1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), vai trò và ứng dụng trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô tại việt nam

165 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỷ Giá Hối Đoái Thực Đa Phương (REER), Vai Trò Và Ứng Dụng Trong Công Tác Điều Hành Kinh Tế Vĩ Mô Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Vĩ Mô
Thể loại Luận Án
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 823,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế mở khi mộtquốc gia tham gia vào hoạt động thương mại và thực hiện các giao dịch vớimột số quốc gia khác thì việc cần có một chỉ số phản ánh giá trị chung củađồng nội tệ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của Luận án

Chính sách tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong điều hành kinh

tế vĩ mô của một quốc gia và tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ quantrọng nhất của quá trình này Về lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giátương đối giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Trong nền kinh tế mở khi mộtquốc gia tham gia vào hoạt động thương mại và thực hiện các giao dịch vớimột số quốc gia khác thì việc cần có một chỉ số phản ánh giá trị chung củađồng nội tệ của quốc gia đó so với một rổ tiền tệ của các nước đối tác thươngmại - tỷ giá hối đoái đa phương- trở nên rất cần thiết Tỷ giá hối đoái đaphương danh nghĩa (NEER) được tính dựa trên cơ sở này là tỷ giá giữa đồngnội tệ với một rổ các đồng tiền của các nước khác lấy quyền số là tỷ trọngthương mại hoặc thanh toán quốc tế của nước đó với các nước đối tác Trên

cơ sở đó, tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) được tính dựa trên NEERsau khi loại bỏ yếu tố lạm phát Để trả lời câu hỏi một đồng tiền có bị định giáquá cao hay quá thấp hay không - mức sai lệch của tỷ giá, người ta phải xácđịnh được mức cân bằng của tỷ giá, hay tỷ giá hối đoái cân bằng của đồngtiền đó So sánh REER với tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ cho thấy mức độ sailệch tỷ giá – phản ánh đồng tiền đang xem xét được định giá quá cao hay quáthấp làm cơ sở để điều chỉnh tỷ giá là phá giá hay nâng giá đồng tiền

Sai lệch tỷ giá là vấn đề được nhiều nghiên cứu đề cập đến trong nhữngnăm gần đây, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đang tìm hướng đi cho mình

để ổn định, phát triển kinh tế, góp phần ổn định nền kinh tế toàn cầu Nhiềunghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, sai lệch tỷ giá có thể gây ra những bất ổn

Trang 2

cho nền kinh tế: Thứ nhất, sai lệch tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp tới giá hàng hóa

có thể tham gia thương mại quốc tế và khu vực xuất nhập khẩu, tác động tớikhả năng cạnh tranh của khu vực này với phần còn lại của thế giới; Thứ hai,sai lệch tỷ giá có thể ảnh hưởng tới đầu tư trong nước và nước ngoài, do đóảnh hưởng tới quá trình tích lũy vốn; Thứ ba, mức sai lệch tỷ giá càng lớn thìcàng có ảnh hưởng không tốt tới tăng trưởng kinh tế như biến động về điềukiện thương mại, tỷ giá danh nghĩa, mức cung ứng tiền, năng suất lao động…

Do đó, việc xác định và ứng dụng REER để xác định mức sai lệch tỷ giá có ýnghĩa quan trọng trong điều hành tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô

Ở thời điểm nghiên cứu sinh đề xuất Luận án này và khi Luận án đượcphê duyệt (năm 2015) thì ở Việt Nam chưa sử dụng NEER, REER và tỷ giá hốiđoái cân bằng phổ biến trong công tác điều hành tỷ giá mà phần lớn chỉ

dựa vào điều hành tỷ giá hối đoái song phương, chủ yếu là giữa tiền đồng vàđồng đô la Mỹ (USD) (điều này có thể dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá khôngphù hợp với điều kiện vĩ mô cụ thể dẫn đến những sai lầm trong điều hànhtrong điều hành kinh tế vĩ mô và gây ra những hệ lụy cho nền kinh tế) Từnăm 2016 đến nay, NHNN đã áp dụng tỷ giá hối đoái trung tâm - neo VNDtheo một rổ tiền tệ gồm 8 đồng tiền - đã giúp cho thị trường tiền tệ ít xáo trộnhơn, diễn biến tỷ giá không biến động mạnh như trước, song nhiều quan điểmcho thấy tỷ giá trung tâm vẫn còn cứng nhắc và trên thực tế vẫn neo vào USD

là chủ yếu1 Hơn thế nữa, cách tính toán tỷ giá trung tâm và tỷ trọng của từngđồng tiền trong rổ tiền tệ chưa được công bố khiến cho các cơ quan có vai tròquan trọng trong điều phối kinh tế vĩ mô không thể tham khảo để có thể đánhgiá mức độ tác động thực sự của những biến động của các đồng

1 Trích nguồn: Trần Thị Thanh Huyền (2018) "Chính sách tỷ giá hối đoái trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế".

Trang 3

tiền trên thế giới tới giá của tiền đồng (hay còn được gọi là VND) và tới nềnkinh tế Việt Nam, đồng thời doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc dự báo tỷgiá để đưa ra kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, là nền kinh tế nhỏ và có độ

mở cao nên Việt nam chịu tác động ngày càng lớn từ những biến động củakinh tế thế giới (đặc biệt là những biến động của chính sách tài chính tiền tệcủa các nước là đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam), chính sách tỷ giá cóthể trở nên thiếu phù hợp khi chính sách này chủ yếu nặng về quản lý tỷ giáhối đoái song phương danh nghĩa, thiếu các phân tích và đánh giá thườngxuyên về REER và tỷ giá hối đoái cân bằng, mức độ sai lệch về tỷ giá và đánhgiá tác động của các sai lệch tỷ giá này đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tăngtrưởng, lạm phát, xuất khẩu, nhập khẩu, Trong khi đó, trong bối cảnh việchoán đổi tiền tệ giữa VND với đồng tiền của nhiều nước đã và đang trở thành

xu hướng nổi trội, việc áp dụng một rổ 8 đồng tiền có thể cần được mở rộnghơn nữa để đảm bảo tính chính xác, khách quan phù hợp với xu thế hội nhậpquốc tế, hội nhập tài chính của Việt Nam đang ngày càng sâu rộng và tỷ trọngthương mại của Việt Nam với các nước và vùng, lãnh thổ đang có nhiều thayđổi

Trong phát triển kinh tế thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô có ý nghĩa, vai tròquan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt là mối quan hệ gắn kết chặt chẽ vớităng trưởng kinh tế Ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là kiểm soát lạm phát, ổn địnhgiá trị đồng tiền sẽ tạo điều kiện thuận lợi để duy trì trật tự và thúc đẩy đầu tư,sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại,tăng trưởng kinh tế tạo nền tảng cho ổn định vĩ mô thông qua bảo đảm các cânđối lớn của nền kinh tế như cân đối hàng tiền, tiết kiệm đầu tư; thu chi ngân sáchnhà nước, xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán, việc làm, thu nhập và bảo đảm an

Trang 4

sinh xã hội Có thể nhận thấy những biến động của tỷ giá hối đoái thường rấtđược quan tâm, cả cho những tín hiệu mà chúng chứa đựng về triển vọng lạmphát trong tương lai và cho cả ý nghĩa của chúng về mức độ cạnh tranh củadoanh nghiệp Tuy nhiên, những biến động của tỷ giá hối đoái song phương, ví

dụ VND so với USD và EUR, không truyền tải đủ thông tin cho các nhà hoạchđịnh chính sách hoặc cho các doanh nghiệp ngoại trừ các khoản giao dịch songphương cụ thể Trong khi đó, tỷ giá hối đoái đa phương đo lường giá VND sovới một rổ các đồng tiền của các đối tác thương mại của Việt Nam cung cấpthông tin đầy đủ hơn cho các nhà hoạch định chính sách Những biến động về tỷgiá hối đoái tác động tới một số biến kinh tế vĩ mô quan trọng, trong đó quantrọng nhất là thương mại, lạm phát trong nước, tăng trưởng GDP,

Do đó, việc nghiên cứu, ứng dụng REER nhằm xem xét mức độ sai lệch

về tỷ giá đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có ý nghĩa và vai trò quan trọngtrong công tác hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tỷgiá của Việt Nam nói riêng vì nó không chỉ giúp Chính phủ, hệ thống cácNgân hàng Việt Nam có được những thông tin quan trọng về hiện trạng cũngnhư tương lai VND, từ đó có những chính sách điều chỉnh phù hợp với điềukiện kinh tế vĩ mô cụ thể, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế của ViệtNam ngày càng sâu rộng

Hiện có nhiều nghiên cứu về tỷ giá hối đoái đa phương và các ứng dụng tỷgiá đa phương để xác định tỷ giá cân bằng và sai lệch tỷ giá ở Việt Nam, songtheo nhận thức của Nghiên cứu sinh, một số nghiên cứu hiện nay còn hạn chế về

số liệu và tần suất số liệu, lựa chọn mô hình và biến số, do đó kết quả từ một sốnghiên cứu hiện còn chưa thực sự thuyết phục Đặc biệt là, chưa có nhiều nghiêncứu đề cập đến việc ứng dụng tỷ giá hối đoái thực đa phương đến công tác điềuhành kinh tế vĩ mô, bao gồm việc đánh giá các nhân tố quyết định và mức độ sailệch trong điều hành tỷ giá, tác động của sai lệch tỷ giá tới các

Trang 5

chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam - đánh giá khả năng ứng dụng tỷ giá REERtrong công tác điều hành tỷ giá và kinh tế vĩ mô của Việt Nam Tất cả nhữngđiều này có thể sẽ được xem xét và giải quyết trong Luận án này.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực đa phương

(REER), vai trò và ứng dụng trong nền kinh tế vĩ mô nói chung; đánh giá khảnăng ứng dụng trong nền kinh tế Việt Nam

Mục tiêu cụ thể:

- Tính toán tỷ giá hối đoái thực đa phương, ước lượng tỷ giá cân bằngcủa Việt Nam giai đoạn 2000-2020 để xem xét hiệu quả và mức độ phù hợp củacác chính sách tỷ giá với điều kiện kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong

giai đoạn này

- Tính toán mức sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động của sai lệch này đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu;

- Đánh giá khả năng ứng dụng của tỷ giá hối đoái thực đa phương trongđiều hành tỷ giá phục vụ công tác điều hành vĩ mô của Chính phủ

Luận án hướng vào trả lời 5 câu hỏi nghiên cứu sau:

(1) Có những loại tỷ giá nào và loại tỷ giá hối đoái nào được áp dụng trongđiều hành chính sách tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô theo thông lệ quốc tế?

(2) Việt Nam đã thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái kể từ năm 2000 -

Trang 6

3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tỷ giá hối đoái thực đa phương;

vai trò và khả năng ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ

mô của Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, xem xét vai trò, xác định, đánh

giá tỷ giá hối đoái đa phương của Việt Nam; ước lượng tỷ giá cân bằng vàứng dụng tỷ giá thực đa phương để xác định mức sai lệch tỷ giá đến kinh tế vĩ

mô của Việt Nam, giới hạn ở một số chỉ tiêu vĩ mô chủ yếu như tăng trưởng,lạm phát, cán cân thương mại

Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu theo quý bắt đầu từ quý I/2000

-thời điểm Việt Nam bắt đầu ký Hiệp định Thương mại Việt Nam – Mỹ vàcũng là thời điểm khởi đầu giai đoạn nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộngvới thế giới - được cập nhật cho đến quý IV/2020

- Về không gian: Luận án nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực đa phương, tỷ

giá cân bằng, sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động đến một số chỉ tiêu kinh tế

vĩ mô của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

- Cách tiếp cận nghiên cứu của Luận án

Chính sách tỷ giá hối đoái có một vai trò quan trọng trong điều hành kinh tế

vĩ mô của một quốc gia Biến động về tỷ giá hối đoái có tác động tới một số biến

số kinh tế vĩ mô quan trọng, trong đó quan trọng nhất là thương mại, lạm pháttrong nước, tăng trưởng GDP, Luận án sử dụng cách tiếp cận đối tượng nghiêncứu trên cơ sở tiếp cận của kinh tế phát triển nhằm ước lượng tỷ giá hối đoái đaphương, tỷ giá cân bằng, ứng dụng xác định mức sai lệch tỷ giá, đánh giá sai lệch

tỷ giá đến kinh tế vĩ mô - hay nói cách khác là ứng dụng tỷ giá đa

Trang 7

phương trong điều hành tỷ giá và kinh tế vĩ mô của Việt Nam Các phân tích,ước lượng, đánh giá được Luận án thực hiện một cách độc lập để ước lượng tỷgiá REER, tỷ giá cân bằng, ứng dụng tỷ giá REER xác định sai lệch tỷ giá vàxem xét khả năng ứng dụng tỷ giá đa phương trong điều hành chính sách tỷgiá và kinh tế vĩ mô bằng phương pháp định lượng Từ đó đưa ra một số đềxuất kiến nghị chính sách.

- Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng

Phương pháp định tính được sử dụng bao gồm phương pháp tổng hợp,phân tích dữ liệu theo chuỗi thời gian theo quý hoặc năm; phương pháp thống

kê số liệu; phương pháp lịch sử và logic Phương pháp định tính được sử dụngchủ yếu trong phần phân tích đánh giá về chính sách tỷ giá trong giai đoạn2000-2020

Phương pháp định lượng bao gồm: (i) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số(VECM) để ước lượng tỷ giá hối đoái cân bằng, mức độ sai lệch tỷ giá, (ii) sửdụng mô hình kinh tế lượng toàn cầu (NIGEM)) đánh giá tác động của sailệch tỷ giá tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2000-2020 vàđánh giá khả năng ứng dụng tỷ giá hối đoái thực đa phương trong điều hành

vĩ mô, dựa trên số liệu quý hoặc năm từ các nguồn như Tổng cục Thống kê(GSO), IMF hoặc cơ sở dữ liệu mô hình kinh tế lượng toàn cầu NiGEM

Trang 8

- Khung phân tích của Luận án:

Câu hỏi

nghiên cứu

Các giả định

Nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu thực tế (dữ liệu, số liệu)

Xác định thông tin cần bổ sung

Cơ sở lý luận và thực tiễn về tỷ giá

phương, tỷ giá cân bằng và sai lệch tỷ giá

Thực trạng điều hành tỷ giá hối đoái và tỷ giá đa phương của Việt Nam

Xây dựng mô hình kinh tế lượng

Ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ mô và một số kiến nghị chính sách

5 Những đóng góp mới của Luận án

Để thực hiện các mục đích nghiên cứu, Luận án đã tính toán tỷ giá REER

ở Việt Nam giai đoạn 2000-2020 Tuy nhiên, khác với một số nghiên cứu trongnước hiện có, trong công thức tính REER, Luận án tính tỷ trọng thương mạiphân tách theo tỷ trọng theo KNXK, KNNK hàng hóa và dịch vụ thay vì theotổng KNXNK hàng hóa của Việt Nam với các nước đối tác như nghiên cứu củaUBKTQH và UNDP (2012) Việc thực hiện phân tách theo tỷ trọng hàng hóa vàdịch vụ sẽ phản ánh đầy đủ và chính xác hơn giá trị thương mại thực tế của ViệtNam với các nước đối tác thương mại, đặc biệt trong bối cảnh giá trị thương mạidịch vụ đang có vai trò ngày càng tăng trong tổng giá trị thương mại của ViệtNam với thế giới Trong đó, tỷ giá thực đa phương được tính theo

Trang 9

quý, từ quý I/2000 đến quý IV/2020, dựa trên rổ tiền tệ gồm 32 đồng tiền thuộc

50 đối tác thương mại chính của Việt Nam với tỷ trọng thương mại chiếm đến98% giá trị thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2020 (một số nghiên cứu

trước đây lựa chọn số lượng đồng tiền của các đối tác chiếm khoảng 70% giátrị thương mại của Việt Nam)

Luận án thực hiện ước lượng tỷ giá cân bằng của Việt Nam trên cơ sởkhảo cứu các phương pháp tính tỷ giá cân bằng đang được áp dụng trên thếgiới hiện nay, phân tích các ưu, nhược điểm của từng phương pháp, từ đó lựachọn phương pháp, mô hình và các biến phù hợp với Việt Nam để áp dụngước lượng tỷ giá cân bẳng, ứng dụng tỷ giá REER và tỷ giá cân bằng để ướclượng sai lệch tỷ giá của Việt Nam

Sau khi xác định được mức sai lệch tỷ giá, Luận án thực hiện đánh giáđịnh lượng tác động của sai lệch này đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nhưlạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu thông qua mô phỏng các tác động nàybằng việc sử dụng mô hình kinh tế lượng (NIGEM) và đánh giá khả năng ứngdụng của tỷ giá thực đa phương trong điều hành tỷ giá phục vụ công tác điềuhành vĩ mô của Chính phủ Đây chính là điểm đóng góp mới quan trọng củaLuận án so với các công trình nghiên cứu hiện có

Trên cơ sở các kết quả thu được, Luận án đã đề xuất áp dụng tỷ giáREER trong công tác điều hành tỷ giá và kinh tế vĩ mô trong thời gian tới

6 Kết cấu của Luận án

Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận án bao gồm 4 Chương sau:

Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tỷ giá thực đa phương vàcác ứng dụng;

Chương II: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái thực đa phương và chính sách tỷ giá;

Chương III: Thực trạng công tác điều hành chính sách tỷ giá và tỷ giá thực đa phương của Việt Nam giai đoạn 2000-2020;

Chương IV: Ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ

mô Việt Nam và một số kiến nghị chính sách

Trang 10

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỶ GIÁ THỰC ĐA

PHƯƠNG VÀ CÁC ỨNG DỤNG

Phần tổng quan nghiên cứu của Luận án đi sâu khảo cứu các mảng vấn

đề chính liên quan đến các nội dung mà Luận án sẽ thực hiện: mối quan hệ tácđộng của tỷ giá hối đoái và các chỉ số kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạmphát, xuất nhập khẩu); tỷ giá hối đoái đa phương và các phương pháp ướclượng; tỷ giá cân bằng và các mô hình ước lượng tỷ giá cân bằng; sai lệch tỷgiá và tác động của sai lệch tỷ giá đến kinh tế vĩ mô Trên cơ sở tổng quan về

lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứutrong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề kể trên, phần cuối Chương I rút

ra các hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu, những điểm có thể kế thừa vànhững vấn đề cần đi sâu nghiên cứu trong Luận án

1.1 Tỷ giá hối đoái thực đa phương và phương pháp ước lượng

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

Cơ sở lý thuyết và phương pháp tính tỷ giá đa phương được đưa ra bởi các

tổ chức tài chính quốc tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thếgiới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sau đó được côngnhận, thống nhất rộng rãi và mở rộng phát triển trong các nghiên cứu ứng dụngthực nghiệm Theo IMF, về lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đốigiữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Khi một quốc gia tham gia vào hoạt độngthương mại và thực hiện các giao dịch khác với một số quốc gia khác, đặc biệt lànền kinh tế có độ mở cao thì cần xây dựng một chỉ số chung phản ánh giá trịchung của đồng tiền được tính dựa trên các tỷ giá song phương và mức độthương mại giữa nước này so với một rổ tiền tệ của các nước đối tác thương mại,

đó là tỷ giá hối đoái đa phương (hay còn được gọi là tỷ giá hối

Trang 11

đoái hiệu quả hay hữu hiệu) OECD (2010) cho rằng tỷ giá hối đoái đaphương danh nghĩa (NEER) được tính dựa trên cơ sở này là tỷ giá giữa đồngnội tệ của một nước với một rổ đồng tiền của các nước khác lấy quyền số là tỷtrọng thương mại hoặc thanh toán quốc tế Tỷ giá hối đoái thực đa phương(REER) được tính dựa trên NEER sau khi loại bỏ yếu tố lạm phát.

Dựa trên cơ sở lý thuyết này, các nghiên cứu đã tiếp tục phát triển và mởrộng trong ứng dụng tính toán REER

Ray Barrell và cộng sự (2005) cho rằng trong bối cảnh các nền kinh tế

mở cửa, cạnh tranh và phải tính đến ảnh hưởng của thị trường thứ 3, việc tínhREER có thể trở nên khó khăn hơn khi thiếu dữ liệu để tính trọng số của mỗiquốc gia Trong một số nghiên cứu trước đây, khi số liệu về trọng số thươngmại của nước chủ nhà không được thống kê đầy đủ hoặc thiếu, các nghiên cứuthường lấy tỷ trọng thương mại hiện hành thay thế Tuy nhiên, Hinkle và cộng

sự (1999) cho rằng việc sử dụng trọng số thương mại hiện hành có thể làmgiảm vấn đề của việc thay đổi về cấu trúc thương mại nên được sử dụng chonghiên cứu chính sách

Tổng quan nghiên cứu cho thấy có 2 phương pháp tính trung bình trọng

số, bao gồm phương pháp tính theo tổng và tích Luci Ellis (2001) mô tả 2phương pháp tính trung bình trọng số trong ước lượng tỷ giá đa phương, theo

đó phương pháp tính trung bình tổng được mô tả như sau:

= ∑

=1

Trong đó:

là tỷ giá hối đoái đa phương ở thời điểm t,

là tỷ trọng thương mại của các đối tác thương mại,

là tỷ giá hối đoái song phương giữa nước chủ nhà và các đối tácthương mại,

Trang 12

N là số đối tác thương mại.

Trong phương pháp tính trung bình trọng số theo tích, tỷ giá hối đoái đaphương được tính như sau:

= ∏ =1

Theo Luci Ellis (2001) và Ibrahim (2012) phương pháp tính bình quântrọng số theo tổng mặc dù đã khá quen thuộc nhưng có một số lý do về thống

kê và lý thuyết cho thấy phương pháp tính theo tổng còn một số bất cập vàhạn chế Luci Ellis (2001) cho rằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của các chỉ số khitính theo phương pháp trung bình tổng có thể sẽ chênh lệch về mức độ phụthuộc vào việc các tỷ giá hối đoái song phương được biểu thị theo đơn vị nội

tệ trên đơn vị ngoại tệ, hoặc ngược lại Đồng thời, chỉ số tỷ giá hối đoái dựavào phương pháp tổng cũng có thể sẽ bị sai lệch lớn khi chu kỳ gốc bị thayđổi Trong khi đó, với phương pháp tính trung bình tích, tất cả những điều này

sẽ được giải quyết khi phương pháp này thực hiện tính phần trăm thay đổi củacác chỉ số một cách đối xứng (Rosensweig (1987) Ngoài ra, logarit của trungbình tích chính là trung bình cộng của giá trị log các tỷ giá song phương Tínhnăng hữu ích này của phương pháp tích làm đơn giản hóa nhiều mô hình kinh

tế lượng thông qua việc biểu diễn tuyến tính trong logarit Những ưu điểm củaphương pháp tính bình quân gia quyền trong ước lượng tỷ giá thực songphương bằng phương pháp tích đã khiến phương pháp này được ưa chuộng sửdụng hơn trong các nghiên cứu thực nghiệm và ở các NHTW trên thế giới.Phương pháp này cũng được Luận án áp dụng trong phần tính tỷ giá thực đaphương ở Chương III của Luận án nhờ các đặc điểm ưu việt ở trên

Bên cạnh đó, ngoài yếu tố CPI, các nhà nghiên cứu còn sử dụng nhiều chỉ

số khác để đại diện cho mức giá cả ở một quốc gia bao gồm: (i) Chỉ số giá cả củariêng hàng hóa thương mại; (ii) Tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu

Trang 13

và chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu (được biết với tên gọi là điều kiện thươngmại (Clark và MacDonald, 1998; Zhang, 2002; Jongwanich, 2009); (iii) Chỉ

số giá nhân công lao động; (iv) Tỷ lệ giữa chỉ số giá cả của hàng hóa thươngmại và hàng hóa không tham gia thương mại; (v) Chỉ số giảm phát GDP haychỉ số giá bán buôn (Lim, 2000)

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã tính toán REER theo công thức đượccông bố từ các tổ chức quốc tế trên Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) đã tính toán hai chỉ

số NEER và REER theo năm cho giai đoạn 2000-2010 theo 10 đối tác

thương mại chính của Việt Nam; Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009)

đã ước lượng 2 chỉ số này cả theo số liệu năm giai đoạn 1992-2007 và số liệutháng giai đoạn tháng 1/1995 đến tháng 12/2007 với rổ tiền tệ của 25 đối tácthương mại chính của Việt Nam với quyền số là tỷ trọng thương mại theo nămcho cả hai chuỗi số liệu năm và tháng Các nghiên cứu trong nước cũng đã sửdụng tỷ trọng thương mại để tính trọng số đồng tiền, như nghiên cứu của VũQuốc Huy và cộng sự (2012) trong khuôn khổ tài trợ của Uỷ ban Kinh tế Quốchội và Tổ chức UNDP (sau đây viết tắt là UBKTQH và UNDP (2012)) đã sửdụng tổng KNXNK hàng hóa của Việt Nam với 20 nước đối tác khác nhau.Nghiên cứu này đã lần đầu tiên tính toán được tỷ giá thực đa phương của ViệtNam, mức sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động đến chỉ tiêu xuất khẩu trên cơ sở

sử dụng các số liệu khá cập nhật, chi tiết hơn cả về tần suất thời gian và khônggian so với các nghiên cứu trước đây, sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giáảnh hưởng của tỷ giá đối với các sản phẩm xuất khẩu theo danh mục quốc tế(195 mặt hàng theo mã SITC 3 chữ số và trên 90 mặt hàng theo mã HS 2 chữ sốtrên 4 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, Khu vực Eurozone(gồm 15 nước), Nhật Bản và Hàn Quốc Mặc dù có khác nhau về tần suất và thờigian sử dụng, các chỉ số NEER và REER do các nghiên

Trang 14

cứu trong nước tính được phần nào đã cho thấy kết quả nhận định tương đốithống nhất ở một số giai đoạn: chẳng hạn như sự mất giá thực tế trong giaiđoạn 2000-2013; sự lên giá thực giai đoạn 2004-2007 (Nguyễn Thị Thu Hằng

và cộng sự (2010) Tuy nhiên, có thể do hạn chế về số liệu và tần suất số liệutrong các nghiên cứu hiện có, sự lựa chọn mô hình và biến số, kết quả từ một

số nghiên cứu có thể cho thấy những đánh giá thiếu tin cậy chẳng hạn kết quả

từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) và UBKTQH và UNDP(2012) đã kết luận đến cuối năm 2010 REER của Việt Nam vẫn cao hơn sovới năm 2003 đến hơn 20% Nghiên cứu của UBKTQH và UNDP (2012)) đã

có những khắc phục các hạn chế bằng cách tính lại các chỉ số với số liệu cótần suất cao hơn và phạm vi rộng hơn (theo tháng), lần đầu tiên đưa mức sailệch tỷ giá để xem xét song nghiên cứu này lại chỉ xem xét đến việc đánh giátác động của REER tới nhân tố xuất khẩu thông qua mô hình VECM, mà chưaxem xét đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế như tăng trưởng,nhập khẩu, lạm phát, và quan trọng hơn chưa thực hiện xem xét đánh giá cáctác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Kết quả của nghiêncứu đưa ra mức sai lệch lên đến 20% trong giai đoạn cuối năm 2010 cũng đãđược nghiên cứu này cho rằng cần phải kiểm tra và xem xét, bao gồm cả cácphân tích độ nhạy cảm của việc lựa chọn mô hình và các biến số

1.2 Mối quan hệ của tỷ giá hối đoái đối với một số chỉ số kinh tế vĩ mô

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

Hầu hết các nghiên cứu ngoài nước khẳng định tỷ giá hối đoái là công cụ

vĩ mô quan trọng để ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức lạm phát thấp và hệthống tài chính ổn định, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu và duytrì tăng trưởng kinh tế

Theo nguyên lý lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm, tỷ giá thay đổi sẽ ảnhhưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một

Trang 15

quốc gia Chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu đi kèm với hànhđộng phá giá đồng nội tệ luôn là trọng tâm được nhiều nghiên cứu và các nhàhoạch định chính sách các nước lưu tâm Các nghiên cứu kiểm chứng độ tin cậycủa giả thuyết liệu đồng nội tệ định giá thấp có khả năng trở thành con đườngphát triển thịnh vượng cho một quốc gia, bởi tỷ giá cho phép thay đổi sức cạnhtranh của các loại hàng hoá và dịch vụ do các nước sản xuất ra Thông thường,khi giá của đồng tiền của một nước giảm so với các đồng tiền khác, hàng xuấtkhẩu của nước đó trở nên rẻ hơn còn hàng hoá nhập khẩu lại trở nên đắt hơn mộtcách tương đối Nói cách khác, chính phủ duy trì đồng nội tệ được định giá thấp

là gián tiếp cấp ưu đãi cho xuất khẩu và là một khoản thuế cho nhập khẩu Hàngloạt các nghiên cứu như Kreinin (1967, 1973); Houthakker and Magee (1969);Khan (1974, 1975); Goldstein and Khan (1976, 1978); Wilson và Takacs (1979);Warner và Kreinin (1983); Haynes và Stone (1983); Bahmani - Oskooee (1986);Marquez (1990); Mah (1993) … là minh chứng rõ ràng nhất cho mối quan hệgiữa định giá thấp nội tệ và cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, có trườnghợp đặc biệt khi cán cân hàng hóa được cải thiện ở nước này nhưng lại khôngđược cải thiện ở nước khác

Các nghiên cứu cũng thống nhất về mối quan hệ trực tiếp giữa định giáthấp đồng nội tệ (đồng nội tệ không ở mức tỷ giá thực cân bằng) với tăngtrưởng kinh tế Hausman và các cộng sự (2005) xác định, đồng nội tệ định giáthực thấp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở 83 quốc gia phát triển và đang pháttriển trong giai đoạn 1960 - 2000 Levy-Yeyati và Sturzenegger (2009) chỉ rabằng chứng là các nước đang phát triển duy trì lượng dự trữ ngoại hối lớn đểcan thiệp duy trì nội tệ định giá thấp, khuyến khích tăng trưởng kinh tế

Rodrik (2008) đã lấy minh chứng từ các trường hợp Trung Quốc, Ấn Độ,Hàn Quốc và Đài Loan Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia và vùnglãnh thổ này tăng vào nửa cuối thập kỷ 70, tương ứng với thời kỳ nội tệ định

Trang 16

giá thấp với tỷ lệ mất giá nội tệ có lúc lên tới 50% Với trường hợp hai “conhổ” châu Á là Hàn Quốc và Đài Loan, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lạitrong giai đoạn đồng nội tệ định giá thực cao hoặc mức độ định giá thấp củađồng nội tệ giảm đi Theo quan điểm của Rodrik, trong nền kinh tế nhỏ, haikhu vực hàng hóa có thể tham gia thương mại quốc tế và không thể tham giathương mại quốc tế đều phải chịu các biến động thị trường khi giá thay đổi.Các biến động này có thể là từ chính sách, từ thất bại thị trường Tâm điểmcủa vấn đề là độ lớn tương đối của các biến động trong hai khu vực Nếu biếnđộng này ở khu vực có thể tham gia thương mại quốc tế càng lớn thì sẽ chiếm

tỷ trọng nhỏ ở mức cân bằng Một chính sách hay cú sốc ngoại sinh tạo ra sựgiảm giá nội tệ đều có thể kích thích tăng trưởng Chính vì thế, Rodrik nhấnmạnh là chiến lược phát triển kinh tế thông qua chính sách định giá thấp đồngnội tệ là chính sách tốt thứ hai cho các nước đang phát triển

Karadam D., và Özmen E (2011) đã sử dụng dữ liệu dạng bảng của một

số quốc gia phát triển khu vực Đông Á để chứng minh mối quan hệ giữa tỷgiá hối đoái đa phương và tăng trưởng của các nước này, các bằng chứng chothấy các nước châu Á đã có chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩunhờ duy trì chính sách tỷ giá hối đoái ổn định và cạnh tranh

M.M Habib, E Mileva, L Stracca (2017) đã giải thích mối quan hệ giữa

tỷ giá thực đa phương và tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở những nước có thu nhậpthấp và thu nhập trung bình trên thế giới (dưới 6.000 USD/người/năm) Quá trìnhtác động của tỷ giá hối đoái đa phương đến tốc độ tăng GDP được các tác giả giảithích qua sự phát triển thần kỳ của ngoại thương ở những nước

đang phát triển Jaeseok, Yue, Chengyan (2017); Bohl Martin (2015); Tang Bo(2014); Hadj Fraj, (2018); Arestis P, Baltar CT, (2018); Ribeiro, R.S.M., (2019)cũng thừa nhận tồn tại mối quan hệ dương giữa tỷ giá hối đoái đa phương và tốc

độ tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Trang 17

Liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với lạm phát, nhiều nghiêncứu khẳng định việc phá giá đồng tiền là nhân tố chính làm gia tăng lạm phát(Kamin, 1996) trong trường hợp nghiên cứu cho Mêhicô; Dornbusch và các cộng

sự (1990) trong nghiên cứu Achentina, Braxin, Pê ru, và Mê-hi-cô Tuy nhiên,các nghiên cứu khác cho rằng phá giá tiền tệ có ảnh hưởng đến lạm phát nhưngmức tác động không đáng kể (Dornbusch và cộng sự, 1990) trong nghiên cứutrường hợp Bôlivia; Kamas (1995) cho trường hợp của Cô lôm bia

Đối với kênh tác động của tỷ giá hối đoái đối với lạm phát, các nghiên cứucho rằng các thay đổi về tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến giá cả trong nướcthông qua tác động đến tổng cung và cầu Ở phía cung, tỷ giá có thể ảnh hưởngtrực tiếp đến lạm phát do ảnh hưởng đến giá mua hàng nhập khẩu của người muatrong nước Trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa, khi đồng tiền bị phá giá có thể dẫnđến giá nhập khẩu cao hơn và ngược lại Mặt khác, biến động tỷ giá hối đoáicũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến giá cả hàng hoá trong nước ở phía cung Cụthể là việc gia tăng chi phí nguyên liệu nhập khẩu đầu vào do phá giá tiền tệ sẽlàm tăng chi phí biên và dẫn tới tăng giá hàng hoá sản xuất trong nước (Hyderand Shah, 2004) Tỷ giá biến động cũng ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá thôngqua tác động đến tổng cầu Ở một phạm vi nhất định, việc giảm giá (hay tănggiá) đồng nội tệ sẽ làm tăng (hay giảm) nhu cầu của nước ngoài đối với các hànghoá và dịch vụ trong nước có thể gây ra việc tăng (hay giảm) trong xuất khẩuròng và do đó ảnh hưởng đến tổng cầu (Hyder and Shah, 2004)

Một số nghiên cứu đã tập trung vào đánh giá tác động của tỷ giá hối đoáithực với cả lạm phát và sản lượng đầu ra Klau (1998) đã tập trung nghiên cứumối quan hệ này với việc sử dụng dữ liệu của 22 nước cận Sahara trong giaiđoạn 1980-1996, kết quả nghiên cứu cho thấy việc điều chỉnh giảm tỷ giá thựclàm tăng cả lạm phát và sản lượng đầu ra Đồng thời phá giá đồng nội tệ có tácđộng tích cực đến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn Kamin và Rogers (2000)

Trang 18

trong trường hợp nghiên cứu các dữ liệu theo quý của Mê-hi-cô giai đoạn1981-1985 đã sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR) để ước lượng mốiquan hệ giữa tỷ giá hối đoái đa phương với lạm phát, tăng trưởng kinh tế vàlãi suất của Mỹ Nghiên cứu đã cho thấy mặc dù sự biến động của sản lượngđầu ra được giải thích chủ yếu bởi yếu tố đổi mới sáng tạo, việc phá giá đồngtiền vẫn dẫn tới giảm sản lượng kinh tế và tăng lạm phát ở Mê-hi-cô Odusola

và Akinlo (2001) đã sử dụng mô hình VAR với 6 biến số (tỷ giá chính thức,

tỷ giá song phương giá cả hàng hoá, thu nhập, cung tiền và lãi suất) chotrường hợp của Ni-giê-ria và các kết quả cho thấy có tác động 2 chiều của phágiá đồng tiền đến sản lượng: tác động hạn chế của phá giá đồng tiền tới sảnlượng có thể thấy trong quý đầu tiên, nhưng các quý tiếp theo có tác độngmạnh hơn Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ giá chính thức có thể làm giá cả giatăng đáng kể Các kết quả này hàm ý rằng việc sử dụng hệ thống tỷ giá linhhoạt không nhất thiết dẫn tới mở rộng sản lượng, đặc biệt trong ngắn hạn.Berument và Pasaogullari (2003) đã sử dụng mô hình VAR ước lượng mốiquan hệ giữa tỷ giá thực hiệu quả với lạm phát và tăng trưởng của Thổ Nhĩ

Kỳ, kết quả cho thấy sản lượng kinh tế bị ảnh hưởng tiêu cực sau khi đồngtiền bị mất giá, đồng thời mất giá tiền tệ cũng gây ra tình trạng lạm phát

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước đã khẳng định tỷ giá hối đoái có vai trò rấtquan trọng và tác động lớn đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Võ Trí Thành và đồng tác giả (2000) đã sử dụng phương trình hành vi đơngiản để đánh giá tác động của phá giá tỷ giá thực đến tăng trưởng, kết quả chothấy phá giá tỷ giá hối đoái thực có tác động tích cực (dù mức độ không ổn địnhtheo từng giai đoạn) đến tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn và dài hạn Một sốnghiên cứu khác đã sử dụng các phương pháp định lượng để đánh giá tác độngcủa tỷ giá đến các chỉ số kinh tế vĩ mô Nguyễn và Kaliarajan (2006) đã sử dụng

Trang 19

dữ liệu tháng giai đoạn 1991-1999 và phương pháp véc tơ tự hồi quy đánh giátác động của tỷ giá hối đoái hiệu quả đối với lạm phát ở Việt Nam, kết quảcho thấy tác động của phá giá tỷ giá danh nghĩa đối với lạm phát là tích cực,tuy nhiên tác động này không đáng kể.

Đầu năm 2000, nhiều nghiên cứu trong nước đã sử dụng các phươngpháp định lượng phức tạp hơn đánh giá tác động của tỷ giá đến các chỉ tiêukinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt là cán cân thương mại, lạm phát, tăng trưởng.Các nghiên cứu Võ Trí Thành và đồng tác giả (2000), Camen (2006) vàNguyễn Đức Thành và cộng sự (2009) cho thấy chính sách tỉ giá ổn định gópphần vào việc ổn định và giảm lạm phát, song tác giả cho rằng tác động nàychỉ mang tính chất cộng hưởng cho các tác động của chính sách tiền tệ đếnnền kinh tế chứ không có tác động mạnh mẽ trực tiếp đến lạm phát

Nguyễn Thanh Bình, Hồ Lê Nguyệt Cầm, Đỗ Trịnh Quỳnh Như (2019)nhận định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế có ý nghĩaquan trọng do tác động đáng kể đến giá cả thị trường trong nước, cán cânthương mại và sản lượng quốc gia Nghiên cứu này tập trung phản ánh tácđộng của tỷ giá hối đoái đa phương tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của 5 quốcgia trong khu vực ASEAN bao gồm: Việt Nam, Indonesia, Singapore,Philipines, Malaysia trong giai đoạn 1989-2018 thông qua phương pháp Prais-Winsten (PCSE) Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ dương giữa tỷ giá hốiđoái đa phương và tốc độ tăng GDP ở các nước đang phát triển, trong đó cóViệt Nam, cụ thể khi tỷ giá hối đoái đa phương tăng 1% sẽ có tác động tíchcực, làm tăng trưởng GDP của 5 quốc gia tăng 16,2%

Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷgiá hối đoái và lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 1992-2009 đã khẳng địnhgiữ ổn định tỷ giá có thể giúp tăng cường lòng tin vào đồng nội tệ, buộc Chínhphủ phải kiểm soát thâm hụt ngân sách và tốc độ tăng tín dụng và thông

Trang 20

qua đó tăng cường mức độ tin cậy vào chính sách của Chính phủ Khi những yếu

tố này được kiểm soát, lạm phát sẽ ổn định Đặc biệt, trong một nền kinh tế cómức độ “đô la hoá” cao như Việt Nam, khi nguy cơ lạm phát quay trở lại vàniềm tin vào VND giảm sút, người dân sẽ quay lưng lại với đồng nội tệ vàchuyển sang dự trữ vàng và USD để tiết kiệm và phòng thân Do đó, việc quản lý

tỷ giá có ảnh hưởng đến kiểm soát lạm phát vì tỷ giá không chỉ ảnh hưởng tớihàng hoá xuất nhập khẩu mà còn tới các hàng hoá nội địa nếu giá của chúngthường được tính bằng USD Mặc dù vậy, nghiên cứu này cũng cho rằng chỉ mộtmình chính sách tỷ giá không thể có hiệu quả trong chống lạm phát, ổn định tỷgiá không gắn với kiểm soát cung tiền và tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng nhưcác điều tiết vĩ mô nhằm kiểm soát tổng cầu thì cũng không thể giúp ngăn chặn

và kiểm soát lạm phát, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn luân chuyển tương đối

tự do Mặt khác, nếu tổng cầu và các chính sách tiền tệ được kiểm soát hợp lý thìviệc điều chỉnh tỷ giá theo thị trường không nhất thiết sẽ gây ra lạm phát Chính

sự lưỡng lự, không rõ ràng, không nhất quán trong chính sách tỷ giá mới dễ gây

ra kỳ vọng lạm phát và lạm phát thực tế ở kỳ sau nếu các chính sách kinh tế vĩ

mô không đi theo hướng kiểm soát lạm phát

Đối với mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, Nguyễn Thị ThuHằng (2010) cho rằng sự lên giá thực của VND trong giai đoạn nghiên cứu đãlàm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới.Nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả đối với nền kinh tế Việt Nam giaiđoạn 1992-2009 cho thấy tình hình nhập siêu của Việt Nam gắn kết khá chặt chẽvới biến động của tỷ giá thực tế Giai đoạn 1992-1996 tuy tỷ giá danh nghĩađược giữ tương đối ổn định nhưng do lạm phát của Việt Nam vẫn cao hơn nhiều

so với lạm phát ở Mỹ nên VND đã lên giá thực tế Gắn với quá trình lên giá này

là sự gia tăng liên tục của thâm hụt thương mại Giai đoạn từ 1997-2003 là giaiđoạn VND mất giá danh nghĩa và do lạm phát ở Việt Nam thấp, VND cũng

Trang 21

mất giá thực tế và gần như theo sát giá danh nghĩa, thâm hụt thương mại nhìnchung ở mức thấp nhưng bắt đầu tăng cao vào cuối giai đoạn khi tỷ giá thựcbắt đầu ngừng tăng Những năm gần đây, từ 2003 đến nay, đánh dấu sự lêngiá thực mạnh mẽ của VND do tỷ giá danh nghĩa được giữ tương đối cứngnhắc và sự mất giá danh nghĩa vào cuối năm 2008 và 2009 không bù đắpđược chênh lệch lớn về lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ Gắn liền với tìnhtrạng lên giá thực tế này là mức nhập siêu ngày càng lớn và kéo dài.

UBKTQH và UNDP (2012) đã cho thấy tỷ giá có ảnh hưởng lớn đếnxuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, tác động tích cực này phụ thuộc vào cả 2yếu tố: sản phẩm xuất khẩu và thị trường xuất khẩu Kết quả này khẳng địnhvai trò của công cụ tỷ giá trong việc thúc đẩy xuất khẩu

Nguyễn Thị Thùy Vinh và S Fujita (2007) đo lường mối tương quan giữa

tỷ giá hối đoái thực đa phương với tăng trưởng kinh tế và mức giá của Việt Namtrên cơ sở số liệu trong giai đoạn 1992-2005 với việc ứng dụng mô hình VAR đãcho thấy tỷ giá hối đoái có những tác động đáng kể đến sản lượng kinh tế và lạmphát, song mối quan hệ này thể hiện mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn khácnhau Trước năm 1999, khi cơ chế tỷ giá của Việt Nam chưa được điều chỉnhtheo cơ chế thị trường, tỷ giá không có tác động đến mức giá chung, chỉ có mứcgiá tác động đến tỷ giá Sau năm 1999, khi nền kinh tế thay đổi cơ chế xác định

tỷ giá tại Việt Nam thông qua việc cho phép các NHTM xác định tỷ giá giao dịchhàng ngày dựa trên tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố vào đầungày và biên độ dao động áp dụng cho từng thời kỳ thì tồn tại mối quan hệ 2chiều giữa tỷ giá và lạm phát và cả tăng trưởng kinh tế Mặc dù vậy, tỷ giá không

có tác động đáng kể đến lạm phát, chỉ có lạm phát tác động đáng kể đến tỷ giá.Các tác giả kết luận tác động của tỷ giá đến lạm phát không đơn giản vì trongmột nền kinh tế mở, tỷ giá thực ảnh hưởng đến giá cả tương đối giữa các hànghoá sản xuất trong nước và mặt hàng nhập khẩu Tỷ giá có

Trang 22

thể tác động trực tiếp đến lạm phát do việc thay đổi giá cả tính bằng đồng nội

tệ của các mặt hàng nhập khẩu và qua đó ảnh hưởng đến chỉ số giá cả Do đó,Việt Nam cần hướng tới một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn để ổn định kinh tế vĩ

mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn

1.3 Tỷ giá cân bằng và các mô hình ước lượng

1.3.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

- Các nền tảng lý thuyết chung về tỷ giá cân bằng và các phương pháp ước tính

Các mô hình ước tính tỷ giá cân bằng khác nhau trở nên phổ biến ở trênthế giới vào cuối những năm 1990 với sự ra đời của đồng Euro năm 1999 và

sự nổi lên của các nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông Âu Koen và cộng

sự (2001), Maeso-Fernandez và cộng sự (2002), và Detken và cộng sự (2002)

đã sử dụng các mô hình xác định tỷ giá cân bằng khác nhau để tìm hiểu cácnhân tố cấu thành cơ bản tác động đến đồng Euro và phân tích các phươngtrình hành vi của đồng tiền này Sâu hơn, Stein (2002) đã nghiên cứu việc mởrộng thành viên trong Liên minh châu Âu (EU) có ảnh hưởng đến giá trị cânbằng thực của đồng Euro hay không Cũng như trường hợp đồng Euro, cũng

đã có nhiều nghiên cứu xem xét biến động của các đồng tiền ở các nướcchuyển đổi Egert và cộng sự (2001) đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu vềchủ đề tỷ giá cân bằng đối với các đồng tiền ở khu vực Trung và Đông Âu.Trong các nghiên cứu này, một lượng lớn các kiến nghị chính sách có thể ảnhhưởng đến sự biến động của các đồng tiền nội tệ và mức độ sai lệch đã đượcđưa ra thảo luận bao gồm cả tình trạng thâm hụt vãng lai lớn

Trong nhiều nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tỷ giá thực đaphương cân bằng đã được ước tính với nhiều phương pháp khác nhau RobertTchaidze (2007) đã sử dụng 3 cách tiếp cận khác nhau để ước tính tỷ giá cânbằng từ tỷ giá REER Cách tiếp cận đầu tiên – Phương pháp cán cân vĩ mô

Trang 23

(MB) – xây dựng cán cân vãng lai chuẩn dựa trên mối quan hệ giữa cán cân vãnglai và một bộ các nhân tố cấu thành cơ bản REER được điều chỉnh theo mức cogiãn giữa tài khoản vãng lai với REER Cách tiếp cận thứ 2 - Tiếp cận tỷ giá hốiđoái thực cân bằng- trực tiếp hơn, dựa vào mối quan hệ thực nghiệm giữa REER

và các nhân tố cơ bản Cuối cùng, cách tiếp cận thứ 3 - dựa trên cân bằng bênngoài (ES) - đánh giá mức ổn định của tài khoản vãng lai

Tổng quan nhiều nghiên cứu ngoài nước cho thấy, nhìn chung, phươngpháp ước tính tỷ giá cân bằng được hình thành trên cơ sở phân loại tỷ giá cânbằng thành 3 loại: tỷ giá cân bằng ngắn, trung và dài hạn

MacDonald (1997) và Clark, MacDonald (1998) đã đưa ra những nghiêncứu đầu tiên về tỷ giá cân bằng hành vi (Behavior Equilibrium Exchange Rate(BEER)) – đại diện cho tỷ giá cân bằng ngắn hạn - để minh họa cấu trúc cơ bảncủa phương pháp tiếp cận BEER để điều chỉnh tỷ giá thực về tỷ giá cân bằng.Những nền tảng lý thuyết của phương pháp tính BEER dựa trên các khái niệm cơbản của thuyết ngang giá lãi suất không có bảo hiểm (UIP) Các nghiên cứu tiếpnối sau đó như Edwards và Savastano (1999), Wren- Lewis (1998), Rebecca L.Driver và Peter F Westaway (2003), Jongwanich (2009), đã tiếp tục kế thừa vàphát triển phương pháp này Jongwanich (2009) mở rộng thêm lựa chọn các biếnkinh tế cơ bản trong phương trình của Clark và MacDonald khẳng định phươngpháp phân rã các thành phần ngắn hạn và dài hạn, và giai đoạn nghiên cứu khácnhau có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái cân bằng và tổng độ sai lệch khác nhau.Hinkle và Montiel (1997) cho rằng phương pháp BEER phù hợp khi ước lượng

tỷ giá cân bằng ở các nước đang phát triển với việc cung cấp lý thuyết và cáccách tiếp cận thực nghiệm bao gồm kỹ thuật ước lượng cân bằng từng phần, cấutrúc mô hình cân bằng tổng quát Wren- Lewis (1998) đã lập luận rằng phươngpháp tính BEER là một phương pháp tính đơn giản hơn

Trang 24

là một mô hình ước lượng tỷ giá hối đoái BEER có thể nắm bắt sự dịchchuyển cơ bản và có hệ thống của tỷ giá hối đoái.

Phương pháp tính tỷ giá cân bằng cơ bản (Fundamental EquilibriumExchange Rate (FEER )) - tỷ giá cân bằng trung hạn - được đưa ra ban đầu từcông trình nghiên cứu quốc tế của Williamson (1985) và tiếp tục được mởrộng bởi chính học giả này vào năm 1994 Tiếp sau đó, phương pháp này tiếptục được mở rộng bởi nhiều nghiên cứu như Wren –Lewis (1992); Bayoumi

và cộng sự (1994); (MacDonald, 2000); Drvier và Westaway (2004),… Cácnghiên cứu cho rằng ước tính tỷ giá cân bằng theo phương pháp FEER từ tỷgiá hối đoái đa phương là cho tỷ giá REER phải thoả mãn đồng thời cả cânbằng bên trong và bên ngoài, như vậy FEER là một “phương pháp tính tỷ giáhối đoái thực tế phù hợp với cân bằng kinh tế vĩ mô trung hạn” Wren_ Lewis(1992) đã chỉ ra rằng FEER chỉ là “phương pháp tính tỷ giá hối đoái thực phùhợp trong điều kiện cân bằng kinh tế vĩ mô trung hạn” Điều này đồng nghĩavới cách tiếp cận FEER không áp dụng cho lý thuyết xác định tỷ giá hối đoái

mà được giả định rằng một sự phân kỳ tỷ giá hối đoái hiện hành từ FEER sẽtạo động lực đưa tỷ giá giao ngay về tỷ giá FEER Cách tiếp cận này chỉ đểước tính FEER cho giá trị cân bằng trong trung hạn Tuy nhiên, quá trình hội

tụ từ tỷ giá thực trong ngắn hạn về giá trị cân bằng lại không được xác định(MacDonald, 2000)

Phương pháp ước lượng tỷ giá cân bằng tự nhiên (Natural Real ExchangeRate (NATREX))- tỷ giá cân bằng dài hạn - được Stein (1994) mô tả cụ thể theo

đó các nhân tố cơ bản là sự biến động năng suất và tiết kiệm xã hội (sự ưa thíchtheo thời gian của việc tiêu dùng/ chi tiêu của Chính phủ và hộ gia đình) trongnước và nước ngoài, được thể hiện bởi nhân tố Z(t) Các nhân tố cơ bản được xácđịnh là ngoại sinh không chỉ tác động đến đầu tư, tiết kiệm và tài khoản vãng lai

mà còn tác động đến quỹ đạo của NATREX NATREX sẽ hội

Trang 25

tụ về một tỷ lệ bền vững trong dài hạn khi không có một sự thay đổi nào trongcác nhân tố cơ bản (không có sự thay đổi trong dòng vốn và nợ) Khi khoảngthời gian càng dài thì việc điều chỉnh tỷ giá động có thể được đánh giá tốt nhấtbằng phương pháp NATREX Đó là lý do cho những nghiên cứu gần đây rất ưachuộng áp dụng mô hình NATREX để phân tích ý nghĩa của chính sách tiền tệ

và chính sách tỷ giá trong dài hạn, ví dụ như nghiên cứu của Rajan và Siregar(2002) khi phân tích về chênh lệch tỷ giá trước và sau khủng hoảng của đồngDollar Hong Kong và đồng Dollar Singapore; hay Stein (2002) nghiên cứu về tácđộng của sự mở rộng liên minh châu Âu lên tỷ giá cân bằng Như vậy có thểnhận thấy về bản chất NATREX là một dạng khác của FEER Tuy nhiên, để xácđịnh NATREX phải xem xét cả điều kiện trong trung hạn và dài hạn khi tổngvốn và nợ nước ngoài hội tụ về các giá trị ở trạng thái dừng của nó

1.3.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Tổng quan nghiên cứu các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy,mặc dù còn ít, song từ những năm 2000, tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện cácnghiên cứu thực hiện ước lượng tỷ giá cân bằng Hạ Thị Thiều Dao và cộng

sự (2011) đã ước lượng tỷ giá BEER từ tỷ giá REER với việc sử dụng phươngpháp lọc Hodrick - Prescott (HP) và sau đó đã sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai

số (ECM) để đánh giá tác động của các biến số cơ bản đến tỷ giá cân bằng.Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái đa phương của Việt Nam đã bị đánh giá cao

so với các đối tác ngoại thương chính trong tương quan với thời điểm gốc củagiai đoạn nghiên cứu, năm 2000, điều này cho thấy sức cạnh tranh của hànghóa Việt Nam so với các đối tác ngoại thương chính giảm Diễn biến này cànglàm cho mục tiêu cân bằng cán cân thương mại bằng cách đẩy mạnh xuấtkhẩu càng khó được thực hiện

Đáng chú ý, UBKTQH và UNDP (2012) đã nghiên cứu tỷ giá hối đoáigiai đoạn 2000-2011, xem xét các nhân tố quyết định, ước lượng tỷ giá cân

Trang 26

bằng của Việt Nam theo phương pháp BEER, từ đó tính toán mức độ sai lệch

và thực hiện các đánh giá tác động đối với xuất khẩu Trong nghiên cứu này,UBKTQH và UNDP (2012) đã sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy đathức để ước lượng tỷ giá cân bằng từ các hệ số dài hạn của REER dựa trêncác biến kinh tế cơ bản với mẫu gồm 20 nước

Tóm lại, các nghiên cứu đã thực hiện ở Việt Nam chưa đánh giá được tácđộng của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

1.4 Sai lệch tỷ giá và các tác động

1.4.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 ở Đông Á đã khiến việc ướclượng mức độ sai lệch của tỷ giá (hay độ chênh lệch so với tỷ giá cân bằng) đượcnhiều học giả quan tâm Các nghiên cứu tập trung vào giải quyết các vấn đề: (i)Ước tính mức độ sai lệch của đồng nội tệ ở khu vực Đông Á (thường là tỷ giásong phương với các ngoại tệ chủ chốt như đô la Mỹ hoặc Yên Nhật Bản) nhưHusted và MacDonald (1998 and 1999), Rajan và Siregar (2002), Rajan, Sen vàSiregar (2004), Lim (2000 & 2002) và Montiel (1997); (ii) Liệu độ lệch (haychênh lệch so với tỷ giá cân bằng) này chỉ xảy ra trong khoảng thời gian ngắnhay tạm thời? Liệu một nền kinh tế như phần lớn các nước Đông Á, mở cửa vàphụ thuộc vào cả nền kinh tế Mỹ và Nhật Bản, có nên áp dụng chính sách tỷ giácứng nhắc với đồng USD? Hay nên neo tỷ giá cứng với đồng Yên?

Rajan, Sen và Siregar (2004) đã phát hiện ra chính sách neo tỷ giá mềm vớiđồng USD được Chính phủ Thái Lan áp dụng trong giai đoạn trước khủng hoảng

1997 đã giúp đồng Baht luôn cân bằng với đồng USD song lại chênh lệch lớn vớiđồng Yên Sự sai lệch của tỷ giá cân bằng với đồng Yên là nguyên nhân khiếnthâm hụt cán cân vãng lai song phương lớn với nền kinh tế Nhật Bản đặc biệtvào giữa những năm 1990 Stephane Roudet và cộng sự (2007) cho rằng để đolường mức độ sai lệch của tỷ giá đòi hỏi phải xây dựng một biến

Trang 27

số không quan sát được, tỷ giá cân bằng EREER, theo đó các nhân tố cấuthành nên EREER cần được phân tách thành các nhân tố tạm thời và dài hạn.Như vậy, EREER- tỷ giá cân bằng được xác định là REER trong dài hạn phùhợp với giá trị cân bằng của các nhân tố cơ bản cấu thành nên nó.

Các nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của sai lệch tỷ giá đến các biến

số kinh tế vĩ mô Razin và Collins (1999); Aguirre Calderon (2005); Prasad vàcộng sự (2007) đã đánh giá tác động của sai lệch tỷ giá đến tăng trưởng kinh

tế, theo đó khẳng định sai lệch tỷ giá càng lớn, tăng trưởng kinh tế sẽ cànggiảm Nghiên cứu của Aguirre và Calderon (2005) cũng đã có những đónggóp quan trọng bằng cách, giả định tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nướckhác nhau sẽ phụ thuộc vào mức độ hoặc dấu của sai lệch tỷ giá Với việc sửdụng mô hình tăng trưởng chuẩn, tác giả kết luận là mức độ suy thoái kinh tếphụ thuộc vào độ lớn của sai lệch tỷ giá Đồng nội tệ càng bị định giá thựcthấp, càng là nhân tố lớn gây tổn thương tăng trưởng kinh tế, nhưng mức độđịnh giá thực thấp nhỏ và trung bình có thể khuyến khích tăng trưởng kinh tế.Chênh lệch lớn giữa REER và tỷ giá cân bằng còn là một trong nhữngdấu hiệu cảnh báo nguy cơ một nước có thể bị tấn công tiền tệ dẫn đến khủnghoảng Jongwanich (2009) dựa trên nghiên cứu các nền kinh tế Ðông Á chỉ rarằng, trước khủng hoảng năm 1997, phần lớn REER của các nước Ðông Áđều lệch âm so với EREER (đồng tiền bị định giá cao) và những nước có mứclệch lớn là những nước bị tấn công tiền tệ mạnh nhất Nếu như mức lệch củaIndonesia trước năm 1997 là 20% thì ở Thái Lan chỉ là 15%, Malaysia là 10%

và Hàn Quốc khoảng 7%

Goldfain và Valdes (1996) đã chỉ ra xu hướng lên giá thực của đồng nội tệtrong chế độ tỷ giá cố định Đồng nội tệ lên giá thực đã được đánh giá là một dấuhiệu cảnh báo sớm cho khủng hoảng tiền tệ (Kaminsky et al., 1998; Burkart andCoudert, 2002; Bussière and Fratzscher, 2006) Ở một khía cạnh khác, đồng

Trang 28

nội tệ lên giá thực đã làm xói mòn sức cạnh tranh thương mại quốc tế và gâythâm hụt cán cân hàng hóa.

Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, hầu hết các cuộc khủng hoảng cáncân thanh toán quốc tế đều liên quan tới hiện tượng đồng nội tệ bị định giá caohoặc sai lệch tỷ giá (Goldfajn và Valdes, 1996; Palma, 2003) Bởi đồng nội tệ bịđịnh giá cao thường gắn với tình trạng quốc gia không có khả năng can thiệp trênthị trường ngoại hối do dự trữ ngoại hối cạn kiệt Cách giải thích thứ hai gắn vớitrường hợp một số nước Đông Nam Á với nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào dòngvốn ngắn hạn nước ngoài Trong ngắn hạn, nền kinh tế chi tiêu nhiều hơn, xuấthiện bong bóng trên thị trường chứng khoán và bất động sản, kèm theo hiệntượng nội tệ lên giá thực Song khi dòng vốn ngắn hạn đảo chiều, ngân hàngTrung ương (NHTW) các nước không có khả năng can thiệp xuất hiện cả khủnghoảng tiền tệ và khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế

Các nghiên cứu cũng đã làm rõ tác động của sai lệch tỷ giá đối với nhân

tố lạm phát Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa phá giá đồng nội tệ và tăngtrưởng kinh tế đều chỉ ra một hiệu ứng khác làm giảm hiệu quả của việc giảmgiá đồng nội tệ tới tăng trưởng kinh tế, đó là hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giásang lạm phát Với các nước có nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc nhiều vào các mặthàng nhập khẩu thì việc phá giá sẽ làm tăng mức giá trong nước Các nghiêncứu thực nghiệm và cả lý thuyết đã chỉ ra rằng sự can thiệp của Chính phủnhằm giữ tỷ giá hối đoái thực dưới tỷ lệ cân bằng (mức thấp hơn) sẽ gây ralạm phát Calvo, Reinhart và Vegh (1995) và Siregar (2000) đã lần lượtnghiên cứu và làm rõ vấn đề này ở một số nước Mỹ La tinh (như Brasil, Chile

và Colombia) và Indonesia Một nghiên cứu gần đây về vấn đề này ở cácnước Đông Á (Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan, Goo (2006) cũng đã chothấy cơ chế tỷ giá hối đoái dẫn đến đồng tiền bị định giá thấp hơn (hoặc caohơn) giá trị thực là nguyên nhân dẫn đến lạm phát (giảm phát)

Trang 29

1.4.2 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

Tổng quan nghiên cứu trong nước cho thấy, một số ít các nghiên cứutrong nước đã tính toán mức độ sai lệch tỷ giá của Việt Nam, song chưa cónghiên cứu nào thực hiện đánh giá các tác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉtiêu kinh tế vĩ mô Hạ Thị Thiều Dao (2011) đã tính toán sai lệch tỷ giá củaViệt Nam giai đoạn 2000-2010 khoảng 7% và dao động đổi chiều khá nhanh.Ðiều này cũng gợi ra một câu hỏi: Vấn đề đáng quan tâm ở đây là mức độlệch bao nhiêu là đáng cảnh báo cho một cuộc tấn công tiền tệ? Tác giả chorằng câu hỏi này đòi hỏi phải có một nghiên cứu sâu hơn nhưng biến độngkhá nhanh của chênh lệch giữa REER và EREER gây ra sự không ổn định vềtình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam UBKTQH và UNDP (2012)) tính toán

tỷ giá thực đa phương của Việt Nam, tính toán sai lệch tỷ giá Tuy nhiên,nghiên cứu này mới chỉ thực hiện đánh giá tác động của REER đến chỉ tiêuxuất khẩu trên cơ sở sử dụng các số liệu khá cập nhật, chi tiết hơn cả về tầnsuất thời gian và không gian so với các nghiên cứu trước đây, sử dụng môhình kinh tế lượng để đánh giá ảnh hưởng của tỷ giá REER đối với các sảnphẩm xuất khẩu theo danh mục quốc tế Kết quả của nghiên cứu đưa ra mứcsai lệch lên đến 20% trong giai đoạn cuối năm 2010 cũng đã được chínhnghiên cứu này cho rằng kết quả trên cần phải kiểm tra và xem xét, bao gồm

cả các phân tích độ nhạy của việc lựa chọn mô hình và các biến số

1.5 Một số hạn chế của các công trình nghiên cứu và những vấn đề được nghiên cứu sâu trong Luận án

1.5.1 Một số hạn chế của các công trình nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu thực hiện xác định tỷ giá REER, tỷ giá cânbằng và độ sai lệch tỷ giá nhưng số nghiên cứu thực hiện ứng dụng REER đểxem xét sai lệch tỷ giá ở Việt Nam chưa nhiều Đồng thời, có thể do hạn chế về

số liệu và tần suất số liệu trong các nghiên cứu hiện có, sự lựa chọn mô hình

Trang 30

và biến số, kết quả từ một số nghiên cứu hiện có cho thấy những đánh giáchưa thực sự thuyết phục Chẳng hạn kết quả từ nghiên cứu của Nguyễn ThịThu Hằng (2011) đã kết luận đến cuối năm 2010, tỷ giá REER của Việt Namvẫn cao hơn so với năm 2003 đến hơn 20%, hay UBKTQH và UNDP (2012)tính ra mức sai lệch tỷ giá của REER lên đến 20%2.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu hiện có ở Việt Nam hiện nay chỉ dừng lại ởviệc xác định tỷ giá REER, một số ít có thực hiện ứng dụng REER để tính tỷgiá cân bằng và sai lệch tỷ giá, hay đánh giá tác động của tỷ giá REER đếnxuất khẩu (UBKTQH và UNDP (2012)), song theo hiểu biết của Nghiên cứusinh, hiện chưa có nghiên cứu nào tiến hành đánh giá tác động của sai lệch tỷgiá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và đề xuất khả năng ứng dụng tỷ giá REERvào điều hành kinh tế vĩ mô

Đối với nghiên cứu ngoài nước, dù rất nhiều nghiên cứu đã thực hiện việcước lượng tỷ giá thực đa phương, tính tỷ giá cân bằng và sai lệch tỷ giá, songchưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá tác động của sai lệch tỷ giá đến cácchỉ số kinh tế vĩ mô cho Việt Nam Đây chính là khoảng trống nghiên cứu màLuận án sẽ đi vào khai thác Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứutrong và ngoài nước, Luận án sẽ tiến hành thực hiện các bước: (i) xác định tỷ giáhối đoái thực đa phương REER; (ii) ước lượng tỷ giá cân bằng; (iii) xác định sailệch tỷ giá; (iv) đánh giá tác động của sai lệch tỷ giá đến một số chỉ tiêu kinh tế

vĩ mô của Việt Nam, (v) đưa ra một số kiến nghị chính sách về khả năng ứngdụng của tỷ giá hối đoái đa phương vào điều hành kinh tế vĩ mô

2 Theo Jongwanich (2009)2, việc lựa chọn các biến kinh tế cơ bản phương pháp phân rã các thành phần ngắn hạn và dài hạn và giai đoạn nghiên cứu khác nhau có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái cân bằng và tổng độ sai lệch khác nhau, đặc biệt là việc lựa chọn biến thay thế không đủ tính đại diện như một số nghiên cứu đã được đề cập ở trên có thể sẽ cho kết quả không chính xác Do đó, việc lựa chọn các biến cho mô hình phải được xem xét rất cẩn thận để cho kết quả tính toán và ước lượng hợp lý nhất.

Trang 31

1.5.2 Các vấn đề Luận án phát triển và đi sâu nghiên cứu

Để có thêm căn cứ xây dựng cơ sở lý luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu,Luận án phân tích và tìm hiểu sâu những vấn đề cơ bản liên quan đến việc ướclượng tỷ giá REER, tỷ giá cân bằng và ứng dụng REER trong xác định mức sailệch tỷ giá, đánh giá sai lệch này đến kinh tế vĩ mô của Việt Nam hay ứng dụngREER trong điều hành tỷ giá và điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Luận án kế thừa và phát triển công thức tính tỷ giá REER ở Việt Namgiai đoạn 2000-2020 theo công thức của OECD (2010), tuy nhiên, khác vớimột số nghiên cứu trong nước hiện có như UBKTQH và UNDP (2012), trongcông thức tính REER, tác giả tính tỷ trọng thương mại phân tách theo tỷ trọngtheo KNXK, KNNK hàng hóa và dịch vụ thay vì theo tổng KNXNK hàng hóacủa Việt Nam với các nước đối tác Việc thực hiện phân tách theo tỷ trọnghàng hóa và dịch vụ sẽ phản ánh đầy đủ và chính xác hơn giá trị thương mạithực tế của Việt Nam với các nước đối tác thương mại, đặc biệt trong bối cảnhgiá trị thương mại dịch vụ đang có vai trò ngày càng tăng trong tổng giá trịthương mại của Việt Nam với thế giới

Với tỷ giá cân bằng, Luận án áp dụng phương pháp BEER như cáchClark và MacDonald (1998 và 2000) và Jongwanich (2009) đã thực hiện đểtính toán tỷ giá cân bằng ở Việt Nam, đồng thời ứng dụng tỷ giá REER đểước lượng mức độ sai lệch tỷ giá trên cơ sở đánh giá lựa chọn, xác định môhình và các biến phù hợp với Việt Nam

Đồng thời, Luận án đã đánh giá tác động của sai lệch này đến một số chỉtiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu thông qua môhình kinh tế lượng toàn cầu NIGEM (Giới thiệu về mô hình NiGEM tại Phụlục I) và đánh giá khả năng ứng dụng của tỷ giá REER trong điều hành tỷ giá

và công tác điều hành vĩ mô của Chính phủ

Trang 32

Tiểu kết Chương I:

Trong Chương I, Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trongnước và nước ngoài theo các mảng nội dung chính của Luận án, ghép nhómcác nghiên cứu theo từng mảng nội dung Kết quả tổng quan nghiên cứu chothấy tỷ giá thực đa phương và việc ứng dụng tỷ giá này nhằm xác định tỷ giácân bằng và sai lệch tỷ giá là chủ đề được quan tâm của rất nhiều nghiên cứu.Các nghiên cứu thực nghiệm cũng thể hiện khá đa dạng về vai trò, mức độ vàchiều tác động của tỷ giá thực đa phương đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, vềphương pháp xác định tỷ giá thực đa phương, tỷ giá cân bằng nói chung vàcủa Việt Nam Tổng quan nghiên cứu cũng cho thấy khoảng trống nghiên cứu

về việc ứng dụng tỷ giá thực đa phương để xác định sai lệch tỷ giá và đánhgiá tác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG II:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC

ĐA PHƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Trong Chương II, Luận án tập trung vào hệ thống hóa cơ sở lý thuyếtliên quan đến tỷ giá hối đoái nói chung và tỷ giá thực đa phương, phươngpháp xác định tỷ giá thực đa phương; lý thuyết về chính sách tỷ giá hối đoái;

cơ sở lý thuyết, các mô hình ứng dụng tỷ giá hối đoái cân bằng; các khái niệm

về sai lệch tỷ giá và tác động của sai lệch tỷ giá đến nền kinh tế vĩ mô Trên

cơ sở lý thuyết này, phần cuối của Chương II, Luận án đề xuất mô hình tínhtoán tỷ giá hối đoái cân bằng và sai lệch tỷ giá phù hợp cho Việt Nam

2.1 Tỷ giá hối đoái và tỷ giá hối đoái thực đa phương

2.1.1 Bản chất và phân loại tỷ giá hối đoái

2.1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái

Theo lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đối giữa đồng nội

tệ và đồng ngoại tệ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010) quy định, tỷgiá hối đoái của đồng Việt Nam là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoàitính bằng đơn vị tiền tệ Việt Nam Cách diễn đạt về tỷ giá có khác nhau, tuynhiên dựa trên các quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi ngày nay, có thểđịnh nghĩa tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị qua đồng tiền khác.Tiền tệ của bất cứ nước nào cũng phải hàm chứa “sức mua” của tiền tệ,song sức mua tiền tệ của các quốc gia là khác nhau Do vậy, có thể coi “sứcmua” của tiền tệ là một biểu hiện “tính chung” của tiền tệ trong thời đại tiền tệkhông được tự do đổi ra vàng thông qua hàm lượng vàng So sánh hai đồngtiền với nhau được thực hiện bằng cách so sánh “sức mua” của hai tiền tệ, gọi

là ngang giá sức mua của tiền tệ (Purchasing Power Parity- PPP) Trongkhuôn khổ Luận án, tỷ giá hối đoái được tính bằng số đơn vị nội tệ trên mộtđơn vị ngoại tệ (phương pháp yết giá trực tiếp)

Trang 34

2.1.1.2 Các loại tỷ giá hối đoái theo mối quan hệ giữa các đồng tiền

Đây là cách phân loại cần thiết cho mục tiêu nghiên cứu đánh giá vai tròcủa tỷ giá hối đoái đa phương đối với các chỉ số kinh tế vĩ mô Theo cách phân loại này, các loại tỷ giá bao gồm:

- Tỷ giá danh nghĩa song phương (Nominal Bilateral Exchange Rate – NER): Tỷ giá này biểu thị sự thay đổi sức mua danh nghĩa của hai đồng tiền,

chưa tính đến sự biến động mức giá cả hàng hóa ở hai quốc gia Hay nói cáchkhác, tỷ giá này thể hiện tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền với nhau mà ta cóthể dễ dàng nhận ra thông qua nhiều thông tin có thể quan sát được Tỷ giádanh nghĩa song phương (giữa hai quốc gia) có thể được thể hiện dưới haidạng: (i) Số đơn vị ngoại tệ đổi lấy một đơn vị đồng nội tệ; và (ii) Số đơn vịđồng nội tệ đổi lấy một đơn vị ngoại tệ Việt Nam thường sử dụng theo cáchthứ hai Ví dụ: 22.500 VND đổi lấy 1 USD chẳng hạn;

- Tỷ giá thực song phương (Real Bilateral Exchange Rate – RER): Là tỷ

giá danh nghĩa được điều chỉnh theo mức giá tương đối giữa hai quốc gia Chính vìvậy, tỷ giá thực phản ánh mức giá của hàng hóa nội địa so với hàng

hóa nước ngoài

Công thức tính tỷ giá song phương thực là: RER=NER×P*/P

Trong đó:

NER là tỷ giá hối đoái danh nghĩa (số đơn vị đồng nội tệ đổi một đơn vị ngoại tệ);

P* là giá hàng hóa và dịch vụ nước ngoài;

P là giá hàng hóa và dịch vụ trong nước.

Theo ý nghĩa đó, người ta cũng có thể hiểu rằng RER chính là tỷ số giữa giáhàng hóa hóa và dịch vụ nước ngoài so với giá hàng hóa hóa và dịch vụ trongnước (đã được quy về cùng đơn vị tiền tệ) Nếu RER = 1 có nghĩa là các hànghóa và dịch vụ này ngang giá nhau RER >1 thì hàng hóa và dịch vụ nước

Trang 35

ngoài đắt hơn một cách tương đối so với hàng hóa và dịch vụ trong nước (hay

ta nói đồng tiền nước này bị định giá thấp) Ngược lại, RER < 1 có nghĩa giáhàng hóa và dịch vụ nước ngoài rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hóa vàdịch vụ trong nước (đồng tiền nước này bị định giá cao)

- Tỷ giá hối đoái đa phương: Tỷ giá danh nghĩa và thực song phương chỉ

phản ánh tương quan sức mua của hai nước với nhau Tuy nhiên, khi mộtquốc gia tham gia vào quá trình hội nhập sâu rộng và thực hiện nhiều giaodịch thương mại với nhiều quốc gia khác thì cần thiết phải xây dựng một chỉ

số chung phản ánh giá trị chung của đồng tiền được tính dựa trên tỷ giá songphương giữa đồng tiền của nước đang xem xét (nước chủ nhà) với đồng tiềncủa tất cả các nước có quan hệ thương mại với nước chủ nhà (các nước đốitác) và mức độ thương mại giữa nước chủ nhà với các nước đối tác, đó là tỷgiá hối đoái đa phương (hay còn được gọi là tỷ giá hối đoái hiệu quả hay tỷgiá hối đoái hữu hiệu)

Về phương pháp tính tỷ giá đa phương, như Chương I đã đề cập, có 2phương pháp tính trung bình trọng số, bao gồm phương pháp tính theo tổng

và tích Phương pháp tính trung bình trọng số theo tích cho thấy nhiều ưuđiểm nổi trội hơn (đã được phân tích kỹ ở Chương I) và được Luận án lựachọn áp dụng

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương (NEER) là tỷ giá giữa đồng nội tệ

của một nước với một giỏ đồng tiền của các nước đối tác lấy quyền số là tỷtrọng thương mại hoặc thanh toán quốc tế

= ∏

=1

Trong đó:

là tỷ giá hối đoái đa phương danh nghĩa của nước i (nước chủ nhà)

3 Ray Barrell, Amanda Choy, Dawn Holland and Rebecca Rile, 1/2005 The Sterling Effective Exchange Rate and other Measures of UN Competitiveness National Institute Economic Review No.19 January.

Trang 36

là tỷ giá hối đoái song phương danh nghĩa của quốc gia (khu vực) j

và nước i, đo bằng giá của 1 đơn vị tiền tệ của nước (khu vực) j tính bằng số đơn vị tiền tệ của nước i;4 và

phản ánh tầm quan trọng tương đối của các nước khác đối với các thị

trường xuất khẩu và nhập khẩu của nước i, còn được gọi là trọng số thương mại của nước đối tác (khu vực) j và nước chủ nhà i.

Trong trường hợp số liệu thương mại của nước chủ nhà không được thống kê đầy đủ hoặc thiếu, thì các trọng số thương mại này được tính là tỷ trọng thương mại hiện hành Tuy nhiên, việc sử dụng trọng số thương mại hiện hành có thể làm giảm vấn đề của việc thay đổi về cấu trúc thương mại nên được sử dụng cho nghiên cứu chính sách hiện hành Trọng số tổng thương mại thường được sử dụng sẽ phản ánh tác động của cả xuất khẩu và nhập khẩu để xác định NEER.

Ở đây phản ánh tầm quan trọng thương mại tương đối của các nước đối

tác j trong thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của nước

chủ nhà i Theo Barrel và Cộng sự (2005), được tính là trung bình trọng số giản đơn của tỷ trọng KNXK hàng hóa và dịch vụ của nước chủ nhà i đến nước đối tác j trong tổng KNXK hàng hóa và dịch vụ của nước chủ nhà i, ; và

tỷ trọng tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa từ nước đối tác j trong tổng KNNK hàng hóa của nước chủ nhà i,

Tầm quan trọng tương đối giữa thị trường xuất khẩu và nhập khẩu đối với

nước chủ nhà i, được xác định theo xuất khẩu của nước chủ nhà i là tỷ trọng KNXK trong tổng kim ngạch xuất

4 Để tránh nhầm lẫn trong diễn giải kết quả nghiên cứu, Nghiên cứu sinh thay đổi quy định theo cách hiểu thông thường của Việt Nam Trong phần diễn giải gốc của Ray Barrell và cộng sự (2005) thì RX ij là tỷ giá hối

đoái song phương của quốc gia (khu vực) j và nước i, đo bằng giá của 1 đơn vị tiền tệ của nước i tính bằng số đơn vị tiền tệ của nước (khu vực) j) Như vậy, khi tăng (giảm) được xem là phá giá (tăng giá) đồng nội tệ.

Trang 37

1 và ∑ =1 = 1 NEER được tính như vậy về cơ bản sẽ phản ánh được tất cả những thay đổi về giá trị trao đổi của một đồng tiền.

Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER-Real effective exchange rate)

được tính dựa trên NEER sau khi loại bỏ yếu tố lạm phát

Theo đó, REER được tính bằng công thức sau:

=1

Trong đó:

- t là thời gian, tính theo tháng, quý hoặc năm;

- n là số lượng các đối tác thương mại chính của nước i;

- tỷ giá hối đoái thực đa phương của nước i ở thời kỳ t;

- là tỷ giá hối đoái song phương danh nghĩa của quốc gia (khu vực)

j và nước i, đo bằng giá của 1 đơn vị tiền tệ của nước (khu vực) j tính bằng số

đơn vị tiền tệ của nước i);

- là chỉ số giá hàng hoá trong nước i, ở thời kỳ t;

- là chỉ số giá hàng hoá ở nước j, ở thời kỳ t; và

- là tỷ trọng của đồng tiền nước j tại thời điểm t, tương ứng với tỷ trọng mại của nước (hoặc khu vực) j trong tổng giá trị thương mại của với nước chủ nhà với các đối tác được xem xét trong thời kỳ t.

Theo lý thuyết, nếu tỷ giá thực lớn hơn 1, đồng nội tệ bị định giá thấphơn giá trị thực của nó Ngược lại, nếu tỷ giá thực nhỏ hơn 1, nội tệ được địnhgiá thực quá cao Còn khi tỷ giá thực bằng 1, thì có thể cho rằng đồng tiền đóđược định giá bằng với giá trị thực của nó, hay còn được gọi là giá trị thựccân bằng Như vậy, có thể thấy rằng, theo lý thuyết chúng ta có thể so sánh tỷgiá thực với 1 để đưa ra những đánh giá về giá trị hiện tại của một đồng tiền

Trang 38

2.1.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái thực đa phương trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô

Tỷ giá hối đoái đa phương đóng vai trò quan trọng trong điều hành kinh

tế vĩ mô và được thể hiện cụ thể trong những nội dung sau:

Góp phần điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và xem xét khả năng phá giá hay nâng giá đồng tiền

Một nền kinh tế mở và hội nhập với thị trường thế giới đòi hỏi phải xácđịnh một tỷ giá hối đoái thích hợp để có thể khuyến khích, tận dụng nguồn lựcsản xuất trong nước và cả bên ngoài nhằm mở rộng nền kinh tế hàng hóa, đẩymạnh xuất khẩu, từ đó mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, bên cạnh đó, tỷ giáđược áp dụng trong một nền kinh tế mở cần phản ánh được đầy đủ giá trịthương mại của nền kinh tế đó với các nước đối tác thương mại Tỷ giá vànhững biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả hàng hoá

và dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước Khi tỷ giá thay đổi theo hướng làmgiảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá và dịch vụ của nước đó sẽtương đối rẻ hơn so với hàng hoá và dịch vụ nước khác ở cả thị trường trongnước và thị trường quốc tế, dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ củanước đó sẽ tăng, cầu về hàng hoá dịch vụ nước ngoài của nước đó sẽ giảm vàtạo ra sự thặng dư của cán cân thương mại

Tỷ giá hối đoái đa phương được ứng dụng để xem xét mức sai lệch tỷ giá(so sánh tỷ giá đa phương và tỷ giá cân bằng sẽ cho ta biết được mức độ sailệch của đồng tiền) từ đó biết được đồng tiền được định giá cao hơn hay thấphơn so với giá trị thực của nó để kịp thời điều tiết các hoạt động xuất nhậpkhẩu và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Trong trường hợp một đồng tiền đang được định giá cao hơn giá trị thựccủa nó thì NHTW cần thiết phải tiến hành phá giá đồng tiền để đảm bảo nềnkinh tế hoạt động hiệu quả hơn, tuy nhiên liều lượng, lộ trình và cơ chế điều

Trang 39

chỉnh tỷ giá phải được tính toán kỹ để không gây cú sốc quá lớn đối với ổnđịnh kinh tế vĩ mô.

Ngược lại, khi tỷ giá biến đổi theo hướng làm tăng giá đồng nội tệ, sựtăng giá của đồng nội tệ có tác động hạn chế xuất khẩu vì cùng một lượngngoại tệ thu được do xuất khẩu sẽ đổi được ít hơn đồng nội tệ Tuy nhiên, đây

là cơ hội tốt cho các nhà nhập khẩu, nhất là nhập khẩu nguyên liệu, máy móc

để phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước Tuy nhiên, điều này cũng sẽ gây

ra tác động tiêu cực là làm giảm sản xuất các mặt hàng này trong nước Đồngthời, lượng ngoại tệ chuyển vào trong nước có xu hướng giảm xuống làm khốilượng dự trữ ngoại tệ ngày càng bị giảm đi vì khuynh hướng gia tăng nhậpkhẩu để có được lợi nhuận và điều này có thể gây nên tình trạng mất cân đối

cán cân thương mại quốc tế Vì vậy, tỷ giá hối đoái thường được sử dụng để

điều tiết hoạt động xuất khẩu, hay nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của một nước có nền kinh tế mở cửa và hội nhập.

Chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu đi kèm với hành độngphá giá đồng nội tệ luôn là trọng tâm được nhiều nghiên cứu và các nhà hoạchđịnh chính sách mỗi nước lưu tâm Thông thường, khi giá trị đồng tiền củamột nước giảm so với các đồng tiền khác, hàng xuất khẩu của nước đó trở nên

rẻ hơn còn hàng hoá nhập khẩu lại trở nên đắt hơn một cách tương đối Nóicách khác, chính phủ duy trì giá đồng nội tệ định thấp là gián tiếp cấp ưu đãicho xuất khẩu và là một khoản thuế cho nhập khẩu

So sánh sức mua của các đồng tiền

Tỷ giá đa phương là công cụ hữu hiệu để tính toán và so sánh giá trịđồng nội tệ với giá trị ngoại tệ, giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nước với giáquốc tế, năng suất lao động trong nước với năng suất lao động quốc tế, Trên

cơ sở đó, tính toán hiệu quả ngoại thương, hiệu quả của việc liên doanh vớinước ngoài, vay vốn nước ngoài và hiệu quả của các chính sách kinh tế đốingoại của Nhà nước

Trang 40

Góp phần ổn định lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Tỷ giá hối đoái là công cụ đảm bảo mức lạm phát thấp và hệ thống tàichính ổn định, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu và đảm bảo tăngtrưởng kinh tế

Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi (do Nhà nước phá giáđồng tiền để đẩy mạnh xuất khẩu), tỷ giá hối đoái tăng lên làm giá hàng nhậpkhẩu đắt hơn Nếu hàng nhập khẩu để trực tiếp tiêu dùng thì làm tăng chỉ sốgiá tiêu dùng trực tiếp Nếu hàng nhập khẩu dùng cho sản xuất thì làm tăngchi phí sản xuất và dẫn tới tăng giá thành sản phẩm Kết quả cũng là sự tănglên của chỉ số giá tiêu dùng Vì vậy, lạm phát có thể xảy ra Nhưng khi tỷ giátăng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu được lợi và phát triển, kéo theo sựphát triển của các ngành sản xuất trong nước nói chung, nhờ vậy thất nghiệpgiảm và tăng trưởng của nền kinh tế có thể được cải thiện Ngược lại khi tỷgiá hối đoái giảm (giá đồng nội tệ tăng lên), hàng nhập khẩu từ nước ngoài trởnên rẻ hơn Từ đó lạm phát được kiềm chế, nhưng lại có thể dẫn tới sản xuấtthu hẹp và tăng trưởng thấp

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong nước và nước ngoài đã đưa ra cáckênh tác động của tý giá hối đoái đối với lạm phát và tăng trưởng, theo đó nhữngthay đổi về tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến giá cả trong nước thông qua tácđộng đến tổng cung và cầu Ở phía cung, tỷ giá có thể ảnh hưởng trực tiếp đếnlạm phát do ảnh hưởng đến giá mua hàng nhập khẩu của người mua trong nước.Trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa, khi đồng tiền bị phá giá có thể dẫn đến giánhập khẩu cao hơn và ngược lại Mặt khác, biến động tỷ giá hối đoái cũng có thểảnh hưởng gián tiếp đến giá cả hàng hoá trong nước ở phía cung

Tóm lại, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến quan hệkinh tế đối ngoại, tình trạng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, lạm phát

và thất nghiệp, thậm chí là tới khả năng tạo ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ

Ngày đăng: 05/10/2021, 09:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. F. Odusola and A. E. Akinlo (2001), "Output, Inflation, and Exchange Rate in Developing Countries: An Application to Nigeria," pp. 199-222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Output, Inflation, and Exchange Rate in Developing Countries: An Application to Nigeria
Tác giả: A. F. Odusola and A. E. Akinlo
Năm: 2001
2. Aflouk, N., Mazier, J., and On, M. (2016), "Impact of Monetary Regime and Exchange Rates on ASEAN Economic Integration", ASEAN Economic Community pp 101-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Monetary Regimeand Exchange Rates on ASEAN Economic Integration
Tác giả: Aflouk, N., Mazier, J., and On, M
Năm: 2016
3. Anh Ngoc Nguyen and Nicholas Sarantis (2008), "The Equilibrium Real Exchange Rate of Vietnam: Determinants and Misalignments", Centre for International Capital Markets London Metropolitan University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Equilibrium RealExchange Rate of Vietnam: Determinants and Misalignments
Tác giả: Anh Ngoc Nguyen and Nicholas Sarantis
Năm: 2008
4. Balassa, B., (1964), “The Purchasing Power Parity Doctrine: A Reappraisal”, Journal of Political Economy, No.72, pp.584-596 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Purchasing Power Parity Doctrine: AReappraisal
Tác giả: Balassa, B
Năm: 1964
5. Bahmani-Oskooee, M. (1986), "Determinants of International Trade Flows: Case of Developing Countries," Journal of Development Economics, 20, 107-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of International TradeFlows: Case of Developing Countries
Tác giả: Bahmani-Oskooee, M
Năm: 1986
6. Bayyoumi, T., Clark, P., Symansky, S., Taylor, M., (1994), “Robustness of equilibrium exchange rate calculation to alternative assumptions and methodologies”, in Williamson, J, (ed) Estimating Equilibrium Exchange Rates, Institute of International Economics, Washington DC, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robustness ofequilibrium exchange rate calculation to alternative assumptions andmethodologies
Tác giả: Bayyoumi, T., Clark, P., Symansky, S., Taylor, M
Năm: 1994
7. Berument và Pasaogullari (2003), “Effects of the real exchange rate on output and inflation: Evidence from Turkey”, The Developing Economies 41(4): 401 – 435 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of the real exchange rate onoutput and inflation: Evidence from Turkey
Tác giả: Berument và Pasaogullari
Năm: 2003
8. Clark, Peter B. (1996), “Concepts of Equilibrium Exchange Rates”, Journal of International and Comparative Economies, Vol.20, pp.133-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concepts of Equilibrium Exchange Rates"”
Tác giả: Clark, Peter B
Năm: 1996
9. Clark, P.B and MacDonald, R. (1997), “Exchange Rates and Economic Fundamentals: A Methological Comparison of BEERs and FEERs”, Paper presented at Conference on Exchangr Rates, Strathclyde University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange Rates and EconomicFundamentals: A Methological Comparison of BEERs and FEERs
Tác giả: Clark, P.B and MacDonald, R
Năm: 1997
10. Clark, P.B, and MacDonald R., (1998), “Exchange rates and economic fundamentals: a methodology comparison of BEERs and FEERs”, IMF working paper, WP/98/67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange rates and economicfundamentals: a methodology comparison of BEERs and FEERs
Tác giả: Clark, P.B, and MacDonald R
Năm: 1998
11. Clark, P.B and MacDonald, R., (1999), “Exchange Rates and Economic Fundamentals: A Methological Comparison of BEERs and FEERs”, in MacDonald, R and Stein, Equilibrium Exchange Rates, KluwerAcademic Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange Rates and EconomicFundamentals: A Methological Comparison of BEERs and FEERs”, inMacDonald, R and Stein, "Equilibrium Exchange Rates
Tác giả: Clark, P.B and MacDonald, R
Năm: 1999
12. Carsten Detken, Jérôme Henry, Frank Smets, Carmen Marin (2002),“Determinants of the Effective Real Exchange Rate of the Synthetic Euro:Alternative Methodological Approaches”, Australian Economics Papers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of the Effective Real Exchange Rate of the Synthetic Euro:Alternative Methodological Approaches
Tác giả: Carsten Detken, Jérôme Henry, Frank Smets, Carmen Marin
Năm: 2002
13. Cheng, F.&amp; Orden, D. (2005), “Exchange Rate Misalgnment and its Effects on Agricultural Producer Support Estimates: Empirical Evidence from India and China”, MTID DP81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange Rate Misalgnment and itsEffects on Agricultural Producer Support Estimates: Empirical Evidencefrom India and China
Tác giả: Cheng, F.&amp; Orden, D
Năm: 2005
14. Chinn, M.D, (2002), “The Measurement of Real Effective Exchange Rate:A survey and Applications to East Asia”, University of California, Santa Cruz Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Measurement of Real Effective Exchange Rate:A survey and Applications to East Asia
Tác giả: Chinn, M.D
Năm: 2002
15. Chinn, Menzie and Louis Johnston (1996), “Real Exchange Rate Levels, Productivity and Demand Shocks: Evidence from a Panel of 14 Countries”, NBER Working Paper 5709 (Cambrigde, Mass: National Bureau of Economic Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Real Exchange Rate Levels,Productivity and Demand Shocks: Evidence from a Panel of 14Countries
Tác giả: Chinn, Menzie and Louis Johnston
Năm: 1996
16. Connolly, M., and Devereux, J., (1995), “The equilibrium real exchange rate: Theory and Evidence for Latin America”. In Stein, J. L., Allen, P. R.and Associates (eds). Fundamental determinants of exchange rates (pp.154 – 181). NewYork: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The equilibrium real exchangerate: Theory and Evidence for Latin America
Tác giả: Connolly, M., and Devereux, J
Năm: 1995
17. Cheung, Y.W., M.D. Chinn, and E. Fujii (2009), “Pitfalls in measuring exchange rate misalignment”, Open Economies Review, vol. 20, 183-206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pitfalls in measuringexchange rate misalignment
Tác giả: Cheung, Y.W., M.D. Chinn, and E. Fujii
Năm: 2009
18. Dani Rodrik (2008), “The real exchange rate and Economic growth”, John F. Kenedy School of Government Harvard University Cambridge, MA 02138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The real exchange rate and Economic growth
Tác giả: Dani Rodrik
Năm: 2008
19. Dibooglu, S. and Kutan, A.M. (2001), “Sourcers of Real Exchange Rate Fluctuations in Transitition Economies: The Case of Poland and Hungary”, Journal of Comparative Economics, vol.29, pp .257-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sourcers of Real Exchange RateFluctuations in Transitition Economies: The Case of Poland andHungary
Tác giả: Dibooglu, S. and Kutan, A.M
Năm: 2001
20. Driver, R L and Wren- Lewis, S, (1999), “FEERs: A Sensitivity Analysis” in MacDonald, R. and Stein, J, (eds) Equilibrium Exchange Rates, Kluwer Academic Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: FEERs: A SensitivityAnalysis
Tác giả: Driver, R L and Wren- Lewis, S
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w