Với những luận cứ sâu sắc và có cơ sở khoa học, Hêgen đã làm sáng tỏ đối tượng, chức năng và phương pháp của triết học, mối quan hệ của triết học với các khoa học khác và qua đó, trình b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ VAI TRÕ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY TÂM CỦA HEGEN TRONG NỀN TRIẾT HỌC MÁC
1- Cơ sở lý luận : ………
1.2 Vai trị của của phép biện chứng duy tâm của Hegen trong nền triết học ……
1.2.1 Hạt nhân duy lý trong biện chứng pháp Hegel ………
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CỦA TRIẾT HỌC HEGEN 1 Hiện tượng luận của tinh thần ………
2 Luận lý học………
2.1 Ý thức cảm giác:………
2.1.2 Phân tích đối tượng của ý thức cảm giác:………
2 1.3 Xét cái tơi :………
2.1.4 Quan hệ giữa chủ quan và khách quan :………
3.Tri giác :………
4 Trí tuệ:………
4.1 Thực tế trong lịch sử lồi người, cũng cĩ một lúc khoa học định nghĩa thế giới
4.2 Đến trình độ trí tuệ, Hegel nĩi chính đối tượng ý thức ấy là mình………
CHƯƠNG III Triết học Hêgen ảnh hưởng đến thời đại 1.Tính thiết yếu của triết học Hêgen trong triết học Mác:………
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 31.TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu và làm rõ triết học Hêgen để là cơ sở, nền tảng để tìm hiểu, lý luận triết học Mác – Ăngghen
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài đặt ra các mục đích nghiên cứu sau đây
1-Làm sáng tỏ nội dung và bản chất của triết học Hêgen
2- Phân tích, đánh giá triết học Hêgen
3- Những ưu và khuyết của triết học Hegen trong cuộc sống thời đại
3 ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là triết học Heghen cĩ ảnh hưởng đến cuộc sống của thời đại
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỮ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Phương pháp nghiên cứu sữ dụng trong đề tài này là phương pháp phân tích, thực hiện mơ tả, suy luận logic và phương pháp duy vật biện chứng được sữ dụng làm nền
tảng trong nghiên cứu đề tài này
5 NHỮNG ĐĨNG GĨP CỦA ĐỀ TÀI
1 Hệ thống một số vấn đề lý luận có liên quan đến triết học Hêghen
2 Làm sáng tỏ một phần nội dung của triết học Hêgen
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và vai trị của phép biện chứng duy tâm của Hegen
CHƯƠNG II: Nội dung của triết học Hêgen
CHƯƠNG III: Triết học Hêgen ảnh hưởng đến cuộc sống thời đại
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong số các nhà triết học vĩ đại nhất, không thể không kể tới Phriđrích Hêgen người đã cùng Lút vích Phoiơbăc và các nhà triết học Đức đương thời khác tạo ra một trong những tiền đề lý luận cần thiết cho việc hình thành chủ nghĩa Mác Không chỉ là đại biểu tiêu biểu của nền triết học cổ điển Đức, Hêgen đã đem lại cho triết học địa vị vốn có và sứ mệnh cao cả của nó trong đời sống tinh thần nhân loại Với
những luận cứ sâu sắc và có cơ sở khoa học, Hêgen đã làm sáng tỏ đối tượng, chức năng và phương pháp của triết học, mối quan hệ của triết học với các khoa học khác
và qua đó, trình bày một cách khúc chiết, đúng đắn bản chất của triết học
Trang 5nó trong đời sống tinh thần nhân loại Với những luận cứ sâu sắc và có cơ sở khoa học, Hêgen đã làm sáng tỏ đối tượng, chức năng và phương pháp của triết học, mối quan hệ của triết học với các khoa học khác và qua đó, trình bày một cách khúc chiết, đúng đắn bản chất của triết học Gần 2 thế kỷ đã trôi qua kể từ khi hệ thống triết học Hêgen ra đời, song ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần nhân loại vẫn không ngừng tăng lên Bởi lẽ, như Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Hệ thống Hêgen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên Vì Hêgen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại Nếu đi sâu hơn nữa vào trong toà nhà đồ sộ, người ta sẽ thấy trong đó có vô số những vật qúy giá đến nay vẫn còn giữ được toàn bộ giá trị của chúng Nói chung, với Hêgen, triết học đã
đi đến điểm tận cùng, một mặt vì trong hệ thống của ông, ông đã tổng kết một cách hết sức hùng vĩ toàn bộ sự phát triển của triết học và mặt khác, vì Hêgen, dù không
có ý thức, cũng đã chỉ cho chúng ta con đường thoát khỏi cái mớ bòng bong những
hệ thống triết học, nhân loại đã lập nên biết bao chiến công hiển hách kể từ ngày Hêgen trở về cõi vĩnh hằng song nó cũng đã phải hứng chịu biết bao tổn thất nặng
nề Một trong các nguyên nhân gây nên những tôn thất ấy là do chúng ta đã hành động mà thiếu một tư duy tỉnh táo và trước hết là thiếu một tư duy mang đậm sắc thái nhân văn - tư duy triết học, tư duy luôn đặt con người, số phận và khát vọng về tự do của nó lên hàng đầu Điều đó cho thấy, nhân loại không thể sống thiếu triết học với bản chất nhân đạo vốn có của nó Và hơn ai hết, chính Hêgen là nhà triết học đầu tiên
Trang 6không những đã ý thức được và nói rõ bản chất nhân đạo ấy của triết học, mà còn luận chứng cho nó một cách sâu sắc và khoa học.
1.2 Vai trò của của phép biện chứng duy tâm của Hêgen trong nền triết học
1.2.1 Hạt nhân duy lý trong biện chứng pháp Hêgen
Marx lấy lại của Hêgen phương pháp biện chứng, cải biến nó từ một phương pháp biện chứng duy tâm thành phương pháp biện chứng của chủ nghĩa duy vật Sở dĩ Marx thực hiện được một cuộc biến chất như vậy chính là vì trong biện chứng pháp của Hêgen đã có một cơ sở chân lý nào đó, đấy là cái hạt nhân duy lý, tức là cái phương pháp nêu mâu thuẫn trong mọi khái niệm và suy diễn cuộc biến chuyển theo quá trình phát triển mâu thuẫn Hêgen đã vận dụng phương pháp nêu mâu thuẫn đó một cách lộn ngược, chân cho lên trên, đầu để xuống dưới; lẽ ra phải thấy rằng do mâu thuẫn nội tại mà vật chất luôn luôn biến chuyển, và đến một trình độ nào đó mới phát sinh ra tinh thần, thì Hêgen lại cho rằng nguồn gốc mâu thuẫn là hoạt động của tinh thần
Cái hạt nhân duy lý nói trên ở đâu mà ra? Tại sao chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của Hêgen lại nắm được cơ sở chân lý đó? Muốn hiểu được điểm này thì cần phải xét đến nguồn gốc lịch sử của chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của Hêgen
1.2.2 Nguồn gốc lịch sử chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của Hêgen
Biện chứng pháp duy tâm của Hêgen là kết quả của quá trình xây dựng phương pháp biện chứng trong triết học Đức từ Kant; quá trình ấy phản ánh những đòi hỏi của tư tưởng cách mạng tư sản Âu châu thông qua tình hình đặc biệt của giai cấp tư sản Đức Ưu điểm lớn nhất của Kant là đã đề cao được vai trò lao động sáng tạo ra thế giới, tuy chỉ quan niệm cái lao động ấy là lao động tinh thần Thế giới của Kant là thế giới của tư sản, thế giới trao đổi hàng hóa Trong chế độ kinh tế phong kiến, những vật làm ra chủ yếu là để sử dụng, nếu có trao đổi cũng chỉ là trong phạm vi địa phương nhỏ hẹp, với quan niệm ban ơn Với kinh tế tư sản, quan hệ chính trong xã hội là quan hệ trao đổi hàng hóa trên cơ sở bình đẳng - thực ra bình đẳng ở đây chỉ là hình thức, chỉ để che đậy động cơ quyền lợi ở bên trong - hàng hóa là sản sinh ra
Trang 7trong một quá trình sản xuất của máy móc, có tổ chức, duy lý Như vậy là tính chất lao động sáng tạo đã được thực hiện với một mức cao Đã đến lúc có điều kiện để tin rằng thế giới của loài người - cái thế giới hàng hóa - là do con người tạo ra
Nhưng vật chất mà tư sản đề cao chỉ là vật chất máy móc, chưa phải là vật chất thực
sự lao động tức là con người lao động Giai cấp tư sản chỉ giữ lại phần lao động trí
óc, lao động tổ chức sản xuất và tính toán kỹ thuật sản xuất, gạt bỏ phần lao động thực sự tức là con người sản xuất Đây cũng là nguyên nhân tính chất hạn chế của tư tưởng Kant khi ông đề cao vai trò lao động trong quá trình hiểu biết và xây dựng thế giới, Kant hạn chế lao động đó trong phạm vi tinh thần, do hoạt động của tinh thần
mà thế giới bên ngoài được xây dựng và có được tính chất khách quan
Trong bản đề án về Feuerbach gồm 11 điểm, Marx viết rằng trong chủ nghĩa duy vật trước kia người ta chỉ nắm được vật chất về phần tĩnh của nó, tức là trong phạm vi nó được phản ánh một cách thụ động vào trong giác quan của con người Còn phần hoạt động thì chủ nghĩa duy vật cũ chưa nắm được Vì vậy nó chỉ được đề cao trong phạm
vi tinh thần, duy tâm Nhưng tương đối với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, việc đề cao này cũng đã là một bước tiến bộ Vì lao động tinh thần được nêu lên đó cũng phản ánh được phần nào phương thức sản xuất mới, và thực ra nó cũng bắt nguồn từ lao động thực sự
Vì vậy, đặc điểm của tư tưởng duy tâm Đức là đã xây dựng được một khái niệm về chủ quan, nó phản ánh quá trình thực tế của lịch sử, tức là quá trình lao động xây dựng thế giới Đây chính là cái hạt nhân duy lý
Lao động tinh thần mà Kant quan niệm chỉ phản ánh được hình thức kỹ thuật của phương thức sản xuất máy móc Kant cho rằng thế giới mà ta nhận thức được là do
sự liên kết những cảm giác theo quy luật số lượng và nhân quả, quan niệm đó phản ánh tính chất sản xuất hàng hóa theo quy luật số lượng và nhân quả Đấy mới chỉ là hình thức kỹ thuật sản xuất, chưa đi vào con người lao động thực sự Kant mới phản ánh phương thức sản xuất trong giai đoạn tiền cách mạng; Kant chưa tin tưởng hoàn toàn vào cái thế giới hàng hóa và cho đấy chưa phải là thực tại tuyệt đối, chưa phải là vật tự tại
Trang 8Tiến lên một bước nữa, đến giai đoạn cách mạng cần phải khẳng định hoàn toàn cái thế giới mới, Fichte [2]
đã tuyệt đối hóa quan niệm duy tâm của Kant Fichte nói: nếu thế giới là do ý thức chủ quan của ta mà có, do lao động tinh thần xây dựng lên, thì đấy cũng là thế giới duy nhất, ngoài nó ra không có vật tự tại nào khác
Fichte đã đi thêm được một bước trên con đường xây dựng phương pháp biện chứng Fichte đã từng thấy mâu thuẫn giữa hoạt động sáng tạo và thế giới được sáng tạo, giữa cái «tôi» và cái «không phải là tôi» Tôi chỉ là một vật thể trong thế giới tự nhiên và thế giới đó ảnh hưởng đến tôi Nhưng mặt khác, cái chủ quan của tôi đã đặt ra: tôi là một vật thể Hai mặt đó đã được Fichte biểu diễn trong hai mệnh đề: về quan hệ lý thuyết là tôi tự đặt (tôi là do cái không phải là tôi quy định); và trên quan
hệ thực tiễn là tôi đặt (cái không phải tôi là do tôi quy định)
Phương pháp mâu thuẫn này mới được sử dụng trong phạm vi chủ quan, cái khách quan ở đấy chung quy vẫn nằm trong chủ quan Mâu thuẫn giữa tôi và cái không phải tôi vẫn nằm trong tôi, vì chính tôi đặt ra cái quan hệ đó - cái tôi vẫn là tuyệt đối
Triết học của Hêgen vận dụng một cách có hệ thống phương pháp biện chứng, tức là phương pháp nêu mâu thuẫn và biểu diễn quá trình biến chuyển của mâu thuẫn Phương pháp của Hêgen phản ánh đầy đủ hơn quá trình lịch sử thực tế, cho là trong mỗi giai đoạn có phát sinh ra mâu thuẫn nội bộ, và có phản ánh quá trình đó một cách có thứ tự, hệ thống Nhưng Hêgen lại nói rằng quá trình phát triển vật chất là do mâu thuẫn của hoạt động tinh thần Hêgen chỉ trông thấy hiện tượng ở bên trên, nên cho rằng tinh thần quy định sự tiến hóa, hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới Mệnh đề chung của Hegel phản ánh một chân lý: đó là con người sáng tạo thế giới lịch sử Nhưng con người đó chỉ được quan niệm trong phạm vi tinh thần Tuy nhiên con người tinh thần cũng chỉ là hình ảnh của con người lao động thực sự Hạt nhân duy lý trong phương pháp biện chứng của Hêgen là ở chỗ đó
Trang 9CHƯƠNG II
NỘI DUNG CỦA TRIẾT HỌC HÊGEN
1 Hiện tượng luận của tinh thần
2 Luận lý học
Cuốn trên trình bày lý thuyết về những hiện tượng của tinh thần và cuốn dưới nói về
hệ thống phạm trù Nhưng phạm trù này không chỉ là những khái niệm trừu tượng như của Kant mà bao gồm tất cả nội dung của thực tế khách quan Luận lý của Hegen không phải là hình thức mà bao gồm tất cả cái gì có thể hiểu biết được và trình bày theo quá trình biện chứng của nó, nhưng trước khi đi đến trình độ đó, phải thanh toán những hình thái ý thức còn phân biệt thực tế khách quan và khái niệm, chưa thực hiện lý luận triết học Hêgen phê phán những chủ nghĩa triết học trước bằng cách coi những hình thái ý thức không phải là lý luận triết học như ông ta quan niệm (ví dụ: cảm giác, tức là cơ sở chủ nghĩa cảm giác) Phân tích nó đúng thế nào và chứng minh rằng mỗi hình thái ấy có một quá trình biện chứng, trong đó nó mâu thuẫn với nó, bắt buộc phải chuyển lên một mức cao hơn và cứ như thế đi đến hình thái triết học của Hêgen
Trong cuốn Hiện tượng luận của tinh thần (Phenomeno- logie des Geistes), Hêgen phê phán mọi tư tưởng triết học trước đó, qua mọi hình thái ý thức theo quá trình biện chứng của nó cho đến luận lý học của Hêgen, tức là biện chứng pháp duy tâm
mà Hêgen quan niệm
2.1 Ý THỨC CẢM GIÁC
Ý thức cảm giác là cái ý thức nhằm cái trước mắt: cái này, ở đây, bây giờ Theo ý tứ của nó thì nó nắm được thực tại tuyệt đối Thường những chủ nghĩa chống triết học duy tâm dựa vào cái mà tôi nắm ở đây, bây giờ, để mà phê phán những lý luận cao siêu của các triết gia Chúng ta phân tích nội dung thực tế của cái ý thức cảm giác ấy
2.1.2 Phân tích đối tượng của ý thức cảm giác:
Cái này, ở đây, bây giờ là cái gì? có nhắc đến thế giới không?
Trang 10Xét theo nội dung thì nó luôn luôn biến chuyển vì thế «tôi» không nắm được gì hết Thực tế, ta chỉ nắm được cái đại thể: lúc nào cũng là lúc bấy giờ, chỗ nào cũng là ở đây, cái gì cũng là cái này Vậy ta không nắm được cái cá thể Chủ nghĩa cảm giác có thể trả lời: Đối tượng biến chuyển luôn luôn, nhưng vẫn là tôi nắm nó
2 1.3 Xét cái tôi ấy là gì?
Tôi nhằm cái này Cái tôi nhằm như vậy tưởng là vững chắc, nhưng bên cạnh có người khác cũng nhằm cái này, vì ai cũng là tôi cả nên tôi ấy vẫn là đại thể Cho nên
ý thức cảm giác cũng không căn cứ được vào cái tôi cá thể
2.1.4 Quan hệ giữa chủ quan và khách quan
Chủ quan cũng như khách quan không phải là cá thể Vậy quan hệ giữa chủ quan và khách quan có phải là cá biệt không?
Phân tích quan hệ ấy trong cảm giác thì chúng ta chỉ có thể định nghĩa bằng cái thái độ: chỉ cái này, bây giờ, ở đây Khi tôi chỉ cái này ở đây, tức là tôi đặt đối tượng trong không gian, tôi phải nắm nhiều cái ở đây Vậy tôi cũng chỉ nắm cái đại thể Khi tôi chỉ cái bây giờ, vì một buổi chiều có mấy giờ, mỗi giờ nhiều phút, v v Vậy quan hệ đây giữa chủ quan và khách quan vẫn phải nắm một đại thể
Kết luận là ý thức cảm giác tưởng là nắm được một cá biệt rất là vững chắc Nhưng thực tế nó nhằm cái cá biệt, nhưng nó không nắm được cái mà nó phải nắm là cái đại thể Vậy tất cả những lập luận dựa vào cảm giác - chủ nghĩa kinh nghiệm - chống lại chủ nghĩa vận dụng lý luận là vô giá trị Vậy thực tế khách quan không do kinh nghiệm trực tiếp mà nắm được, mà phải do khái niệm mới nắm được Hegel phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm cũng là nhằm chủ nghĩa duy vật
3.TRI GIÁC
Ý thức cảm giác tự nó mâu thuẫn với nó Tri giác là ý thức nắm đối tượng với thuộc tính đại thể của nó Cái bàn với hình thể, màu sắc, trọng lượng Những thuộc tính ấy định nghĩa cái nội dung thực tại của đối tượng khách quan Trong tri giác tôi đã nắm
Trang 11tích cái nội dung ấy, chúng ta thấy có mâu thuẫn giữa thuộc tính với vật thể cá biệt Nếu thực chất của nó là thuộc tính đại thể thì tôi không nắm được cái gì cá biệt cả Ví dụ: Tôi nói cây này màu xanh, nhưng xanh này lại khác xanh của các vật khác
Thành ra trong tri giác vẫn có mâu thuẫn, và do đó bước đầu phải trở lại cảm giác Những thuộc tính lại trở lại cá biệt mà không phải là đại thể nữa Nhưng trong cảm giác ấy lại có mầm mống để phát triển nội dung theo chân lý của nó Là vì nếu chúng
ta đặt thuộc tính ấy là thực tế khách quan Nếu có gì thiếu sót thì ta cho nó là của chủ quan Vì sai lầm chủ quan cho nên tưởng thuộc tính của nó lúc thế này lúc thế khác, nhưng khách quan thì vật thể có thuộc tính nhất định của nó Nếu cho rằng sai lầm là chủ quan của ta, thì chúng ta đã đặt được chân lý ở vật thể tri giác Nhưng mọi vật thể lại liên quan với nhau: nội dung chân chính của vật thể là do quan hệ của nó với vật khác Quan hệ có thể hiểu biết được, quan hệ lý tính chứ không phải cái này, cái kia với những thuộc tính của nó Mâu thuẫn đó đưa đến một hình thức cao hơn, tri giác, tức là trí tuệ có thể hiểu biết, tính toán ngoài cảm giác
4 TRÍ TUỆ
Với trí tuệ, chúng ta nắm được chân lý cao, nhưng vẫn có mâu thuẫn, chân lý ấy lại
tự phủ định nó Chân lý của trí tuệ là những quan hệ toán lý mà chúng ta có thể hiểu biết được ngoài hay trên thế giới cảm giác kinh nghiệm Với hoạt động trí tuệ, chúng
ta xây dựng một thế giới mới, thế giới cao hơn thế giới cảm giác, một thế giới siêu giác Thế giới siêu giác là chân lý, là thực tế khách quan chân chính ngoài chúng ta
Phân tích nội dung, chúng ta thấy trong ấy có những quan hệ toán lý Nhưng quan hệ toán lý gì? Căn bản là cách chúng ta tính toán, nó là hoạt động tính toán của ý thức Chính nó là cái hoạt động của ý thức Nội dung của nó là chủ quan, mà ta tưởng là ở ngoài ta
Đến đây có mâu thuẫn: hình thức đối tượng khách quan mâu thuẫn với nội dung đối tượng khách quan (tức là chủ quan) Do đó, chân lý khách quan là chủ quan Thế giới khách quan không có gì là khác mình Ý thức chuyển lên ý thức bản ngã, và chính
Trang 12thế giới khách quan cũng là ý thức thôi Hêgen đã đi thêm một bước nữa trong quá trình xây dựng chủ nghĩa duy tâm
4.1 Thực tế trong lịch sử loài người, cũng có một lúc khoa học định nghĩa thế giới khách quan bằng toán lý
Nhưng có phải nó chấm dứt với ý nghĩa tri giác không? Những quan hệ toán lý nó đặt ra là trên cơ sở kinh nghiệm Quy luật này, quy luật kia, là quy luật của thế giới vật chất xuất hiện trong kinh nghiệm Còn nội dung toán lý thật ra thì có phần chủ quan, vì do hoạt động tính toán của chúng ta Nhưng hoạt động tính toán của chúng
ta cũng là phản ánh một quá trình cơ giới thực sự mà chúng ta nắm trong kinh nghiệm máy móc Không có sản xuất máy móc, không có tính toán, và tính toán chỉ
là một cách phản ánh cái hoạt động máy móc đã có, và dự tính quá trình lao động máy móc sau này Nội dung thực sự là thực tế khách quan của thế giới vật chất
4.2 Đến trình độ trí tuệ, Hegen nói chính đối tượng ý thức ấy là mình (ý thức biến thành ý thức bản ngã)
Điểm này cũng phản ánh một hiện tượng thực tế Vì ý thức bản ngã là gì? làm sao mà tôi có ý thức bản ngã được
Trong quá trình lịch sử, ý thức bản ngã phát triển với hoạt động sở hữu hóa Tôi là tôi
có của Quá trình sở hữu hóa có thể cá thể hay tập thể Thời thị tộc, tôi tức là tôi tập thể Bản ngã có tính chất cá thể xuất hiện với chế độ sở hữu cá thể, tách biệt người này với người kia Của của tôi không phải là của của anh Quá trình sở hữu hóa tự phát đến chế độ tư bản mới có tính chất tự giác Chính đấu tranh của giai cấp tư bản chống giai cấp phong kiến nhằm chế độ tư hữu mới, có ý thức, đấu tranh chống lại những đặc quyền của giai cấp phong kiến Trái lại, đấu tranh của nô lệ chống chủ nô, hay phong kiến mới chống Nhà nước chủ nô cũ, không có ý thức rõ rệt về nội dung thực sự, tức là thay đổi chế độ sở hữu Sở dĩ bọn tư bản có ý thức như vậy là vì lần đầu tiên có một tổ chức sản xuất mà người chỉ huy sản xuất có thể nắm được rõ rệt quá trình của nó Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là một phương thức có ý thức, bọn tư bản tính toán quá trình sản xuất một cách chi tiết Tất nhiên không phải
Trang 13là tính toán toàn bộ, họ chỉ trong phạm vi cục bộ tư hữu thôi, chứ không phải toàn bộ, cho nên sinh ra hẹp hòi, duy tâm, trừu tượng Nhưng trong giới hạn ấy, nó có nắm được quá trình sản xuất Trong giới hạn ấy, bọn tư bản nắm được hoạt động của con người theo hình thức kỹ thuật trừu tượng Vì họ nắm được như vậy, cho nên ý thức
có chúng ta
Triết học Hêgen là duy tâm tuyệt đối, nhưng nó thông qua cả nội dung cụ thể của lịch
sử, không để một cái gì ở ngoài cả Chính nội dung tuyệt đối là do nó phản ánh lịch
sử có thật Nó có cái mà Marx gọi là «hạt nhân duy lý» Mâu thuẫn xuất hiện trong phạm vi tinh thần phản ánh mâu thuẫn thực sự của tự nhiên
Phương pháp nêu mâu thuẫn, vận dụng mâu thuẫn, diễn tả quá trình biến chuyển theo mâu thuẫn là một phương pháp rất đúng mà Hêgen đã vận dụng trong phạm vi duy tâm, một cách trái ngược, nhưng căn bản có hình thức đúng Nội dung ấy đã bị xuyên tạc Đấu tranh giai cấp thực sự trong xã hội thì Hêgen lại quan niệm là quá trình phát sinh của ý thức tự ngã Nhưng trong lúc mô tả quá trình phát sinh ấy trong phạm vi tinh thần với những khái niệm trừu tượng, thực tế Hêgen đã diễn tả những hình ảnh phản ánh cuộc đấu tranh thực sự giành quyền sở hữu của giai cấp tư bản
5.Ý thức bã ngã
Có thể nói đây là chương nổi tiếng nhất của quyển Hiện tượng luận tinh thần Chương này được sử dụng rất nhiều Nó chia làm hai phần: