Bài nghiên cứu khoa học về đề tài : “Nghiên cứu về nhận thức và sự quan tâm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đối với loại hình Du lịch xanh” được nhóm thực hiện với các thang đo được
Trang 1GE \*
MERGEFORMA
T 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING
―⁂⁂―
NGHIÊN CỨU VỀ NHẬN THỨC VÀ SỰ QUAN TÂM CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI LOẠI HÌNH DU LỊCH XANH
GVHD: T.S ĐINH TIÊN MINH LỚP MR002 _KHÓA 44 NHÓM NGHIÊN CỨU:
Trương Thị Thùy Linh Trần Ngọc Diệu Nguyễn Thị Hồng Thủy Trần Thị Vân Trần Minh Khuê LỜI CẢM ƠN:
Trang 2GE \*
MERGEFORMA
T 2
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng em đã nhậnđược sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều thầy cô, các anhchị và các bạn sinh viên
Trước hết, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Đinh Tiên Minh(Khoa Kinh doanh quốc tế - Marketing) – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đãluôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình thựchiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Dương Ngọc Thắng (Viện
du lịch UEH) và thầy Đinh Việt Phương ( Viện du lịch UEH ) là hai chuyên gia đãtận tình giúp đỡ và đưa ra những góp ý giúp chúng em trong bài nghiên cứu Xinchân thành cảm ơn Chuyên gia Author Nguyen (phó giáo sư Marketing trường Đạihọc Lyon 3) và chuyên gia Dang Hoang Vi (thành viên của Vietnam SocialResearch Methodology group, đã có kinh nghiệm và kiến thức trong mảngResearch) là hai chuyên gia đã giúp nhóm góp ý trong việc thử nghiệm bảng khảosát Đồng thời, xin chân thành cảm ơn các anh chị và bạn bè sinh viên từ nhiềutrường Đại học trên Thành phố Hồ Chí Minh đã dành thời gian quý báu tận tình góp
ý và giúp đỡ nhóm hoàn thành bài khảo sát
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này khôngtránh khỏi những thiếu sót Chúng em kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia,những người quan tâm đến đề tài, các anh chị và bạn bè sinh viên tiếp tục có những
ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thànhcảm ơn!
Trang 42.Xu hướng, sở thích, nhu cầu khi du lịch của sinh viên: 533.Mức độ nhận thức, quan tâm đến loại hình Du lịch xanh của sinh viên: 65
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO
2.1/ Cơ sở của sự định hướng: Đánh giá lại loại hình Du lịch xanh bằng mô hình
BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ CỦA TỪNG THÀNH
Trang 5TÓM LƯỢC DỰ ÁN:
Hoạt động du lịch luôn luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyênmôi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi sông biển….các giá trị văn hoá,nhân văn Có thể nói ngành du lịch là một ngành công nghiệp không khói đem lạinguồn kinh tế vô cùng lớn và là ngành mũi nhọn cho nhiều quốc gia và vùng miền.Nhưng những năm gần đây, ngành du lịch phát triển quá mức và không ổn định, khiếncác nền văn hóa dần đánh mất những giá trị nguyên gốc, làm suy kiệt các nguồn tàinguyên thiên nhiên, ảnh hưởng đến cảnh quan, ảnh hưởng tới an ninh và an toàn của
du khách Xuất hiện như một lẽ dĩ nhiên vì những lợi ích to lớn của nó và tính bảo tồnbền vững cho tự nhiên, loại hình du lịch xanh đã ra đời Du lịch xanh đã trở thành xuhướng của ngành công nghiệp không khói ở nhiều nước trên thế giới, bởi có vai tròquan trọng trong bảo vệ đa dạng sinh học, văn hóa cộng đồng và đóng góp tích cựccho sự phát triển kinh tế - xã hội Nhưng nhìn vào thực tế, sinh viên là thế hệ trẻ đầynăng động, luôn nắm bắt và đi đầu những xu hướng nhưng loại hình Du lịch xanh vẫnchưa được phổ biến rộng rãi ở các bạn sinh viên Chính vì vậy mà việc nắm được nhậnthức và sự quan tâm của sinh viên đến loại hình Du lịch xanh là rất cần thiết để từ đógiải thích và đề xuất những chiến lược Marketing phù hợp cho sự phát triển đầy tính
bền vững này Đó là lí do mà nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu: “Nghiên cứu về nhận
thức và sự quan tâm của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đối với loại hình Du lịch xanh”
❖ Bài nghiên cứu gồm 5 phần
chính:
Phần I: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Trong phần này nhóm sẽ
trình bày: lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương phápnghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 6Phần II: Cơ sở lý thuyết: Phần này mô tả các lý thuyết liên quan, các bài nghiên
cứu liên quan, mô hình nghiên cứu
Phần III: Thiết kế nghiên cứu: Nhóm trình bày bao gồm thiết kế nghiên cứu
định tính, kết quả nghiên cứu định tính, thiết kế nghiên cứu định lượng, tính toán sốmẫu, kỹ thuật chọn mẫu, phương pháp tiếp cận mẫu, bảng câu hỏi định lượng cónguồn và loại thang đo
Phần IV: Kết quả nghiên cứu định lượng.
Phần V: Kết luận và đề xuất chiến lược Marketing: Chương này nhóm đề xuất
chiến lược Marketing cho loại hình Du lịch xanh
Bài nghiên cứu khoa học về đề tài : “Nghiên cứu về nhận thức và sự quan tâm
của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đối với loại hình Du lịch xanh” được nhóm
thực hiện với các thang đo được đưa vào điều chỉnh đảm bảo sự phù hợp dựa trên cácnghiên cứu khám phá với đáp viên là các bạn sinh viên đang theo học trên địa bànThành phố Hồ Chí Minh và những chuyên gia là những người uy tín mở ra nhiều gócnhìn về đề tài này Khảo sát định lượng được thực hiện với 400 sinh viên thuộc 6trường đại học là trường công lập và tư nhân trong thành phố Nhóm đã thực hiện cácbước kiểm định thang đo, phân tích thang đo trên dữ liệu thu thập được Đồng thời,nhóm có mô tả khảo sát bằng các loại biểu đồ được xuất ra từ bảng khi chạy phân tích
dữ liệu Phần kết luận và đề xuất chiến lược Marketing trong bài báo cáo này đượcđưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, định lượng cũng như các nguồn dữ liệuthứ cấp mà nhóm thu thập được, kết hợp với một số yếu tố chủ quan của nhóm
Trang 7GE \*
MERGEFORMA
T 32
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT:
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
NTTU Trường đại học Nguyễn Tất Thành
HUFLIT Trường đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí MinhULSA2 Trường đại học Lao động - Xã hội chi nhánh thành phố Hồ Chí
Minh
UTE Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí MinhFTU2 Trường đại học Ngoại thương chi nhánh thành phố Hồ Chí MinhTTTVMT Túi thân thiện với môi trường
Trang 8DANH MỤC BẢNG:
Bảng 3 1: Số lượng mẫu của mỗi trường 32 Bảng 3 2: Xác định tổng thể số N 34 Bảng 3 3: Số lượng sinh viên các trường và số mẫu ở các trường 35 Bảng 3 4: Số mẫu cần khảo sát ở mỗi năm của mỗi trường 35
Bảng 4 1: Mức độ nhận thức của sinh viên đối với các yếu tố gây ra tình trạng tiêu cực của ngành
du lịch cho môi trường 70 Bảng 4 2: Sự liên quan giữa đánh giá mức độ ảnh hưởng tiêu cực của ngành du lịch lữ hành
và mức độ ủng hộ Du lịch Xanh 74 Bảng 4 3: Mức độ quan trọng của các yếu tố xây dựng chuyến Du lịch xanh lí tưởng 77
Bảng 5 1: Mô hình TOWS về việc xây dựng dịch vụ Du lịch xanh cho sinh viên 87 Bảng 5 2: Định hướng thiết kế sản phẩm Du lịch xanh 88
DANH MỤC BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 4 1: Thu nhập của sinh viên trong 1 tháng 52 Biểu đồ 4 2: Thông tin đã từng đi du lịch hay chưa của sinh viên 53 Biểu đồ 4 3: Tần suất đi du lịch/ năm của sinh viên 53 Biểu đồ 4 4: Hình thức du lịch thường đi của sinh viên 54 Biểu đồ 4 5: Tần suất du lịch ảnh hưởng đến hình thức du lịch 56 Biểu đồ 4 6: Các loại hình du lịch thường đi của sinh viên 58 Biểu đồ 4 7: Các hoạt động thường làm khi đi du lịch của sinh viên 59 Biểu đồ 4 8: Địa điểm du lịch thường đi của sinh viên 60 Biểu đồ 4 9: Nguồn mà sinh viên tìm hiểu thông tin du lịch 61 Biểu đồ 4 10: Mức độ quan trọng của các yếu tố đối với việc xây dựng chuyến du lịch 63 Biểu đồ 4 11: Mức tiền sẵn sàng chi trả cho một chuyến du lịch của sinh viên 64 Biểu đồ 4 12: Mức độ nhận thức về khái niệm “ Du lịch xanh” của sinh viên 65 Biểu đồ 4 13: Định nghĩa của sinh viên khi nhắc tới du lịch xanh 66
Trang 9Biểu đồ 4 14: Mức độ quan tâm của sinh viên đến loại hình Du lịch xanh 67 Biểu đồ 4 15: Hiệu quả của các chương trình truyền thông cho loại hình “Du lịch xanh” 68 Biểu đồ 4 16: Mức độ nhận thức của sinh viên đới với ảnh hưởng tiêu cực của ngành du lịch gây ra
Biểu đồ 4 17: Mức độ cần thiết của sự xuất hiện du lịch xanh 71 Biểu đồ 4 18: Mức độ đồng tình của sinh viên đối với những lợi ích của du lịch xanh 72 Biểu đồ 4 19: Mức độ ủng hộ của sinh viên đối với du lịch xanh 73 Biểu đồ 4 20: Phương thức ưu tiên đặt dịch vụ Du lịch xanh của sinh viên 78 Biểu đồ 4 21: Liên hệ giữa thu nhập hàng tháng và số tiền sẵn sàng chi trả cho một chuyến du lịch
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI:
1 Lý do chọn đề tài:
Du lịch là loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu được đi lại, được trải nghiệm, đượckhám phá các nền văn hóa, ẩm thực, con người, ở những vùng miền, địa phươngkhác nhau Du lịch cũng đóng vai trò to lớn đối với tình hình phát triển kinh tế khuvực bản địa và nước nhà Nhu cầu đi du lịch ngày càng tăng dẫn đến sự ra đời củahàng loạt các loại hình dịch vụ mới như: quán ăn, địa điểm tham quan, sống ảo, các
mô hình kinh doanh homestay, tác động đến cảnh quan cũng như cơ sở hạ tầngcủa các địa phương
Tuy nhiên, du lịch cũng kéo theo những hệ lụy to lớn gây ảnh hưởng cho môitrường và cảnh quan thiên nhiên Đó là làm tăng lượng rác thải đến từ hoạt động dulịch; làm gia tăng nhu cầu đi lại, từ đó dẫn đến đến ô nhiễm không khí, ô nhiễmtiếng ồn, ; làm ảnh hưởng đến nhu cầu và chất lượng nước sinh hoạt Đặc biệthơn, những hoạt động du lịch thiếu kiểm soát còn có thể phá hoại cảnh quan, đe dọamôi trường sống vốn có của động vật hoang dã,
Chính vì vậy mà loại hình du lịch xanh - du lịch bền vững càng phải đượcquan tâm, được nhận thức nhiều hơn nữa Đặc biệt là trong bối cảnh ô nhiễm môitrường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng như hiện nay
Theo Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, “Du lịch xanh” được hiểu là du lịch
dựa trên nền tảng khai thác hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên, phát triển gắnvới bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm phát thải khí nhà kính vàthích ứng với biến đổi khí hậu Du lịch xanh chính là “chìa khóa” phát triển bềnvững Hiện nay, trên thế giới, du lịch xanh là xu hướng du lịch tiềm năng mới, đãnhận được sự quan tâm và ủng hộ đông đảo của cộng đồng nói chung
Trang 11Thế nhưng ở Việt Nam, cụ thể đối với đối tượng khảo sát là các bạn sinh viên
ở thành phố Hồ Chí Minh thì sự quan tâm và nhận thức của mọi người đối với xuhướng du lịch xanh vẫn còn khá mơ hồ, chưa rõ ràng Chính vì vậy nhóm quyếtđịnh lựa chọn ý tưởng về đề tài “Nghiên cứu về nhận thức và sự quan tâm của sinhviên thành phố Hồ Chí Minh đối với loại hình du lịch xanh Từ đó đề xuất chiếnlược xây dựng mô hình kinh doanh loại hình dịch vụ này” để làm bài nghiên cứucho môn học Nghiên cứu Marketing
2 Mục tiêu của đề tài:
2.1/ Mục tiêu chung: Cơ sở dữ liệu để đề xuất chiến lược Marketing nhằm
xây dựng mô hình kinh doanh loại hình Du lịch xanh
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
- Sinh viên: là nhóm đối tượng trẻ tuổi, năng động và nhạy bén với cái mới; cótrình độ văn hóa, nhận thức và hành vi trách nhiệm đối với cộng đồng và bảo vệmôi trường cao Họ thích ứng nhanh với sự phát triển, cùng với đó là nhu cầu đòihỏi cái mới nhưng phải tiến bộ và tích cực; họ có thái độ gay gắt với những tác
Trang 12động tiêu cực với cộng đồng Hơn nữa, do được thoải mái hơn về mặt thời giancùng với bản tính ham khám phá, tìm tòi và nhu cầu du lịch của nhóm này tươngđối cao Chính vì vậy, họ là đối tượng khảo sát phù hợp với đề tài, họ dễ tiếp cận vàcác ý kiến của họ cũng mang tính đại diện hơn
- Thành phố Hồ Chí Minh: là thành phố năng động, phát triển, nơi thườngxuyên được tiếp nhận những dịch vụ, trào lưu mới, và cũng là nơi tập trung 1 lượnglớn những con người trẻ tuổi đến học tập và làm việc mỗi năm
=> Việc khảo sát nhóm đối tượng sinh viên trên địa bàn TP HCM giúp cho đềtài có tính bao quát và đại diện hơn, và cũng giúp cho đề tài trở nên nhanh chóngđược hoàn thiện trong khoảng thời gian hạn hẹp làm nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1/ Nghiên cứu định tính
4.1.1/ Mục đích nghiên cứu định tính:
Nhằm tìm hiểu sâu về tiềm năng của mô hình dịch vụ này cũng như biếtđược những cơ hội, thách thức mà mô hình dịch vụ này đang đối mặt thông qua ýkiến của chuyên gia để nhóm có thể định hướng thiết kế sản phẩm dịch vụ cho môhình Du lịch xanh Đồng thời, phỏng vấn sâu để nghiên cứu nhận thức và biết đượcInsight của nhóm khách hàng mục tiêu, dựa vào ý kiến thu thập từ nhóm tập trung,
từ đó xây dựng nền tảng hình thành phương pháp định lượng cho bài nghiên cứu vàphát triển sản phẩm dịch vụ cho mục tiêu đề tài sau này
4.1.2/ Giới thiệu sơ lược về mô hình Mô hình dịch vụ Du lịch xanh:
Là dịch vụ cung cấp cho các bạn trẻ có nhu cầu đi du lịch Xanh những tiệních, lộ trình, định hướng đi du lịch đến những địa điểm cảnh quan thiên nhiên, tiếpcận văn hóa địa phương vv kèm theo những hoạt động, dịch vụ đi kèm dựa vào nhucầu của khách hàng nhưng phải đảm bảo tính “Xanh” - thân thiện với môi trường
Trang 134.1.3/ Phương pháp thực hiện:
Để có kết quả khảo sát, nhóm đã thực hiện nghiên cứu bằng 2 kỹ thuật:
● Kỹ thuật phỏng vấn sâu (In Depth Interview)
- Nhóm sẽ tìm kiếm một chuyên gia thuộc lĩnh vực mà nhóm đang nghiên cứu,liên hệ với chuyên gia để tiến hành phỏng vấn (Chuyên gia có thể là các chuyênviên tư vấn, có hiểu biết sâu rộng về vấn đề nhóm đang nghiên cứu)
- Đại diện nhóm sẽ có cuộc gặp và chia sẻ với chuyên gia, từ đó thu thập thôngtin và tổng hợp, đưa ra kết luận cuối cùng cho bài nghiên cứu
● Kỹ thuật phỏng vấn Nhóm (Focus Group)
- Các thành viên trong nhóm tìm kiếm một số đáp viên để lấy ý kiến (khoảng
từ 6 đến 10 người)
- Mỗi đáp viên sẽ trả lời các câu hỏi được đưa ra
- Thông tin từ các câu trả lời sẽ được ghi lại, tổng hợp và các thành viên trongnhóm sẽ dựa trên các câu trả lời đó để đưa ra kết luận cuối cùng cho bài nghiên cứu
4.1.4/ Số mẫu
Khi thực hiện bài nghiên cứu định tính nhóm đã tiến hành phỏng vấn nhóm
và phỏng vấn chuyên sâu đối với:
- Phỏng vấn nhóm (9 cuộc phỏng vấn): Đối tượng là Nhóm sinh viên đến từ
5 trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (UEH, ULSA2, NTTU, UTE,FTU2) có sở thích đi du lịch và đã từng trải nghiệm dịch vụ du lịch
Nội dung phỏng vấn nhằm tìm hiểu mức độ quan tâm, thị hiếu, sở thích vànhu cầu du lịch của sinh viên TP.HCM để có cơ sở phát triển loại hình Du lịch
Trang 14xanh Định hướng và đề xuất chiến lược Marketing du lịch cho loại hình kinh doanh
mô hình dịch vụ Du lịch xanh
- Phỏng vấn chuyên gia (1 cuộc phỏng vấn):
+ Thạc sĩ Dương Ngọc Thắng - thành viên Viện du lịch trong Ban truyềnthông của UEH, là giảng viên tại trường Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh –UEH
Cuộc phỏng vấn này nhằm mục đích khai thác thông tin về tiềm năng pháttriển, cơ hội, thách thức của mô hình kinh doanh du lịch xanh ở Việt Nam
4.2/ Nghiên cứu định lượng:
4.2.1/ Phương pháp chọn mẫu
Đối với đề tài nghiên cứu này, nhóm đã chọn mẫu bằng hai phươngpháp:
- Phương pháp chọn mẫu theo chùm (cụm) để chọn ra cụm 6 trường
“dân lập, công lập”,từ đó chọn ra cá thể trong cụm (chọn sinh viên năm nhất, nămhai, năm ba và năm tư)
- Phương pháp chọn mẫu phân tầng: Sau khi đã chọn xác định được sốkhối khảo sát bằng phương pháp nghiên cứu theo cụm, nhóm đã thực hiện phươngpháp chọn mẫu phân tầng để xác định số mẫu của mỗi khối
4.2.2/ Phương pháp tiếp cận mẫu
Vì các đối tượng mà nhóm thực hiện nghiên cứu định lượng là sinh viênđến từ 6 trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đây là nhóm đốitượng trẻ, có tần suất truy cập vào các trang mạng xã hội cao, hơn nữa, thời điểmthực hiện nghiên cứu khảo sát đang bùng phát dịch bệnh nCovi Vậy nên nhóm
Trang 15nghiên cứu quyết định sẽ thực hiện khảo sát chủ yếu bằng phương pháp Onlinesurveys (khảo sát trực tuyến).
Nhóm sẽ tạo một bảng biểu mẫu câu hỏi online bằng Google form, sau đó
sẽ gửi link biểu mẫu khảo sát này lên những nhóm sinh viên các trường (GroupFacebook) trên mạng xã hội Facebook để kêu gọi các đối tượng tham gia khảo sát
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
1 Lý thuyết Marketing Marketing xanh:
1.1/ Tóm tắt lý thuyết:
Thuật ngữ Marketing xanh trở nên nổi bật lên từ cuối những năm 1980 vàcòn được biết đến với các tên gọi như Marketing môi trường và Marketing sinh thái
Có thể liệt kê một số định nghĩa nổi bật về Marketing xanh như sau:
Theo Charter (1992), Marketing xanh được hiểu là cách thức làmMarketing xanh hơn và được định nghĩa là một quá trình quản trị chiến lược toàndiện và có trách nhiệm xác định, dự đoán và đáp ứng nhu cầu các bên liên quan màkhông ảnh hưởng xấu đến môi trường của con người hoặc môi trường tự nhiên
Marketing xanh là một tiến trình quản lý tổng thể nhằm xác định, dự báo,đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, xã hội theo cách có lợi nhuận và bền vững(Peattie & Charter, 2008)
Theo Henion and Kinnear của Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) thìMarketing xanh là tất cả những hoạt động trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu và mongmuốn của con người, làm giảm thiểu những tác động có hại đến môi trường tựnhiên Như vậy, Marketing xanh liên quan đến rất nhiều hoạt động của doanhnghiệp như: thiết kế sản phẩm, thay đổi dây chuyền sản xuất, đóng gói cũng nhưtruyền thông
Theo Peattie (2001), có ba giai đoạn của quá trình phát triển Marketingxanh
● Marketing xanh sinh thái (Ecological green marketing)
● Marketing xanh môi trường (Environmental green marketing)
● Marketing xanh bền vững (Sustainable green marketing)
Trang 17Marketing xanh không phải là một hình thức marketing hoàn toàn riêng biệt
mà vẫn có một số điểm trùng lặp với các dạng marketing khác Sự khác biệt củamarketing xanh nằm trong chính nội hàm của nó và gắn liền với các giá trị nhân vănphía sau khi doanh nghiệp lựa chọn sử dụng hướng đi marketing này
1.2/ Đề tài nghiên cứu sử dụng lý thuyết Marketing xanh:
a Bài nghiên cứu của Huỳnh Thị Thùy Linh - Luận văn Thạc Sĩ Kinh tế: “Marketing xanh và tác động của nó đến hành vi tiêu dùng: Nghiên cứu trên sản phẩm túi thân thiện với môi trường (TTVMT) tại tỉnh Long An.”
Đề tài này nghiên cứu về sự tác động của các nhân tố Marketing xanh đếnhành vi tiêu dùng sản phẩm túi TTVMT bằng cách tiến hành điều tra, khảo sát, thuthập dữ liệu bằng bảng câu hỏi của khách hàng sử dụng túi ở tỉnh Long An Lýthuyết Marketing xanh được vận dụng bao quát trong cả bài nghiên cứu Sản phẩmtúi thân thiện với môi trường được nghiên cứu để hạn chế túi nilon Đó là sản phẩmkết nối khách hàng với công ty, với xã hội Người tiêu dùng có xu hướng sử dụngtúi thân thiện với môi trường nhiều hơn vì độ tiện ích và sử dụng được nhiều lần.Tuy nhiên, mức độ sử dụng là chưa đáng kể với số lượng túi nilon hiện tại Cần có
kế hoạch phát triển và chiêu thị phù hợp để phát triển sản phẩm túi thân thiện vớimôi trường cũng như tăng sự nhận thức của người tiêu dùng về lợi ích của sản phẩmxanh này mang đến
b Bài nghiên cứu của Nguyễn Gia Thọ - Luận án Tiến Sĩ Kinh Tế:
“Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam”
Đề tài này tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về chínhsách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh Mụctiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa, bổ sung và luận giải rõ cơ sở lý luận vàthực tiễn về chính sách tiêu dùng xanh để đề xuất phương hướng giải pháp xâydựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam nhằm đáp ứngyêu cầu phát triển nền kinh tế xanh thời kỳ đến năm 2030 Nghiên cứu sử dụng kết
Trang 18hợp cơ sở lý thuyết về tiêu dùng xanh và marketing xanh trong phát triển kinh tếxanh, thực hiện phát triển bền vững và vai trò của Nhà nước đối với thúc đẩy tiêudùng xanh để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề chính sách tiêu dùng xanh ở ViệtNam Lý thuyết marketing xanh được vận dụng là một cách Chính phủ xây dựngmối quan hệ với người dân để đẩy mạnh tiêu dùng xanh, đầu tư vào kinh tế xanh.
c Bài nghiên cứu của Hồ Trọng Vinh - Luận án Tiến sĩ: “ Phân tích các yếu tố xúc tiến trong Marketing xanh hỗn hợp ảnh hưởng đến ý định mua rau hữu cơ tại Thành Phố Hồ Chí Minh”
Đây là 1 trong những đề tài giúp giảm bớt khó khăn cho các nhà cung cấprau hữu cơ trong việc đưa ra những chiến lược marketing phù hợp trên thị trườngnày Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố xúc tiến tác động đến ý địnhmua rau, xem xét tầm quan trọng của các yếu tố để từ đó đề ra các kiến nghị, giảipháp để thúc đẩy ý định mua rau hữu cơ của nhóm đối tượng là người tiêu dùng ởthành phố Hồ Chí Minh Lý thuyết marketing xanh được tác giả vận dụng để thựchiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa marketing xanh và ý định mua rau hữu cơ.Bên cạnh đó, dựa vào các nghiên cứu liên quan để làm rõ mối quan hệ giữa các yếu
tố marketing xanh hỗn hợp và ý định mua Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng các giảthuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất
2/ Lý thuyết Marketing dịch vụ:
2.1/ Tóm tắt lý thuyết:
Service Marketing (Marketing dịch vụ) là sự phát triển lý thuyết chung củaMarketing và lĩnh vực dịch vụ, cho tới nay về học thuật chưa có định nghĩa nào kháiquát được đầy đủ về nó Marketing dịch vụ nổi lên như một lĩnh vực nghiên cứuriêng biệt vào đầu những năm 1980, sau khi nhận ra rằng các đặc điểm độc đáo củadịch vụ khác với hàng hóa thông thường: tính vô hình, không đồng nhất, dễ hỏng
và không thể tách rời, nó đòi hỏi các chiến lược khác và phức tạp hơn so vớiMarketing hàng hóa thông thường
Trang 19Marketing dịch vụ thường đề cập đến cả hai doanh nghiệp đến người tiêudùng (B2C) và doanh nghiệp với doanh nghiệp dịch vụ (B2B), và bao gồm việc tiếpthị các dịch vụ như dịch vụ viễn thông , dịch vụ tài chính, tất cả các loại của lònghiếu khách, du lịch giải trí và dịch vụ giải trí, cho thuê xe dịch vụ, dịch vụ chăm sócsức khỏe và dịch vụ chuyên nghiệp và dịch vụ thương mại
Các nhà Marketing dịch vụ thường sử dụng hỗn hợp tiếp thị mở rộng baogồm 7Ps: Product (Sản phẩm), Price (Giá cả), Place (Địa điểm), Promotion (Quảngbá), People (con người), Process (Quy trình), Physical Evidence (cơ sở hạ tầng, vậtchất hỗ trợ marketing)
2.2/ Đề tài nghiên cứu sử dụng lý thuyết Marketing dịch vụ:
a Bài nghiên cứu của Phạm Thành Long - Luận văn thạc sĩ Kinh tế: “Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing tại công ty bay dịch vụ hàng không (Vasco) đến năm 2020”.
Bài nghiên cứu nêu lên cơ sở lý luận về marketing dịch vụ bao gồm kháiniệm và các thành phần của Marketing dịch vụ, các yếu tố tác động đến nó và đặcđiểm của thị trường vận tải hàng không , đây là những cơ sở nền tảng cho việcnghiên cứu thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ của công ty Vasco Đồng thời,tác giả đề ra giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing tại đây chủ yếu liên quan đếnphát triển thị trường, hoàn thiện sản phẩm, đầu tư phương tiện hữu hình, nâng caovai trò kênh phân phối, điều chỉnh chính sách giá, Thuyết “Marketing dịch vụ”được bài nghiên cứu vận dụng vào việc sử dụng các cơ sở lý luận của nó để làm cơ
sở nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ của công
ty Vasco và giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing tại đây
b Bài nghiên cứu của Phạm Kim Thành - Luận văn thạc sĩ Kinh tế:
“Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing cho dịch vụ Internet cáp quang của trung tâm điện thoại SPT”.
Trang 20Bài nghiên cứu nêu lên cơ sở lý luận về marketing dịch vụ bao gồm kháiniệm của Marketing dịch vụ và nêu tổng quan về Internet – dịch vụ Internet bangrộng cố định Đây là cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng hoạt độngmarketing dịch vụ Internet cáp quang của trung tâm điện thoại SPT trong thị trườngdịch vụ Internet cáp quang tăng trưởng và đang cạnh tranh ngày càng gay gắt Từ
đó, tác giả đưa ra một số hoạt động giải pháp hoàn thiện hoạt động tại đây Thuyết
“Marketing dịch vụ” được bài nghiên cứu vận dụng vào việc sử dụng các cơ sở lýluận của nó để làm cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng hoạt độngMarketing dịch vụ Internet cáp quang của trung tâm điện thoại SPT và giải pháphoàn thiện hoạt động marketing tại đây
c Bài nghiên cứu của Lê Thị Lan Hương - Luận văn thạc sĩ Kinh tế:
“Chiến lược marketing cho dịch vụ giá trị gia tăng của Viettel Cambodia.”
Bài nghiên cứu nêu lên cơ sở lý luận về marketing dịch vụ bao gồm kháiniệm và vai trò của Marketing dịch vụ, bài học kinh nghiệm của các công ty viễnthông trên thế giới như Airtel tại Ấn Độ, Mobifone tại Việt Nam Đây là cơ sở nềntảng cho việc nghiên cứu thực trạng chiến lược marketing các dịch vụ giá trị giatăng của Viettel Cambodia Tác giả đã lâp ma trận SWOT để tìm ra điểm mạnh,điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó tìm ra chiến lược marketing phù hợp cho dịch
vụ marketing giá trị gia tăng của Viettel Cambodia Thuyết “Marketing dịch vụ”được bài nghiên cứu vận dụng vào việc sử dụng các cơ sở lý luận của nó để làm cơ
sở nền tảng cho việc nghiên cứu thực trạng chiến lược Marketing các dịch vụ giá trịgia tăng Viettel Cambodia và tìm ra chiến lược marketing phù hợp cho công ty
3/ Lý thuyết Marketing du lịch:
3.1/ Tóm tắt lý thuyết:
Theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới (World tourism organization),
“Marketing du lịch là triết lý quản trị mà nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển chọn dựa
Trang 21trên nhu cầu của du khách nó có thể đem lại sản phẩm du lịch ra thị trường sao chophù hợp mục đích của tổ chức du lịch đó.”
Theo định nghĩa của Michael Coltman: “Marketing du lịch là một hệ thốngnhững nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết lýquản trị hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt được mụcđích”
Nhìn chung, từ góc độ kinh doanh du lịch, Marketing du lịch được xem như
là chức năng quản trị của doanh nghiệp du lịch, tất cả các hoạt động của doanhnghiệp du lịch đều phải hướng vào mong muốn của thị trường mục tiêu, đảm bảorằng doanh nghiệp đưa ra thị trường loại sản phẩm du lịch tốt hơn và sớm hơn sảnphẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh để đạt được mục đích Marketing du lịch làcông việc của tất cả mọi người trong doanh nghiệp du lịch, trong đó bộ phậnmarketing đóng vai trò then chốt
Mục đích của marketing du lịch là: làm hài lòng khách hàng, xây dựng lòngtrung thành của khách hàng, thắng lợi trong cạnh tranh và lợi nhuận trong dài hạn,đồng thời phải hướng tới sự phát triển bền vững của nơi đến du lịch
3.2/ Đề tài nghiên cứu sử dụng lý thuyết Marketing du lịch:
a Bài nghiên cứu của Dương Thị Ngọc Bé - Luận văn Thạc Sĩ Kinh Tế: “Marketing du lịch tỉnh Quảng Bình thực trạng và giải pháp”:
Đề tài đi sâu vào việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạtđộng Marketing du lịch ở tỉnh Quảng Bình dựa trên 2 nguồn dữ liệu là: nguồn dữliệu thứ cấp thu thập trong nghiên cứu chủ yếu được cập nhật đến năm 2008, 2009,
và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát năm 2009 Sau khi phân tích và đánh giá,mục tiêu tiếp theo của đề tài là đề xuất giải pháp marketing và kiến nghị nhằm pháttriển bền vững du lịch tỉnh Quảng Bình Thuyết Marketing du lịch được tác giả vậndụng như nền tảng cơ sở để phân tích, đánh giá các dữ liệu thu thập được về hoạt
Trang 22động du lịch ở tỉnh Quảng Bình Tác giả cũng đi mở rộng thuyết marketing du lịchsang marketing du lịch địa phương để phục vụ cho bài nghiên cứu.
b Bài nghiên cứu của Trần Nguyễn Khánh Hải - Luận văn Thạc Sĩ Kinh Tế: “Giải pháp marketing nhằm phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020”
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, quy nạp đểthu thập và xử lý thông tin từ các tờ báo du lịch địa phương và cả Internet Đề tàicũng nghiên cứu định lượng thông qua việc khảo sát các khách du lịch trong nước,quốc tế, các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, Mục tiêu định hướng của đềtài sau khi phân tích, đánh giá là đề xuất giải pháp marketing và kiến nghị nhằmphát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận Nghiên cứu trình bày rõ những khía cạnh củamarketing du lịch, đồng thời cũng nêu lên các hoạt động của marketing du lịch điểmđến như: hoạt động nghiên cứu thị trường, chọn thị trường mục tiêu, định vị, 4P cơbản trong hoạt động marketing Dựa trên cơ sở lý thuyết về marketing du lịch, đề tàitập trung nghiên cứu về thực trạng hoạt động marketing của ngành du lịch tỉnh NinhThuận
c Bài nghiên cứu của Trần Thị Lương - Luận văn Thạc Sĩ Quản trị kinh doanh: “Nghiên cứu sự hài lòng của khách du lịch nội địa đối với điểm đến du lịch Đà Nẵng”
Bài nghiên cứu là cơ sở giúp các nhà quản lý du lịch tại Đà Nẵng hiểu rõđược các thành phần tác động và mức độ ảnh hưởng đến sự hài lòng của du kháchnội địa sau khi du lịch tại địa bàn thành phố Đà Nẵng một cách đầy đủ và chính xáchơn Việc phân tích các thành phần liên quan đến mức độ hài lòng của khách hàng
sẽ giúp các nhà quản lý, ban lãnh đạo của các công ty du lịch hiểu rõ hơn về nhucầu của du khách nội địa cũng như chất lượng dịch vụ mà công ty đang cung cấp
Từ đó, công ty có cách nhìn thấu đáo, đưa ra các chính sách tốt hơn và cải tiến trongcông tác thu hút và đáp ứng nhu cầu của du khách tốt, nhằm nâng cao chất lượng
Trang 23phục vụ của mình và giúp cho du khách nội địa luôn cảm thấy hài lòng mỗi khi đếnvới điểm đến Đà Nẵng Đồng thời tác giả sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nângcao sự hài lòng của du khách nội địa
Đề tài nghiên cứu có sử dụng các lý thuyết có liên quan làm nền tảng cơ sở
lý luận cho bài nghiên cứu này, trong đó bao gồm định nghĩa Marketing du lịch đểđịnh hướng tổng quan cho cho các công trình nghiên cứu về sự hài lòng của kháchhàng và sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực du lịch
Trang 24CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:
1 Thiết kế nghiên cứu định tính:
1.1/ Thiết kế nghiên cứu định tính:
1.1.1/ Mục đích thực hiện nghiên cứu định tính: Nhằm tìm hiểu sâu về
tiềm năng của mô hình dịch vụ này cũng như biết được những cơ hội, thách thức mà
mô hình dịch vụ này đang đối mặt thông qua ý kiến của chuyên gia để nhóm có thểđịnh hướng thiết kế sản phẩm dịch vụ cho mô hình Du lịch xanh Đồng thời, phỏngvấn sâu để nghiên cứu nhận thức và biết được Insight của nhóm khách hàng mụctiêu, dựa vào ý kiến thu thập từ nhóm tập trung, từ đó xây dựng nền tảng hình thànhphương pháp định lượng cho bài nghiên cứu và phát triển sản phẩm dịch vụ chomục tiêu đề tài sau này
1.1.2/ Phương pháp thực hiện:
Để có kết quả khảo sát, nhóm đã thực hiện nghiên cứu bằng 2 kỹ thuật:
Kỹ thuật phỏng vấn sâu (In-depth Interview): Nhóm đã liên lạc với mộtchuyên gia thuộc lĩnh vực mà nhóm đang nghiên cứu để tiến hành phỏng vấn(Chuyên gia tư vấn có hiểu biết sâu rộng về vấn đề mà nhóm đang tìm hiểu)
● Chuyên gia mà nhóm liên lạc được là Thạc sĩ Dương Ngọc Thắng, Làthành viên Viện du lịch trong Ban truyền thông của UEH, và cũng làgiảng viên tại trường Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh
● Cuộc phỏng vấn này nhằm mục đích tìm hiểu quan điểm của chuyêngia về những vấn đề như: cơ hội và thách thức của loại hình Du lịchxanh ở Việt Nam, tiềm năng phát triển loại hình du lịch này nhắm vàogiới trẻ, tác động của du lịch xanh đối đối với hành vi của khách dulịch, dưới góc nhìn của một người am hiểu về ngành du lịch, gópphần làm cho bài nghiên cứu trở nên đáng tin cậy
Kỹ thuật phỏng vấn Nhóm (Focus Group): Các thành viên trong nhómtìm kiếm một số đáp viên để lấy ý kiến Mỗi đáp viên sẽ trả lời các câu hỏi đượcđưa ra Thông tin các câu trả lời sẽ được ghi lại, tổng hợp và các thành viên trongnhóm sẽ dựa trên các câu trả lời đó để đưa ra kết luận cuối cùng cho bài nghiên cứu
● Đối tượng phỏng vấn mà nhóm chọn cho phỏng vấn Nhóm là tập hợp
một nhóm gồm 9 sinh viên đến từ 5 trường đại học trên địa bàn thànhphố Hồ Chí Minh, có sở thích đi du lịch và đã từng trải nghiệm dịch
Trang 25vụ du lịch Nhóm được chọn theo phương pháp phi xác suất, cụ thể làchọn mẫu thuận tiện.
● Các cuộc phỏng vấn này nhằm mục đích khai thác thông tin về xuhướng du lịch, nhận thức của sinh viên về du lịch xanh cũng nhưnhững mặt tiêu cực của ngành du lịch nói chung, sự ủng hộ của họdành cho du lịch xanh,
+ Phỏng vấn qua Mạng xã hội (3/9 người)
+ Phỏng vấn qua Mạng xã hội có ghi âm (2/ 9 người)
+ Phỏng vấn trực tiếp, chép tay (3/9 người)
Nguyên nhân có nhiều cuộc phỏng vấn gián tiếp : Do thời gian thực hiện
nghiên cứu định tính đang bùng phát dịch Covid-19, hơn nữa, khoảng cách địa lýgiữa những người thực hiện và tham gia phỏng vấn xa nhau, nên việc phỏng vấnthông qua email, mạng xã hội là phương án khả thi và hiệu quả nhất
1.1.4/ Bản định hướng thảo luận:
1.1.4.1/ Nội dung phỏng vấn dành cho phỏng vấn chuyên gia:
- Chuyên gia nhận định như thế nào về tiềm năng phát triển mô hình kinhdoanh Du lịch xanh ở Việt Nam nhắm vào khách hàng mục tiêu là giới trẻ?
- Loại hình kinh doanh này liệu sẽ có tác động lớn đến hành vi du lịchcủa người Việt Nam nói chung, giới trẻ nói riêng để đạt được sự phát triển bền vữngcủa ngành du lịch lữ hành chung không?
- Thách thức và khó khăn của loại hình kinh doanh này ở Việt Nam làgì?
- Cơ hội của loại hình kinh doanh này ở Việt Nam là gì?
- Ở Việt Nam, có thể xây dựng loại hình kinh doanh Du lịch xanh nhưthế nào?
1.1.4.2/ Nội dung phỏng vấn dành cho phỏng vấn nhóm:
Trang 26- Xu hướng du lịch của bạn hiện tại là gì? (Ví dụ: đi du lịch nghỉ dưỡng,
du lịch tham quan, du lịch sinh thái, đăng ký tour theo đoàn, đi du lịch tự túc, đi dulịch tự túc nhưng book tour vv)
- Gần đây loại hình Du lịch xanh đang bắt đầu được chú trọng, theo quanđiểm của bạn thì bạn nhận định/hiểu thế nào về khái niệm: DU LỊCH XANH?
- Là một người đam mê du lịch, bạn nhìn nhận như thế nào về mặt tiêucực của ngành du lịch trong việc gây ra những tác động xấu cho môi trường? (Vd:khách du lịch kém văn minh, các chuyến tham quan du lịch làm ảnh hưởng xấu đếnmôi trường, khách sạn kém thân thiện với môi trường, vv)
- Trước thực trạng trên, bạn đánh giá như thế nào về sự xuất hiện của môhình Du lịch xanh?
+ Với nhận định trên thì sự xuất hiện của mô hình này có phải là dấuhiệu tích cực cho môi trường theo quan điểm của bạn không?
+ Bạn có đồng ý tham gia loại hình du lịch này không?
● Nếu có dịp trải nghiệm loại hình du lịch xanh thì một chuyến Du lịchxanh lý tưởng của bạn sẽ như thế nào? (cụ thể rõ về mô hình này theonhu cầu mong muốn của bạn)
+ Ví dụ hoạt động của tour: đi du lịch sinh thái, tiếp cận văn hóa địaphương, dùng các loại dịch vụ thân thiện với môi trường, tích hợp hoạt động bảo vệmôi trường trong lúc đi du lịch vv)
1.2/ Kết quả nghiên cứu định tính:
1.2.1/ Kết quả phỏng vấn với chuyên gia:
Mở đầu cuộc phỏng vấn, nhóm đã hỏi chuyên gia về nhận định của mìnhđối với tiềm năng phát triển mô hình kinh doanh Du lịch xanh ở Việt Nam nhắmvào khách hàng mục tiêu là giới trẻ Thạc sĩ Dương Ngọc Thắng đã nhận định rằng,
du lịch xanh tại Việt Nam hiện tại vẫn còn là “mảnh đất” chưa được khai phá hết,bản thân du lịch xanh cũng chưa được nhận sự quan tâm đúng mức và cũng chưa cóchỗ đứng vững chắc trong cuộc chạy đua phát triển với các loại hình du lịch khác.Vậy nên nếu nhà quản trị biết cách xây dựng loại dịch vụ và sản phẩm phù hợp cho
du lịch xanh, đặc biệt hơn nữa là nhắm vào giới trẻ - những đối tượng đang ngàycàng dành nhiều sự quan tâm cho môi trường, thì tiềm năng của nó trong tương lai
là khá lớn
Về việc “Liệu Du lịch xanh sẽ có tác động lớn đến hành vi du lịch củangười Việt Nam nói chung, giới trẻ nói riêng để đạt được sự phát triển bền vững củangành du lịch lữ hành không?”, thạc sĩ với những kiến thức chuyên sâu sau nhiềunăm nghiên cứu và giảng dạy về du lịch cũng như các chuyên môn liên quan, đã
Trang 27khẳng định rằng: “Du lịch xanh có tác động đến ý thức bảo vệ môi trường và hướng
du khách, đặc biệt là giới trẻ đến hành vi du lịch có trách nhiệm, nhưng để đạt được sự phát triển bền vững thì còn có quá nhiều yếu tố khác.”
Để giải thích cho câu trả lời của mình, thạc sĩ đã đưa ra mô hình pháttriển bền vững như hình 3.1:
Hình 3 1: Mô hình phát triển bền vững
Mô hình này thể hiện các yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững.Thông qua mô hình, ta thấy được sự phát triển bền vững được tạo nên từ các mốiquan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường Do đó, nếu mô hình dịch vụ
Du lịch xanh chỉ có tác động đến ý thức, hành vi bảo vệ môi trường của du kháchthì hoàn toàn chưa đủ để tạo nên sự phát triển bền vững của ngành Du lịch lữ hànhchung
Tuy nhiên du lịch xanh vẫn có thể là một bước đệm để đạt được phát
triển bền vững, vì theo thạc sĩ: “Du lịch xanh sẽ tác động đến ý thức bảo vệ môi trường và hướng du khách đến hành vi du lịch có trách nhiệm Điều này có thể là
cơ sở để hướng đến sự phát triển bền vững dựa trên khía cạnh môi trường là chủ đạo, kết hợp với trách nhiệm của xã hội và kinh tế.”
Mỗi thị trường, loại hình kinh doanh đều sẽ có những khó khăn khácnhau; riêng với loại hình dịch vụ Du lịch xanh còn khá mới thì càng có nhiều khókhăn và thách thức Việc nắm bắt và xác định được những khó khăn này sẽ giúp chodoanh nghiệp hiểu rõ hơn về loại hình mà mình muốn khai thác cũng như thị trườngmục tiêu mà mình muốn hướng đến, đồng thời xây dựng kế hoạch tháo gỡ, vượt quanhững khó khăn để phát triển hơn trong tương lai Khi được hỏi về vấn đề khó khăn
và thách thức của Du lịch xanh tại thị trường Việt Nam, thạc sĩ Dương Ngọc Thắngcho rằng Du lịch xanh hiện tại đang đứng trước năm thách thức và khó khăn lớn,
trong đó ông nhận định: “Thách thức và khó khăn lớn nhất cho du lịch xanh đó là
Trang 28nhu cầu đi du lịch của người Việt thường hướng đến những địa danh có nhiều hoạt động giải trí, điển hình như các khu đô thị du lịch lớn Chính vì vậy, các điểm đến gắn liền với thiên nhiên hoang dã không phải là sự lựa chọn hàng đầu của khách
du lịch nội địa.”
Vấn đề thứ hai mà thạc sĩ đưa ra là vấn đề về các công trình xây dựng
ngày càng xuất hiện nhiều giữa những cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ “Để thu hút khách, các chủ đầu tư đã thêm vào nhiều công trình nhân tạo khi xây dựng Việc
“bê tông hóa” cảnh quan thiên nhiên này không chỉ làm biến đổi cảnh quan mà còn làm mất đi nguồn tài nguyên cho loại hình du lịch xanh.” Thực tế cho thấy có
rất nhiều địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng đang phải đối mặt với vấn đề này, ví
dụ như Vịnh Hạ Long với hai công trình xây dựng tại hang Tiên Ông và động MêCung, đảo Phú Quốc với các bãi biển đang ngày càng bị bê tông hóa, hay hồ TuyềnLâm ở Đà Lạt liên tục mọc những công trình không phép, Có thể thấy đây là mộtvấn đề hết sức nan giải trong việc phát triển du lịch xanh ở Việt Nam
Thách thức thứ ba mà thạc sĩ đưa ra chính là nằm ở ý thức của người
dân Thạc sĩ nhận định: “Việc người dân chưa có hiểu biết nhiều về du lịch xanh cũng như cách ứng xử có trách nhiệm khi đi du lịch cũng là thách thức lớn đối với việc phát triển loại hình du lịch xanh.” Thạc sĩ đưa ra ví dụ cụ thể: “Chúng ta dễ dàng tìm thấy rất nhiều rác thải tại vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên (cho dù cơ quan quản lý đã kiểm soát hành trang của khách trước khi vào vườn) hay chúng ta dễ dàng tìm thấy một cổng nước thải trực tiếp ra biển tại Mũi Né, ” Quả thật, ý thức
khách du lịch đóng vai trò rất lớn trong việc xây dựng thành công một chuyến dulịch xanh Để mô hình dịch vụ Du lịch Xanh có thể tiếp cận được với du khách thìchúng ta phải nâng cao được nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việcbảo vệ môi trường, từ đó mới có thể cho họ thấy được mặt tích cực của mô hìnhdịch vụ này là gì và đưa ra lý do thuyết phục họ lựa chọn dịch vụ này
Không chỉ có vậy, thạc sĩ còn đề cập đến một vấn đề mà du lịch Việt
Nam gặp phải: “Khái niệm sức tải ở một điểm du lịch chưa được tính một cách bài bản trong quy hoạch các điểm đến tại Việt Nam.” Theo thạc sĩ, điều này làm cho
việc xây dựng hạ tầng phục vụ cho du lịch trở nên không đồng bộ, thống nhất, nhiềunơi hạ tầng không đạt tiêu chuẩn; hệ thống thùng rác, nhà vệ sinh công cộng, hệ
thống nước sạch, “chỗ có chỗ không” Chính vì vậy mà bên tổ chức du lịch cũng
“khó có thể hướng dẫn khách ứng xử theo yêu cầu của du lịch xanh.”
Thách thức cuối cùng trong việc phát triển loại hình du lịch xanh mà thạc
sĩ muốn chia sẻ đó là: “giá của một chuyến du lịch xanh thường khá/cao” Vấn đề
này là khó khăn chủ đạo của một vài phân khúc khách du lịch, đặc biệt là giới trẻ những đối tượng thường có thu nhập thấp hoặc vẫn còn phụ thuộc tài chính vào giađình Đây cũng là một thách thức rất lớn cho những doanh nghiệp muốn kinh doanhloại hình du lịch xanh mà nhắm vào phân khúc khách hàng này
Trang 29-Cũng giống như khó khăn và thách thức, việc nắm bắt và phân tích cơhội sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn về loại hình mà mình muốn khai tháccũng như thị trường mục tiêu mà mình muốn hướng đến, đồng thời việc phân tích
cơ hội còn giúp cho doanh nghiệp chớp lấy thời cơ đúng lúc Khi được hỏi về cơ hội
của loại hình du lịch xanh ở Việt Nam, thạc sĩ Dương Ngọc Thắng cho rằng: “Sự gia tăng ý thức bảo vệ môi trường trong vài năm gần đây là cơ hội chính để phát triển loại hình du lịch này.” Khi môi trường bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng,
các phương tiện truyền thông, báo chí đưa tin về việc con người tác động xấu đếnmôi trường ngày càng nhiều thì dân chúng dễ dàng ý thức được hiện trạng của môitrường và họ cảm nhận rõ rệt được không khí, nguồn nước ngày càng xấu đi nên cácphong trào bảo vệ môi trường ra đời nhiều hơn: ngày trái đất, kêu gọi tiết giảm dùng
đồ nhựa… Một loại hình du lịch thân thiện với môi trường như du lịch xanh nếu cóchiến dịch truyền thông phù hợp cũng sẽ nhận được thị hiếu ủng hộ của nhiềungười, đặc biệt là sinh viên - những người trí thức cao
Thạc sĩ cũng cho biết thêm: “Khái niệm Du lịch xanh ở Việt Nam vẫn còn mới nên sẽ dễ tạo ra sản phẩm đặc thù cho du khách Ví dụ tour Sơn Đoòng do công ty Oxalis thực hiện.”
Đối với một loại hình du lịch còn khá non trẻ như Du lịch xanh, nhóm rấtmuốn tìm hiểu thêm ý kiến của chuyên gia về việc nên xây dựng loại hình kinh này
như thế nào ở Việt Nam Khi được hỏi câu hỏi này, thạc sĩ cho hay: “Việc phát triển
loại hình du lịch này ở Việt Nam hiện tại là khá khó khăn khi các thách thức vốn nhiều hơn thuận lợi và cơ hội.” Một trong những khó khăn khiến du lịch xanh vẫn
chưa phát triển ở Việt Nam đó chính là do khách hàng vẫn chưa hiểu biết nhiều về
du lịch xanh cũng như ứng xử có trách nhiệm khi đi du lịch Chính vì vậy mà ông
đề xuất: “Trước mắt chúng ta cần lồng ghép cách ứng xử của du lịch xanh vào các chương trình du lịch để giáo dục khách hàng làm quen với nó, và sau vài năm có thể phát triển mạnh hơn loại hình này.” Ngoài ra, thạc sĩ còn đề xuất thiết kế những
chương trình tour 1 ngày dành cho các học sinh, sinh viên Những chương trình nàykhông chỉ giúp nhóm thanh thiếu niên và vị thành niên nâng cao ý thức cũng nhưtrách nhiệm với môi trường mà còn tạo nên thị trường khách hàng tiềm năng trongtương lai
1.2.2/ Kết quả phỏng vấn với nhóm:
Khi được hỏi về xu hướng du lịch hiện tại của bản thân, một số bạn sinhviên với bản chất thích tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ đã lựa chọn nhữngloại hình du lịch với mang chất khám phá và tự trải nghiệm Ví dụ như bạn G (20tuổi, UEH) cho biết mình thích loại hình du lịch sinh thái, hay chị P (22 tuổi,NTTU) thì thích đi du lịch tham quan kiểu tự túc, Tuy nhiên, loại hình được cácbạn lựa chọn nhiều nhất vẫn là loại hình du lịch nghỉ dưỡng (5/9 bạn) Theo nhưbạn H (20 tuổi, UEH), bạn thích đi nghỉ dưỡng cùng gia đình, hay như chị D (21tuổi, UEH), thì thích kiểu du lịch nghỉ dưỡng được ngắm cảnh, nghỉ ngơi, ăn uống
Trang 30Điểm chung là hoạt động du lịch của các bạn phần lớn là nghỉ ngơi, ngắm cảnh,chụp ảnh Có bạn thích đi du lịch cùng gia đình, cũng có bạn thích đi với bạn bè, điteambuilding
Gần đây, loại hình Du lịch xanh đang bắt đầu được chú trọng, nhómmuốn tìm hiểu quan điểm của các bạn sinh viên trong việc nhận định/hiểu thế nào
về khái niệm: DU LỊCH XANH
Các bạn trẻ là thế hệ năng động cũng đã tự nắm bắt được xu hướng dulịch xanh và có sự thông hiểu nhất định về nó Nhìn chung, các quan niệm thườngthấy về khái niệm “Du lịch xanh” là tìm về những địa điểm cảnh quan thiên nhiên,hành vi du lịch văn minh và giảm lượng rác thải khi đi du lịch Bạn T (19 tuổi,
UEH) cho biết “Mình hiểu du lịch xanh theo 2 hướng: Du lịch ở những vùng quê,
nông thôn, hay những vùng xa thành phố, về những nơi yên bình, với những hoạt động gần gũi với thiên nhiên, lối sống thư thái, về ở cùng dân (như kiểu mùa hè xanh) Du lịch theo những hình thức và sử dụng less plastic (giảm thiểu việc sử dụng nhựa), bảo vệ môi trường, như chuyến du lịch no plastic (không dùng nhựa),
no nilon (không dùng bao ni lông), chỉ sử dụng túi vải, đồ gỗ, ”
Ngoài ra, Bạn M.T (19 tuổi, UTE) cũng chia sẻ thêm quan niệm hiểu của
bạn về “Du lịch xanh” là: “Kiểu đi du lịch theo xu hướng bảo vệ môi trường, vừa đi
du lịch vừa gần gũi với thiên nhiên Các tổ chức mà tổ chức du lịch thì sẽ sử dụng những gì có sẵn trong thiên nhiên để thu hút khách, có thay đổi thì cũng phải giữ được vẻ đẹp thuần tự nhiên nhất của cảnh quan, chứ không được tác động làm hủy hoại hệ sinh thái, không vì lợi nhuận cao mà làm dự án này dự án nọ hỏng hết tài nguyên Giống như trên Bà Nà - Đà Nẵng xây dựng cái bàn tay, hay khai thác đảo
Lý Sơn làm nó không còn như ngày trước mình đã từng đi nữa.”
Khi được hỏi đến những vấn đề tiêu cực của ngành du lịch trong việc gây
ra các tác động xấu cho môi trường, các bạn sinh viên đã có những nhìn nhận như
sau Bạn P (22 tuổi, NTTU) chia sẻ: “Mình thấy rất đáng buồn trước vấn đề nhiều
du khách có hành động vô ý thức với môi trường” Bạn P cũng chia sẻ thêm về trải nghiệm đi Đà Lạt của mình gần đây:“Mình có dịp đi du lịch ở Đà Lạt tháng 12 vừa rồi và thấy cực kì thất vọng với những gì khách du lịch trả lại cho Đà Lạt chỉ toàn rác thải, đặc biệt là ở khu chợ đêm Đà Lạt.”
Đa phần các bạn đánh giá là thực trạng tiêu cực này xảy ra chủ yếu là do
ý thức và trình độ văn hóa của mỗi con người Bạn T (21 tuổi, UEH) đã nêu lên
quan điểm của mình: “Nếu khách du lịch là người học thức, có văn hóa cao thì họ
sẽ đi theo cách có ý thức bảo vệ môi trường hết mức có thể; còn những người đã kém văn hóa thì họ chỉ muốn thỏa mãn sự tận hưởng cho chính bản thân họ, đi đến đâu họ cũng sẽ phá hoại tài nguyên tới đó thôi.”
Trang 31Bạn M.T (19 tuổi, UTE) nói rõ quan điểm của bạn dựa trên hai cách nhìnnhận ngành du lịch lữ hành: bạn cảm thấy ngành du lịch có nhiều mặt tích cực hơntiêu cực, do du lịch đem lại giá trị kinh tế cao Nhưng đối với những mặt tiêu cực,
bạn thẳng thắn nêu ý kiến: “Việc lạm dụng khai thác tài nguyên quá mức làm nó không còn chất xanh của cảnh quan tự nhiên, hay việc khách tham quan du lịch không có ý thức, Tất cả đều có ảnh hưởng xấu đến môi trường và không thể chấp nhận được”
Khi được hỏi đến vấn đề cá nhân người phỏng vấn đánh giá như thế nào
về sự xuất hiện của mô hình Du lịch xanh, mọi người đều đồng ý rằng loại hình dulịch này sẽ là một yếu tố tích cực cho môi trường vì những lý do: thân thiện với môitrường; giảm thiểu được rác thải do du khách vô ý thức mang tới; và hạn chế đượctác hại do lạm dụng khai thác tài nguyên, làm biến chất cảnh quan vốn có bởi ngành du lịch lữ hành hiện tại gây ra Với quan điểm của K (20 tuổi, FTU2) , bạn
cho rằng: “Sự xuất hiện của mô hình du lịch xanh là một hình thức mà mình có thể lường trước được khi đứng trước sự suy thoái môi trường Với mô hình này tuy được cho là sự sửa chữa tác hại mà con người đem lại, nhưng nó khá tốt và an toàn
vì đã đáp ứng được nhu cầu của con người và làm dịu đi cơn nổi giận của thiên nhiên Mình cho rằng đây là sự hợp tác win-win giữa con người và môi trường đáng được phát huy mạnh mẽ.” Bạn P (22 tuổi, NTTU) cũng chia sẻ: “Trước những gì mình chứng kiến ở Đà Lạt thì mình hoàn toàn rất ủng hộ sự xuất hiện của
mô hình du lịch xanh Sự xuất hiện của mô hình này chắc chắn là một dấu hiệu tích cực cho môi trường bởi vì nhu cầu du lịch của con người ngày càng cao, nếu tình trạng không có ý thức với môi trường khi tham quan du lịch còn tiếp diễn như thế này thì sau này chúng ta đi đâu cũng sẽ chỉ toàn rác chứ không còn là nơi để du lịch nữa.”
Một số người tham gia phỏng vấn nhận xét mô hình du lịch xanh còn khámới, chưa được nhiều người biết tới nhưng rất có tiềm năng vì nó khai thác được sựquan tâm, ý thức bảo vệ môi trường và đồng thời đánh được vào nhu cầu đi du lịchcủa bạn trẻ Việt Nam - là thích đi đến những nơi cảnh quan thiên nhiên, có cảnh vậtđẹp, yên bình và mát mẻ Về việc cung cấp mô hình dịch vụ du lịch này thì chị T
(21 tuổi, UEH) có nhận định: “Mặc dù chị thấy cái gì mà đưa vô thương mại rồi thì
nó cũng không hẳn là tốt, nhưng chắc chắn không phải xấu Miễn là nó làm cho mọi người có ý thức hơn khi đi du lịch và giảm thiểu được những mặt tiêu cực của ngành du lịch hiện tại thì nó là dấu hiệu rất tích cực, đáng ủng hộ.” Và bạn T (19 tuổi, UTE) cũng chia sẻ quan điểm với loại hình dịch vụ này rằng: “Xu hướng du lịch xanh không những có lợi cho môi trường mà còn tăng thêm kinh tế cho ngành
du lịch Có thể xem sự xuất hiện của du lịch xanh là một giải pháp để hạn chế sự tiêu cực của ngành du lịch, nhưng mà nếu ý thức con người vẫn còn kém thì chưa chắc nó sẽ giải quyết được tốt thực trạng trên Mình kì vọng mô hình du lịch này sẽ tốt và mình sẽ ủng hộ.”
Trang 32Bên cạnh đó, chị D (21 tuổi, UEH) có quan điểm nhìn nhận mô hình này
có vẻ chưa thực sự phù hợp với các bạn trẻ yêu thích tự do, chị nói rằng: “Do trước giờ chị chỉ tự lên kế hoạch với bạn bè rồi tự đi, tụi chị cũng tự ý thức là không được làm ô nhiễm môi trường; nên chị thấy mô hình đi du lịch xanh này sẽ hợp với những người thích đi theo tour, hoặc theo một lộ trình, mô hình nào đó hơn Có thể
là phù hợp với những người lớn, mặc dù chị để ý thấy ý thức bảo vệ môi trường của
họ kém hơn của giới trẻ thanh niên hiện nay Nếu đánh vào nhóm người lớn thì chắc phải dùng marketing chi phí thấp mới có thể thu hút được.”
Đa số mọi người đều sẽ đồng ý tham gia mô hình dịch vụ này khi có cơhội Chị D (21 tuổi, UTE) đưa ra ý kiến rằng chị thấy mô hình này rất hay và ýnghĩa, tuy nhiên cá nhân chị D, dựa vào những trải nghiệm của mình, chị vẫn muốnlựa chọn đi tự túc, tự thân vận động hơn Chị T (21 tuổi, UEH) cũng có cùng quan
điểm với chị D: “Chị sẽ ủng hộ mô hình kinh doanh này, tuy nhiên nếu mà có điều kiện chị vẫn sẽ thích đi tự túc hơn”
Với sự đa dạng trong nhận thức về Du lịch xanh cũng như xu hướng dulịch, nhóm rất muốn tìm hiểu về một chuyến du lịch xanh lý tưởng của mỗi bạn sinhviên là như thế nào Mỗi người có một nhu cầu du lịch khác nhau, tuy nhiên khiđược hỏi đến mọi người đều mong muốn ưu tiên chữ “xanh” trong chuyến du lịchcủa mình
Những chuyến du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, gần gũi với thiên nhiên,tránh xa nơi đông người và khói bụi thành phố là chuyến đi lý tưởng được tất cả các
bạn được phỏng vấn nghĩ đến Chị D (21 tuổi – UEH) chia sẻ: “Chuyến đi du lịch xanh lý tưởng của chị là đi đến nơi lạ có cảnh đẹp thiệt xanh và yên bình, để chị có cảm giác thư giãn; tránh nơi bon chen đông người và tránh gặp những người vô ý thức Chị không đòi hỏi quá nhiều về một dịch vụ du lịch phải sang trọng, nhưng nó phải đem lại cho chị đúng nghĩa đi du lịch và thư giãn”.
Bên cạnh những chuyến đi để thư giãn, khám giá thì chuyến đi du lịchxanh của một vài bạn còn gắn liền với các hoạt động bảo vệ môi trường và nói
không với hành vi phá hoại Bạn T (20 tuổi – ULSA2) chia sẻ: “Mình muốn đi du lịch sinh thái đồng thời tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường như nhặt rác trên bãi biển, ko xả rác bừa bãi ” Hay như chuyến đi du lịch xanh lý tưởng của bạn H (20 tuổi – UEH) là: “ tour du lịch xanh đậm chất thiên nhiên trong lành sạch đẹp, có các hành động văn minh như không xả rác, không bẻ cành hái cây hay chọc phá động vật khi đến các vườn quốc gia, các khu nghỉ dưỡng sinh thái, khách
du lịch như bọn mình có thể cùng nhau tham gia dọn rác, trồng cây, ”
Đồng thời, mong muốn sự xuất hiện của những sản phẩm “xanh” không
có hại với môi trường cũng được các bạn đề cập đến trong chuyến đi của mình Chị
P (22 tuổi – NTTU) cho rằng: “Tour du lịch xanh nên có những chính sách bảo vệ môi trường, ví dụ như khuyến khích khách du lịch nên sử dụng túi vải, túi du lịch, vali, khi đi du lịch, tránh sử dụng và đem theo túi nilon thải ra môi trường”
Trang 33Và cũng không khó hiểu khi tài chính còn là vấn đề phải suy xét kỹlưỡng đối với các bạn sinh viên mỗi lúc đưa ra lựa chọn, với nỗi lo ngại của mình
bạn M.T thổ lộ rằng: “ mình không thể chi tiêu quá nhiều vào những chuyến đi và đòi hỏi nhiều thứ từ đó Vì vậy, chuyến đi lý tưởng của mình sẽ đơn giản, miễn cho mình cơ hội khám phá nhiều vẻ đẹp thiên nhiên, ẩm thực và văn hóa con người đó đây là được
2 Thiết kế nghiên cứu định lượng
2.1/ Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.1.1/ Số mẫu:
Với đề tài “Nghiên cứu về nhận thức và sự quan tâm về loại hình Du lịchxanh của sinh viên đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, nhóm quyết địnhlấy số lượng mẫu là 400 phân phối cho 6 trường đại học như sau:
Tên trường Đại học Số lượng mẫu
Đối với đề tài nghiên cứu này, nhóm đã chọn mẫu bằng hai phương pháp:
2.1.2.1/ Phương pháp chọn mẫu theo cụm (chùm):
Khi tiến hành tính số đơn vị mẫu để có thể suy ra cho tổng thể, nhóm gặpkhó khăn trong việc tìm kiếm và xác định tổng thể số sinh viên tại toàn thành phố
Hồ Chí Minh cũng như danh sách số sinh viên của mỗi trường từ nguồn đáng tincậy Hơn nữa, việc tiếp cận sinh viên trên toàn thành phố Hồ Chí Minh là hết sứckhó khăn Vì vậy, nhóm chọn phương pháp nghiên cứu theo chùm (cụm)
Phương pháp chọn mẫu theo chùm (cụm) là phương pháp hay được sử
dụng khi không có danh sách cá thể của quần thể Theo phương pháp này, các đơn
vị của tổng thể chung được chia thành các cụm (chùm) với số lượng đơn vị có thểbằng không hoặc không bằng nhau Từ các cụm đó, người ta chọn ngẫu nhiên một
số cụm để điều tra Các đơn vị lúc này không phải là từng đơn vị lẻ tẻ mà là từngcụm đơn vị
Ưu điểm của phương pháp này giúp điều tra dễ và nhanh vì đối tượng
nghiên cứu được nhóm lại, nâng cao chất lượng giám sát và đảm bảo chất lượng số
Trang 34liệu; tiết kiệm kinh phí, thời gian Hạn chế của phương pháp này là tính chính xác
và tính đại diện thấp
Cụm 6 trường đại học được nhóm thực hiện phương pháp lựa chọn ngẫunhiên dựa vào tiêu chí “dân lập - công lập” của các trường là:
● Trường đại học Kinh Tế TPHCM
● Trường đại học Kiến trúc HCM
● Trường đại học Bách Khoa HCM
● Trường đại học Văn Lang
● Trường đại học Nguyễn Tất Thành
● Trường đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh
Đối với việc xác định số lượng sinh viên của mỗi trường, nhóm thực hiệntính toán dựa trên chỉ số tuyển sinh đầu vào của các trường nhân với số năm trườngđào tạo Thế nhưng khi nhận thấy sự khác biệt giữa số lượng năm đào tạo hệ chínhquy ở các trường đại học (có những ngành có 4 năm đào tạo; có những ngành có 3,5năm; thậm chí có những ngành kéo dài đến 6 năm), nhóm quyết định lựa chọnnhững sinh viên đang học năm một, năm hai, năm ba và năm bốn làm đối tượngkhảo sát Đây là số năm đào tạo phổ biến nhất ở các ngành
Như vậy, nhóm đã thực hiện phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theocụm 2 bước: chọn cụm (chọn 6 trường đại học) -> chọn cá thể trong cụm (chọn sinhviên năm nhất, năm hai, năm ba và năm tư)
2.1.2.2/ Phương pháp chọn mẫu phân tầng:
Sau khi đã chọn xác định được số khối khảo sát bằng phương phápnghiên cứu theo cụm, nhóm đã thực hiện phương pháp chọn mẫu phân tầng để xácđịnh số mẫu của mỗi khối
Phương pháp chọn mẫu phân tầng là phương pháp chia quần thể theo
một đặc tính cụ thể thành các nhóm/tầng Các cá thể trong mỗi tầng đồng nhất,nhưng không đồng nhất giữa các tầng Có thể áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên đơnhay chọn mẫu hệ thống ở mỗi tầng
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo mỗi nhóm đều có tính đại
diện trong tổng mẫu, mỗi nhóm đều được thống kê và so sánh, giảm sai số hệ thống
Hạn chế của phương pháp này là yêu cầu thông tin chính xác về tỷ lệ giữa các tầng
và chi phí để có được danh sách mỗi tầng
*Xác định số lượng tổng thể N (số lượng sinh viên đang học năm nhất,năm hai, năm ba, năm tư của các trường (dựa theo chỉ tiêu tuyển sinh trong 4 nămgần đây)):
Tên SL sinh viên SL sinh viên SL sinh SL sinh Tổng
Trang 35trường năm nhất năm hai viên năm
*Áp dụng chọn mẫu phân tầng cho kỹ thuật chọn mẫu:
● Bước 1: Phân chia tổng thể thành các nhóm theo một tiêu thức haynhiều tiêu thức có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu (ở đây là phânchia ra 6 trường đại học được chọn ở phương pháp nghiên cứu theocụm)
● Bước 2: Trong từng tổ, dùng cách chọn ngẫu nhiên đơn giản Đối vớichọn mẫu phân tầng, số đơn vị chọn ra ở mỗi nhóm có thể tuân theo
tỷ lệ số đơn vị nhóm đó chiếm trong tổng thể
Cỡ mẫu được phân phối cho 6 trường đại học dựa theo tỷ lệ số sinh viên
cả năm một và năm hai theo công thức:
Trang 36Số sinh viên năm một, năm hai, năm ba và năm tư của 1 trường x 400
Số sinh viên năm một, năm hai, năm ba và năm tư của 6 trường
VD: Số sinh viên của năm nhất và năm hai của UEH là 20 000 người
Số mẫu tại UEH = 20 000 x 400
Bảng 3 3: Số lượng sinh viên các trường và số mẫu ở các trường
Chia đều số mẫu cần khảo sát ở mỗi trường cho bốn năm đào tạo, ta có
cụ thể số mẫu cần khảo sát ở mỗi năm của từng trường là:
Trường Số mẫu cần khảo sát ở mỗi
trường Số mẫu cần khảo sát ở mỗi năm
Bảng 3 4: Số mẫu cần khảo sát ở mỗi năm của mỗi trường
2.1.2.3/ Phương pháp chọn mẫu phi xác suất quả bóng lăn:
Là phương pháp chọn ngẫu nhiên những người phỏng vấn ban đầu,những người tiếp theo được chọn dựa trên sự giới thiệu của người trước Cách chọnmẫu “nhờ giới thiệu” này có thể có sai lệch vì những người được giới thiệu
ra thường có một số đặc điểm tương đồng về nhân khẩu học hay tâm lý, sở thích
Do đó, phương pháp này chỉ được sử dụng khi các phần tử mẫu mà chúng ta muốnnghiên cứu rất khó tìm, khó tiếp cận
Trang 37Trong quá trình nhóm triển khai đi khảo sát các nhóm phần tử mẫu theo 2phương pháp trên, nhóm gặp khó khăn trong việc tiếp cận mẫu, không đạt được đủchỉ tiêu theo số mẫu mà phương pháp chọn mẫu phân tầng yêu cầu Do đó, nhóm đãlinh hoạt kết hợp thêm phương pháp chọn mẫu phi xác suất quả bóng lăn để đảmbảo đủ số lượng mẫu thu về.
2.2/ Phương pháp tiếp cận mẫu:
Vì các đối tượng mà nhóm thực hiện nghiên cứu định lượng là sinh viênđến từ 6 trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đây là nhóm đốitượng trẻ, có tần suất truy cập vào các trang mạng xã hội cao, hơn nữa, thời điểmthực hiện nghiên cứu khảo sát đang bùng phát dịch bệnh nCovi Vậy nên nhómnghiên cứu quyết định sẽ thực hiện khảo sát chủ yếu bằng phương pháp Onlinesurveys (khảo sát trực tuyến)
Nhóm sẽ tạo một bảng biểu mẫu câu hỏi online bằng Google form, sau đó
sẽ gửi link biểu mẫu khảo sát này lên những nhóm sinh viên các trường (GroupFacebook) trên mạng xã hội Facebook để kêu gọi các đối tượng tham gia khảo sát.Đối với những trường không có Group hoặc không đạt được hiệu suất khi đăng bàitrên Group, nhóm sẽ tiếp cận trên các trang Fanpage, các diễn đàn sinh viên và trựctiếp nhắn tin qua Messenger cho từng người để kêu gọi sự hỗ trợ tham gia khảo sát
từ họ, đồng thời nhờ họ giới thiệu cho bạn bè làm cùng
Link form câu hỏi khảo sát: http://bit.ly/khaosatdulichxanh
Link bằng chứng tiếp cận mẫu: 5g30DzqT2FIVD4f14ha6YfOZcH9qp4F?
https://drive.google.com/drive/u/0/folders/1-
fbclid=IwAR3yVZDtGBYAkCd0T2Pqc4uJU-cqDDq7eD1sET03IDFxpA9LUgEVa2_dJf4
2.3/ Bảng câu hỏi khảo sát:
Xin chào tất cả các bạn, chúng mình là nhóm sinh viên đến từ Đại học Kinh
tế TP HCM hiện đang thực hiện nghiên cứu cho bộ môn Nghiên cứu Marketing
Chúng mình giả lập là công ty tổ chức dịch vụ mảng ngành Du lịch lữ hành.Hiện tại, chúng mình đang thực hiện phần nghiên cứu thị trường nhằm mục đích tìmhiểu sâu hơn về xu hướng và nhu cầu đi du lịch hiện tại của mọi người cũng nhưnhận thức và sự quan tâm của mọi người đối với loại hình Du lịch xanh, từ đó có cơ
sở phát triển chiến lược Marketing cho loại hình dịch vụ Du lịch xanh
Rất mong các bạn giúp chúng mình trả lời khảo sát này, những câu trả lờicủa các bạn chính là những ý kiến, dữ liệu quý giá để nhóm chúng mình có thể hoànthành tốt bài nghiên cứu này Chúng mình cam đoan những thông tin mọi người trảlời cho bài cho bài khảo sát chỉ phục vụ cho bài luận này
Rất mong nhận được sự giúp đỡ từ các bạn và cảm ơn mọi người rất nhiều!
Trang 38BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
STT CÂU HỎI THAN
G ĐO
NGUỒN GỐC
mục tiêu của bài nghiên cứu là sinh viên Mẫu cá thể được chọncho phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm/ nhóm là: Sinh viên năm 1 và năm2
2 Q: Bạn đang học tập tại trường:
A Trường đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
B Trường đại học Bách Khoa TP Hồ Chí
Minh
C Trường đại học Kiến Trúc TP Hồ Chí
Minh
D Trường đại học Văn Lang
E Trường đại học Nguyễn Tất Thành
F Trường đại học Ngoại Ngữ - Tin học TP
Hồ Chí Minh
G Khác (Ngừng khảo sát)
Địnhdanh Giới hạn địa
bàn khảo sát chỉ ở 6 nhóm/cụm trường
để đại diện cho tổng thể sinh viên trên địa bàn TP
Đối tượng mẫu nghiên cứu được chia
ra 2 nhóm: sinh viên
Trang 39đang học tập
ở thành phố
Hồ Chí Minh
đã từng đi du lịch và sinh viên đang họctập ở thành phố Hồ Chí Minh chưa từng đi du lịch
Mục đích: Khai thác được thông tin từ hai nhóm khách hàng tiềm năng khác nhau, đánh giá được sự khác biệt giữa
2 nhóm đối tượng
PHẦN II: CÂU HỎI VỀ XU HƯỚNG, SỞ THÍCH, NHU CẦU DU LỊCH
Phần này nhằm khảo sát xu hướng, nhu cầu du lịch chung của sinh viên đã từng trải nghiệm đi du lịch Chúng tôi nhìn nhận: đối với sinh viên đã từng trải nghiệm du lịch, dựa vào kinh nghiệm sẽ có những xu hướng, hành vi khác với sinh viên chưa từng đi du lịch bao giờ Do đó, chúng tôi quyết định chia mẫu đối tượng nghiên cứu thành 2 nhóm để khảo sát, thu thập dữ liệu cho phần xu hướng,
sở thích, nhu cầu nhằm thu được dữ liệu chính xác hơn
4 Q: Tần suất trung bình bạn đi du lịch trong vòng
1 năm là bao nhiêu lần?
như kinh nghiệm đi du lịch của sinh viên có ảnh hưởng đến quyết định
Trang 40lựa chọn loại hình du lịch không
5 Q: Bạn thường đi du lịch theo hình thức nào?
A Tự túc (Tự thiết kế chuyến đi, không nhất
thiết là đi một mình)
B Đi theo dịch vụ tổ chức Tour
C Đi tự túc nhưng theo đoàn lớn (ví dụ hoạt
động team building của các tổ chức, đi
theo gia đình, vv)
A Khác (Vui lòng nêu rõ)
Địnhdanh Dựa vào thông tin thu
thập ở nghiên cứu định tính
để phát triển câu hỏi.Câu hỏi nhằmtìm hiểu hình thức du lịch đang được ưa chuộng nhất ởcác bạn sinh viên
6 Q: Các loại hình du lịch bạn thường đi là: (có thể
Câu hỏi và đáp án được dựa trên kết quả nghiên cứu định tính
- phỏng vấn Nhóm
Câu hỏi nhằmtìm hiểu xu hướng lựa chọn loại hình
du lịch của sinh viên
7 Q: Bạn thường có xu hướng đi du lịch đến những
hướng lựa chọn đia điểm
du lịch của sinh viên, từ
đó bổ trợ cho việc xây dựngloại hình dịch
vụ Du lịch