Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù.” Như vậy, bản chất của CSR là quan điểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tươn
Trang 1CHỦ ĐỀ 3: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
-CORPORATE SOCIAL RESPONSIBILITY-CSR
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR Mỗi tổ chức, công ty, chính phủ nhìn nhận CSR dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình
độ phát trển của mình
Keith Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ” Trong khi đó, Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định.” Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù.” Như vậy, bản chất của CSR là quan điểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tương quan với vai trò của nhà nước khiến khái niệm CSR luôn biến đổi, luôn mới tùy thuộc không những phạm vi không gian và còn thời gian nơi cuộc tranh luận CSR diễn ra
Theo hội đồng Thương mại Thế giới định nghĩa: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết việc ứng xử một cách hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng địa phương và toàn xã hội nói chung
Theo ngân hàng thế giới: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng theo cách có lợi cho doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội Khác biệt giữa trách nhiệm xã hội và đạo đức trong kinh doanh:
Trang 2Đạo đức kinh doanh Trách nhiệm xã hội
Những quy định và các tiêu
chuẩn chỉ đạo hành vi trong
giới kinh doanh
Các quy định phẩm chất đạo
đức của tổ chức kinh doanh,
ảnh hưởng đến quá trình ra
quyết định của tổ chức
Liên quan đến các nguyên
tắc và quy định chỉ đạo những
quyết định của cá nhân và tổ
chức
Mong muốn, kỳ vọng xuất
phát từ bên trong
ĐĐKD là quy tắc ứng xử của
DN trong KD
Nghĩa vụ doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đạt mặt tích cực và giảm tiêu cực
Xem như cam kết với xã hội
Quan tâm đến hậu quả của các quyết định của tổ chức tới xã hội
Mong muốn kỳ vọng xuất phòng từ bên ngoài
TNXH là cam kết của DN đối với xã hội
Những tranh luận về khái niệm CSR:
Kể từ khi xuất hiện khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility- CSR) lần đầu tiên vào năm 1953, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trường phái quản trị “đại diện”( Milton Friedman) và “đa bên” trong quản trị công ty; trên bình diện lớn hơn, đây là sự tranh chấp giữa chủ nghĩa tư bản tự do (bảo thủ, cánh hữu) và chủ nghĩa tư bản xã hội (dân chủ, cánh tả) Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn đề then chốt trong CSR là: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện đại, và (ii) mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp- xã hội- nhà nước
Trang 3Quản trị đại diện: người quản lý doanh nghiệp (thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc) là những người đại diện cho chủ sở hữu/ cổ đông đứng ra quản lý công ty
Họ được bầu hoặc được thuê để dẫn dắt công ty theo cách mà các cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội cơ bản vốn đã được thể hiện trong luật và các nguyên tắc đạo đức phổ biến Đó chính là bản chất vì- lợi nhuận (for-profit) của doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là người chủ sở hữu công ty đã lựa chọn họ để làm đại diện Hơn nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận Chỉ có nhà nước mới
có đủ thông tin để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nước là đóng góp thuế Và trách nhiệm của nhà nước là làm sao sử dụng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng Như vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp Từ quan điểm này, trường phái phản đối CSR cho rằng các chương trình của doanh nghiệp lấy tên “trách nhiệm xã hội” chỉ là những chương trình PR đạo đức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì- lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi
Quản trị đa bên: DN khi hoạt động có sử dụng nguồn lực XH và môi trường DN phải có ý thức và chịu trách nhiệm về hành vi của mình CSR chính là lực cản cuối cùng giữ DN không vì lợi nhuận mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức
CSR đã trở nên phổ biến Nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR Trong số đó, mô hình “kim tự tháp” của A Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất
Hình 1 Mô hình “kim tự tháp” CSR của Carroll về các nghĩa vụ trong trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp
Trang 4Hình 2: Mô hình carol phiên bản tiếng việt
NHÂN VĂN ĐẠO ĐỨC PHÁP LÝ KINH TẾ
Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện (nhân văn)
(i) Nghĩa vụ kinh tế- tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội
Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải đ ư ợ c đặt lên hàng đầu Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp
Trang 5 Đối với những chủ tài sản: nghĩa vụ kinh tế của một tổ chức là bảo tồn và phát triển các giá trị và tài sản được ủy thác
Với mọi đối tượng liên quan, nghĩa vụ kinh tế của DN là mang lại lợi ích tối
đa và công bằng cho họ
Đối với người tiêu dùng:
cung cấp hàng hóa và dịch vụ, chất lượng, an toàn sản phẩm,
định giá, thông tin về sản phẩm…
Đối với người lao động:
tạo việc làm với mức lương tương xứng
Cải thiện điều kiện làm việc
Thực hiện các chính sách theo hướng dẫn chung cuả chính phủ
(ii) nghĩa vụ tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của CSR
Đòi hỏi tổ chức, DN tuân thủ đầy đủ các quy định của luật pháp
Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong các bộ luật Dân sự và Hình sự, được quy định trong luật pháp liên quan đến 5 khía cạnh:
1 Điều tiết cạnh tranh
2 Bảo vệ người tiêu dùng
3 Bảo vệ môi trường
4 An toàn và bình đẳng
5 Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
(iii) nghĩa vụ đ ạ o đ ứ c là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”, đúng- sai không rõ ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật Cho
Trang 6nên, tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu
mà xã hội đặt ra Doanh nghiệp còn cần phải thể hiện rõ thông qua những nguyên tắc
và giá trị đạo đức được tôn trọng, trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của một tổ chức, công ty Việc tạo lập bầu không khí đạo đức đúng đắn trong tổ chức có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức của mỗi thành viên
(iv) Nghĩa vụ nhân văn là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động
Mô hình trên có tính toàn diện và khả thi cao, có thể được sử dụng làm khuôn khổ cho tư duy chính sách của nhà nước về CSR
Thứ hai, việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng không những thỏa mãn cả nhu cầu về lý thuyết “đại diện” trong quản trị công ty, mà còn giải quyết được những hoài nghi về tính trung thực trong các chương trình CSR của doanh nghiệp Từ đó, vấn đề
“vì mình” hay “vì người” không còn được đặt ra nữa, bởi hai mục đích đó là không thể tách rời
Thứ ba, ranh giới giữa các tầng trong “kim tự tháp” là luôn chồng lấn, tác động bành trướng lẫn nhau Việc tuân thủ quy định pháp luật chắc chắn đưa đến các chi phí kinh tế cho doanh nghiệp Và quy tắc đạo đức xã hội ngoài luật luôn mở rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ thống pháp luật, bắt buộc các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội
Những doanh nghiệp (DN) mong muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng v.v
Người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng
Trang 7 Những DN không tuân thủ CSR có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế
Từ năm 2005, nước ta đã có giải thưởng "CSR hướng tới sự phát triển bền vững" được tổ chức bởi Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhằm tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác CSR trong bối cảnh hội nhập
Do đó lợi ích của việc thực hiện CSR:
Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín công ty
tạo ra ưu thế trong cạnh tranh kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài
cải thiện quan hệ trong công việc: khách hàng và các đối tác
tăng năng suất lao động
tăng doanh thu
giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, thu hút lao động giỏi
thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới
giảm bớt tai nạn trong lao động
CSR được giới thiệu vào nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam Các công ty này thường xây dựng được các bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực văn hóa kinh doanh có tính phổ quát để có thể áp dụng trên nhiều địa bàn thị trường khác nhau Do đó, các nội dung CSR được các công ty nước ngòai thực hiện có bài bản và đạt hiệu quả cao Có thể lấy một số ví dụ nổi bật như chương trình “Tôi yêu Việt Nam” của công ty Honda -Vietnam; chương trình giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ em tại các tỉnh miền núi của công ty Unilever; chương trình đạo tạo tin học Topic64 của Microsoft, Qualcomm và HP; chương trình hỗ trợ phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh và ủng hộ nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ của VinaCapital, Samsung; chương trình khôi phục thị lực cho trẻ em nghèo của Western Union…
Đối với doanh nghiệp trong nước, các công ty xuất khẩu có lẽ là đối tượng đầu tiên tiếp cận với CSR Hầu hết các đơn hàng từ châu Âu- Mỹ- Nhật đều đòi hỏi các doanh nghiệp may mặc, giày dép phải áp dụng chế độ lao động tốt (tiêu chuẩn SA8000) hay đảm bảo an tòan vệ sinh thực phẩm (đối với các xí nghiệp thủy sản) Ngoài ra,
Trang 8nhiều công ty tư nhân trong nước nắm bắt vấn đề CSR khá nhạy bén Một số công ty chủ động thực hiện CSR và tạo được hình ảnh tốt đối với công chúng như các tập đoàn Mai Linh, Tân Tạo, Duy Lợi, ACB, Sacombank, Kinh Đô
Tuy nhiên có một số doanh nghiệp đã đưa CSR vào chiến lược kinh doanh của mình Tiêu biểu là những chương trình xã hội như ‘6 triệu ly sữa cho trẻ em Việt Nam’
và quỹ học bổng ‘Đèn đom đóm’ của những thương hiệu lớn như Vinamilk, Dutch Lady gây được tiếng vang và được người tiêu dùng ủng hộ
Thực trạng CSR tại Việt Nam có những hạn chế sau:
1) Nhận thức về khái niệm CSR còn hạn chế trên nhiều mặt
Trách nhiệm với người tiêu dùng
Trách nhiệm với môi trường
Vấn đề sở hữu trí tuệ (Intellectual property)
Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động
Nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp với các nhà đầu tư…
DN và dư luận có chiều hướng đánh đồng hoạt động từ thiện với CSR
Ý thức bảo vệ cộng đồng, môi trường, ý thức tự bảo vệ quyền lợi của người dân còn thấp
2) DN chưa thấy được lợi ích cốt lõi từ việc thực hiện CSR đem lại Năng suất bị ảnh
hưởng khi phải thực hiện đồng thời nhiều bộ Qui tắc ứng xử (Code of Conduct - CoC )
3) Hệ thống văn bản pháp luật chưa theo kịp với thực tiễn phát triễn kinh tế đất nước
Ngay cả khi các quy định pháp luật có đủ nhưng tính thực thi hiệu lực của pháp luật vẫn còn quá thấp
Thiếu sự hỗ trợ của chính quyền Cơ chế khiếu kiện dân sự ở VN hầu như rất ít được sử dụng
Vai trò của các hiệp hội còn rất mờ nhạt trong việc bảo vệ lợi ích cho người dân 4) Thiếu nguồn tài chính để thực hiện
Cần tăng cường thông tin, tuyên truyền để mọi người hiểu đúng bản chất của vấn
đề “Trách nhiệm xã hội”
Trang 9 Cần có các nghiên cứu cơ bản, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp đã thực hiện
và sẽ thực hiện các bộ quy tắc ứng xử
Hình thành kênh thông tin về trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp
Tôn vinh các DN thực hiện tốt CSR và xử phạt đúng các DN vi phạm
Doanh nghiệp hay cá nhân đóng thuế cần được tôn vinh Vinh dự đi đôi với trách nhiệm và ngược lại Cần có những bảng xếp hạng các doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cao nhất, các cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân nhiều nhất
Họ xứng đáng nhận được sự vinh danh của xã hội
Nhà nước tập trung hòan thiện luật và tính hiệu lực trong thực thi luật Các trách nhiệm ngòai luật (đạo đức, từ thiện), cơ chế tự nguyện cần được khuyến khích vì đó là sự tương tác giữa doanh nghiệp và xã hội Nhà nước chỉ nên gián tiếp tác động thông qua các cơ chế như hiệp hội, mạng lưới cộng đồng, giáo dục, nâng cao ý thức người dân.Ở nước ta, mỗi khi có những vụ vi phạm đạo đức kinh doanh, ô nhiễm môi trường xảy ra, người ta thường
đổ tất cả tội lỗi cho doanh nghiệp Tuy nhiên, như đã được bàn đến, doanh nghiệp nào cũng phải lấy lợi ích làm nền tảng, do đó họ luôn có khuynh hướng tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận Trong bối cảnh khung khổ pháp luật không chặt chẽ, thống nhất, hệ thống thực thi pháp luật bị buộc lỏng, kém hiệu lực và người dân ở trong tình trạng yếu thế, không có kiến thức và công cụ để bảo vệ lợi ích của cộng đồng như hiện nay, thì nhà nước thực chất vô tình tạo ra môi trường tốt để các công ty lợi dụng và coi nhẹ trách nhiệm xã hội của mình Muốn đảm bảo CSR, nhà nước cần phải khuyến khích và phát triển các cơ chế “xã hội dân sự” nghĩa là nâng cao tiếng nói của người dân ở địa phương đối với doanh nghiệp Điều đó có nghĩa tạo ra cơ chế xã hội đủ sức mạnh để giám sát CSR
Về Môi trường:
Khuyến khích doanh nghiệp nếu họ đáp ứng được các tiêu chí về bảo vệ môi trường như đưa ra ưu đãi về thuế nếu doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng hoặc thải ít khí các-bon ra môi trường trong quá trình sản xuất
Khi Chính phủ mua sắm sẽ ưu tiên các doanh nghiệp có nhiều đóng góp về trách nhiệm xã hội
Xây dựng cơ chế mới đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư mua sắm những máy móc, thiết bị mới thân thiện với môi trường để kiểm soát và hạn chế mức độ khói bụi, nước thải thải ra môi trường cũng như trong các khu dân cư v.v
Trang 10 Cần xây dựng các trạm xử lý nước thải, hệ thống xử lý khí thải, chất thải rắn, nhất
là trong các khu công nghiệp
Về Người Lao Động:
CSR trước hết cần được thực hiện với nhân viên và nên bắt đầu bằng những việc cơ bản như tạo các điều kiện làm việc tốt, giảm bớt độc hại, nóng bức, đóng bảo hiểm
xã hội và y tế cho nhân viên
Tiến thêm một bước, doanh nghiệp cần thực hiện nghiên cứu và phân khúc nhu cầu của nhân viên để đáp ứng tốt hơn
Doanh nghiệp cần đảm bảo một môi trường làm việc an toàn, lành mạnh
Doanh nghiệp phải phổ biến kiến thức ngành và các nguy hiểm có thể xảy ra cho người lao động
Khách hàng và nhà cung cấp:
Chính doanh nghiệp phải bảo đảm thương hiệu của mình bằng cách duy trì chất lượng, tính ổn định của chất lượng sản phẩm, dịch vụ không vượt ra khỏi các quy định của pháp luật
Doanh nghiệp phải đảm bảo chữ “ tín” trong kinh doanh Không quảng cáo quá sự thật