xưa đã biết "Thổ khắc Thủy" l à sai,nhưng không thể nào sửa lại hay điều chỉnh được, vì giống như hình ảnh của thuyết con

cờ "Domino", nếu một cái ng ã thì sẽ kéo theo toàn bộ, và kết quả là cả thuyết Ngũ hành

sẽ không còn có giá trị gì nữa

II.3 Thái cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng

Kinh Dịch viết: Thái cực sinh l ưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bátquái, bát quái biến hóa vô cùng

Thái Cực là dạng thức nguyên thủy hỗn mang của vũ trụ Từ Thái Cực sinh ra L ưỡngNghi là Âm và Dương, t ừ Lưỡng Nghi lại sinh ra Tứ T ượng: Thái Âm, Thiếu D ương,

Trang 10

Thái Dương, Thiếu Âm Từ Tứ Tượng lại sinh ra Bát Quái (tám quẻ).V òng tròn TháiCực bao gồm hai nửa ôm lấy nh au, tượng trưng cho Âm và Dương không ng ừng chuyểnhóa, không tách rời nhau Trong mỗi một nửa lại có một h ình tròn nhỏ khác màu.

Lưỡng Nghi chính là Âm và Dương Nếu Thái Cực là dạng thức nguyên thủy của vũ trụ,thì quá trình sinh Lưỡng Nghi là quá trình hình thành trời đất Như vòng tròn Thái Cực

đã thể hiện, Âm và Dương giao hòa, không tách rời, và chuyển hóa cho nhau Âm thịnhthì Dương suy (khu vực màu đen rộng thì khu vực màu trắng hẹp lại) và ngược lại:Dương thịnh thì Âm suy

Tứ Tượng bao gồm Thái  m, Thiếu Dương, Thiếu Âm, Thái Dương Thái Âm là vùngmàu đen lớn, Thiếu Dương là vòng trắng nhỏ Tương tự, Thái Dương là vùng trắng lớn,Thiếu Âm là vùng đen nhỏ Từ Tứ Tượng ta có thể thấy, D ương phát triển đến cực đại(khoảng trắng lớn nhất) th ì sinh Âm, Âm phát triển cực đại thì sinh Dương Tứ Tượng

về bản chất là Âm và Dương nhưng nói r õ hơn quy luật của Âm Dương

Từ Tứ Tượng sinh ra Bát Quái (tám quẻ)

Đến đời Tống còn có thêm khái niệm Vô Cực, là dạng thức trước Thái Cực.Quá trình đi

từ Thái Cực – Lưỡng Nghi – Tứ Tượng – Bát Quái thực chất là quá trình lập thành BátQuái Quái (quẻ) được hình thành từ các hào Trong đó hào dương là một vạch liền (-)

và hào âm là một vạch đứt ( ) Thái Cực không có hào, Lưỡng Nghi chính là Âm vàDương Trong Tứ Tượng thì mỗi Tượng có 2 hào, tổ hợp lại được 4 Tượng Bát Quái thìmỗi Quái có 3 hào, vậy tổ hợp lại được 8 quẻ tất cả

Trang 11

II.4 Âm Dương trong Bát quái

Bát quái được lập thành bởi sự kết hợp của từng cặp ba vạch liền v à vạch đứt So với

Âm và Dương thì vạch đứt biểu thị nguyên lý Âm, vạch liền biểu thị nguy ên lý Dương.Thí dụ ba vạch liền chồng l ên nhau là quẻ Càn; ba vạch đứt chồng lên nhau là quẻKhôn; vạch đứt nằm giữa hai vạch liền l à quẻ Ly; vạch liền nằm giữa hai vạch đứt l àquẻ Khảm, v.v Quẻ Càn biểu thị cho thuần (tuý) Dương; quẻ Khôn cho thuần (tuý)Âm; sáu quẻ còn lại có lẽ là kết quả tương giao của hai quẻ Càn, Khôn

Trong Kinh Dịch, Hệ từ truyện, Thiên thượng, chương 5, có câu: “Một âm, một dương, gọi là đạo” Lão Tử cũng viết trong Ðạo đức kinh, chương 42: “Trong vạn vật không có

vật nào không cõng Âm và b ồng Dương; nhân chỗ xung nhau mà hoà với nhau” Nhưthế có nghĩa vạn vật chỉ hiện hữu b ình thường và vận hành thông suốt trong trạng tháiquân bình Âm Dương Dấu vết sớm nhất của khái niệm Âm D ương được tìm thấy trong

sách Quốc ngữ, một tác phẩm có lẽ được soạn vào thế kỷ 3 hoặc 4 tr.C.N Bộ sử n ày kể

chuyện nhân vụ động đất năm 780 tr.C.N., một học giả nói rằng “Khí d ương ẩn phục màkhông thể thoát ra, khí âm nén bức m à không thể bốc lên, nên phát sinh động đất”

II.5 Ngũ hành trong Đông y

• MỘC, ví như cây tươi, sắc xanh lá cây, thuộc khí Thiếu -Dương, phát triển theo chutrình Sinh, có những tương ứng với trời (phong khí, m ùa xuân, buổi sáng ), với đất(phương đông) và người (tạng phủ: can, đảm; c ơ phận: gân, thị giác)

• HỎA, ví như lửa, sắc đỏ, thuộc Thái Dương, phát triển theo chu trình Trưởng, cónhững tương ứng với trời (thử nhiệt, m ùa hạ, buổi trưa), đất (phương nam) và người(tạng phủ: tâm, tâm bào, tiểu trường, tam tiêu; mạch, lưỡi)

• THỔ, ví như đất, sắc vàng, phát triển theo chu trình Hóa (chuyển biến), có nhữngtương ứng với trời (khí ẩm thấp, cuối hạ, buổi tr ưa chuyển sang chiều), đất (ph ươngtrung ương) và người (tạng phủ: tỳ, vị; thịt, miệng)

• KIM, ví như kim lo ại, sắc trắng thuộc Thiếu Âm, phát triển theo chu tr ình Thâu, cónhững tương ứng với trời (táo=khô ráo,m ùa thu, buổi chiều tối), đất (ph ương tây) vàngười (tạng phủ: phế, đại tr ường; da, mũi)

• THỦY, ví như nước, sắc đen, thuộc khí Thái Âm, phát triển theo chu tr ình tàng ẩn, cónhững tương ứng với trời (khí lạnh, m ùa đông, đêm khuya), đ ất (phương bắc) và người(tạng phủ: thận, bàng quang; nước tiểu, xương)

a Hệ thống tạng phủ

Người xưa hay dùng lối nói ngụ ngôn, nghe có vẻ m ơ hồ, thiếu chính xác nhưng thực sựmuốn bao hàm rộng rãi hơn Cũng vậy, tạng phủ hay c òn gọi là “tạng tượng”, là một họcthuyết về cơ thể khác hẳn tây y, chỉ m ượn tên bộ phận để biểu tượng, diễn tả một hệthống rộng hơn, quan hệ liền lạc với các phần khác của c ơ thể Chẳng hạn như khi nói

Trang 12

đến TÂM TẠNG, đông y không chỉ nói đến trái tim, một “cái b ơm” thúc đẩy máu lưuthông trong huyết quản, tâm không chỉ “t àng huyết” (chứa máu) mà còn “tàng thần”,liên quan mật thiết đến thần kinh hệ, tới n ão bộ, tới tâm thần, phần sinh hoạt v ượt khỏi

cơ thể

THẬN TẠNG không chỉ l à trái thận với chức năng lọc máu m à còn bao gồm cả nangthượng thận, cả nhiệm vụ truyền giống nữa Nhất l à khi nói tới TÂM BÀO và TAMTIÊU thì rõ ràng là nói t ới chức năng có liên hệ rộng tới các cơ phận khác của cơ thể:Tâm bào là chức năng tiền phương, có nhiệm vụ bảo vệ cho Tâm tạng v à Tam tiêu làcông việc của ba vùng ngực (gồm tâm - phế), bụng trên (gồm chức năng Tỳ - Vị) vàbụng dưới (gồm Tiểu trường - Đại trường), cũng được gọi là “tướng hỏa”

1- CAN, thuộc hành Mộc, thuộc phong khí nên sinh đ ộng (chu trình SINH), thuận lợi

trong mùa xuân, buổi sáng Trong cơ thể quan hệ với gân bắp: “CAN chủ CÂN” (tạngCan mạnh thì gân cũng mạnh, sức bật tốt), thuộc mộc n ên gặp nhiệt (hỏa) sốt cao th ì gây

co giật cơ bắp Can (thuộc khí thiếu dương) có quan hệ mật thiết (liên kết) trong ngoài(biểu – lý) với ĐỎM (ĐẢM), thuộc PHỦ, cũng h ành Mộc, khí thiếu dương Vậy chứcnăng chính của Can - Đởm là vận động Người xưa cũng nói: “CAN tàng HUYẾT”, tacũng thấy cơ bắp khi vận động quả đã thu phát một số lượng máu lớn qua đó

2- TÂM, thuộc hành Hỏa, thuộc khí thử, nhiệt (nắng, nóng), tiến l ên cao độ (chu trình

TRƯỞNG), sức nóng phát triển mạnh v ào mùa hè, lúc giữa trưa Do đó người có máuđầy đủ trông khoẻ mạnh hồng h ào, trái lại người thiếu máu trông xanh xao, dễ thấy lạnh.Trái tim điều động máu (Tâm tàng huyết) nhưng Tâm cũng tàng Thần nên những sinhhoạt của hệ thần kinh, tinh thần cũng nằm trong TÂM tạng Tâm có t ương ứng biểu lývới TIỂU - TRƯỜNG (PHỦ), cũng thuộc h ành Hỏa, cùng có chức năng chính là sảnnhiệt cho cơ thể Ngoài ra còn phải nói tới TÂM BÀO (TẠNG) và TAM TIÊU (PHỦ)cũng thuộc HỎA có nhiệm vụ tiền ph ương (nên gọi là Tướng Hỏa), hỗ trợ cho TÂM -TIỂU TRƯỜNG (được gọi là Quân Hỏa)

3- TỲ, thuộc hành Thổ, thuộc thấp khí, ở v ào lúc chuyển biến (HÓA), giai đoạn

chuyển đổi Nói theo lối cổ th ì Tỳ là tụy tạng, nhưng thực ra Tỳ cùng với Vị (tương ứngbiểu - lý) bao gồm cả hệ thống tiêu hóa, kể cả răng miệng, thực quản, th ượng vị lẫn tụy,bao tử và một phần công việc của lá gan Răn g hư hay rụng nhiều cũng làm cho bao tử

“nặng gánh”, ăn không chịu nhai kỹ hoặc cứ “lo ra”, n ước miếng không tiết ra đủ để gópphần vào việc tiêu hóa, nhai cơm cứ như nhai rơm thì rồi cũng đi đến đau bao tử Nh ưngkhi thức ăn được tiêu hóa rồi thì gan giúp tinh lọc thành huyết để rồi được biến dưỡngnuôi thân Công việc đó khiến “các cụ” bảo l à TỲ có công năng “thống huyết”, nuôidưỡng, phát triển cơ thể nên bảo là “chủ cơ nhục” Công năng này còn gọi là “tiết xuất”

ví như mặt đất (Thổ) này đã góp phần nuôi dưỡng sinh vật trên đó

4- PHẾ, hành Kim, thuộc táo khí, ở vào giai đoạn Thu vào (chu trình THÂU) Ph ế chủ

Khí, biến dưỡng khí trời vào nuôi thân, đào thải thán khí trong máu Phế c òn “chủ bìmao”, như đã biết, con người không chỉ thở bằng hai lá phổi m à còn thở qua lỗ chân

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w