1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân tộc raglay trong bối cảnh xưa và nay

63 1,7K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân tộc Raglay trong bối cảnh xưa và nay
Tác giả Dương Thị Quỳnh Thu
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến
Trường học Trường Đại Học Khánh Hòa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Khánh Hòa
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 436 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu của đề tài hướng đến việc tìm hiểu “ sự thay đổi về phongtục cưới hỏi của người dân tộc Raglai trong bối cảnh xưa và nay” Cưới hỏi là mộttrong những phong tục quan t

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Đề tài: “Tìm hiểu Sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân tộc Raglay

trong bối cảnh xưa và nay”

(Địa bàn nghiên cứu: Xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa)

SVTH: Dương Thị Quỳnh Thu.

Lần gửi thứ ba ( ngày 15/08/2012)

Trang 2

MỤC LỤC A.DẪN NHẬP

I Lý do chọn đề tài:

II Sơ lược tình hình nghiên cứu:

III Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Mục tiêu chung:

2 Mục tiêu cụ thể:

IV Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu.

V Giới hạn của đề tài.

VI Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn.

1.1.Tổng quan nghiên cứu

1.2.Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu

1.2.1 Cách tiếp cận:

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu:

1.2.2.1.Lý thuyết tiếp biến văn hóa.

1.2.2.2 Lý thuyết Giao lưu văn hóa

1.2.2.3 Lý thuyết Biến đổi văn hóa.

1.2.2.4 Lý thuyết hành vi.

2.Phương pháp nghiên cứu

2.1.Phương pháp luận:

2.2.Phương pháp hệ:

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin định tính:

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có:

3 Câu hỏi nghiên cứu:

Trang 3

4 Sơ đồ khung phân tích.

Chương II: Kết quả thực tập chuyên đề 2: “Tìm hiểu Sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân Raglay trong bối cảnh xưa và nay” (Khảo sát tại xã Khánh Nam – huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa).

I Sơ Lược Về Địa Bàn Nghiên Cứu.

1 Lịch sử cộng đồng

2 Điều kiện tự nhiên

II “Tìm hiểu Sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân Raglay trong bối cảnh xưa và nay” (Khảo sát tại xã Khánh Nam – huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa)

1 Cưới hỏi trong truyền thống trước năm 1975

1.1 Quan niệm về cưới hỏi

1.2 Quy tắc về cưới hỏi

1.3 Một số nghi lễ trong cưới hỏi

2 Sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân tộc Raglai sau năm 1975: 2.1 Những biến đổi trong cưới hỏi của người dân tộc Raglai

2.1.1 Quan niệm về cưới hỏi

2.1.2 Quy tắc về cưới hỏi

2.1.3 Một số nghi lễ trong cưới hỏi

2.2 Các yếu tố tác động đến phong tục cưới hỏi của người dân Raglay:

2.2.1 Yếu tố chủ quan:

2.2.1.1 Thái độ

2.2.1.2 Hành vi

2.2.2 Các yếu tố khách quan:

2.2.2.1 Tiếp biến Văn hóa

2.2.2.2 Điều kiện kinh tế

2.2.2.3 Chính sách

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

I Kết luận:

II Khuyến nghị

Trang 4

A.DẪN NHẬP

I Lý do chọn đề tài:

Nước ta hiện có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có một nền Văn Hóa mang bảnsắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc Sự pháttriển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hóa của cộngđồng các dân tộc Việt Nam, thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nềnvăn hóa các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa Raglay.Cũng như các dân tộcthiểu số vùng cao khác, người Raglay từ bao đời nay đã hình thành cho mình một nềnvăn hóa riêng gắn liền với điều kiện sinh sống của cư dân nông nghiệp nương rẫyNam Trung Bộ Những năm gần đây, do chịu sự tác động nhiều mặt của nền kinh tếthị trường, nhiều nét bản sắc văn hoá Raglay đang bị mai một, lãng quên hoặc bị đơngiản hóa nhanh chóng, trong đó có thể hiện rõ nét trong phong tục cưới, hỏi

Trong cuộc sống, ngày xưa cũng như ngày nay, đám cưới chính là biểu hiện củanếp sống xã hội, của nền vǎn hoá dân tộc Nó vừa kế thừa truyền thống phong tục-tậpquán của dân tộc, vừa được cách tân ngày càng vǎn minh theo sự phát triển của thờiđại.Và hơn thế nữa đối với người Raglai theo chế độ mẫu hệ, cho đến nay họ vẫn duytrì tuy đã có sự thay đổi theo môi trường xã hội mới Con gái cưới chồng về nhà mình

với quan niệm “Chặt cây rừng về làm nhà, bắt người ta về làm người nhà mình”.

Chàng rể, người chồng trở thành trụ cột trong gia đình nhà vợ nhưng quyền quyết địnhnhững công việc lớn lao vẫn thuộc về người vợ và ông cậu bên vợ Con gái sinh ramang họ mẹ và luôn giữ mối quan hệ huyết thống theo dòng họ mẹ suốt 7 đời Quyềnthừa kế tài sản chỉ thuộc về con gái, đặc biệt là người con gái út

Trong ngày cưới, chẳng những cô dâu, chú rể, hai bên cha mẹ hoan hỉ mà cả họhàng, bạn bè, làng xóm đều hân hoan chúc mừng hạnh phúc lứa đôi.Cưới hiểu theonghĩa thông thường là tổ chức lễ chính thức lấy nhau làm vợ chồng Với ý nghĩa đó,đám cưới trở thành ngày thiêng liêng vui mừng nhất, nếu không muốn nói là duy nhấttrong cuộc đời mỗi người.Có thể khẳng định rằng, từ lâu, việc tổ chức lễ cưới đã làmột phong tục không thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng, mà ý nghĩa xã hội của nó

Trang 5

thể hiện ở nhiều khía cạnh: kinh tế, xã hội, đạo đức, vǎn hoá.Lễ cưới thường là sự ghinhận quá trình trưởng thành của đôi thanh niên nam nữ, sau quá trình tìm hiểu.

Trong quá trình phát triển và sự giao lưu và hội nhập với nhiều nền văn hóa khác đãlàm thay đổi rất nhiều về Văn hóa của người Raglay hiện nay Tình trạng Văn hóa nộisinh của tộc người và những sắc thái Văn hóa mới vô cùng đa dạng cùng song songtồn tại là một thực tế Những tác động của nền văn hóa người kinh hay còn gọi là kinhhóa đã gây tác động không nhỏ đến văn hóa nói chung cũng như trong phong tục cướihỏi của người dân tộc Raglay nói riêng Chính những đặc điểm này làm nên sự thayđổi Văn hóa mà biểu hiện rõ nét ở phong tục cưới hỏi Đó chính là lý do tôi chọn đề

tài: “Tìm hiểu sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người Raglay trong bối

cảnh xưa và nay ” Ở người dân Raglay xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh

Khánh Hòa ”

II Sơ lược tình hình nghiên cứu:

III Mục tiêu nghiên cứu

IV Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài hướng đến việc tìm hiểu “ sự thay đổi về phongtục cưới hỏi của người dân tộc Raglai trong bối cảnh xưa và nay” Cưới hỏi là mộttrong những phong tục quan trọng đánh giá sự trưởng thành và phát triển của con

Trang 6

người Chính vì lẽ đó đề tài của tác giả chọn người dân tộc Raglai xã Khánh Nam,huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa để tìm hiểu.Thời gian nhóm tiến hành nghiên cứu

tại thực địa từ ngày 10 tháng 05 năm 2012 đến 20 tháng 05 năm 2012 Phạm vi nghiên

cứu được tiến hành ở 2 thôn: Hòn Dù và thôn A Xay ở xã Khánh Nam, huyện KhánhVĩnh, tỉnh Khánh Hòa

V Giới hạn của đề tài.

Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nên chưa thể nghiên cứu sâu vào nhiềukhía cạnh của vấn đề mà chỉ có thể nghiên cứu một mảng nhỏ Với mong muốn đề tàinày sẽ được mở rộng hơn trong tương lai

Ngoài ra việc không thông thạo tiếng bản địa cũng khiến cho việc giao tiếp vớingười dân tộc Raglay trở nên khó khăn, thông tin thu thập sẽ thiếu đi tính chính xác

Về thời gian: Do hạn chế về nguồn thông tin, tài liệu đề tài của tác giả chỉ giới hạntrong khoảng thời gian từ trước năm 1975 thời kỳ chưa giải phóng người dân còn sốngtrên núi và sau năm 1975 thời kỳ giải phóng người dân xuống núi và hưởng chínhsách tái định cư của nhà nước dành cho người dân tộc nhằm tìm hiểu sự thay đổi trongcưới hỏi của người dân tộc Raglai

VI Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn.

1.Ý nghĩa lý luận:

Đây là đề tài nghiên cứu về sự thay đổi trong phong tục cưới hỏi của người dân tộcRaglai ở xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Hy vọng đề này sẽ làtài liệu bổ ích cho những ai đang quan tâm đến phong tục cưới hỏi của người dân tộcRaglai Từ đó, có cái nhìn khách quan về Văn hóa của người Raglai

Đồng thời, đề tài còn góp phần đóng góp cho hệ thống lý luận và phương pháp luận

Xã hội học trong lĩnh vực Văn hóa.Không những thế đề tài còn đóng góp lý luận vềtộc người Raglai trong bối cảnh hiện nay

2 Ý nghĩa thực tiễn:

Qua nghiên cứu thực tiễn sẽ giúp cho nhà quản lý cộng đồng dân tộc có cái nhìnthực tế hơn nhằm đề ra những biện pháp hiệu quả , lưu giữ những nét văn hóa riêngcủa dân tộc

Kết quả nghiên cứu, phân tích của bài viết phần nào đó sẽ làm sáng tỏ những yếu tố

Trang 7

Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.Mặt khác là để lắng nghe những ý kiến, mong muốn củangười dân về vấn đề này giúp cơ quan quản lý có biện pháp định hướng phù hợp vớimong muốn của người dân vừa đảm bảo lưu giữ được phong tục của mình.

VII Kết cấu của đề tài.

Báo cáo bao gồm 3 phần: phần dẫn nhập, phần nội dung, phần kết luận vàkhuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo và phần phụ lục Trong phần dẫn nhập,tác giả đã khái quát những vấn đề cần nghiên cứu như lí do chọn đề tài, các phươngpháp được áp dụng, mục tiêu và nhiệm vụ được đặt ra sẽ là hướng mà tác giả muốnhướng đến

Trong phần nội dung bao gồm: Chương I: Cơ sở lý luận đây là chương đưa ranhằm áp dụng vào để tài trình bày những tài liệu liên quan nhằm phục vụ cho việcphân tích tốt hơn.Trong chương này phần không thể thiếu đó là tổng quan các tàiliệu có liên quan đến đề tài của tác giả, đồng thời đã chỉ ra những khái niệm và các

lý thuyết có liên quan đến đề tài của tác giả gồm: Lý thuyết tiếp biến văn hóa, lýthuyết thay đổi văn hóa, lý thuyết giao lưu văn hóa và lý thuyết hành vi giúp tácgiả phân tích, tìm hiểu sự thay đổi của phong tục cưới hỏi của người Raglai được rõhơn và đưa ra một số khái niệm có liên quan đến đề tài của tác giả.Câu hỏi nghiêncứu là những gì tác giả đang cần quan tâm và cần tìm hiểu để có câu trả lời, để thấyrằng nó đã thay đổi và một số phương pháp, tài liệu tác giả lấy từ chuyến thực tập

để phân tích và đưa ra khung phân tích Chương II: Kết quả thực tập chuyên đề 2gồm có: Lịch sử của cộng đồng Raglai và điều kiện tự nhiên của xã Khánh Nambên cạnh đó tác giả muốn tìm hiểu cưới hỏi của người Raglai trong bối cảnh xưa vànay gồm: quan niệm, quy tắc, một số nghi lễ trong cưới hỏi Phần sau tác giả tìmhiểu những thay đổi trong cưới hỏi đồng thời đưa ra những yếu tố dẫn đến nhữngthay đổi trong phong tục cưới hỏi hiện nay của người Raglai

Phần cuối cùng là những kết luận mà tác giả rút ra từ quá trình nghiên cứu ở trên

và đưa ra những khuyến nghị về vấn đề tác giả nghiên cứu

Trang 8

Cưới hỏi là một chủ đề đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên,dưới góc độ cách nhìn của Dân tộc học và văn hóa học có rất nhiều đề tài nghiêncứu về phong tục cưới hỏi Những đề tài, những bài viết nói về phong tục cưới hỏicủa các dân tộc thì được nghiên cứu khá nhiều.

Về nội dung đầu tiên có thể nói đến ( Phan Kế Bính, 1990) [1], đã khái quát mộtcách toàn diện, khách quan đến các phong tục cổ truyền của người Việt Nam từnăm 1990 trở lại đây, trong đó, có phong tục cưới hỏi như việc giá thú, các nghithức gồm có lễ dạm ngõ, ăn hỏi, đi sêu, thách cưới, lễ tế tơ hồng, tục chăng dây, lễgiao duyên và lễ lại mặt.Trong bài viết của tác giả đã giúp độc giả hình dung vềcách thức thực hiện nghi lễ cưới hỏi trong phong tục của người Việt một cách kháiquát và hiểu sâu hơn về phong tục cưới hỏi của người Việt xưa trong Văn Hóa Việt

Cùng chia xẻ quan điềm trong nội dung của ( Hà Văn Cầu, 1992 ) [2] Cho thấyđược các hình thức hôn nhân từ xưa đến nay, các bước trong quá trình dựng vợ gảchồng đã thành một nếp sống, thói quen lâu đời của người Việt, những nghi lễtrong phong tục cưới hỏi như lễ chạm ngõ, chia trầu, lễ tơ hồng, lễ xin cưới, lễcưới, bà mai mối… Với nguồn kiến thức rộng và những kiến thức được chặt lọctrong tác phẩm, một kinh nghiệm phong phú của một người đã từng trải tác giả đãlàm sống dạy những nét trong phong tục cưới hỏi của người Việt và đồng thời cũngđưa ra những hạn chế của người xưa trong phong tục này và ngày này chúng ta cầntìm hiểu và phê phán

Không thể không nói đến đó là công trình nghiên cứu của ( Lê Như Hoa, 1998) [3], nội dung gồm có hai phần: Phần I đề cập đến hôn lễ của người Việt xưa và naytác giả đã phân tích những biến đổi trong hôn nhân và hôn lễ của người Việt, đồngthời đưa ra mô hình hôn lễ trong Xã hội Việt Nam đương đại Ở phần II tác giả đềcập đến hôn lễ của một số dân tộc ít người ở Việt Nam tìm hiểu những phong tụccưới hỏi xưa và nay nhằm tìm hiểu và so sánh sự khác nhau giữa những bối cảnhxưa và nay của các dân tộc ít người như: Chăm, Khmer Nam Bộ, H’rê, H’Mông HàGiang, Mường Hòa Bình…Trong cách trình bày phong tục cưới hỏi truyền thốngcủa người Việt, những nghi lễ trước và sau khi đám cưới.Nội dung của các nghĩ lễcưới hỏi trong công trình nghiên cứu cũng khá giống với các nghi lễ được phản ánh

Trang 9

hiểu một số nét riêng trong phong tục ở một số vùng dân tộc thiểu số như tục ở rể…

đó là những nét riêng biệt trong cưới hỏi của mỗi dân tộc, cũng như mỗi vùng miền

sinh sống khác nhau, (Toan Ánh,2000), [4] Với mục tiêu tìm hiểu nghi lễ đám cưới ở

giai đoạn từ sau đổi mới đến nay ở Trịnh Xá Các nội dung của (Nguyễn Thị Phương Anh,2003),đã đề cập đến trong nghiên cứu của mình: Việc chuẩn bị cho

đám cưới, quà mừng, hạch toán kinh tế… Tuy nhiên, với mục đích bước đầu tìmhiểu nghi lễ đám cưới hiện nay ở xã Trịnh Xá, vì thế tác giả không đề cập đến nghi

lễ đám cưới truyền thống của địa bàn nghiên cứu, do đó cũng không đề cập đến sựbiến đổi của nghi lễ đám cưới qua các thời kỳ lịch sử Nghiên cứu cũng chưa làm rõcác nhân tố tác động đến cách thức tổ chức đám cưới…

Nơi ở là một yếu tố quan trọng, là nơi cư trú, sinh sống sau khi kết hôn của mỗi

cặp vợ chồng sau khi cưới.Trong sự phân tích một cách cụ thể, chi tiết của ( Mai Huy Bích, 2003), [6] Nghiên cứu nơi ở sau hôn nhân của đồng bằng sông hồng thôngqua việc đánh giá một số nghiên cứu trước đó Tác giả nhận xét rằng: “ đối vớinhiều gia đình trẻ, thời gian chung sống với bố mẹ chồng chỉ là một thời kỳ quá độtrước khi tách ra lập hộ riêng” Những câu hỏi đặt ra là sau khi tách hộ, gia đình trẻ

ở đâu? Một câu trả lời là cho đến khoảng năm 1990, đa số gia đình trẻ nông thônvẫn sống gần với nhà bố mẹ chồng ( cùng lô đất, cùng làng…) Những nhân tốquan trọng chi phối điều đó là đất thổ cư hạn hẹp trong khi sức ép dân số mạnh mẽ;chính sách đăng ký và quản lý hộ nhân khẩu của chính phủ khiến cặp vợ chồng trẻkhó di cư; bên cạnh đó là khả năng ít ỏi để gia đình trẻ có thể lập nghiệp và tự lực ởnơi xa cũng như năng lực tự lập của cha mẹ già, cùng sức mạnh truyền thống…Cùng với sự đồng cảm và quan tâm về nơi ở của các cặp vợ chồng sau khi kết hôn

(Nguyễn Hữu Minh, Charles Hirschman) [7] khuôn mẫu sống chung với cha mẹ

chồng sau khi kết hôn ở đồng bằng sông hồng không phải đơn giản chỉ là sự tiếptục chuẩn mực truyền thống mà nó còn là sản phẩm của những quyết định duy lýhiện đại Mô hình này sẽ còn được duy trì chừng nào nó còn là nguồn đời sống tìnhcảm và nguồn hỗ trợ kinh tế cho cả các bậc cha mẹ và những người con mới xâydựng gia đình Các thành quả kinh tế của chính sách và quá trình công nghiệp hóa

sẽ giúp những cặp vợ chồng mới cưới có nhiều khả năng độc lập hơn trong cácquyết định về hôn nhân và sắp xếp nơi ở của mình Những thành quả đó cũng tạo

Trang 10

điều kiện để người già có thể sống thoải mái hơn cho dù không được sự hỗ trợ giúp

sự thay đổi, làm mất đi bản sắc dân tộc vốn dĩ được lưu truyền như ( Phạm Văn Hóa) [9] đã viết nhằm chỉ ra sự biến đổi trong phong tục hôn nhân của người Kơ Hođồng thời tác giả chỉ ra nguyên nhân và cách thức của sự biến đổi xu hướng giaolưu và hội nhập văn hóa đang trở nên mạnh mẽ trong đời sống văn hóa hiện nay.Tình trạng văn hóa nội sinh của tộc người và những sắc thái văn hóa mới vô cùng

đa dạng cùng song song tồn tại là một thực tế hiển nhiên Chính những đặc điểmnày đã làm nên sự biến đổi văn hóa mà biểu hiện rõ nét ở phong tục hôn nhân củangười Kơ Ho.Bài viết đã trình bày một cách khái quát đến sự biến đổi trong môhình hôn nhân của người Kơ Ho Việc tổ chức các nghi lễ cưới hỏi theo phong tục

cổ truyền cũng có những biến đổi nhất định theo xu hướng tất yếu của phát triểnVăn Hóa, kinh tế - Xã hội Các nghi lễ ngày càng được tổ chức gọn gàng, giản đơnhơn đồng thời cũng xuất hiện những phương thức mới trong tổ chức đám cưới vốnchịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Văn hóa người kinh Những biến đổi này là biểu hiệncủa quá trình phát triển kinh tế - Xã hội, giáo dục và văn hóa

Những biến đổi đang diễn ra trong hôn nhân là sự thích nghi lành mạnh đối vớinhững chức năng mới trong hôn nhân phải thực hiện trong môi trường hoàn toàn

Trang 11

trong chúng ta có thể tiên đoán về cuộc sống của những thế hệ, trong tương lai xaxôi sẽ như thế nào, nhưng chắc rằng đàn ông và đàn bà sẽ tìm kiếm và đi vào hônnhân còn mạnh mẽ hơn trong quá khứ Khi tri thức của chúng ta tăng lên, và khichúng ta biết cách làm cho tri thức trở nên phổ cập qua giáo dục hợp lý và tư vấnhiệu quả, những cơ hội mà con người sẽ trở nên ngày càng trưởng thành và sáng tạohơn để cho họ có khả năng đi vào những quan hệ tình cảm sâu kín và trở nên thật

sự hạnh phúc và thành công Tóm lại khi nhìn về tương lai của hôn nhân chúng tacảm thấy khá lạc quan Nhìn về phía trước, những tiềm năng của hôn nhân khongphải đã cạn kiệt mà trái lại chúng chỉ là mới giai đoạn bắt đầu của sự phát triển đầy

đủ của nó Sẽ có nhiều cơ hội tốt mà con cái chúng ta ngày nay sẽ chứng kiến trongđời sống của chúng là hôn nhân đang ngày một cải tiến và biến đổi dần Tác giả đãchỉ rõ được từng khía cạnh của những vấn đề đang được phát triển và thay đổi

trong hôn nhân theo hướng phát triển mạnh mẽ của xã hội theo (David R.Mace, 1998) [10]

Nội dung nghiên cứu của ( Lê Ngọc Văn) [11] cho rằng hôn nhân là một chủ đềrộng lớn Bài viết tập trung phân tích 4 khía cạnh của quá trình kết hôn là tuổi kếthôn, việc quyết định hôn nhân, nghi thức kết hôn và mô hình nơi ở của các cặp vợchồng sau khi kết hôn với các yếu tố như độ tuổi của người trả lời, khu vực, mứcsống, nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc…Nhìn chung, cho đến nay hôn nhân và giađình ở Việt Nam vẫn là một thiết chế bền vững Hôn nhân được bảo vệ và kiểmsoát cả về phía gia đình và xã hội Lựa chọn kết hôn là quyền tự do của mỗi cánhân, song gia đình vẫn có vai trò quan trọng trong việc quyết định hôn nhân củacon cái Kết quả nghiên cứu cho thấy, xu hướng sống riêng với gia đình sau khi kếthôn tăng lên ở khu vực đô thị dẫn đến việc hình thành nhiều gia đình hạt nhân độclập Sự áp đặt của cha mẹ đối với con cái giảm đáng kể khi những người tham giakết hôn có nghề nghiệp đầy đủ.Các yếu tố nơi cư trú như vùng nông thôn, dân tộc,tôn giáo có tác dụng bảo lưu nhiều yếu tố truyền thống, song chúng không tác độngđộc lập tới các mối quan hệ hôn nhân mà kết hợp với nhiều yếu tố khác như mứcsống, điều kiện sống , trình độ học vấn, nghề nghiệp… Khi điều kiện sống, trình độhọc vấn, nghề nghiệp thay đổi theo xu hướng hiện đại thì các mối quan hệ hôn nhâncũng sẽ thay đổi theo xu hướng hiện đại Trong số những yếu tố tác động dẫn đến

Trang 12

sự thay đổi quan hệ hôn nhân, sự thay đổi địa vị kinh tế, học vấn và nghề nghiệpcủa người phụ nữ có vai trò quyết định.Trong bài viết của tác giả đã trình bàykhách quan về các khía cạnh trong hôn nhân hiện nay, diễn ra như thế nào và cóảnh hưởng gì đến xã hội

Về phần phương pháp, mỗi đề tài sử dụng những phương pháp khác nhau Ngườithì sử dụng với sự kết hợp giưã phương pháp định tính và phương pháp định lượng,

tài liệu sẵn có của địa phương ( Phan Đức Nam) [13] Người thì sử dụng kết quả của một cuộc điền dã (Phạm Văn Hóa) [9] hoặc là kết quả của một dự án( Phan Xuân Biên và cộng sự, 1998) [8] Hơn thế nữa, tác giả ( Lê Ngọc Văn) [11]đã sử dụngphương pháp định tính, mô tả, phân tích và tổng quan các kết quả nghiên cứu làm

cơ sở đối chiếu và so sánh với kết quả được rút ra từ cuộc điều tra…Nhưng một số

tác giả sử dụng tư liệu sẵn có và kết quả từ cuộc nghiên cứu như (Phan Kế Bính,

1990)[1], ( Hà Văn Cầu, 1992)[2] Qua những đề tài đều cho thấy mỗi tác giả đều sửdụng những phương pháp khác nhau nhằm làm nổi bật và lý giải các vấn đề mà tácgiả quan tâm một cách khách quan các phong tục trong cưới hỏi của các thành phầndân tộc Việt Nam, với mục tiêu giúp bạn đọc có thể hình dung được các nghi lễtrong cưới hỏi của người Việt cũng như của các dân tộc thiểu số.Các phương phápphân tích đưa ra lý luận nhằm chỉ rõ các hình thức cũng như các nghi lễ trong cướihỏi

1.2.Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu

1.2.1 Cách tiếp cận:

Tiếp cận tổng thể các phương diện như kinh tế, Xã hội, Văn hóa và đặc biệt là vềphương diện văn hóa Các thay đổi trong phong tục cưới hỏi trong bối cảnh xưa vànay của xã hội cụ thể để thấy rõ được sự thay đổi theo từng khía cạnh bởi các yếu

tố tác động

1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu:

1.2.2.1.Lý thuyết tiếp biến văn hóa:

Theo lý thuyết tiếp biến văn hóa( Acculturation) cho rằng “các nền văn hóakhông ngừng thay đổi, điều này có thể là do sự tác động của những nhân tố bêntrong, những sự phát hiện và đổi mới, hoặc do sự tiếp xúc với các nền văn hóa

Trang 13

Lý thuyết này giải thích cho chúng ta rằng: trong những năm gần đây, xã hội thìđang trong quá trình phát triển và hội nhập, cuộc sống của con người đã có nhữngbước thay đổi tích cực, kéo theo sự thay đổi của bộ mặt xã hội, nhu cầu đòi hỏi củacon người ngày càng cao, Lý thuyết giải thích cho chúng ta biết được một sốnguyên nhân, yếu tố tác động đến quá trình của sự biến đổi về cách thức tổ chứccưới hỏi của người Raglay trong bối cảnh xưa và nay.

1.2.2.2 Lý thuyết giao lưu văn hóa

Với lý thuyết giao lưu văn hóa thì lại cho rằng: “sự tiếp nhận và đồng hóa cácyếu tố của các nền văn hóa khác vào mỗi nền văn hóa dân tộc, mà còn là sự đónggóp những cái hay cái đẹp, cái độc đáo của mỗi dân tộc vào kho tàng văn hóachung của toàn nhân loại và cũng là một hiện tượng phản ánh mối quan hệ và sựảnh hưởng lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc hay các nhóm người về thế giớiquan và hệ tư tưởng, phong tục và tôn giáo, đạo đức và nghệ thuật, cách thức tổchức và quản lý xã hội, đặc biệt là về khoa học xã hội và công nghệ”

Các nhà nhân học đã chỉ ra rằng trong lịch sử nhân loại dường như không cócộng đồng nào lại hoàn toàn cô lập về không gian và thời gian, nghĩa là không trảiqua các quá trình giao lưu văn hóa lúc đầu là giữa các tộc người gần gũi nhau vềđịa lý và trình độ kinh tế - xã hội, sau đó mở rộng ra dần đối với các tộc người, cácquốc gia cách xa nhau về địa lý cũng như trình độ phát triển

Lịch sử nhân loại cũng chứng minh rằng một trong những thước đo về sức sốngcũng như sự tiến bộ về mặt văn hóa của một quốc gia, dân tộc hay một nhóm ngườinào đó chính là ở năng lực của họ trong việc giao lưu, tiếp biến và đồng hóa… các

thành tựu của một quốc gia, dân tộc hay của một nhóm người khác.( Nguồn: sách

xã hội học văn hóa của tác giả Mai Văn Hai – Mai Kiệm)

1.2.2.3 Lý thuyết biến đổi xã hội:

Mọi xã hội – cũng giống như tự nhiên – Không ngừng biến đổi Sự ổn định của

xã hội chỉ là sự ổn định bên ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trongbản thân nó Do đó, bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảothủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi Và, sự biến đổi đó trong xãhội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này làm cho ta nhận thấy sự biếnđổi đó không còn là mới mẻ, nó đã trở nên dường như chuyện thường ngày Có

Trang 14

nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội Một cách hiểu rộng nhất, cho đó là một

sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước Trongmột phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến đổi xã hội được đề cập đến sự biếnđổi về cấu trúc của xã hội ( hay tổ chức xã hội của xã hội đó ) mà sự biến đổi nàyảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội Còn những biến đổichỉ tác động đến một số ít cá nhân thì ít được các nhà xã hội học quan tâm, chú ý.Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xãhội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được

thay đổi qua thời gian [10]

1.2.2.4 Lý thuyết hành vi:

Theo Gmead đưa ra những bản chất của hành vi : “ Chúng ta có thể giải thích hành vi con người bằng hành vi có tổ chức của nhóm xã hội Hành vi xã hội không thể hiểu được nếu xây dựng nó bằng các tác nhân và các phản ứng Nó cần được phân tích như một chỉnh thể, linh hoạt không một phần nào của chỉnh thể được phân tích hoặc có thể được phân tích một cách độc lập” Hành vi là những suy

nghĩ của con người dẫn đến những hành động cụ thể Hành vi là những suy nghĩnhằm thực hiện những công việc liên quan Hành vi có tính thống nhất giữa nhữngyếu tố khách quan và chủ quan trong bối cảnh cuộc sống, công việc tạo cho conngười có những hành vi dẫn đến thay đổi trong cưới hỏi nhằm phù hợp với cuộcsống thực tại của họ, phù hợp với vốn kiến thức họ có ( Lê Ngọc Hùng) [22]

1.3.Những khái niệm liên quan:

“Phong” là nề nếp đã lan truyền rộng rãi, “Tục” là thãi quen lâu đời Nội dung

phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội Thời nay, có nhiều kiến thức uyênbác, thông hiểu thiên văn địa lý đông tây, thành thạo khoa học kỹ thuật tiên tiến,song khi nhân thân gia đình ngộ sự sẽ lúng túng tìm thầy, tìm sách không ra, thờinay cũng còn lưu truyền miệng hoặc cũng có người hướng dẫn trực tiếp cho thế hệcon cháu, nhưng không phải phong tục, tập quán nào cũng có tài liệu thành văn, do

đó việc thất truyền, mai một, du nhập, lai tạp lẫn nhau giữa phong tục các dân tộc làđiều không tránh khỏi, nhất là trong nền kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay

Trang 15

“Phong tục” có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt,

có sức mạnh hơn cả những đạo luật Trong truyền thống văn hóa của dân tộc ta, có

nhiều thuần phong mỹ tục cần cho đạo lý làm người, kỷ cương xã hội [10]

“ Phong tục”: Là những thói quen, những nếp sống xã hội có tính bền vững, có

ý nghĩa tốt đẹp của một cộng đồng dân tộc [15]

“Cách thức”: Cách thức là hình thức diễn ra của một hành đông; cách ( nói khái

quát) ( theo http://vi Wiktionary.org)

“ Tổ chức”: là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ

hoặc cùng một chức năng chung ( theo http:// vi.wiktionary.org).

“ Hôn lễ”: hay còn gọi là lễ cưới hay đám cưới là một phong tục văn hóa trong hônnhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận của xã hội và các bên thành hôn về

cuộc hôn nhân Với ý nghĩa này, lễ này còn gọi là lễ thành hôn.( theo http://vi wiktionary.oKrg).

“ Nơi ở”: nơi ở là nơi cư trú, sinh sống

“ Cưới hỏi”: là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một

người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác kết hôn còn là sự liên kết pháp lý giữa

một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” , hoặc: “Hôn nhân là hành

vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là

2.2.Phương pháp hệ:

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin định tính:

Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu định tính là phương phápphỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi mang tínhchất gợi mở

Trang 16

Nhóm tiến hành phỏng vấn một số đối tượng là cán bộ và người dân ở 2 thôn Hòn

Dù và A Xay xã Khánh Nam Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng nhằm tìmhiểu rõ hơn về tình hình đời sống người Raglay xã Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh,Tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh CNH-HĐH

 01 nhóm nam trung niên

Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có:

Các thông tin sẵn có thu thập được ở 2 thôn Hòn Dù và A Xay xã Khánh Nam vàhuyện Khánh Vĩnh ( kịch bản chi tiết lễ cưới hỏi của người Raglay lấy tại phòng VănHóa – Thông tin)

Các báo cáo và công trình nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn được đăng tảitrên báo, tạp chí (Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên, tạp chí Xã Hội Học,Vietnam.net, vànhững công trình nghiên cứu có liên quan)

3 Câu hỏi nghiên cứu:

Từ mục tiêu nghiên cứu trên, bài viết đưa ra 2 nhóm câu hỏi nghiên cứu chính nhưsau:

Phong tục cưới hỏi của người dân tộc Raglai trong truyền thống diễn ra như thếnào? Mô hình cưới hỏi ở người dân tộc miền núi từ truyền thống đến hiện đại có gì

Trang 17

thay đổi? Nếu có thì biến đổi nhiều hay ít; có những khía cạnh nào; theo xu hướng

đơn giản đi hay phức tạp hơn?

Trong mô hình cưới hỏi hiện đại nếu có thay đổi thì những yếu tố nào tác động để

dẫn đến những thay đổi ( ảnh hưởng của Lối sống, quan niệm, tiếp biến văn hóa, chính

sách, kinh tế;…)?

4 Sơ đồ khung phân tích.

Thay đổi phong tục cưới hỏi

( Khảo sát tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh

Trang 18

Chương II: Kết quả thực tập chuyên đề 2: “ ” (Khảo sát tại xã Khánh Nam – huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa).

I Sơ Lược Về Địa Bàn Nghiên Cứu.

Dân tộc Raglai có quan hệ nguồn gốc với người Chăm Người Raglai sinh sống lâuđời trên vùng đất Nam Trung bộ, tại triền Đông cuối dãy Trường Sơn từ phía BắcKhánh Hòa đến Bình Thuận; tập trung đông nhất nơi miền núi Khánh Hòa, NinhThuận

Điều tra thực địa cho thấy, do cư trú tại một thung lũng sâu có núi cao bao bọcxung quanh Trong quá trình thực địa nhóm tác giả đã có dịp tiếp xúc với nhóm Raglaitại Xã Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa để tìm hiểu quá trình phát triểntheo từng thời kỳ chính Lãnh thổ của người Raglai tương đối ổn định, dù rằng địa bàn

cư trú của họ theo từng cộng đồng thôn xã có rất nhiều xáo trộn , đổi thay, nhất làtrong thời kỳ chiến tranh trước năm 1975 cũng như giai đoạn tiến hành định canh,định sau khi giải phóng miền Nam năm 1975 Điều đó đã góp phần tạo nên một đặcđiểm quan trọng khác và dần trở thành khá phổ biến trong hình thái cư trú của ngườidân tộc Raglai qua từng thời kỳ Hơn nửa thế kỷ qua, tộc người Raglai đã trải quanhiều biến động lớn đó là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống xâmlược Mỹ và tiến hành công cuộc xây dựng xã hội mới Những sự kiện đó đã tác độngmạnh mẽ đến quá trình phát triển tộc người Raglai

Trang 19

Trước năm 1975: Tộc người Raglai tại xã Khánh Nam thời kì trước năm 1975 chủ

yếu cư trú trên núi cao huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa ( tỉnh Khánh Hòa và tỉnhPhú Yên trước năm 1975 là một tỉnh) , (xã Khánh Nam và Khánh Trung bây giờ là xãKhánh Minh trước kia).Trước năm 1975 người dân Raglai cư trú trên núi tại địa bàn

xã Khánh Minh Tại xã Khánh Minh lúc bấy giờ chỉ có từ 2 – 3 dân tộc anh em cùng

cư trú đó là người Raglai, người Kinh là phổ biến, còn người Ê Đê, Sán Dìu chiếm sốlượng ít Nguồn gốc của thôn Hòn Dù là căn cứ địa cách mạng do địa bàn chủ yếu lànúi non hiểm trở, thôn Hòn Dù là nơi đóng quân của UBND Tỉnh trong hai cuộc

kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “Bản của mình, (nghe không rõ) 2 năm, sau 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ ý là là Hòn Dù chủ yếu núi, Hòn Dù đặc điểm của nó là núi mà nguồn gốc là căn cứ địa cách mạng, huyện Khánh Vĩnh mình

là nơi cư trú của cách mạng Đảng Ủy, rồi Ủy Ban Nhân Dân tỉnh mình qua 2 cuộc kháng chiến đó là đóng quân tại đây nè, nên nguồn gốc Hòn Dù là bản mình nè (nghe không rõ) xưa nay lâu lắm rồi, 2 cuộc kháng chiến ý tỉnh Ủy, Ủy Ban nhân dân tỉnh cũng trụ ở trên này, năm đó Pháp, Mĩ nó lo hoành hành ở dưới đồng bằng mà, làm cuộc cách mạng thì núi này là núi rất hiểm trở, có cọp khá nhiều nên họ mới ở trên này để làm cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đánh giặc Mĩ.” (PVS_003, Cán bộ xã)

Người dân tộc Raglay trong thời kỳ kháng chiến ít làm nhà ở mà chủ yếu sống trong

hang, trong hốc đá “ Làm nhà, có làm nhà nhưng mà cũng có ở trong hốc đá, chỗ nào mà khô khô thì ở được còn chỗ nào không khô thì mình phải làm nhà, cho nên giặc ít lung sục trên núi đá hiểm trở này” ( PVS_ 003, Cán bộ xã) Cho đến khi Cơi

Masrĩh Mỏq Vila dạy cho họ cách chặt cây rừng nhỏ và dẻo dai làm khung, lấy lá rừng làm mái che từ đó hình thành ngôi nhà của người Raglai Chỉ khi nào trong các hang, hốc đá ướt người Raglai mới phải làm nhà và nhà ở chủ yếu là kiểu nhà dài làmbằng tre và cây cối trong rừng để dựng nhà, sống tập trung theo đại gia đình.Thức ăn chủ yếu của người Raglay trong thời kỳ kháng chiến chủ yếu ăn các loại rau rừng, làmrãy chủ yếu trồng các loại cây trồng như: ngô, lúa, sắn Người dân Raglai có công với cách mạng mỗi khi thu hoa màu lại huy động mỗi gia đình đóng góp cho cách mạng từ

50-100kg hoa màu phục vụ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “Ăn rau rừng, với lại làm rẫy với lại trồng ngô, trồng sắn thêm, rồi lúc đó dân mình huy động nhân dân đóng góp Sau khi vụ mùa thu hoạch lúa, hoa màu thì mỗi nhà đóng

Trang 20

góp cho cách mạng 50 hoặc 100kg gì đó, mỗi thôn hay mỗi ( nghe không rõ) 1 vạ, lúa

1 vạ, ngô 1 vạ gì đó 1 vạ là 1kg, vạ là thúng 5 kg rồi đóng góp cho cách mạng để nuôi

bộ đội” ( PVS_003, Cán bộ xã).

Nguồn gốc của thôn Hòn Dù được hình thành trong thời kỳ kháng chiến.Bắt nguồn

từ “Núi Hòn Dù” do quân giặc nhảy dù xuống núi và từ đó núi có tên Hòn Dù Thời

kỳ đó người dân Raglay tập trung sống trên núi Hòn Dù do địa bàn hiểm trở thuận lợicho cuộc chiến tranh Ngôn ngữ bản địa của người Raglai là tiếng Raglai được truyền

từ thế hệ này qua thế hệ khác Người dân Raglai gặp nhiều khó khăn trong quá trìnhlao động sản xuất do ảnh hưởng từ thiên nhiên: mưa, lũ … và phần lớn do sự tàn áccủa quân giặc chặt phá và đốt lương rãy của người dân khiến cuộc sống của ngườiRaglay trong thời kỳ trước những 1975 gặp nhiều khó khăn.Trong thời kỳ này hệthống đường, điện và nguồn nước còn chưa có, người dân gặp nhiều khó khăn trongđời sống cũng như trong lao động sản xuất Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân

đế quốc rõ ràng đã làm xáo trộn và thay đổi tập quán cư trú truyền thống của ngườiRaglai Cuộc sống bà con Raglai không ổn định Điều kiện cư trú đã ảnh hưởng nhiềumặt về cuộc sống của người Raglai, nhiều khu rãy bị bỏ hoang,các nghi lễ, phong tụccủa người Raglai bị cản trở rất nhiều Phong tục của người Raglai rất phong phú nógắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của họ, do đồng bào Raglai tham gia hoạt độngcách mạng nhằm đảm bảo an toàn cho căn cứ cách mạng và thời gian phục vụ cáchmạng nên trong giai đoạn này phong tục Raglai chỉ được thực hiện một số phong tục

cơ bản như: cúng lúa mới, cưới hỏi, tang ma, đền ơn đáp nghĩa… là những phong tụcquan trọng được người dân tộc Raglai chú trọng Các phong tục được diễn ra phức tạpmang đậm đà bản sắc dân tộc của người Raglai

Sau năm 1975: Tháng 4 năm 1975 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của

nhân dân Việt Nam,cũng là thời điểm đánh dấu một chuyển biến lịch sử quan trọngtrong quá trình phát triển tộc người Raglai ở huyện Khánh Vĩnh.Người Raglai từ đấybước vào thời kỳ mới, xây dựng xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam.Hai mươi năm qua với những cố gắng của bản thân người Raglai, cùng với sựgiúp đỡ của nhà nước, vùng Raglai đã có những biến đổi lớn lao, tạo nền móng cho sựphát triển trong tương lai

Trang 21

Hậu quả của chiến tranh đã để lại vùng Raglai khá nặng nề Việc đầu tiên sauchiến tranh là phải ổn định nơi cư trú, khôi phục lại môi trường sống của người Raglainói chung và ở Khánh Vĩnh nói riêng Được sự động viên quan tâm của nhà nước cưdân Raglai từ những vùng núi cao hiểm trở, các căn cứ chiến đấu di dân xuống núi.

Đó là những vùng sườn núi thấp, đồng bằng dưới chân núi có nguồn nước gần đườnggiao thông, gần các trung tâm hành chính địa phương Thời gian đầu đất đai do cư dân

tự khai phá trồng các loại cây hoa màu như bắp, lúa nước là chủ yếu Từ năm

1976-1977 thì người dân Raglai chưa có chính sách định canh, định cư người dân chủ yếusống du canh, du cư Cuộc sống của người dân còn gặp không ít những khó khăn Nhà

ở chủ yếu được làm từ những cây lồ ô táp lại xung quanh thành một ngôi nhà nhỏ.Tuynhiên, đến khi được hưởng chính sách tái định canh, định cư người Raglai được nhànước xây nhà dọc theo tuyến đường chính gần trung tâm huyện Khánh Vĩnh cáchhuyện từ 2-3 km về phía Bắc Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ổn định cư trú vàsản xuất của người Raglai nhà nước đã đầu tư nhiều công sức và kinh phí xây dựng cơ

sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm…nhằm cung cấp những nhu cầu tối thiểu

cho cuộc sống của người Raglai “ Ngoài ra thì nhà nước hỗ trợ thêm cái nhà nè, cái nước tự chảy nè, điện đường, trường, trạm, nhà nước còn hỗ trợ thêm cái…cái…nơi

ăn chốn ở, nước sạch nông thôn vậy đó, nhà nước làm cho, ngoài ra còn cái chính sách hỗ trợ cho nhân dân…”( PVS_003, Cán bộ xã) Nhờ vậy, mà trong những năm

qua các tụ điểm cư trú của người Raglai tương đối ổn định và bước đầu phát triển, về

cơ bản đã chấm dứt tình trạng du cư vốn có từ hàng ngàn năm trước của người Raglai.Trên lĩnh vực nông nghiệp của người Raglai cũng dần ổn định hơn Người Raglai đãbiết trồng mía,điều, các cây hoa màu, chăn nuôi tạo thêm thu nhập nếu như trước đây,cây lúa và cây bắp là hai loại cây trồng chủ yếu của người Raglai Họ đã biết áp dụngkhoa học kỹ thuật vào trong sản xuất gần giống như người Việt để tăng thêm năngsuất.Về giáo dục và sức khỏe được chú trọng và quan tâm nhiều hơn so với trước rấtnhiều Những tụ điểm dân cư Raglai hiện nay được tổ chức thành các xã và các đơn vịdưới xã là thôn Trong đó, xã Khánh Nam có ba thôn đó là : thôn Hòn Dù, thôn A Xay

và thôn 06 Tuy nhiên, người dân Raglai chiếm trên 80% cư trú tại thôn Hòn Dù Vàthôn A Xay là chủ yếu Vùng Raglai vốn xưa nay do địa bàn hiểm trở, ít tiếp xúc vớicác tộc người khác, thì nay số lượng người Việt và các dân tộc khác đến đây gia tăng

Trang 22

Trong đó, người Việt chiếm đa số “ Cái đó thì , ngày xưa thì các loại dân tộc ở Huyện, ở xã này thì có 2,3 dân tộc anh em thôi, Người Raglay, người Kinh, người Kinh là dân tộc phổ biến nhất, còn có Ê đê, Sán Dìu… Raglay thì có nhiều nhưng mà sau khi mà sau năm 79, 80 ý thì vẫn còn nhiều nhưng mà sau khi di dân tự do thì Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn gì đó về đây thì nó có thêm dân tộc Mnong, dân tộc Tày, các dân tộc khác nữa, đủ luôn đó nhưng mà mình không biết tên” ( PVS_ 003, Cán bộ xã) Từ đây, sự tiếp biến hay nói cách khác đó là yếu tố kinh hóa đang diễn ra một

cách rõ rệt đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống về nhiều mặt của người Raglai nhất là vềphong tục tập quán, vốn dĩ mang đậm đà bản sắc dân tộc của người Raglai,dần dần bịbiến đổi, đang bị mai một, lãng quên hoặc bị đơn giản hóa nhanh chóng, trong đó cóthể hiện rõ nét trong các phong tục – tập quán Họ không còn quan tâm hay chú trọngtrong cách thức tổ chức, có chăng cũng chỉ còn rất ít

2 Điều Kiện Tự Nhiên

2.1 Vị Trí Địa Lý

Xã Khánh Nam nằm ở phía Bắc huyện Khánh Vĩnh, cách trung tâm huyệnkhoảng 2km, Ranh giới hành chính được xác định như sau:

- Phía Đông giáp xã Diên Hồng, huyện Diên Khánh

- Phía Tây giáp xã Cầu Bà, xã Khánh Thượng

- Phía Nam giáp với giáp Sông Cái, bên kia là thị trấn Khánh Vĩnh, xã Sông Cầu

- Phía Bắc giáp với Khánh Trung

2.2.Khí Hậu

Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu có 2 mùa rõ rệt là mùanắng và mùa mưa, mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa mưa từ khoảng tháng 9đến tháng 12 dương lịch, lượng mưa hàng năm tương đối lớn, độ ẩm cao nên khuvực dọc sông suối rất thuận lợi cho các loại cây phát triển, tuy nhiên có năm mưanhiều làm ngập lụt nhiều nơi nên cũng không gây ảnh hưởng lớn đến phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27,60C.Lượng mưa trung bình từ 1.100- 1.300 mm/ năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9

và kết thúc vào tháng 12, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm.Khoảng10-20%số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7 tháng 8 hoặc kết thúc sớm vào tháng

Trang 23

Độ ẩm tương đối trung bình năm là 80% Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9đến tháng 11, độ ẩm thấp nhất trong năm là 36%.

2.3.Nguồn Nước-Thủy Văn

Sông Cái chảy dọc theo địa bàn từ Tây Bắc xuống Đông Nam, sông Giang vàcác suối chính suối A Xay, Cà Nuông, Chà Khế, suối Đục, suối thôn 6 và các suốinhỏ đan xen tạo nên nguồn nước mặt khá phong phú

Nhìn chung, điều kiệ khí hậu thời tiết thuận lợi chó phát triển các loại cây trồng(như: lúa, mì, bắp, lúa, cây keo…), chăn nuôi (như: heo, bò,…),cây ăn trái (như:xoài, thanh long ruột đỏ…) và phát triển du lịch

2.5.Thổ Nhưỡng

Trên địa bàn Khánh Nam có 2 loại đất chính:

- Đất phù sa ven các sông, suối, vùng trũng giữa các đồi, núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ

- Đất đỏ trên phím đá sét, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của xã

2.6.Diện Tích Tự Nhiên

Diện tích tự nhiên là 4.214,81 ha, chiếm 3,61% diện tích tự nhiên của toàn huyệnKhánh Vĩnh

Địa bàn có 3 thôn: thôn 06, thôn A Xay, thôn Hòn Dù

II Tìm hiểu Sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân Raglay trong bối cảnh xưa và nay (Khảo sát tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa).

1 Cưới hỏi trong truyền thống trước năm 1975

Trang 24

Truyền thống là mốc thời gian quan trọng cho chúng ta thấy được những nétđậm đà bản sắc của dân tộc Những nét đặc trưng trong phong tục cưới hỏi củangười Raglai làm nên những điểm khác biệt giữa các dân tộc Với tín ngưỡng đathần vạn vật hữu linh, cộng đồng Raglai có những thói quen đã ăn sâu vào đờisống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo Những thói quen này đã hìnhthành phong tục tập quán của tộc người Raglai được lưu truyền từ thuở xa xưa đếnngày nay Người Raglai thường khuyên dạy con cháu phải làm theo phong tục tập

quán với câu nói đơn sơ : “xưa ông bà đã dạy nay con cháu phải làm theo”.

1.1 Quan niệm về cưới hỏi

Như các tộc người khác, theo quan niệm truyền thống của người Raglai , cướihỏi không phải là việc riêng của mỗi cá nhân mà là việc tập chung của cả gia đình,dòng họ thậm chí của cả một cộng đồng Đối với lịch sử, kinh tế lạc hậu, hôn nhântheo quan niệm của người Raglai nhằm duy trì dòng dõi và có thêm nhân lực laođộng cho gia đình vì họ coi đó là cơ sở đầu tiên làm nên một gia đình, làm nên một

tế bào xã hội và làm chiếc cầu nối giữa con người với xã hội

“ Cưới hỏi quan trọng lắm chứ , nó là công việc hệ trọng của cả một gia đình

mà Duy trì giống nòi và có nguồn lao động nữa chứ ” ( PVS_Chị Thúy, Cán bộ xã).

“Người Raglai coi nghi lễ cưới hỏi của mình rất quan trọng và cần thiết, nó giúp cho duy trì nòi giống, tạo thêm nguồn nhân lực…nó còn là nền tảng nữa nè , tạo nên một gia đình nữa.Các em không biết đâu nó cần thiết lắm chứ” (PVS_Cán

bộ phòng văn hóa của xã Khánh Nam).

Trong quan niệm của người Raglai tuy chế độ mẫu hệ nhưng con cái được tự doyêu thương, không ép buộc hay tạo áp lực cho con cái trong truyện dựng vợ gả

chồng “ cha mẹ thì mong muốn, cha mẹ không ép buộc được hai người thương nhau thì ăn ở với nhau Cha mẹ không ép buộc được, hai đứa thương nhau cùng ăn

ở với nhau”.(PVS_004, Cao niên) “Ngày xưa lúc đó thì cũng như là bây giờ thôi, hồi đó thì tôi tôi cũng đi làm xong là gặp nhau rồi cũng nói chuyện rồi xin cha mẹ rồi ấy, thương nhau thì ấy thôi” ( PVS_005, Cao Niên).Tuy nhiên, một số người

cho rằng họ quen nhau là do cha mẹ quyết định và được sự ưng ý của cha mẹ là chủ

Trang 25

người trai về nhà cha mẹ ưng rồi cưới không như bây giờ đâu” (PVS_003,Cán bộxã).Trong cưới hỏi truyền thống người Raglai có tục đúc cho nhau ăn vì đây là mộtthủ tục được coi rất quan trọng mang tính đặc trưng của dân tộc, đánh giá sự sinhsôi, nảy nở và sự phát triển về sau của hai vợ chồng “Có tục đúc cho nhau ăn, họnhà trai đúc cho họ nhà gái ăn ( cả hai họ)” ( PVS_ Cán bộ phòng văn hóa xã).

“Khi đúc cơm phải rớt nhiều sự sinh sôi, nảy nở nhiều, làm ăn khá giá Nếu không rớt cưới con dâu đó xui”( PVS_Chị Thúy, Cán bộ xã).

Ngoài những thông tin thu được từ Xã Khánh Nam, tác giả còn lấy một số tàiliệu liên quan đến cưới hỏi của người dân Raglai để thấy rõ hơn những quan niệm

về cưới hỏi của người dân tộc Raglai trong truyền thống đó là nguồn tài liệu lấy từgia đình và hôn nhân của người Raglai – nhìn từ góc độ luật tục

Người Raglai coi việc cưới là mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành trong

đời mỗi người Từ quan niệm: “sudiq buh vusàc buh còh gadha hudiq vijeh

jaròc” - có vợ có chồng là có sự sống giống nòi nên người Raglai coi việc hôn

nhân không chỉ là việc riêng, là ngày vui của đôi trai gái, của hai gia đình, hai dòng

họ, ngày có thêm bếp mới trong ngôi nhà dài truyền thống của gia đình mẫuhệ hơn thế, ngày cưới còn là ngày vui, là nghĩa vụ thiêng liêng của hai người đốivới cả giống nòi Do đó, trước hết phải theo tục lệ Tổ tiên Ông Bà từ xa xưa để lại

và là trách nhiệm của cả cộng đồng góp sức chăm lo

Người Raglai quan niệm con trai, con gái xây dựng gia đình không đơn thuần là

hành phúc lứa đôi mà “có vợ có chồng là có sự sống của giống nòi” Do vậy, trong

hôn nhân, luật tục nêu ra nhiều chi tiết cụ thể về quan hệ nam nữ, về việc cưới xin

và cuộc sống cũng như quan hệ vợ chồng trong gia đình và ngoài xã hội

Theo truyền thống, hôn nhân là việc lớn của cả gia đình Trai gái đến tuổi trưởngthành đánh dấu bằng nghi lễ cưới hỏi Đám cưới là mốc rất quan trọng trong cuộcđời mỗi con người, nó đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của một cá nhân trong

xã hội Mặc dù theo chế độ mẫu hệ nhưng trong tình yêu và lễ dạm hỏi thì đàng trai

chủ động với câu nói: “ Chỉ cần Cái miệng nhà gái chịu ăn trầu Cái miệng nhà gái chịu ăn miếng cau Cái miệng nhà gái nó uống chén rượu Thì cái bụng nhà gái

nó đã ưng”.Khi lễ dạm hỏi đã xong, người con trai phải đến nhà gái làm lễ trao

Trang 26

vòng, dây cườm làm tin chờ ngày làm đám cưới.(Nguồn: Theo gia đình và hôn nhân của người Raglai – nhìn từ góc độ luật tục).

Theo truyền thống hôn nhân là việc hệ trọng của hai gia đình Trai gái đến tuổi trưởng thành ( thường 15-16 tuổi) có thể tiến đến hôn nhân Trong xã hội truyền thống người Raglai không được phổ biến luật hôn nhân và gia đình Con cái chưa đến tuổi kết hôn vẫn được lấy nhau và được sự chấp thuận của gia đình cũng như

xã hội

“M8 : Xưa ở đây có người 16 tuổi đã lấy vợ rồi Thiệt mà.

M6 : Kinh khủng quá.

M4 : 15 tuổi cũng có nữa (TLN_003, Nhóm thanh niên).

Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng của người Raglai cũng khá đơn giản: Người vợchủ yếu đảm đang, khéo léo trong công việc, nội trợ, tính tình nết na, ngoan ngoãn Còn người chồng thì phải khỏe mạnh, siêng năng Người ta không quan tâm đếnquá nhiều về tuổi tác cũng như sự giàu nghèo

Theo quan niệm của người Raglai người anh và người em vợ là người rất quantrọng, phần lớn lễ hỏi phải có anh hoặc em vợ để trao cho con dao hay còn gọi là

cây kiếm nhằm ý nghĩa giao quyền cho người anh vợ “ nhà trai phải mang dao, giống như thanh kiếm, để trao cho anh vợ hoặc em trai của vợ, họ cần cái đó như

là một vật rất quan trọng coi như là giao quyền cho anh vậy thôi” ( PVS_003, Cán

bộ xã).Trong xã hội xưa theo chế độ mẫu hệ với quan niệm con trai về nhà con gái thì bên nhà gái phải chịu lễ vật nhiều hơn nhà trai và ngược lại “ nếu ở nhà gái chịu hơn mình một chút, đàn ông chịu ít Nếu mà gái vô nhà mình thì mình chịu hơn người ta Chịu tiền (PVS_004, Cao niên).

Trên đây là những quan niệm của người Raglai trong cưới hỏi Họ rất coi trọngviệc dựng vợ gả chồng coi đó là nền tảng phát triển duy trì nòi giống và một phầntạo thêm nguồn nhân lực cho gia đình, việc chọn vợ, chọn chồng đơn giản khôngquá hà khắc hay khó khăn như một số tộc người khác và trong cươi hỏi có tục đúccho nhau ăn mạng tính đặc trưng của dân tộc làm nên những nét riêng của dân tộcmình

1.2 Quy tắc về cưới hỏi

Trang 27

Trong cộng đồng người Raglai ở Khánh Nam theo chế độ mẫu hệ, người Raglai

chịu sự chi phối bởi chế độ mẫu hệ Con gái “ bắt” chồng về nhà mình và còn giữphong tục theo chế độ mẫu hệ Tuy nhiên, con trai lại chủ động đi hỏi vợ

“ Con trai về nhà con gái theo phong tục trên này, con trai về nhà con gái không à” PVS_005, Cao Niên.

“ Lấy vợ lấy chồng thì hồi xưa …dân tộc người Raglai thì là là… con trai thì đi theo vợ, còn con gái thì ở nhà Chồng thì phải đi theo con gái về nhà mình ở …còn con trai thì phải đi theo vợ” PVS_003, Cán bộ xã.

Hôn nhân một vợ một chồng được xác định vững chắc và theo nguyên tắc ngoạihôn dòng họ những người cùng huyết thống không được lấy nhau.Người Raglai rất

sợ tội loạn luân, là tội quy cho những ai là bà con họ hàng lấy nhau Do vậy khi đôitrai gái báo với cha mẹ hai bên thì lập tức họ phải xem xét đầu tiên là họ có cùngdòng họ hay không? Nếu cùng dòng họ thì thuộc chi nhánh nào? Trong xã hội cổtruyền trước đây của người Raglai thì những người cùng dòng họ dù xa đến mấy

cũng không được lấy nhau ( theo Văn hóa và xã hội người Raglai tại Việt Nam.

Luật tục người Raglai ở huyện Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hoà) rất “thôngthoáng” trong việc hôn nhân đối với con trẻ Trai gái tự do tìm hiểu yêu thươngnhau, khi muốn sống chung thì báo cho cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới Chuyện

cưới xin cũng thật dễ dàng, nếu là “trai trắng, gái lành” thì làm đám Huaq Vu (cưới đàng hoàng), còn nếu lỡ quan hệ tình cảm trước với nhau, bị người ngoài bắt gặp hoặc có thai thì cưới Cacah Richoi (đám cưới phạt).

Cả người con trai và người con gái đều phải giữ gìn sự trong trắng của mìnhcho đến ngày thành vợ chồng, nếu chưa làm lễ cưới đàng hoàng mà đã ăn nằm vớinhau đều bị cộng đồng lên án gay gắt, coi đó là hành động ô uế, làm nhục đến tổ

tiên, xúc phạm tới tổ tiên và phải làm đám cưới tẩy rửa, đám cưới phạt“Ví dụ như

là, nói thì hơi bị tục 1 chút ví dụ như là vợ chồng yêu nhau bây giờ thì khác, còn

vợ chồng trước thì khác vợ chồng ngủ với nhau trước rồi thì phải cắt lúa xuống đồng, khăn, áo,khăn cho cha mẹ chồng Ngày xưa là phạt, cho nên là xưa, xưa là phạt thế này bên cha mẹ vợ rồi cha mẹ chồng phải làm con heo cho cha mẹ vợ đấy, bởi vì là như thế này này hai đứa muốn ra ở không có đơn giản như bây giờ” (PVS_Cao Dáng) Đây là những điều cơ bản trong luật tục về hôn nhân của người

Trang 28

Raglai nhằm giáo dục và giữ gìn tình yêu trong sáng của nam nữ nơi buôn làng vàđiều đó đến nay vẫn còn phù hợp với chuẩn mực đạo đức mới Đó là sự trừng phạtlớn nhất trong đời nên rất ít đôi trai gái dám phạm phải nhằm giữ gìn lệ tục cổtruyền tốt đẹp, giữ lấy cái thuần phong mỹ tục của tộc người và danh dự của bảnthân, gia đình và dòng họ.

Trong thời gian chờ ngày cưới nếu người con trai hay người con gái trở mặt,không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân đó thì người gây ra phải chịu phạt theo luật tụccủa người Raglai Những lễ vật chủ yếu, cần thiết mang đến là heo, gà, rượu cần để

thắp nhang cho tổ tiên xin tội “ Nếu mà trai mà làm việc có lỗi với con gái người ta

mà không cưới ấy là theo lệ là phạt heo bốn, năm tay, heo với lại thêm rượu cần, phải có chứ không có là không được”(PVS_003, Cán bộ xã) Nếu người con trai trở

mặt thì sẽ bị cộng đồng lên án gay gắt và phải chịu phạt theo luật tục của người

Raglai: “Của cái đã trao tặng coi như đã ném xuống sông, nó còn phải chịu cúng

tạ lỗi ông bà, làm góa bụa trầu cau lỡ làng duyên phận, nó phải chịu phạt cho dòng họ người ta, phải chịu lỗi với ông mai, ông mối” Nếu người con gái hủy bỏ hôn ước thì bị xã hội lên án gay gắt hơn đàng trai và phải chịu phạt nhiều hơn: “Nó

đã bắt người ta ở rể thành người nhà nó, gánh vác công việc trụ cột cho nhà nó mà

nó còn tráo trở thì Nó phải chịu phạt trả lại của cải Của một trả thành hai …Phải chịu phạt tạ tội đến ông bà người ta” Luật tục đề ra những quy định này nhằm tạo

sự bình đẳng giới trong xã hội cũng như việc giữ gìn truyền thống tốt đẹp của tổ,tránh xảy ra những chuyện không hay làm đổ vỡ những cuộc hôn nhân đã định

(Theo luật tục của người Raglai)

Đối với người Raglai cưới hỏi trong truyền thống bắt buộc phải có ông mai“ Mai…phải qua ông mai, phải qua ông mai mới hỏi còn không qua ông mai sao mà hỏi được” (PVS_003, Cán bộ xã) Ông mai là một trong những người quan trọng và rất cần thiết trong quá trình làm đám hỏi của người Raglai “ có ông mai thì mới có

vợ có chồng, nếu không có ông mai thì không có vợ chồng” (PVS_003, Cán bộ xã).Trong thực tế, ông mai thường là những người đứng tuổi, biết nhiều hiểu rộng,

ăn nói lưu loát thuyết phục được xung quanh, đời sống kinh tế gia đình sung túc,việc dạy dỗ, gầy dựng cho con cái trong gia đình được coi là mẫu mực, là người

Trang 29

trung thực, có uy tín trong cộng đồng được gia đình đàn trai ủy thác đảm nhiệmviệc tác thành cho đôi lứa

Vai trò người mai mối trong hôn nhân của người Raglai rất quan trọng Ông maikhông chỉ đi lại trao đổi giữa hai gia đình cho đến lễ cưới hoàn thành, nói tốt cốt

cho được việc theo kiểu “mai dong cẳng thấp cẳng cao, muốn ăn thịt mỡ nói vào nói ra” mà phải chịu trách nhiệm về tư cách đạo đức của người con trai trong gia

đình và cộng đồng suốt cả đời Sau hôn nhân, trong cuộc sống vợ chồng, nếu xảy ra

sự việc sự vụ gì liên quan đến người chồng phải đưa ra giữa làng xử việc thì người

mai mối vẫn được gọi ra trước cộng đồng cùng tham gia quá trình phân xử (Xin

xem: Luật tục truyền thống Raglai của Nguyễn Thế Sang - bản thảo).

Người Raglai theo chế độ mẫu hệ nhưng trong tình yêu người con trai chủ độngtìm hiểu con gái với quan niệm “Con trâu đi tìm sình lầy, không bao giờ sình lầy đi

tìm trâu” mặc dù cô gái đã rất yêu chàng trai đó Người Raglai tôn trọng tự do yêu đương của con cái với quan niệm rõ ràng: “Trai còn tơ, gái còn son họ đến gặp gỡ nhau …Chúng nó được phép bắt lấy nhau làm vợ chồng”

Trong quy tắc cưới hỏi truyền thống của người Raglai rất quan trọng bắt buộcmọi người dân Raglai phải tuân theo, thực hiện đúng các luật tục đã đề ra Theo chế

độ mẫu hệ người Raglai phải tuân theo các quy định, không được vi phạm các luậttục sau : Hôn nhân một vợ một chồng, ngoại hôn dòng tộc, gìn giữ sự trong trắng,không được trở mặt, phải có ông mai trong đám hỏi Đây là những điều quan trọngtrong luật cưới hỏi của người Raglai nếu vi phạm sẽ bị phạt theo quy định đã đượcđưa ra Vì vậy người Raglai rất coi trọng các luật tục của họ

1.3 Một số nghi lễ trong cưới hỏi

Sau một thời gian tìm hiểu, thử thách, nếu đôi trai gái ưng nhau thì báo với cha

mẹ hai bên Gia đình hai bên “ thẩm định” lại lai lịch của hai người, cốt yếu là xem

có vi phạm các quy tắc trong hôn nhân đã được phong tục quy định hay không.Nếu mọi vấn đề “đều pháp” thì hai bên phải tiến hành một số bước trong hệ thống

lễ nghi cưới xin theo phong tục của dân tộc Tài liệu tác giả thu thập được từnhững cuộc khảo sát thực tế từ vùng dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện KhánhVĩnh Tuy có đôi nét dị biệt giữa các vùng và giữa các thành viên, nhưng cơ bản cóthể khái quát lễ cưới của người Raglai bao gồm các bước cơ bản sau:

Trang 30

Lễ hỏi

Nao tinha kumay( dịch nguyễn nghĩa là “ đi hỏi gái” nghĩa là lễ hỏi, có nơi dùngptâuq nao) Thuật ngữ đã nói lên rằng dù ở chế độ mẫu hệ nhưng con trai lại chủ

động trong hôn nhân “ Người trai sẽ đặt vấn đề trước” ( PVS_ 005, Cao niên).

Lễ ăn hỏi (còn được gọi là lễ đính hôn) là sự thông báo chính thức về việc hứa

gả giữa hai họ Lễ ăn hỏi là một nghi lễ quan trọng không kém gì lễ cưới của đôitrai gái Theo phong tục, khi bố mẹ cô gái đã chọn được chàng trai ưng ý, cha mẹ sẽbàn bạc họ hàng để tiến hành đám hỏi

Đối với người Raglai ở Khánh Nam trong truyền thống không có lễ dạm ngõthay vào đó là sự gặp ngỡ giữa cô dâu và gia đình chồng sau ngày đám hỏi chủ yếu

cho cha mẹ chồng biết mặt cô con dâu “Trai, khi đám hỏi ấy con trai nó tới nhà mình trước, đám hỏi rồi thì con gái tới nhà con trai chơi cho cha mẹ họ thấy mặt” (PVS_014, Hộ gia đình đông con).

Thành phần tham gia đám hỏi nhà trai gồm có khoảng 7 hoặc 8 người gồm cócha mẹ, ông bà ( nếu có), anh chị em và người quan trọng cần phải có đó là ông maingười mang trách nhiệm nói chuyện tạo mối quan hệ giữa hai gia đình…Số lượngngười tùy theo từng gia đình, thời gian theo sự sắp xếp của gia đình và dòng họchọn

Trong lễ ăn hỏi, nhà trai mang lễ vật tới nhà gái, nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là đãđồng ý gả con gái cho nhà trai và kể từ ngày này, đôi trai gái có thể coi là vợ chồngchưa cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.Đối với người Raglai đámhỏi được tổ chức cũng khá đơn giản không phức tạp, lễ vật không bắt buộc phảinhiều mà chủ yếu tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình là chủ yếu.Nhưng đốivới người Raglai trong truyền thống đám hỏi còn có hát giao duyên với nhau vàđồng thời đám hỏi được tổ chức trước đám cưới Khi nhà trai và nhà gái thống nhấtchọn ngày tổ chức đám hỏi gia đình nhà trai sẽ nhờ ông mai và chuẩn bị lễ vậtmang sang nhà gái Ông mai là người giữ vai trò quan trọng cùng với chàng trai

đến nhà cô gái gặp cha mẹ, hoặc ông mai cuả nhà gái “ Mai phải qua ông mai, phải

Trang 31

vợ có chồng, nếu không có ông mai kia thì không có vợ chồng” ( PVS_003, Cán bộ xã).Người Raglai quan niệm ông mai là người có khả năng giao tiếp tốt, đối đáp

hay giúp cho gia đình hai bên tiến hành nghi lễ cưới hỏi một cách suôn sẻ hơn

“ Đám cưới đầu tiên là đám hỏi, đám hỏi là thuê ông mai ông mối đi Ngày xưa

là có mai mối gọi là hỏi vợ, hỏi vợ xong rồi, đi hỏi vợ ít nhất là phải tốn … ngày xưa là không có vàng bạc đâu Ngày xưa là cái gì quý mình tặng, rượu thì rót ra, thì là là hát giao duyên với nhau xong rồi hẹn đến ngày mà đến cưới”(PVS_003, Cán bộ xã).

Người Raglai cho rằng trong lễ đám hỏi của người Raglai bắt buộc phải có anhtrai của cô dâu, nếu cô dâu không có anh trai ruột thì phải có anh họ mà không phải

là em họ “ M7: Đám hỏi thì bắt buộc phải có anh trai, cha mẹ chỉ là, cha mẹ chỉ là nhìn thôi Không có quan trọng mấy cái đó, quan trọng nhất là anh trai của mình Anh hoặc em cũng được.M6: Bắt buộc phải có, anh họ cũng được, nếu là họ hàng thì bắt buộc phải là anh họ, không được em” ( TLN_003, Nhóm thanh niên).Người

anh trai có vai trò rất quan trọng, là người nhận con dao hay còn gọi là thanh kiếmcủa gia đình nhà trai với ý nghĩa giao quyền cho người anh trai và là người chịu

trách nhiệm lo liệu hết chuyện của gia đình “ M6: Để giao cho người anh trai hoặc

em trai của cô dâu giống như là giao quyền Mnag theo dao găm nữa Đem theo dao găm để đưa cho anh trai hoặc em trai của nhà gái, giống như là giao phó cho người ta, ừ vậy đó Sau này mà có chuyện gì thì thằng anh trong nhà này phải lo liệu hết chuyện trong gia đình” ( TLN_003, Nhóm thanh niên).

Đối với kịch bản cưới hỏi của người Raglai đã nói rõ từng bước trong nghi lễcưới hỏi như sau: Thông thường người Raglai không phải coi ngày tốt xấu để làm

lễ đi hỏi vợ, chỉ căn cứ vào điều kiện thuận lợi Sau khi 2 bên bàn bạc xong, thốngnhất ngày giờ đi làm lễ hỏi Nhà trai tổ chức đoàn đi làm lễ hỏi gồm 7 người, trong

đó có 3 người chính ( cậu hay chú, bác đại diện cho gia đình nhà trai), cho ngườinào ăn nói hoạt bát, am hiểu tập tục Chàng rể và 01 người em gái của chàng rểmang các lễ vật gồm: Trầu, cau và các tặng vật cho cô dâu, thông thường gồm: 01

bộ trang phục nữ truyền thống, cồng, kiềng, xâu chuỗi, nhẫn, bông tai…

Nhà gái cũng có đoàn đại diện đón họ nhà trai ở trong nhà 03 nhân vật chínhđón nhà trai thường là bác, cậu và mẹ Cô gái đứng ở cửa nhà đón đại diện nhà trai

Ngày đăng: 25/12/2013, 14:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Báo Cáo Thực Tập, những biến đổi về phong tục tập quán của dân tộc Thái ở bản Hoa I và Bản Dọi I xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ khi thực hiện dự án tái định cư thủy điện Sơn La năm 2003 đến nay. nguồn:www.Atheenah.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: những biến đổi về phong tục tập quán của dân tộc Thái ởbản Hoa I và Bản Dọi I xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ khi thựchiện dự án tái định cư thủy điện Sơn La năm 2003 đến nay. nguồn:www
18. Báo cáo thực tập cuối khóa, Sự biến đổi về cách thức tổ chức hôn lễ và nơi ở sau khi kết hôn ở nông thôn ven đô Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh CNH-HĐH của tác giả Đỗ Thị Khánh Hồng, sinh viên khóa 09, khoa XHH, trường ĐHBD, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi về cách thức tổ chức hôn lễ và nơi ở saukhi kết hôn ở nông thôn ven đô Tp. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong bối cảnhCNH-HĐH
20. T.S Phan Quốc Anh, Văn hóa Raglai những gì còn lại, NXB Văn hóa dân tộc – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Raglai những gì còn lại
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc –2007
21. Kịch bản cưới hỏi của người Raglai, phòng Văn Hóa huyện Khánh Vĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản cưới hỏi của người Raglai
19. Nguyến Thị Thanh Vân, Gia đình và hôn nhân của người Raglai – Nhìn từ góc độ luật tục, Nguồn: http://huc.edu.vn Link
22. Lê Ngọc Hùng, Lịch sử lý thuyết xã hội học, NXB KHXH_2008.60SVTH: Dương Thị Quỳnh Thu MSSV: 08090018 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Sơ đồ khung phân tích. - Tìm hiểu sự thay đổi về phong tục cưới hỏi của người dân tộc raglay trong bối cảnh xưa và nay
4. Sơ đồ khung phân tích (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w