1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ

148 1,8K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành Hà Nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội
Chuyên ngành Kiến trúc
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 10,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành Hà Nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ ” PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.. Không gian vui chơi trong trường mầm non cũng chí

Trang 1

“Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành Hà

Nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ ”

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là dân tộc có một truyền thống lịch sử hào hùng đáng được trân trọng và tự hào Trong xuốt quá trình lịch sử xây dựng và phát triển đất nước dân tộc Việt Nam đã phải trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ, nhưng chúng ta vẫn hiên ngang phát triển từng bước sánh vai cùng bạn bè năm châu một phần

do chúng ta rất chú trong đến yếu tố con người Tiếp bước cha ông, Đảng và chính phủ trong giai đoạn phát triển hội nhập hiện nay cũng đã và đang rất chú trọng đến công tác giáo dục phát triển toàn diện cho con người Việt Nam Trong

đó, lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con người, nó được ví như “thời kỳ vàng của cuộc đời” Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý, tâm vận động, tâm lý xã hội và những kết quả nghiên cứu về sự phát triển đặc biệt của não bộ trong những năm đầu tiên của cuộc đời đã khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 – 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai Vì vậy trong giai đoạn mầm non nên đặc biệt chú tâm giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, hướng tới sự phát triển toàn diện cho trẻ trong giai đoạn này Giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ bằng hệ thống trường mầm non là phần quan trọng nằm trong chiến lược phát triển giáo dục nói riêng và xã hội nói chung của Đảng và Chính phủ Nói cách khác hệ thống trường mầm non

Trang 2

có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu cho mọi người dân muốn con em mình được hưởng một môi trường giáo dục tốt nhất ngay khi còn nhỏ Trong hệ thống

trường mầm non thì vai trò “không gian vui chơi – học tập” là một bộ phận

quan trọng, đây là nơi diễn ra các hoạt động vui chơi của các em trong phần lớn thời gian ở trường Các trò chơi giúp các em phát triển óc tưởng tượng, sáng tạo, tạo mối giao tiếp với bạn bè và thầy cô Không gian vui chơi trong trường mầm non cũng chính là nơi giúp các em rèn luyện thể chất, giúp các em hòa đồng với thiên nhiên, cảm nhận môi trường, ánh sáng, âm thanh, sự vận động …

Chính vì vậy, “Tổ chức không gian vui chơi – học tập cho trẻ em trong

trường mầm non theo hướng phát triển toàn diện của trẻ” là công việc quan

trọng và cần thiết Hà nội là thủ đô, là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước, đây cũng là nơi em sinh ra và lớn lên vì thế em quyết định chọn Hà Nội là địa điểm để nghiên cứu

- Là tài liệu tham khảo cho việc tổ chức quản lý giáo dục trẻ em trong các trường mầm non

3 Đối tượng nghiên cứu

Trang 3

- Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non.

4 Giới hạn nghiên cứu

- Không gian vui chơi – học tập trong các trường mầm non, tại nội thành

Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng tình hình tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non

- Thu thập thông tin, số liệu thống kê từ các triến lược phát triển giáo dục nói chung và trường mầm non nói riêng Từ đó đánh giá xu hướng tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non

- Lấy ý kiến chuyên gia của BGD&ĐT, Viện nghiên cứu kiến trúc, Công

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 4 phần và nội dung gồm 3 chương

Mở đầu.

Nội dung nghiên cứu.

Chương 1 Tình hình phát triển giáo dục mầm non và tổ chức không gian vui

chơi – học tập trong các trường mầm non ở Việt Nam và Hà nội

Trang 4

Chương2 Cơ sở khoa học của việc tổ chức không gian vui chơi – học tập trong

trường mầm non ở nội thành Hà Nội

Chương 3 Một số giải pháp tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường

mầm non ở nội thành Hà Nội

Kết luận – kiến nghị.

Tài liệu tham khảo.

Trang 5

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON VÀ TỔ

CHỨC KHÔNG GIAN VUI CHƠI – HỌC TẬP TRONG CÁC TRƯỜNG MẦM NON Ở VIỆT NAM VÀ HÀ NỘI

1.1 Tình hình phát triển giáo dục mầm non tại Việt Nam

Trong quá trình đổi mới và phát triển, hoàn thiện hệ thống giáo dục luôn

là vấn đề cốt lõi Nó phản ánh những tư tưởng, mục tiêu và nội dung của các cuộc cải cách giáo dục theo từng bước phát triển, những thay đổi sâu sắc về cơ cấu giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử Bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa – hiện đại hóa, để đáp ứng được các nhu cầu mới và ngày càng cao của sự nghiệp nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, hệ thống giáo dục nước ta nói chung cần được tiếp tục hoàn thiện và phát triển Đồng thời chịu sự tác động và chi phối của các xu hướng phát triển chung của thế giới thông qua quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà quá trình toàn cầu hóa đã và đang phát triển mạnh mẽ, tác động lên nhiều mặt của cuộc sống

Hiện nay, trong giáo dục thì nước ta có hệ thống giáo dục quốc dân với cấu trúc tương đối hoàn chỉnh từ cấp mầm non đến đại học, với một mạng lưới trường lớp rộng khắp và các loại hình đa dạng tương đối thuận lợi cho người học Các mục tiêu, nội dung chương trình đã được thiết kế cho từng cấp bậc học, từng môn học, từng ngành nghề đào tạo và được thay đổi phù hợp với yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạn Tiếng Việt được dùng làm ngôn ngữ dạy học chính thức ở mọi bậc học được phát triển, hiện đại hóa và là công cụ sắc bén để

Trang 6

của Hà Nội đang được phát triển mạnh mẽ song các tổ chức không gian trường mầm non nói chung và tổ chức không gian vui chơi – học tập nói riêng cần phải được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan Xã hội càng phát triển thì chúng ta lại càng phải chú ý đến đầu tư phát triển con người nhiều hơn và sớm hơn Tạo ra sức hút cho học sinh tới trường là động lực thúc đẩy sự phát triển cho hệ thống giáo dục Chính vì vậy, việc cải tạo giáo dục, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất phải được tiến hành một cách đồng bộ và nghiêm túc ngay ở cấp cơ sở.

Tình hình phát triển giáo dục mầm non qua các thời kỳ:

a Giai đoạn 1975 – 1986:

Đất nước hoàn toàn thống nhất, nhân dân ta bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế Trên cơ sở đó từng bước xây dựng sự nghiệp giáo dục mầm non thống nhất trên toàn quốc theo tinh thần cải cách giáo dục “Tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng cho con người mới Việt Nam” Thời kỳ này, nhà trẻ thực sự là nơi “nuôi dạy trẻ có khoa học” chứ không phải là nơi “trông trẻ đơn thuần” Nhà trẻ đã giải quyết đồng bộ việc chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diệt của trẻ sau này Cùng với việc cải cách chương trình dạy học phổ thông, năm 1978 chương trình giáo dục giảng dạy ở cấp mầm non cũng đã đượcc cải tiến đổi mới theo hướng khoa học và hiện đại trường mầm non là loại hình phổ biến trong giai đoạn này và đã được đầu tư xây dựng khá khang trang và quy mô Năm 1981 1985 cả nước có 5845 trường; 52.089 lớp; 60.522 cô giáo (2816 là người dân tộc); 1.570.994 cháu (73.696 là người dân tộc) đạt tỷ lệ 32,75% số trẻ 3 tuổi (ở miền bắc là 43,1%, ở miền nam là 22,24%) Số trẻ đến trường

Trang 7

ngày càng tăng, năm 1986 có 1.157.385 cháu ở độ tuổi nhà trẻ, 1.636.341 ở

độ tuổi mẫu giáo

b Giai đoạn 1986 – đến nay:

Năm 1987 giáo dục mầm non đã được sát nhập thành một ngành học, thống nhất hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương trong bối cảnh lịch sử của đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường

có định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ căn bản chế độ bao cấp Sự chuyển biến này tác động mạnh đến ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục mầm non nói riêng Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục mầm non giảm, sau khi thực hiện cơ chế khoán ruộng các hợp tác xã không còn nhiều kinh phí trả lương cho giáo viên và bao cấp cho trường mầm non Như vậy hoạt động của trường mầm non gần như phụ thuộc vào sự đóng góp của gia đình học sinh Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhiều gia đình không đủ điều kiện cho con em đến trường học Ở nhiều nơi, nhà trẻ, mẫu giáo phải đóng cửa, cắt giảm biên chế Số giáo viên mầm non và số trẻ đến trường giảm liên tục từ năm 1987 đến năm 1991 Trong thời kỳ này chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo là tiếp tục duy trì, ổn định hệ thống trường lớp hiện có, phát triển đa dạng hóa các loại hình Vì vậy, sau này đã xuất hiện các loại hình mới như: nhóm trẻ gia đình, nhóm tuổi thơ, lớp mẫu giáo 5 tuổi

… Các hình thức tổ chức đa dạng này phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của từng khu vực, đáp ứng nhu cầu gửi trẻ và khả năng kinh tế, giờ giấc làm việc của cha mẹ các em Có thể khẳng định rằng giai đoạn này mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng ngành giáo dục mầm non đã vượt qua, đặc biệt là

sự chuyển đổi kinh tế Các loại hình trường lớp phát triển mạnh, thu hút được nhiều trẻ đi học, số lượng trẻ tới trường tăng, số lượng trường lớp tăng, trình

Trang 8

non đã vượt qua được tình trạng giảm sút quá lớn, có bước chuyển biến về chất và lượng.

1.2 Thực trạng tổ chức không gian vui chơi – học tập trong các trường mầm non của Việt Nam

1.2.1 Thực trạng chung trong các trường mầm non tại các đô thị của Việt Nam

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống GD quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ

em Việt Nam Vậy nên trong những năm qua, nhà nước đã tập trung đầu tư rất lớn cho công tác giáo dục mầm non, nhằm phát triển vững chắc bậc học nền móng này Tuy nhiên đến nay, sau tròn 60 năm xây dựng và trưởng thành (1946-2006), giáo dục mầm non vẫn còn rất nhiều thử thách vô cùng cam go, khó khăn

đủ bề!

Với hệ thống mầm non, hiện nay, cả nước có 7.584 trường mầm non (trong đó, có: 2.808 trường công lập; 4.174 trường bán công; 174 trường dân lập; 428 trường tư thục); có 3.012 trường mầm non, với 96.759 lớp mầm non (trong đó, có 46.989 lớp mầm non 5 tuổi; 11.949 lớp mầm non 26 tuần, 36 buổi) Tổng số trẻ em đi học mầm non, mầm non trên toàn quốc là 2.622.568 cháu; đạt tỉ lệ 67,5% số trẻ trong độ tuổi Trong đó, có 1.245.573 trẻ mầm non 5 tuổi, đạt tỉ lệ 94% số trẻ trong độ tuổi Việc trẻ được học ở nhà trẻ, mầm non trước khi vào bậc tiểu học là rất quan trọng Theo số liệu thống kê của Vụ GDMN, ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến lớp mầm non khá cao (từ 96-100%), ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền Trung lại có tỉ lệ rất thấp (40-80%) Đặc biệt, có những tỉnh có tỉ

lệ rất thấp, như: Kiên Giang 25,4%; Cà Mau 42,4%; Tiền Giang 46,7%; An

Trang 9

Giang 46,4%; Ninh Thuận 42,6%; Đăk Lăk 41,5%; Đăk Nông 47,3%; Phú Yên 52,5%; Lai Châu 57,5%; Điện Biên 57,4%; Sơn La 66,7% Trong đó, có những tỉnh có tỉ lệ trẻ 5 tuổi đến lớp mầm non rất thấp, như: Sóc Trăng 58,7%; An Giang 67,7%; Bình Dương 66,9%; Ninh Thuận 76,5%; Điện Biên 67,85% [1]

Cơ sở hạ tầng của các trường mầm non ở các tỉnh thành nhìn chung còn rất yếu kém Trường lớp cũ nát, xây dựng không đúng quy cách, thiếu sự bảo trì bảo

dưỡng [Hình 1.1; 1.2; 1.3].

Bảng 1.1 Số trường ở cấp học mầm non giai đoạn 2000 - 2008 [1]

2000 – 2001

2001 – 2002

2002 – 2003

2003 – 2004

2004 – 2005

2005 – 2006

2006 – 2007

2007 – 2008

Tăng giảm sovới 2000-01

Trang 10

Hình 1.3 Hiện trạng một số trường mầm non tại các tỉnh thành.

Hình 1.2 Số lượng trẻ em khuyết tật được đi học [1]

Trang 11

1.2.2 Thực trạng tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở các đô thị lớn trong nước

a

f e

d c

b

Trang 12

Không gian vui chơi là một yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển tổng thể giáo dục mầm non Thời gian sinh hoạt chính của trẻ trong trường mầm non là trong các không gian vui chơi trong và ngoài lớp học Những nguồn thông tin về tự nhiên – xã hội được các em cảm nhận và tiếp thu thông qua các hoạt động vui chơi “chơi mà học – học mà chơi” chính là cách truyền đạt thông tin tốt nhất đến các em Nhờ các trò chơi các em có thể tự khám phá được bản thân, tự tin trước cuộc sống, giáo dục lẫn nhau cùng cảm nhận về thế giới nho nhỏ xung quanh một cách gần gũi chân thực nhất.

Diện tích dành cho không gian vui chơi tại các trường trên cả nước không giống nhau và không theo quy luật cụ thể nào Các trường tại nông thôn với quỹ đất rộng thì diện tích có thể dành cho việc bố trí không gian vui chơi nhiều hơn

các trường trong các khu đô thị với quỹ đất hạn chế [Hình 1.4; 1.5].

Hình 1.4 Diện tích không gian vui chơi cho 1 trẻ [4]

Hình 1.5 Hiện trạng sân chơi một số trường mầm non tại các tỉnh thành.

Trang 13

Như vậy, so với diện tích lớp học bình quân / 1 trẻ là 1,26m2/1 trẻ thì sân chơi cho các cháu rộng gấp 3 lần Diện tích sân chơi cho trẻ tại mỗi địa phương

a

f e

b

Trang 14

cũng chênh lệch tương đối, Hà Tây ít nhất chưa đến 3m2/1 trẻ, Nam Định nhiều nhất gần 4m2/1 trẻ.

1.3 Thực trạng tổ chức không gian vui chơi – học tập trong các trường mầm non ở nội thành Hà Nội

1.3.1 Thực trạng các trường mầm non ở nội thành Hà Nội

a Thực trạng xây dựng trường mầm non ở nội thành Hà Nội

Hệ thống trường mầm non ở Hà Nội được phân bố rải khắp các quận nội thành chủ yếu dưới hình thức như sau:

- Trường mầm non công lập

- Trường mầm non tư thục

- Các nhóm lớp nhỏ lẻ do hộ gia đình tổ chức

- Trường mầm non quốc tế

Qua khảo sát thực tế tại một số trường mầm non tại Hà Nội, có một số nhận xét như sau:

Mặt bằng tổng thể quy hoạch theo kiểu chắp vá không có cái nhìn một cách tổng thể, không phù hợp với nhu cầu phát triển của ngành Các khối lớp đều bị quá tải, việc đầu tư sửa chữa không được định hướng gây lãnh phí Diện tích của các trường thường nhỏ hẹp, không có không gian và quỹ đất dự trữ để

phát triển [Hình 1.6; 1.7].

Hình 1.6 Tổng mặt bằng hiện trạng trường mầm non tại nội thành Hà Nội.

Trang 15

Trường mầm non Thành Công A, có nhiều

khối nhà xây dựng thêm lấn vào không

gian sân trong, sân chơi, sát các khối

nhóm lớp

Trường mầm non Họa My, có khối nhóm lớp làm thêm nối tiếp khối nhóm lớp đã có, do nhu cầu học sinh

đến trường tăng lên

+ Trường mầm non công lập: hiện nay đang trong tình trạng quá tải, số

lượng nhóm lớp thiếu trầm trọng Sự pha trộn giữa phần xây mới và cũ làm giảm đáng kể chất lượng thẩm mỹ cũng như công năng hoạt động của các cơ sở này Do quỹ đất dự trữ thường không có nên phần lớp xây mới phải lấn vào diện tích sân chơi làm giảm đáng kể không gian vui chơi của trẻ

Hình thức kiến trúc thường là nhà mái bằng 2 tầng, tầng sát mái bị nóng

và hình thức kiến trúc đơn giản khô cứng không phù hợp với lứa tuổi mầm non

Các khối phục vụ còn đơn sơ, hầu hết đều chưa được sử dụng các công

Phần XD

ban đầu

Phần cơi nới thêm

Phần XD ban đầu

Phần cơi nới thêm (a)

(b)

Trang 16

Không những thế do yếu tố thời gian, các công trình này đã bị xuống cấp nặng, việc sửa chữa cải tạo không thể khắc phục được hết làm giảm chất lượng

dạy và học cũng như phát triển toàn diện cho trẻ [Hình 1.8]

Hình 1.7 Mặt bằng tổng thể trường mầm non Ánh Sao.

Diện tích xây dựng trường nhỏ, phần lớn là xây dựng công trình Các không gian vui chơi chỉ là phần diện tích tận dụng từ góc méo của khu đất Diện tích

để xe rất nhỏ và chờ đón học sinh rất nhỏ

Hình 1.8 Hiện trạng trường mầm non công lập ở Hà Nội.

Trang 17

Trường mầm non Họa My luôn trong

tình trạng quá tải

Do thiếu diện tích, nhà trường đã phải tận dụng cả không gian hành lang để xây dựng thành phòng làm việc

Hình thức kiến trúc đơn giản, không

phù hợp với lứa tuổi mầm non

Kho làm thêm dưới gầm cầu thang rất

thiếu thẩm mỹ

+ Trường mầm non tư thục: hầu hết được xây chen vào các khu ở cũ

diện tích chật hẹp, hoặc được hình thành từ việc cải tạo các tòa nhà dân nên mặt bằng công năng thường bố trí tùy tiện, tối giản để tăng diện tích lớp Dạng này không những thiếu không gian chức năng và còn không thể đáp ứng được các yêu cầu về thiết kế trường mầm non khác như chiếu sáng, vệ sinh, thông gió …

(a)

(d) (c)

(b)

Trang 18

Diện tích sân chơi thường nhỏ được bố trí ở phần sân trước hoặc trên sân thượng (bao quanh bằng lưới B40 và lợp tôn) Đồ chơi vì vậy cũng rất hạn chế, chỉ là vài món đồ chơi nhỏ Thời gian chơi cũng bị giảm thiểu, chủ yếu sinh hoạt

của các cháu là trong không gian lớp học chật hẹp [Hình 1.9].

Hình 1.9 Hiện trạng trường mầm non tư thục ở Hà Nội.

Trường mầm non Lưu Ly,được biến

đổi từ nhà liên kế thành trường mầm

non

Trường mầm non tư thục Vân Hà - Mai Dịch – Cầu Giấy – Hà Nội, trước kia là một biệt thự cũ.

+ Các nhóm lớp nhỏ lẻ do hộ gia đình tổ chức: Loại này khá phổ biến,

được bố trí rải khắp ở Hà Nội, số lượng cũng chưa được tính toán thống kê cụ thể Thông thường chỉ có 1 đến 2 lớp phân theo độ tuổi Các em theo học trong các lớp này không được dạy theo chương trình do bộ giáo dục đề ra, đơn thuần chỉ là các lớp trông trẻ Không có không gian vui chơi riêng, các em chỉ được

chơi tại chỗ với vài món đồ chơi nhỏ dùng trong nhà [Hình 1.10].

Hình 1.10 Hiện trạng các nhóm lớp nhỏ lẻ ở Hà Nội.

Trang 19

Trường mầm non Bình Minh có

dạng các nhóm lớp nhỏ lẻ, nằm xen

trong khu dân cư.

Trường mầm non Minh Họa nằm trong một ngõ rất nhỏ trển đường Lý

Nam Đế

Trường mầm non Hiền thục và Phương Vy, nhìn bên ngoài không khác gì cửa

hàng tạp hóa

+ Trường mầm non quốc tế: Hiện nay, do đáp ứng nhu cầu phát triển

của xã hội, nhiều trường mầm non quốc tế đã được xây dựng Các trường này thường được bố trí trong các khu đô thị mới, tại vị trí quỹ đất dành cho xây dựng trường học Một số trường ở Hà Nội: Trường Mầm non Song ngữ Kidlinks Việt Nam, Trường Mầm Non Quốc Tế Mỹ Kid_garden, Trường Mẫu giáo Quốc tế

Trang 20

Global, Trường Mẫu giáo Quốc tế Koala House Các trường này thường có cơ

sở vật chất tốt, các không gian học và chơi cũng được quan tâm và xây dựng theo chuẩn quốc tế Các trang thiết bị hiện đại đáp ứng được nhu cầu của trẻ Tuy nhiên, do đầu tư cơ bản lớn nên học phí tại các điểm trường này khá cao, không phải ai cũng có thể cho con em theo học tại đây Vì thế loại hình này

không phổ biến để đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em Việt Nam [Hình 1.11].

Hình 1.11 Hiện trạng trường mầm non quốc tế Global - Khu đô thị mới

Yên Hòa.

b Tỷ lệ % số trẻ trong lứa tuổi đến trường

Theo thống kê chính thức: 70% các em ở độ tuổi 3-5 hiện đang học ở trường mầm non (trong đó số học sinh mầm non học ngoài công lập là 51%); còn 30% chưa được học Đây là vấn đề Chính phủ và ngành Giáo dục rất bức xúc Bộ đang xây dựng lộ trình phấn đấu từ nay đến năm 2015 ít nhất 95% các

em được đi học học 2 buổi/ngày Hiện nay, riêng các em 5 tuổi đã đến trường được 95% nhưng không phải là 2 buổi/ngày

Trang 21

Như vậy, nếu chỉ có 70% các em từ 3-5 tuổi được đến trường, 30% các

em còn lại khi vào tiểu học sẽ gặp rất nhiều khó khăn [Hình 1.12].

Hình 1.12 Tỷ lệ trẻ được đến học tại trường mầm non.

Hiện nay, toàn thành phố có 340 trường mầm non hệ quốc lập, hàng chục trường mầm non tư thục và nhóm trẻ gia đình với trên 3200 giáo viên hành học mầm non Trong tổng số 85,000 học sinh có khoảng 2700 nhóm lớp Các trường đều trong tình trạng quá tải, số lượng các cháu trong lớp đều đã vượt xa quy định của Bộ giáo dục (30cháu/lớp) Cụ thể tại quận Ba Đình 57,8 cháu / 1 lớp, quận Đống Đa 49,3 cháu / 1 lớp, cao điểm là trường Việt Triều 70 cháu / 1 lớp, trường Hoa Sen 73 cháu / 1 lớp

1.3.2 Thực trạng tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành Hà Nội

a Thực trạng tổ chức không gian vui chơi – học tập

Trang 22

Trong giai đoạn vừa qua nhịp sống tăng nhanh, kinh tế phát triển mạnh

mẽ, xã hội phát triển nhiều mặt góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân Tuy nhiên, lĩnh vực giáo dục mầm non lại không thể hiện được sự phát triển tương xứng trong việc xây dựng tổ chức phát triển nhu cầu vui chơi cho trẻ Vì vậy, sân chơi của trẻ ở các trường mầm non là bức tranh nghèo nàn với những đồ chơi đơn giản về chủng loại, đơn điệu về kiểu dáng

- Tại khu vực ngoại thành: Với quỹ đất rộng, nhưng điều kiện kinh tế và

dân trí chưa cao nên việc tổ chức không gian vui chơi học tập cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức Không gian vui chơi cho trẻ hầu như là những khoảng sân trống, những bãi cát thiếu sự chăm sóc vệ sinh, trang thiết bị cũ nát nghèo nàn không được duy tu bảo dưỡng Kinh phí đầu tư xây dựng trường chủ yếu được tập trung vào việc xây dựng trường lớp

-Tại khu vực nội thành: Thực tế vấn đề khó khăn nhất để tổ chức không

gian vui chơi cho trẻ trong trường mầm non ở nội thành Hà Nội là quỹ đất Quá trình đô thị hóa phát triển mạnh nhưng thiếu cân bằng ở Hà Nội làm cho quỹ đất dành cho cách công trình công cộng như trường mầm non thiếu hụt nghiêm trọng Từ đó dẫn tới diện tích sân chơi cho trẻ em trong trường mầm non tại các quận nội thành rất hạn chế Diện tích sân chơi bị thiếu nhưng vẫn phải cắt giảm

để tăng diện tích cho các công năng khác, do sự quá tải của hầu hết các trường mầm non tại Hà Nội Nhiều không gian vui chơi cho các em trong trường mầm non với diện tích nhỏ, cùng với cách bố trí các thiết bị vui chơi lộn xộn tạo ra khung cảnh rất thiếu thẩm mỹ không kích thích các em đến trường

- Trường mầm non công lập: Hệ thống trường mầm non trong khu vực

nội thành Hà Nội, tại các khu phố cũ và các khu tập thể chung cư được xây dựng trước những năm 90 điều được thiết kế theo tiêu chuẩn cũ, nên không gian vui

Trang 23

chơi – học tập cho trẻ có nhiều vấn đề không còn phù hợp với sự phát triển của

xã hội Dân số tăng cơ sở phòng lớp thiếu nên kinh phí đầu tư xây dựng trường thường được dùng vào việc phát triển quy mô các nhóm lớp, gián tiếp làm giảm diện tích sân chơi Hiện nay, xã hội phát triển, dân trí nâng cao, mọi người đều ý thức rõ ràng tầm quan trọng của việc tổ chức không gian vui chơi cho trẻ trong trường mầm non, xong việc này không hề đơn giản bởi diện tích dành cho không gian này không còn nhiều

Trong các khu đô thị mới, các trường mầm non công lập thường được thiết kế theo các tiêu chuẩn mới và có diện tích khá rộng đủ để tổ chức không gian vui chơi cho trẻ Vấn đề chỉ là tổ chức các không gian này như thế nào để

đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ mà thôi [Hình 1.13].

- Trường mầm non tư thục: Là loại hình phát triển rất mạnh trong thời

gian gần đây Các không gian trong loại hình trường mầm non này chủ yếu tập trung vào việc xây dựng các không gian nhóm lớp để có được lợi nhuận cao, không gian vui chơi bị đẩy xuống thứ yếu Cùng với việc diện tích đất xây dựng trường của các cơ sở này thường nhỏ hẹp và ở những nơi đông dân cư nên rất khó để có quỹ đất cho không gian sân vườn phục vụ nhu cầu vui chơi cho trẻ

[Hình 1.14a,b].

- Các nhóm lớp nhỏ lẻ: Đối với loại hình này không gian vui chơi cho trẻ

là một thứ xa xỉ bởi diện tích dành cho nhóm lớp thường đã không đủ rồi Việc nuôi dạy trẻ ở các cơ sở này chỉ dừng ở mức trông giữ trẻ “đi gửi trẻ” mà thôi

[Hình 1.14c,d].

- Trường mầm non quốc tế: Loại hình trường quốc tế mục đích nhắm

đến đối tượng có thu nhập cao trong xã hội, do vậy, các tiêu chuẩn về trường lớp

và trang thiết bị cũng được nâng cao Không những thế loại hình trường quốc tế

Trang 24

cũng tích cực được áp dụng các phương pháp thiết kế, tổ chức không gian hiện đại của các nước phát triển trên thế giới Đây là mô hình trường cần được nghiên cứu để học hỏi áp dụng những điểm tốt vào hệ thống trường mầm non ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, đồng thời vẫn đảm bảo yếu tố kinh tế & kỹ

thuật phù hợp [Hình 1.15].

Hình 1.13 Hiện trạng không gian vui chơi trong trường mầm non công lập.

Sân chơi thiếu trang thiết trang thiết bị Thiết bị chơi dùng để phơi chiếu.

Sân chơi bẩn, thiết bị chơi cũ nát Sân trường khá rộng nhưng thiếu thiết bị chơi.

(d) (c)

Trường MN công lập Thành Công A Trường MN công lập Tuổi Thơ

Trường MN công lập Số 9 Trường MN công lập B1 – TT Giảng Võ

Trang 25

Sân khấu trang trí thiếu thẩm mỹ Thiết bị chơi đặt quá gần tường rào.

Hình 1.14 Hiện trạng không gian vui chơi trong trường mầm non tư thục

và các nhóm lớp nhỏ lẻ.

Sân chơi chung với chỗ đỗ xe ôtô Sân chơi nhỏ lại chứa cả xe máy của giáo viên

(f) (e)

Trường tư thục Những đứa trẻ của tôi Trường tư thục Những đứa trẻ của tôi Trường MN công lập Vườn Rừng Trường MN công lập Tuổi Thơ

Trang 26

Dùng đường và vỉa hè để đặt các thiết bị chơi Diện tích sân chơi chỉ là lối vào ga ra của một

nhà liền kề.

Hình 1.15 Hiện trạng không gian vui chơi trong trường mầm non quốc tế.

Sân chơi khá rộng được bố trí nhiều thiết bị Yếu tố thẩm mỹ chưa được quan tâm.

(d) (c)

Trường quốc tế Pháp Trường quốc tế Pháp

Nhóm lớp Linh Chi

Nhóm lớp Kidinks

Trang 27

Cây xanh bố trí khá đẹp trong sân chơi Thiết kế sân chơi và công trình rất bắt mắt.

Diện tích sân chơi hẹp, thiết bị chơi đơn giản Chi phí cao hơn nhiều so với thu nhập TB.

Bảng 1.2 Thực trạng chỉ tiêu diện tích sân chơi - trang thiết bị theo diện tích xây dựng và quy mô học sinh trong các trường mầm non ở nội thành

Hà Nội [6].

TT Tên trường

Dtích đất (m2)

Số cháu

Dtích sân chơi (m2)

Dtích sân chơi /1 cháu

Đánh giá trang thiết bị

Trang 28

6 Mầm non Quỳnh Lôi -

10 Mầm non Hoàng Văn

11 Mầm non Xuân La – Tây

Theo tính toán sơ bộ diện tích sân chơi cho 1 cháu (tính trung bình của

340 trường tại Hà Nội:

Như vậy, diện tích sân vườn trong trường mầm non bình quân mới đạt được 18% so với chuẩn Ngay cả các trường mầm non trong các khu đô thị mới cũng bị cắt giảm nhiều so chủ đầu tư chỉ chú trọng vào khai thác diện tích ở

Trang 29

Điều này làm diện tích đất xây dựng trường mầm non tính bình quân theo số trẻ

thiếu rất nhiều so với tiêu chuẩn [Hình 1.16].

Hình 1.16 So sánh chỉ tiêu diện tích xây dựng trường mầm non tại các khu

đô thị mới so với tiêu chuẩn [2].

b Thực trạng trang thiết bị trong không gian vui chơi của các trường mầm non ở nội thành Hà Nội

Bắt đầu từ năm học 1992 – 1993, phòng giáo dục mầm non thuộc Sở giáo dục đào tạo đã xây dựng và chỉ đạo chương trình: “Xây dựng khu vui chơi và trang bị đồ chơi ngoài trời ở các trường mầm non trong thành phố”

Rất dễ để nhận ra rằng nhu cầu của các cháu cần có nhiều đồ chơi, diện tích sân chơi phù hợp bảo đảm tính khoa học, hiện đại để đáp ứng nhu cầu hoạt động, tăng cường sức khỏe, nâng cao tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, tạo nên sự phát triển toàn diện cho trẻ

Ban đầu nhiều trường không có sân chơi phải sử dụng vỉa hè, hành lang làm sân Số lượng sân chơi có đồ ít, chiếm 25% với số lượng đồ chơi rất thiếu,

Trang 30

được trang bị đã lâu nên hều cũ nát hỏng hóc, chất lượng kém không đảm bảo an toàn Chưa kể đến là những sản phẩm đồ chơi kém chất lượng, có kích thước không phù hợp, ít chức năng sử dụng, hình thức xấu, tính giáo dục thấp… Do nguồn kinh phí ít, lại được đầu tư tản mạn mới chỉ dừng ở việc mua sắm đồ chơi, đồ dùng trong lớp nên các khu vui chơi của trẻ không những thiếu, nghèo nàn mà còn không đảm bảo khung cảnh sư phạm như cây xanh, bóng mát Mặt

khác đồ chơi lại xắp xếp thiếu khoa học không tạo cảm hứng cho trẻ khi chơi

Thực tế đã đặt ra câu hỏi: Trẻ mầm non thích những loại đồ chơi như thế nào? Đồ chơi do Việt Nam sản xuất đã đáp ứng được nhu cầu, sở thích của trẻ

em hay chưa? Để trả lời câu hỏi này, tháng 6 năm 2001 đã có một cuộc điều tra bằng đàm thoại với 34 giáo viên và 89 cháu lớp mầm non nhỡ (41 trai, 48 gái) tại 3 trường mầm non Hoa Sen, Đống Đa, Tháng Tám tại Hà Nội; tiếp xúc và trò chuyện với 49 phụ huynh tại cuộc họp cuối năm của trường và phỏng vấn một

số cửa hàng bán đồ chơi [Hình 1.17].

Hình 1.17 Sở thích của trẻ đối với tính chất và đặc điểm của đồ chơi [3].

Trang 31

Nhìn vào biểu đồ ta thấy loại đồ chơi động, nhiều mầu sắc sặc sỡ được trẻ yêu thích hơn cả Loại đồ chơi này sinh động, nó có tác động đến sự phát triển của nhiều giác quan và chức năng vận động của trẻ So sánh sự khác biệt giữa cháu trai và cháu gái ta thấy: số cháu trai thích các loại đồ chơi động và nhiều mầu sắc hơn Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng kể Biết được sở thích, tâm lý của các cháu công ty sản xuất đồ chơi nên nghiên cứu cách phân loại theo tính chất, đặc điểm của đồ chơi chứ không chỉ phân loại theo lứa tuổi … Những mẫu đồ chơi phải đáp ứng được tính giáo dục, an toàn, dễ sử dụng phù hợp với sở thích lành mạnh của trẻ.

Trước thực trạng đó, Sở giáo dục đào tạo Hà Nội đã phối hợp cùng với thành phố đầu tư cho mỗi quận huyện 2 bộ đồ chơi ngoài trời trị giá 20 triệu đồng vào năm học 1992 – 1993, đã làm chất xúc tác để phối hợp với các lực lượng xã hội đầu tư cho đơn vị mình Bên cạnh tuyên truyền, quán triệt vai trò, tầm quan trọng của trang thiết bị đồ chơi trong việc giáo dục phát triển toàn diện

Trang 32

hợp nghiên cứu sáng chế ra nhiều loại đồ chơi thiết bị mới Các sản phẩm này sẽ được hội đồng thẩm định khoa học đánh giá một cách toàn diện trước khi cung cấp cho các khối trường sử dụng phục vụ giảng dạy.

1.4 Những vấn đề tồn tại, cần nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa ở Hà nội trong thời gian qua diễn ra quá nhanh đã biến Hà Nội thành một đô thị có mức ô nhiễm ngày càng cao, không gian cây xanh, mặt nước, không gian giải trí, thể dục thể thao … ngày càng bị thu hẹp Môi trường xung quanh con người trở nên ngột ngạt, khả năng tiếp xúc với thiên nhiên trong đô thị ngày càng giảm, không gian vui chơi, giải trí ngày càng bị thu hẹp làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống Ngay cả trong không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non nơi khởi đầu cho mọi sự phát triển của một cá nhân trong xã hội cũng bị tác động nghiêm trọng Mọi chủ trương chính sách của Đảnh và Chính phủ để nâng cao chất lượng của các không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non đều rất khó để triển khai, đưa vào áp dụng thực tế Xảy ra tình trạng này là do những nguyên nhân sau:

- Tầm quan trọng của các không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non đã được công nhận, tuy nhiên để nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc, và để đánh giá tác động, ảnh hưởng một cách chính xác thì chưa được thực hiện triệt để Thể hiện qua việc chưa có sự đầu tư thích đáng về kiến trúc lẫn quy hoạch, trang thiết bị, cách giao tiếp chưa phù hợp với lối sống phong tục tập quán của người Việt Nam

- Phần lớn các trường trọng điểm của khối công lập đã bị xuống cấp, các trang thiết bị cũ gần như không có Các trang thiết bị mới được bổ xung thì cũng đã trong tình trạng xuống cấp cần bảo dưỡng

Trang 33

- Việc trang bị mới thiết bị và cải tạo không gian vui chơi – học tập cho trẻ được thực hiện một cách chắp vá không khoa học.

- Do sự biến đổi của số lượng trẻ trong lứa tuổi mầm non, nên xuất hiện

sự biết đổi công năng của một số công trình trường tiểu học thành trường mầm non và ngược lại Tuy nhiên, giải pháp xử lý vẫn chưa triệt để và hợp lý để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ

- Diện tích không gian vui chơi quá thấp không đáp ứng được nhu cầu

giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ em Do diện tích quỹ đất không

đủ, chủ yếu tập trung cho diện tích nhóm lớp

- Không gian khối nhóm lớp không được bố trí hợp lý và thường bị

quá tải nên không phát huy được hết khả năng hoạt động vui chơi –

học tập trong nhà của các em

- Các yếu tố cảnh quan cây xanh, trang trí nội ngoại thất thường bị

lược bỏ vì cho là lãng phí không được ưu tiên.

- Chi phí đầu tư dàn trải, không tập trung, không hiệu quả làm ảnh hướng rất nhiều đến không gian vui chơi – học tập cho trẻ trong trường mầm non

- Do chiến lược phát triển giáo dục mầm non chưa thực sự đúng đắn, dẫn đến tình trạng quá tải tại hầu hết các trường mầm non

- Vẫn còn tồn tại thực tế “đến trường mầm non” là “mang con đi gửi

trẻ”.

Tóm lại, chúng ta thực sự phải nhìn nhận một cách đúng đắn về công tác nuôi dạy và phát triển toàn diện cho trẻ, đặt công việc này ở vị trí tương xứng với tầm quan trọng của nó trong cuộc cuộc phát triển đất nước Muốn thế chúng

Trang 34

ta phải đầu tư vào việc giáo dục tinh – thể - mỹ, cụ thể trong việc tổ chức không

gian vui chơi - học tập cho các em trong trường mầm non Cân đối diện tích không gian vui chơi, kết hợp giữa không gian bên trong và ngoài nhà, tìm cách

tận dụng các không gian phụ, lựa chọn và tổ chức bố trí các trang thiết bị kết

hợp với việc tiếp thu học hỏi các phương pháp giảng dạy khoa học của các

nước có nền giáo dục phát triển để xây dựng nên quy trình tổ chức không gian

vui chơi – học tập cho trẻ em trong trường mầm non đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ mà vẫn mang yếu tố dân tộc

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN

VUI CHƠI – HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG MẦM NON Ở NỘI THÀNH HÀ NỘI

2.1 Khái niệm chung

2.1.1 Trường mầm non

Trường mầm non là loại cơ sở giáo dục phục vụ xã hội Mục đích chính là việc nuôi dạy trẻ em trước tuổi vào trường phổ thông Trường mầm non có vai

Trang 35

trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bước khởi đầu tạo tiền đề

cho sự phát triển của các giai đoạn tiếp theo [Hình 2.1]

Tổ chức trường mầm non thường phân thành các nhóm trẻ, mỗi nhóm được bố trí sinh hoạt, học tập vui chơi độc lập, phù hợp với từng lứa tuổi

- Nhà trẻ

- Trường mầm non

- Nhà trẻ - trường mầm non liên hợp

- Nhà trẻ - trường mầm non tư thục

Trường mầm non có nhiệm vụ nuôi dạy trẻ em ở hai lứa tuổi:

2.1.2 Không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non

Không gian vui chơi trong trường mầm non bao gồm không gian vui chơi – học tập trong nhà và không gian vui chơi hoạt động rèn luyện ngoài nhà Trong nhà là các không gian sinh hoạt chung, các không gian trong lớp học, các không gian ngoài nhà bao gồm các không gian sân chơi cứng, sân chơi cát, sân

cỏ, khu vực leo trèo, khu vực bơi lội, sân vườn …

Tất cả các không gian này đều hướng tới phục vụ nhu cầu vui chơi phát triển toàn diện cho trẻ

Trang 36

Hình 2.1 Vị trí của trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 37

2.2 Điều kiện tự nhiên- khí hậu ở Hà Nội

2.2.1 Điều kiện địa hình địa mạo

Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mặt biển Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía bắc và phía Tây Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20m đến trên 400m với đỉnh Chân Chim cao nhất là 462m Địa hình của Hà Nội thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông Điều này được phản ánh rõ nét qua hướng dòng chảy tự nhiên của các dòng sông chính thuộc địa phận Hà Nội Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao

và các bậc thềm Xen giữa các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu vết của các lòng sông cổ) Riêng các bậc thềm chỉ có ở phần lớn huyện Sóc Sơn và ở phía bắc huyện Đông Anh, nơi có địa thế cao trong địa hình của Hà Nội Ngoài ra, Hà Nội còn có khá nhiều ao hồ, chiếm 16% diện tích với 32 hồ lớn Ngoài ra còn có rất nhiều hồ ao nhỏ khác Các hồ tại Hà nội chính là những lá phổi góp phần làm trong sạch bầu không khí thủ đô

2.2.2 Điều kiện khí hậu

Do đặc điểm vị trí địa lý, Hà Nội có khí hậu đặc trưng của khí hậu nhiệtđới gió mùa Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9: khí hậu nóng, ẩm, nhiệt độ cao có khilên tới 37 - 380C, năm cao nhất nhiệt độ lên đến 420C

- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 của năm sau, khí hậu khô hanh, nhiệt

độ xuống thấp ở cuối mùa vào tháng 2, tháng 3, có mưa nhỏ kèm gió Đông Nam đem theo khí hậu ẩm gây ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người

Trang 38

Tuy nhiên do nằm gần bờ biển phía đông nên mùa đông ấm áp hơn các vùng khác ở phía Bắc.

- Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (vào tháng 4, tháng 10)

vì thế có thể nói rằng Hà Nội có đủ bốn mùa: xuân, hè, thu, đông

- Thời gian dễ chịu nhất trong năm ở thành phố này là mùa thu (từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 11), tiết trời thời gian này chuyển khô, mát Bên cạnh những cơn mưa ngắn đầu mùa thu mang lại sự sạch sẽ cho phố phường, bầu trời

trong và nắng nhẹ nhưng không chói chang [Hình 2.2].

Hình 2.2 Tác động của điều kiện tự nhiên – khí hậu đến không gian vui

chơi – học tập trong trường mầm non tại Hà Nội.

Thời tiết giao mùa của Hà Nội phần nào ảnh hưởng đến sức khỏe học tập,

do vậy việc rèn luyện thể chất cho mỗi học sinh vô cùng quan trọng Do đó để phù hợp với thời tiết của Hà Nội, các công trình trường mầm cần phải đảm bảo thông thoáng về không gian về mùa hè và ấm áp về mùa đông, tuy nhiên vẫn cần

Trang 39

đảm bảo che chắn tốt khi gặp thời tiết bất lợi Đồng thời phải tính toán thời gian biểu phù hợp và các phương án dự phòng, để đảm bảo thời gian vui chơi ngoài trời cho các em.

2.3 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội

2.3.1 Kinh tế

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh với vị thế và diện mạo mới Kinh tế Việt Nam liên tục phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững Thu nhập bình quân theo đầu người trong 10 năm qua tăng liên tục từ 337 USD năm 1997 đã lên đến 823 USD năm 2007 Cơ cấu kinh

tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cường công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP ngày càng giảm; tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ ngày càng tăng Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, còn khoảng 14% Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế với nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao, với môi trường chính trị ổn định và mức sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện Việc chủ động tích cực hội nhập quốc tế, và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo thêm nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Bảng 2.1– Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam đến năm 2020.

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Trang 40

xã hội chủ nghĩa còn trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ Hiệu lực quản lý nhà nước đối với nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội còn thấp.

Quá trình phát triển đô thị do tác động của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và chính sách phát triển kinh tế - xã hội mở cửa đã dấn đến

sự thay đổi cơ cấu xã hội đô thị Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế thị trường các đô thị Việt Nam đang phải chịu nhiều tác động mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố Không nằm ngoài sự ảnh hưởng này, toàn bộ giáo dục nói chung và ngành giáo dục mầm non nói riêng đều bị tác động mạnh của sự phát triển kinh tế, nó biểu hiện trong sự biến đổi cơ cấu của các trường mầm non, năng lực phát triển của các đơn vị cũng được biến đổi theo quy luật của xã hội Trong lĩnh vực giáo dục mầm non, có thời kỳ tan rã của hàng loạt các đơn vị, số lượng trẻ đến trường

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bộ xây dựng (2008), “QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG”. Quyết định số 04/2008/QD-BXD Sách, tạp chí
Tiêu đề: QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG”
Tác giả: Bộ xây dựng
Năm: 2008
1. Bộ GD&ĐT, Tổng cục Dạy nghề (2008), Tài liệu của Vụ Kế hoạch- Tài chính Khác
2. Sở xây dựng (2001), Báo cáo của Viện Quy hoạch – Hà Nội Khác
3. Ths.Phan Thị Dung (2001), Điều tra xã hội học. Tạp trí giáo dục số 15 tháng 10 năm 2001 Khác
6. KTS. Lê Phong Lan (2002), Nghiên cứu và tổ chức không gian kiến trúc sân vườn trong hệ thống trường mầm non tại Hà Nội. Luận văn thạc sỹ kiến trúc, ĐHXD, Hà Nội Khác
8. KTS Nguyễn Tiến Thuận (1999), Hiệu quả của các hình thức nghệ thuật trong kiến trúc. Luận án tiến sỹ khoa học kỹ thuật Khác
9. Nhà xuất bản Phụ nữ (2001), Phương pháp nuôi dạy con từ 4 – 6 tuổi Khác
10. TS. KTS. Vũ Duy Cừ (2003),Tổ chức chức không gian kiến trúc các loại nhà công cộng. Nhà xuất bản xây dựng Khác
11. TS. KTS. Tạ Trường Xuân (2002), Nguyên lý thiết kế công trình kiến trúc công cộng. Nhà xuất bản xây dựng Khác
12. KTS. Tạ Trường Xuân (1999), Nguyên lý thiết kế kiến trúc. Giáo trình trường đại học kiến trúc Hà Nội. Nhà xuất bản xây dựng Khác
13. KTS. Đinh Mỹ Linh (2003), Tổ chức không gian vui chơi giải trí cho trẻ em trong các khu ở thấp tầng của Hà Nội. Luận văn thạc sỹ kiến trúc, ĐHXD, Hà Nội Khác
14. TS. KTS. Phạm Hùng Cường (2006), Phân tích và cảm nhận không gian đô thị. Trường đại học Xây Dựng, Khoa kiến trúc và quy hoạch, Bộ môn quy Khác
16. KTS. Đặng Thái Hoàng (2006), Sáng tác kiến trúc. Nhà xuất bản xây dựng Khác
17. KTS. Đàm Thu Trang (1999), Tổ chức cây xanh cho các khu ở của Hà Nội giai đoạn công nghiệp hóa đất nước 2000-2020. Luận văn thạc sỹ kiến trúc, ĐHXD, Hà Nội Khác
18. Mai Văn Muôn (1991), Trò chơi trẻ em. Nhà xuất bản thể dục thể thao Khác
19.Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (2002), Trường mầm non. Tiêu chuẩn thiết kế, TCXDVN 260: 2002 Khác
20. Tiêu chuẩn Việt Nam (1992), Đồ chơi trẻ em trước tuổi đi học – Yêu cầu an toàn Khác
21. Bùi Thụ, Lê Gia Khải (1983), Nhân trắc Ecgonomi. Nhà xuất bản Y học Khác
22. Bộ giáo dục & đào tạo (2005), Quy định điều kiện tối thiểu cho các lớp mầm non, lớp mẫu giáo và nhóm trẻ độc lập có nhiều khó khăn ở những nơi không đủ điều kiện thành lập trường mầm non. Quyết định Số: 31/2005/QĐ- BGD&ĐT Khác
23. Bộ giáo dục & đào tạo (2010), Danh mục Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho Giáo dục mầm non, Thông tư Số : 02/2010/TT- BGDĐT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Số trường ở cấp học mầm non giai đoạn 2000 - 2008 [1] - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Bảng 1.1. Số trường ở cấp học mầm non giai đoạn 2000 - 2008 [1] (Trang 9)
Hình 1.2. Số lượng trẻ em khuyết tật được đi học [1] - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 1.2. Số lượng trẻ em khuyết tật được đi học [1] (Trang 10)
Hình 1.4. Diện tích không gian vui chơi cho 1 trẻ [4] - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 1.4. Diện tích không gian vui chơi cho 1 trẻ [4] (Trang 12)
Hình thức kiến trúc thường là nhà mái bằng 2 tầng, tầng sát mái bị nóng  và hình thức kiến trúc đơn giản khô cứng không phù hợp với lứa tuổi mầm non. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình th ức kiến trúc thường là nhà mái bằng 2 tầng, tầng sát mái bị nóng và hình thức kiến trúc đơn giản khô cứng không phù hợp với lứa tuổi mầm non (Trang 15)
Hình thức kiến trúc đơn giản, không  phù hợp với lứa tuổi mầm non. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình th ức kiến trúc đơn giản, không phù hợp với lứa tuổi mầm non (Trang 17)
Bảng 1.2. Thực trạng chỉ tiêu diện tích sân chơi - trang thiết bị theo diện  tích xây dựng và quy mô học sinh trong các trường mầm non ở nội thành - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Bảng 1.2. Thực trạng chỉ tiêu diện tích sân chơi - trang thiết bị theo diện tích xây dựng và quy mô học sinh trong các trường mầm non ở nội thành (Trang 27)
Hình 2.10. Quá trình phát triển hình thành thẩm mỹ trong kiến trúc trường  mầm non. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 2.10. Quá trình phát triển hình thành thẩm mỹ trong kiến trúc trường mầm non (Trang 77)
Hình 2.11. Bảng mầu - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 2.11. Bảng mầu (Trang 78)
Bảng 2.4. Các tác động tâm lý của mầu sắc [7]. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Bảng 2.4. Các tác động tâm lý của mầu sắc [7] (Trang 80)
Hình 2.12. Các yếu tổ ảnh hưởng đến không gian vui chơi – học tập trong  trường mầm non. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 2.12. Các yếu tổ ảnh hưởng đến không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non (Trang 85)
Bảng 3.1. Chỉ tiêu đất xây dựng trường mầm non. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Bảng 3.1. Chỉ tiêu đất xây dựng trường mầm non (Trang 90)
Hình 3.2. Sơ đồ phân khu chức năng. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
i ̀nh 3.2. Sơ đồ phân khu chức năng (Trang 92)
Bảng 3.5. Các phòng chức năng khối hành chính quản lý [4]. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Bảng 3.5. Các phòng chức năng khối hành chính quản lý [4] (Trang 101)
Hình 3.11. Góc vui chơi – học tập trong nhóm lớp. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 3.11. Góc vui chơi – học tập trong nhóm lớp (Trang 117)
Hình 3.12. Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong nhóm lớp. - Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong trường mầm non ở nội thành hà nội, theo hướng phát triển toàn diện trẻ
Hình 3.12. Tổ chức không gian vui chơi – học tập trong nhóm lớp (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w