Ở thời điểm nghiên cứu sinh đề xuất Luận án này và khi Luận án được phê duyệt năm 2015 thì ở Việt Nam chưa sử dụng NEER, REER và tỷ giá hối đoái cân bằng phổ biến trong công tác điều hàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
TRẦN THỊ THU HÀ
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC ĐA PHƯƠNG (REER), VAI TRÒ VÀ ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Hà Nội - Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
TRẦN THỊ THU HÀ
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC ĐA PHƯƠNG (REER), VAI TRÒ VÀ ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 9310105
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1 TS LƯƠNG VĂN KHÔI
2 PGS.TS NGUYỄN THỊ THUỲ VINH
Hà Nội - Năm 2021
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận án “Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), vai
trò và ứng dụng trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam" là công
trình nghiên cứu riêng, độc lập của tôi Các số liệu được sử dụng trong Luận án
là trung thực, có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi trân trọng gửi lời cảm ơn tới Viện Chiến lược Phát triển đã
tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo - những người đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian làm Nghiên cứu sinh tại Viện
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lương Văn Khôi và PGS.TS Nguyễn Thị Thùy Vinh, người hướng dẫn khoa học, đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành Luận án này
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Lãnh đạo và các đồng nghiệp Ban Dự báo Kinh tế Ngành và Doanh nghiệp cùng các đồng nghiệp,… đã quan tâm, hỗ trợ, cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành Luận án
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè luôn
hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận án./
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỶ GIÁ THỰC ĐA PHƯƠNG VÀ CÁC ỨNG DỤNG 10
1.1 Tỷ giá hối đoái thực đa phương và phương pháp ước lượng 10
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước 10
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước 13
1.2 Mối quan hệ của tỷ giá hối đoái đối với một số chỉ số kinh tế vĩ mô 14
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước 14
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước 18
1.3 Tỷ giá cân bằng và các mô hình ước lượng 22
1.3.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước 22
1.3.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước 25
1.4 Sai lệch tỷ giá và các tác động 26
1.4.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước 26
1.4.2 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước 29
1.5 Một số hạn chế của các công trình nghiên cứu và những vấn đề được nghiên cứu sâu trong Luận án 29
1.5.1 Một số hạn chế của các công trình nghiên cứu 29
1.5.2 Các vấn đề Luận án phát triển và đi sâu nghiên cứu 31
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC ĐA PHƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 33
Trang 6iv
2.1 Tỷ giá hối đoái và tỷ giá hối đoái thực đa phương 33
2.1.1 Bản chất và phân loại tỷ giá hối đoái 33
2.1.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái thực đa phương trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô 38
2.1.3 Các nhân tố tác động đến tỷ giá đa phương 42
2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 46
2.2.1 Khái niệm 46
2.2.2 Nội dung cơ bản 46
2.3 Tỷ giá cân bằng 51
2.3.1 Khái niệm 51
2.3.2 Các phương pháp xác định tỷ giá cân bằng 53
2.3.3 Tỷ giá cân bằng hành vi (BEER) 59
2.4 Sai lệch tỷ giá 69
2.4.1 Khái niệm 69
2.4.2 Tác động của sai lệch tỷ giá của nền kinh tế 69
CHƯƠNG III: 78
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TỶ GIÁ THỰC ĐA PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2020 78
3.1 Chính sách và diễn biến tỷ giá giai đoạn 2000-2020 78
3.1.1 Tổng quan tình hình kinh tế vĩ mô giai đoạn 2000-2020 78
3.1.2 Chính sách và diễn biến tỷ giá giai đoạn 2000-2020 81
3.2 Tỷ giá thực đa phương của Việt Nam giai đoạn 2000-2020 99
CHƯƠNG IV: ỨNG DỤNG TỶ GIÁ THỰC ĐA PHƯƠNG TRONG ĐIỀU HÀNH KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 107
4.1 Mô hình ước lượng tỷ giá cân bằng cho Việt Nam 107
Trang 7v
4.2 Ước lượng tỷ giá thực cân bằng của Việt Nam và mức độ sai lệch tỷ
giá 110
4.2.1 Tỷ giá cân bằng và độ sai lệch theo phương pháp lọc Hodrick-Prescott 110
4.2.2 Tỷ giá cân bằng và mức độ sai lệch theo mô hình và kết quả thực nghiệm cho Việt Nam theo cách tiếp cận BEER 112
4.3 Khả năng ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ mô Việt Nam – Một số kiến nghị chính sách 121
4.3.1 Đánh giá sai lệch tỷ giá đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 121
4.3.2 Kiến nghị chính sách trong việc ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ mô 126
KẾT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC I: MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG TOÀN CẦU NIGEM 148
PHỤ LỤC II: DANH SÁCH CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG TOÀN CẦU NIGEM 157
PHỤ LỤC III: TỶ TRỌNG THƯƠNG MẠI NHÓM 32 NƯỚC ĐỐI TÁC QUA CÁC NĂM (%) 161
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại cơ chế tỷ giá của các quốc gia 47
Bảng 2.2: Các nghiên cứu thực nghiệm về tỷ giá cân bằng ở các nước Đông Nam Á 66
Bảng 3.1: Tóm tắt các biện pháp điều hành tỷ giá giai đoạn 2008-2010 84
Bảng 3.2: Biên độ dao động tỷ giá được áp dụng từ giai đoạn 2000-2015 91
Bảng 4.1: Kiểm định tính dừng ADF 113
Bảng 4.2: Kiểm định đồng tích hợp Johansen 114
Bảng 4.3: Vector đồng tích hợp 115
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 3.1: Kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 81
Hình 3.2: Diễn biến tỷ giá hối đoái tại Việt Nam năm 2010-2011 87
Hình 3.3: Diễn biến tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai đoạn 2012-2014 89
Hình 3.4: Diễn biến tỷ giá hối đoái của Việt Nam năm 2015 92
Hình 3.5: Diễn biến tỷ giá hối đoái giai đoạn 2018-2020 95
Hình 3.6: Tỷ giá của đồng VND với một số các đồng tiền chủ chốt trong rổ tiền tệ tỷ giá trung tâm 97
Hình 3.7: Phản ứng của tỷ giá USD/VND đối với sự hội nhập quốc tế 99
Hình 3.8: So sánh các ước lượng về REER (năm 2000 là năm gốc) 100
Hình 3.9: Tỷ giá hối đoái thực đa phương giai đoạn 2000 – 2020 104
Hình 3.10: Tỷ giá thực đa phương với phạm vi các nước khác nhau 105
Hình 4.1: Tỷ giá hối đoái đa phương dài hạn và mức độ sai lệch 111
Hình 4.2: Tỷ giá BEER và REER 116
Trang 9vii
Hình 4.3: Tỷ giá cân bằng (BEER) và tỷ giá thực đa phương trung bình 116Hình 4.4: Chêch lệch tỷ giá cân bằng và tỷ giá thực 117Hình 4.5: Tác động của sai lệch tỷ giá đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai
đoạn 2016-2020 123Hình 4.6: Tác động của sai lệch tỷ giá 1% đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 124Hình 4.7: Tác động của sai lệch tỷ giá 1% đến lạm phát: % thay đổi so kịch
bản không có cú sốc 125Hình 4.8: Tác động của sai lệch tỷ giá -1% đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 125Hình 4.9: Tác động của việc tăng 1% tỷ giá song phương VND/USD và tỷ
giá thực đa phương đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam 128Hình 4.10: Tác động của việc tăng 1% tỷ giá song phương VND/USD và tỷ
giá thực đa phương đến xuất khẩu Việt Nam 129Hình 4.11: Tác động của việc Mỹ tăng lãi suất đến tỷ giá song phương
VND/USD và tỷ giá thực đa phương 129
Trang 10CPI Chỉ số giá tiêu dùng
KNXK Kim ngạch xuất khẩu
KNNK Kim ngạch nhập khẩu
KNXNK Kim ngạch xuất nhập khẩu
NHTW Ngân hàng Trung ương
Danh mục từ viết tắt tiếng Anh
Cụm từ
BEER Behavioral Equilibrium
Exchange Rate
Tỷ giá hối đoái hành vi
CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
DEER Desired Equilibrium Exchange
Rate
Tỷ giá cân bằng mong muốn
FEER Fundamental Equilibrium
Exchange Rate
Tỷ giá hối đoái cơ bản
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội GNFL Government net financial
liabilities
Tổng các khoản nợ tài chính ròng của Chính phủ
GOVEX Government Expenditure Chi tiêu chính phủ
Trang 11ix
Cụm từ
NATREX Natural Real Exchange Rates Tỷ giá hối đoái thực tự nhiên NAIRU Non-Accelerating Inflation
Tỷ giá cân bằng dài hạn
REER Real Effective Exchange Rate Tỷ giá hối đoái thực đa phương TOT Terms of Trade Điều kiện thương mại
WPI Wholesale price index Chỉ số giá bán buôn
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của Luận án
Chính sách tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong điều hành kinh
tế vĩ mô của một quốc gia và tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ quan trọng nhất của quá trình này Về lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đối giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Trong nền kinh tế mở khi một quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại và thực hiện các giao dịch với một số quốc gia khác thì việc cần có một chỉ số phản ánh giá trị chung của đồng nội tệ của quốc gia đó so với một rổ tiền tệ của các nước đối tác thương mại - tỷ giá hối đoái đa phương- trở nên rất cần thiết Tỷ giá hối đoái đa phương danh nghĩa (NEER) được tính dựa trên cơ sở này là tỷ giá giữa đồng nội tệ với một rổ các đồng tiền của các nước khác lấy quyền số là
tỷ trọng thương mại hoặc thanh toán quốc tế của nước đó với các nước đối tác Trên cơ sở đó, tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) được tính dựa trên NEER sau khi loại bỏ yếu tố lạm phát Để trả lời câu hỏi một đồng tiền
có bị định giá quá cao hay quá thấp hay không - mức sai lệch của tỷ giá, người ta phải xác định được mức cân bằng của tỷ giá, hay tỷ giá hối đoái cân
bằng của đồng tiền đó So sánh REER với tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ cho
thấy mức độ sai lệch tỷ giá – phản ánh đồng tiền đang xem xét được định giá quá cao hay quá thấp làm cơ sở để điều chỉnh tỷ giá là phá giá hay nâng giá đồng tiền
Sai lệch tỷ giá là vấn đề được nhiều nghiên cứu đề cập đến trong những năm gần đây, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đang tìm hướng đi cho mình
để ổn định, phát triển kinh tế, góp phần ổn định nền kinh tế toàn cầu Nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, sai lệch tỷ giá có thể gây ra những bất ổn
Trang 132
cho nền kinh tế: Thứ nhất, sai lệch tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp tới giá hàng hóa
có thể tham gia thương mại quốc tế và khu vực xuất nhập khẩu, tác động tới khả năng cạnh tranh của khu vực này với phần còn lại của thế giới; Thứ hai, sai lệch tỷ giá có thể ảnh hưởng tới đầu tư trong nước và nước ngoài, do đó ảnh hưởng tới quá trình tích lũy vốn; Thứ ba, mức sai lệch tỷ giá càng lớn thì càng
có ảnh hưởng không tốt tới tăng trưởng kinh tế như biến động về điều kiện thương mại, tỷ giá danh nghĩa, mức cung ứng tiền, năng suất lao động… Do
đó, việc xác định và ứng dụng REER để xác định mức sai lệch tỷ giá có ý nghĩa quan trọng trong điều hành tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô
Ở thời điểm nghiên cứu sinh đề xuất Luận án này và khi Luận án được phê duyệt (năm 2015) thì ở Việt Nam chưa sử dụng NEER, REER và tỷ giá hối đoái cân bằng phổ biến trong công tác điều hành tỷ giá mà phần lớn chỉ dựa vào điều hành tỷ giá hối đoái song phương, chủ yếu là giữa tiền đồng và đồng đô la Mỹ (USD) (điều này có thể dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá không phù hợp với điều kiện vĩ mô cụ thể dẫn đến những sai lầm trong điều hành trong điều hành kinh tế vĩ mô và gây ra những hệ lụy cho nền kinh tế) Từ năm 2016 đến nay, NHNN đã áp dụng tỷ giá hối đoái trung tâm - neo VND theo một rổ tiền tệ gồm 8 đồng tiền - đã giúp cho thị trường tiền tệ ít xáo trộn hơn, diễn biến tỷ giá không biến động mạnh như trước, song nhiều quan điểm cho thấy tỷ giá trung tâm vẫn còn cứng nhắc và trên thực tế vẫn neo vào USD là chủ yếu1 Hơn thế nữa, cách tính toán tỷ giá trung tâm và tỷ trọng của từng đồng tiền trong rổ tiền tệ chưa được công bố khiến cho các cơ quan
có vai trò quan trọng trong điều phối kinh tế vĩ mô không thể tham khảo để
có thể đánh giá mức độ tác động thực sự của những biến động của các đồng
1 Trích nguồn: Trần Thị Thanh Huyền (2018) "Chính sách tỷ giá hối đoái trong bối cảnh Việt Nam hội nhập
kinh tế quốc tế"
Trang 143
tiền trên thế giới tới giá của tiền đồng (hay còn được gọi là VND) và tới nền kinh tế Việt Nam, đồng thời doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc dự báo
tỷ giá để đưa ra kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, là nền kinh tế nhỏ và có độ
mở cao nên Việt nam chịu tác động ngày càng lớn từ những biến động của kinh tế thế giới (đặc biệt là những biến động của chính sách tài chính tiền tệ của các nước là đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam), chính sách tỷ giá
có thể trở nên thiếu phù hợp khi chính sách này chủ yếu nặng về quản lý tỷ giá hối đoái song phương danh nghĩa, thiếu các phân tích và đánh giá thường xuyên về REER và tỷ giá hối đoái cân bằng, mức độ sai lệch về tỷ giá và đánh giá tác động của các sai lệch tỷ giá này đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát, xuất khẩu, nhập khẩu, Trong khi đó, trong bối cảnh việc hoán đổi tiền tệ giữa VND với đồng tiền của nhiều nước đã và đang trở thành xu hướng nổi trội, việc áp dụng một rổ 8 đồng tiền có thể cần được mở rộng hơn nữa để đảm bảo tính chính xác, khách quan phù hợp với
xu thế hội nhập quốc tế, hội nhập tài chính của Việt Nam đang ngày càng sâu rộng và tỷ trọng thương mại của Việt Nam với các nước và vùng, lãnh thổ đang có nhiều thay đổi
Trong phát triển kinh tế thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô có ý nghĩa, vai trò quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt là mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế Ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền sẽ tạo điều kiện thuận lợi để duy trì trật tự và thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, tăng trưởng kinh tế tạo nền tảng cho ổn định vĩ mô thông qua bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối hàng tiền, tiết kiệm đầu tư; thu chi ngân sách nhà nước, xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán, việc làm, thu nhập và bảo đảm an
Trang 154
sinh xã hội Có thể nhận thấy những biến động của tỷ giá hối đoái thường rất được quan tâm, cả cho những tín hiệu mà chúng chứa đựng về triển vọng lạm phát trong tương lai và cho cả ý nghĩa của chúng về mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, những biến động của tỷ giá hối đoái song phương, ví dụ VND
so với USD và EUR, không truyền tải đủ thông tin cho các nhà hoạch định chính sách hoặc cho các doanh nghiệp ngoại trừ các khoản giao dịch song phương cụ thể Trong khi đó, tỷ giá hối đoái đa phương đo lường giá VND so với một rổ các đồng tiền của các đối tác thương mại của Việt Nam cung cấp thông tin đầy
đủ hơn cho các nhà hoạch định chính sách Những biến động về tỷ giá hối đoái tác động tới một số biến kinh tế vĩ mô quan trọng, trong đó quan trọng nhất là thương mại, lạm phát trong nước, tăng trưởng GDP,
Do đó, việc nghiên cứu, ứng dụng REER nhằm xem xét mức độ sai lệch
về tỷ giá đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong công tác hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách tỷ giá của Việt Nam nói riêng vì nó không chỉ giúp Chính phủ, hệ thống các Ngân hàng Việt Nam có được những thông tin quan trọng về hiện trạng cũng như tương lai VND, từ đó có những chính sách điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô
cụ thể, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng
Hiện có nhiều nghiên cứu về tỷ giá hối đoái đa phương và các ứng dụng
tỷ giá đa phương để xác định tỷ giá cân bằng và sai lệch tỷ giá ở Việt Nam, song theo nhận thức của Nghiên cứu sinh, một số nghiên cứu hiện nay còn hạn chế về số liệu và tần suất số liệu, lựa chọn mô hình và biến số, do đó kết quả từ một số nghiên cứu hiện còn chưa thực sự thuyết phục Đặc biệt là, chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến việc ứng dụng tỷ giá hối đoái thực đa phương đến công tác điều hành kinh tế vĩ mô, bao gồm việc đánh giá các nhân tố quyết định
và mức độ sai lệch trong điều hành tỷ giá, tác động của sai lệch tỷ giá tới các
Trang 165
chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam - đánh giá khả năng ứng dụng tỷ giá REER trong công tác điều hành tỷ giá và kinh tế vĩ mô của Việt Nam Tất cả những điều này có thể sẽ được xem xét và giải quyết trong Luận án này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực đa phương
(REER), vai trò và ứng dụng trong nền kinh tế vĩ mô nói chung; đánh giá khả năng ứng dụng trong nền kinh tế Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
- Tính toán tỷ giá hối đoái thực đa phương, ước lượng tỷ giá cân bằng của Việt Nam giai đoạn 2000-2020 để xem xét hiệu quả và mức độ phù hợp của các chính sách tỷ giá với điều kiện kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn này
- Tính toán mức sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động của sai lệch này đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu;
- Đánh giá khả năng ứng dụng của tỷ giá hối đoái thực đa phương trong điều hành tỷ giá phục vụ công tác điều hành vĩ mô của Chính phủ
Luận án hướng vào trả lời 5 câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Có những loại tỷ giá nào và loại tỷ giá hối đoái nào được áp dụng trong điều hành chính sách tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô theo thông lệ quốc tế? (2) Việt Nam đã thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái kể từ năm 2000 -
Trang 176
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tỷ giá hối đoái thực đa phương; vai
trò và khả năng ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, xem xét vai trò, xác định, đánh
giá tỷ giá hối đoái đa phương của Việt Nam; ước lượng tỷ giá cân bằng và ứng dụng tỷ giá thực đa phương để xác định mức sai lệch tỷ giá đến kinh tế vĩ mô của Việt Nam, giới hạn ở một số chỉ tiêu vĩ mô chủ yếu như tăng trưởng, lạm phát, cán cân thương mại
- Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu theo quý bắt đầu từ quý I/2000 -
thời điểm Việt Nam bắt đầu ký Hiệp định Thương mại Việt Nam – Mỹ và cũng
là thời điểm khởi đầu giai đoạn nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới - được cập nhật cho đến quý IV/2020
- Về không gian: Luận án nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực đa phương, tỷ
giá cân bằng, sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận nghiên cứu của Luận án
Chính sách tỷ giá hối đoái có một vai trò quan trọng trong điều hành kinh
tế vĩ mô của một quốc gia Biến động về tỷ giá hối đoái có tác động tới một số biến số kinh tế vĩ mô quan trọng, trong đó quan trọng nhất là thương mại, lạm phát trong nước, tăng trưởng GDP, Luận án sử dụng cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận của kinh tế phát triển nhằm ước lượng tỷ giá hối đoái đa phương, tỷ giá cân bằng, ứng dụng xác định mức sai lệch tỷ giá, đánh giá sai lệch tỷ giá đến kinh tế vĩ mô - hay nói cách khác là ứng dụng tỷ giá đa
Trang 187
phương trong điều hành tỷ giá và kinh tế vĩ mô của Việt Nam Các phân tích, ước lượng, đánh giá được Luận án thực hiện một cách độc lập để ước lượng tỷ giá REER, tỷ giá cân bằng, ứng dụng tỷ giá REER xác định sai lệch tỷ giá và xem xét khả năng ứng dụng tỷ giá đa phương trong điều hành chính sách tỷ giá
và kinh tế vĩ mô bằng phương pháp định lượng Từ đó đưa ra một số đề xuất kiến nghị chính sách
- Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng
Phương pháp định tính được sử dụng bao gồm phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu theo chuỗi thời gian theo quý hoặc năm; phương pháp thống
kê số liệu; phương pháp lịch sử và logic Phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu trong phần phân tích đánh giá về chính sách tỷ giá trong giai đoạn 2000-2020
Phương pháp định lượng bao gồm: (i) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM) để ước lượng tỷ giá hối đoái cân bằng, mức độ sai lệch tỷ giá, (ii) sử dụng mô hình kinh tế lượng toàn cầu (NIGEM)) đánh giá tác động của sai lệch
tỷ giá tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2000-2020 và đánh giá khả năng ứng dụng tỷ giá hối đoái thực đa phương trong điều hành vĩ mô, dựa trên số liệu quý hoặc năm từ các nguồn như Tổng cục Thống kê (GSO), IMF hoặc cơ sở dữ liệu mô hình kinh tế lượng toàn cầu NiGEM
Trang 198
- Khung phân tích của Luận án:
5 Những đóng góp mới của Luận án
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu, Luận án đã tính toán tỷ giá REER
ở Việt Nam giai đoạn 2000-2020 Tuy nhiên, khác với một số nghiên cứu trong nước hiện có, trong công thức tính REER, Luận án tính tỷ trọng thương mại phân tách theo tỷ trọng theo KNXK, KNNK hàng hóa và dịch vụ thay vì theo tổng KNXNK hàng hóa của Việt Nam với các nước đối tác như nghiên cứu của UBKTQH và UNDP (2012) Việc thực hiện phân tách theo tỷ trọng hàng hóa
và dịch vụ sẽ phản ánh đầy đủ và chính xác hơn giá trị thương mại thực tế của Việt Nam với các nước đối tác thương mại, đặc biệt trong bối cảnh giá trị thương mại dịch vụ đang có vai trò ngày càng tăng trong tổng giá trị thương mại của Việt Nam với thế giới Trong đó, tỷ giá thực đa phương được tính theo
Xác định thông tin cần bổ sung
Nghiên cứu lý thuyết
Câu hỏi
nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn về tỷ giá
phương, tỷ giá cân bằng và sai lệch tỷ giá
thực tế (dữ liệu, số liệu)
Thực trạng điều hành tỷ giá hối đoái và tỷ giá đa phương của Việt Nam
Xây dựng mô hình kinh
tế lượng
Vận dụng mô phỏng tác động đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Trang 209
quý, từ quý I/2000 đến quý IV/2020, dựa trên rổ tiền tệ gồm 32 đồng tiền thuộc
50 đối tác thương mại chính của Việt Nam với tỷ trọng thương mại chiếm đến 98% giá trị thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2020 (một số nghiên cứu trước đây lựa chọn số lượng đồng tiền của các đối tác chiếm khoảng 70% giá trị thương mại của Việt Nam)
Luận án thực hiện ước lượng tỷ giá cân bằng của Việt Nam trên cơ sở khảo cứu các phương pháp tính tỷ giá cân bằng đang được áp dụng trên thế giới hiện nay, phân tích các ưu, nhược điểm của từng phương pháp, từ đó lựa chọn phương pháp, mô hình và các biến phù hợp với Việt Nam để áp dụng ước lượng
tỷ giá cân bẳng, ứng dụng tỷ giá REER và tỷ giá cân bằng để ước lượng sai lệch
tỷ giá của Việt Nam
Sau khi xác định được mức sai lệch tỷ giá, Luận án thực hiện đánh giá định lượng tác động của sai lệch này đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu thông qua mô phỏng các tác động này bằng việc sử dụng mô hình kinh tế lượng (NIGEM) và đánh giá khả năng ứng dụng của tỷ giá thực đa phương trong điều hành tỷ giá phục vụ công tác điều hành vĩ
mô của Chính phủ Đây chính là điểm đóng góp mới quan trọng của Luận án
so với các công trình nghiên cứu hiện có
Trên cơ sở các kết quả thu được, Luận án đã đề xuất áp dụng tỷ giá REER trong công tác điều hành tỷ giá và kinh tế vĩ mô trong thời gian tới
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận án bao gồm 4 Chương sau:
Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tỷ giá thực đa phương và các ứng dụng;
Chương II: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái thực đa phương và chính sách
tỷ giá;
Chương III: Thực trạng công tác điều hành chính sách tỷ giá và tỷ giá thực
đa phương của Việt Nam giai đoạn 2000-2020;
Chương IV: Ứng dụng tỷ giá thực đa phương trong điều hành kinh tế vĩ
mô Việt Nam và một số kiến nghị chính sách
Trang 21lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến các vấn đề kể trên, phần cuối Chương I rút ra các hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu, những điểm có thể kế thừa và những vấn
đề cần đi sâu nghiên cứu trong Luận án
1.1 Tỷ giá hối đoái thực đa phương và phương pháp ước lượng
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
Cơ sở lý thuyết và phương pháp tính tỷ giá đa phương được đưa ra bởi các
tổ chức tài chính quốc tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sau đó được công nhận, thống nhất rộng rãi và mở rộng phát triển trong các nghiên cứu ứng dụng thực nghiệm Theo IMF, về lý thuyết, tỷ giá hối đoái phản ánh mức giá tương đối giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Khi một quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại và thực hiện các giao dịch khác với một số quốc gia khác, đặc biệt là nền kinh tế có độ mở cao thì cần xây dựng một chỉ số chung phản ánh giá trị chung của đồng tiền được tính dựa trên các tỷ giá song phương
và mức độ thương mại giữa nước này so với một rổ tiền tệ của các nước đối tác thương mại, đó là tỷ giá hối đoái đa phương (hay còn được gọi là tỷ giá hối
Trang 2211
đoái hiệu quả hay hữu hiệu) OECD (2010) cho rằng tỷ giá hối đoái đa phương
danh nghĩa (NEER) được tính dựa trên cơ sở này là tỷ giá giữa đồng nội tệ của
một nước với một rổ đồng tiền của các nước khác lấy quyền số là tỷ trọng thương mại hoặc thanh toán quốc tế Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) được tính dựa trên NEER sau khi loại bỏ yếu tố lạm phát
Dựa trên cơ sở lý thuyết này, các nghiên cứu đã tiếp tục phát triển và mở rộng trong ứng dụng tính toán REER
Ray Barrell và cộng sự (2005) cho rằng trong bối cảnh các nền kinh tế mở cửa, cạnh tranh và phải tính đến ảnh hưởng của thị trường thứ 3, việc tính REER
có thể trở nên khó khăn hơn khi thiếu dữ liệu để tính trọng số của mỗi quốc gia Trong một số nghiên cứu trước đây, khi số liệu về trọng số thương mại của nước chủ nhà không được thống kê đầy đủ hoặc thiếu, các nghiên cứu thường lấy tỷ trọng thương mại hiện hành thay thế Tuy nhiên, Hinkle và cộng sự (1999) cho rằng việc sử dụng trọng số thương mại hiện hành có thể làm giảm vấn đề của việc thay đổi về cấu trúc thương mại nên được sử dụng cho nghiên cứu chính sách
Tổng quan nghiên cứu cho thấy có 2 phương pháp tính trung bình trọng
số, bao gồm phương pháp tính theo tổng và tích Luci Ellis (2001) mô tả 2 phương pháp tính trung bình trọng số trong ước lượng tỷ giá đa phương, theo
đó phương pháp tính trung bình tổng được mô tả như sau:
𝑒𝑡 là tỷ giá hối đoái đa phương ở thời điểm t,
𝑤𝑛 là tỷ trọng thương mại của các đối tác thương mại,
𝑒𝑛 là tỷ giá hối đoái song phương giữa nước chủ nhà và các đối tác thương mại,
Trang 2312
N là số đối tác thương mại
Trong phương pháp tính trung bình trọng số theo tích, tỷ giá hối đoái đa phương được tính như sau:
Bên cạnh đó, ngoài yếu tố CPI, các nhà nghiên cứu còn sử dụng nhiều chỉ
số khác để đại diện cho mức giá cả ở một quốc gia bao gồm: (i) Chỉ số giá cả của riêng hàng hóa thương mại; (ii) Tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu
Trang 2413
và chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu (được biết với tên gọi là điều kiện thương mại (Clark và MacDonald, 1998; Zhang, 2002; Jongwanich, 2009); (iii) Chỉ số giá nhân công lao động; (iv) Tỷ lệ giữa chỉ số giá cả của hàng hóa thương mại và hàng hóa không tham gia thương mại; (v) Chỉ số giảm phát GDP hay chỉ số giá bán buôn (Lim, 2000)
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã tính toán REER theo công thức được công bố từ các tổ chức quốc tế trên Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) đã tính toán hai chỉ số NEER và REER theo năm cho giai đoạn 2000-2010 theo 10 đối tác thương mại chính của Việt Nam; Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009) đã ước lượng 2 chỉ số này cả theo số liệu năm giai đoạn 1992-2007 và
số liệu tháng giai đoạn tháng 1/1995 đến tháng 12/2007 với rổ tiền tệ của 25 đối tác thương mại chính của Việt Nam với quyền số là tỷ trọng thương mại theo năm cho cả hai chuỗi số liệu năm và tháng Các nghiên cứu trong nước cũng đã sử dụng tỷ trọng thương mại để tính trọng số đồng tiền, như nghiên cứu của Vũ Quốc Huy và cộng sự (2012) trong khuôn khổ tài trợ của Uỷ ban Kinh tế Quốc hội và Tổ chức UNDP (sau đây viết tắt là UBKTQH và UNDP (2012)) đã sử dụng tổng KNXNK hàng hóa của Việt Nam với 20 nước đối tác khác nhau Nghiên cứu này đã lần đầu tiên tính toán được tỷ giá thực đa phương của Việt Nam, mức sai lệch tỷ giá và đánh giá tác động đến chỉ tiêu xuất khẩu trên cơ sở sử dụng các số liệu khá cập nhật, chi tiết hơn cả về tần suất thời gian
và không gian so với các nghiên cứu trước đây, sử dụng mô hình kinh tế lượng
để đánh giá ảnh hưởng của tỷ giá đối với các sản phẩm xuất khẩu theo danh mục quốc tế (195 mặt hàng theo mã SITC 3 chữ số và trên 90 mặt hàng theo
mã HS 2 chữ số trên 4 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, Khu vực Eurozone (gồm 15 nước), Nhật Bản và Hàn Quốc Mặc dù có khác nhau về tần suất và thời gian sử dụng, các chỉ số NEER và REER do các nghiên
Trang 2514
cứu trong nước tính được phần nào đã cho thấy kết quả nhận định tương đối thống nhất ở một số giai đoạn: chẳng hạn như sự mất giá thực tế trong giai đoạn 2000-2013; sự lên giá thực giai đoạn 2004-2007 (Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010) Tuy nhiên, có thể do hạn chế về số liệu và tần suất số liệu trong các nghiên cứu hiện có, sự lựa chọn mô hình và biến số, kết quả từ một số nghiên cứu có thể cho thấy những đánh giá thiếu tin cậy chẳng hạn kết quả từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) và UBKTQH và UNDP (2012)
đã kết luận đến cuối năm 2010 REER của Việt Nam vẫn cao hơn so với năm
2003 đến hơn 20% Nghiên cứu của UBKTQH và UNDP (2012)) đã có những khắc phục các hạn chế bằng cách tính lại các chỉ số với số liệu có tần suất cao hơn và phạm vi rộng hơn (theo tháng), lần đầu tiên đưa mức sai lệch tỷ giá để xem xét song nghiên cứu này lại chỉ xem xét đến việc đánh giá tác động của REER tới nhân tố xuất khẩu thông qua mô hình VECM, mà chưa xem xét đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế như tăng trưởng, nhập khẩu, lạm phát, và quan trọng hơn chưa thực hiện xem xét đánh giá các tác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Kết quả của nghiên cứu đưa ra mức sai lệch lên đến 20% trong giai đoạn cuối năm 2010 cũng đã được nghiên cứu này cho rằng cần phải kiểm tra và xem xét, bao gồm cả các phân tích độ nhạy cảm của việc lựa chọn mô hình và các biến số
1.2 Mối quan hệ của tỷ giá hối đoái đối với một số chỉ số kinh tế vĩ mô
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
Hầu hết các nghiên cứu ngoài nước khẳng định tỷ giá hối đoái là công cụ
vĩ mô quan trọng để ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức lạm phát thấp và hệ thống tài chính ổn định, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu và duy trì tăng trưởng kinh tế
Theo nguyên lý lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm, tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một
Trang 2615
quốc gia Chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu đi kèm với hành động phá giá đồng nội tệ luôn là trọng tâm được nhiều nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách các nước lưu tâm Các nghiên cứu kiểm chứng độ tin cậy của giả thuyết liệu đồng nội tệ định giá thấp có khả năng trở thành con đường phát triển thịnh vượng cho một quốc gia, bởi tỷ giá cho phép thay đổi sức cạnh tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ do các nước sản xuất ra Thông thường, khi giá của đồng tiền của một nước giảm so với các đồng tiền khác, hàng xuất khẩu của nước đó trở nên rẻ hơn còn hàng hoá nhập khẩu lại trở nên đắt hơn một cách tương đối Nói cách khác, chính phủ duy trì đồng nội tệ được định giá thấp là gián tiếp cấp ưu đãi cho xuất khẩu và là một khoản thuế cho nhập khẩu Hàng loạt các nghiên cứu như Kreinin (1967, 1973); Houthakker and Magee (1969); Khan (1974, 1975); Goldstein and Khan (1976, 1978); Wilson và Takacs (1979); Warner và Kreinin (1983); Haynes và Stone (1983); Bahmani - Oskooee (1986); Marquez (1990); Mah (1993) … là minh chứng rõ ràng nhất cho mối quan hệ giữa định giá thấp nội tệ và cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, có trường hợp đặc biệt khi cán cân hàng hóa được cải thiện ở nước này nhưng lại không được cải thiện ở nước khác
Các nghiên cứu cũng thống nhất về mối quan hệ trực tiếp giữa định giá thấp đồng nội tệ (đồng nội tệ không ở mức tỷ giá thực cân bằng) với tăng trưởng kinh tế Hausman và các cộng sự (2005) xác định, đồng nội tệ định giá thực thấp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở 83 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1960 - 2000 Levy-Yeyati và Sturzenegger (2009) chỉ ra bằng chứng
là các nước đang phát triển duy trì lượng dự trữ ngoại hối lớn để can thiệp duy trì nội tệ định giá thấp, khuyến khích tăng trưởng kinh tế
Rodrik (2008) đã lấy minh chứng từ các trường hợp Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia và vùng lãnh thổ này tăng vào nửa cuối thập kỷ 70, tương ứng với thời kỳ nội tệ định
Trang 2716
giá thấp với tỷ lệ mất giá nội tệ có lúc lên tới 50% Với trường hợp hai “con hổ” châu Á là Hàn Quốc và Đài Loan, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại trong giai đoạn đồng nội tệ định giá thực cao hoặc mức độ định giá thấp của đồng nội
tệ giảm đi Theo quan điểm của Rodrik, trong nền kinh tế nhỏ, hai khu vực hàng hóa có thể tham gia thương mại quốc tế và không thể tham gia thương mại quốc
tế đều phải chịu các biến động thị trường khi giá thay đổi Các biến động này
có thể là từ chính sách, từ thất bại thị trường Tâm điểm của vấn đề là độ lớn tương đối của các biến động trong hai khu vực Nếu biến động này ở khu vực
có thể tham gia thương mại quốc tế càng lớn thì sẽ chiếm tỷ trọng nhỏ ở mức cân bằng Một chính sách hay cú sốc ngoại sinh tạo ra sự giảm giá nội tệ đều
có thể kích thích tăng trưởng Chính vì thế, Rodrik nhấn mạnh là chiến lược phát triển kinh tế thông qua chính sách định giá thấp đồng nội tệ là chính sách tốt thứ hai cho các nước đang phát triển
Karadam D., và Özmen E (2011) đã sử dụng dữ liệu dạng bảng của một
số quốc gia phát triển khu vực Đông Á để chứng minh mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái đa phương và tăng trưởng của các nước này, các bằng chứng cho thấy các nước châu Á đã có chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu nhờ duy trì chính sách tỷ giá hối đoái ổn định và cạnh tranh
M.M Habib, E Mileva, L Stracca (2017) đã giải thích mối quan hệ giữa
tỷ giá thực đa phương và tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở những nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình trên thế giới (dưới 6.000 USD/người/năm) Quá trình tác động của tỷ giá hối đoái đa phương đến tốc độ tăng GDP được các tác giả giải thích qua sự phát triển thần kỳ của ngoại thương ở những nước đang phát triển Jaeseok, Yue, Chengyan (2017); Bohl Martin (2015); Tang Bo (2014); Hadj Fraj, (2018); Arestis P, Baltar CT, (2018); Ribeiro, R.S.M., (2019) cũng thừa nhận tồn tại mối quan hệ dương giữa tỷ giá hối đoái đa phương và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Trang 2817
Liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với lạm phát, nhiều nghiên cứu khẳng định việc phá giá đồng tiền là nhân tố chính làm gia tăng lạm phát (Kamin, 1996) trong trường hợp nghiên cứu cho Mêhicô; Dornbusch và các cộng sự (1990) trong nghiên cứu Achentina, Braxin, Pê ru, và Mê-hi-cô Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho rằng phá giá tiền tệ có ảnh hưởng đến lạm phát nhưng mức tác động không đáng kể (Dornbusch và cộng sự, 1990) trong nghiên cứu trường hợp Bôlivia; Kamas (1995) cho trường hợp của Cô lôm bia
Đối với kênh tác động của tỷ giá hối đoái đối với lạm phát, các nghiên cứu cho rằng các thay đổi về tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến giá cả trong nước thông qua tác động đến tổng cung và cầu Ở phía cung, tỷ giá có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát do ảnh hưởng đến giá mua hàng nhập khẩu của người mua trong nước Trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa, khi đồng tiền bị phá giá có thể dẫn đến giá nhập khẩu cao hơn và ngược lại Mặt khác, biến động tỷ giá hối đoái cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến giá cả hàng hoá trong nước ở phía cung Cụ thể là việc gia tăng chi phí nguyên liệu nhập khẩu đầu vào do phá giá tiền tệ sẽ làm tăng chi phí biên và dẫn tới tăng giá hàng hoá sản xuất trong nước (Hyder and Shah, 2004) Tỷ giá biến động cũng ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá thông qua tác động đến tổng cầu Ở một phạm vi nhất định, việc giảm giá (hay tăng giá) đồng nội tệ sẽ làm tăng (hay giảm) nhu cầu của nước ngoài đối với các hàng hoá và dịch vụ trong nước có thể gây ra việc tăng (hay giảm) trong xuất khẩu ròng và do đó ảnh hưởng đến tổng cầu (Hyder and Shah, 2004) Một số nghiên cứu đã tập trung vào đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái thực với cả lạm phát và sản lượng đầu ra Klau (1998) đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ này với việc sử dụng dữ liệu của 22 nước cận Sahara trong giai đoạn 1980-1996, kết quả nghiên cứu cho thấy việc điều chỉnh giảm tỷ giá thực làm tăng cả lạm phát và sản lượng đầu ra Đồng thời phá giá đồng nội tệ có tác động tích cực đến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn Kamin và Rogers (2000)
Trang 2918
trong trường hợp nghiên cứu các dữ liệu theo quý của Mê-hi-cô giai đoạn
1981-1985 đã sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR) để ước lượng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái đa phương với lạm phát, tăng trưởng kinh tế và lãi suất của
Mỹ Nghiên cứu đã cho thấy mặc dù sự biến động của sản lượng đầu ra được giải thích chủ yếu bởi yếu tố đổi mới sáng tạo, việc phá giá đồng tiền vẫn dẫn tới giảm sản lượng kinh tế và tăng lạm phát ở Mê-hi-cô Odusola và Akinlo (2001) đã sử dụng mô hình VAR với 6 biến số (tỷ giá chính thức, tỷ giá song phương giá cả hàng hoá, thu nhập, cung tiền và lãi suất) cho trường hợp của Ni-giê-ria và các kết quả cho thấy có tác động 2 chiều của phá giá đồng tiền đến sản lượng: tác động hạn chế của phá giá đồng tiền tới sản lượng có thể thấy trong quý đầu tiên, nhưng các quý tiếp theo có tác động mạnh hơn Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ giá chính thức có thể làm giá cả gia tăng đáng kể Các kết quả này hàm ý rằng việc sử dụng hệ thống tỷ giá linh hoạt không nhất thiết dẫn tới
mở rộng sản lượng, đặc biệt trong ngắn hạn Berument và Pasaogullari (2003)
đã sử dụng mô hình VAR ước lượng mối quan hệ giữa tỷ giá thực hiệu quả với lạm phát và tăng trưởng của Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả cho thấy sản lượng kinh tế bị ảnh hưởng tiêu cực sau khi đồng tiền bị mất giá, đồng thời mất giá tiền tệ cũng gây ra tình trạng lạm phát
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước đã khẳng định tỷ giá hối đoái có vai trò rất quan trọng và tác động lớn đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Võ Trí Thành và đồng tác giả (2000) đã sử dụng phương trình hành vi đơn giản để đánh giá tác động của phá giá tỷ giá thực đến tăng trưởng, kết quả cho thấy phá giá tỷ giá hối đoái thực có tác động tích cực (dù mức độ không ổn định theo từng giai đoạn) đến tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn và dài hạn Một số nghiên cứu khác đã sử dụng các phương pháp định lượng để đánh giá tác động của tỷ giá đến các chỉ số kinh tế vĩ mô Nguyễn và Kaliarajan (2006) đã sử dụng
Trang 3019
dữ liệu tháng giai đoạn 1991-1999 và phương pháp véc tơ tự hồi quy đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái hiệu quả đối với lạm phát ở Việt Nam, kết quả cho thấy tác động của phá giá tỷ giá danh nghĩa đối với lạm phát là tích cực, tuy nhiên tác động này không đáng kể
Đầu năm 2000, nhiều nghiên cứu trong nước đã sử dụng các phương pháp định lượng phức tạp hơn đánh giá tác động của tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô, trong đó đặc biệt là cán cân thương mại, lạm phát, tăng trưởng
Các nghiên cứu Võ Trí Thành và đồng tác giả (2000), Camen (2006) và Nguyễn Đức Thành và cộng sự (2009) cho thấy chính sách tỉ giá ổn định góp phần vào việc ổn định và giảm lạm phát, song tác giả cho rằng tác động này chỉ mang tính chất cộng hưởng cho các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế chứ không có tác động mạnh mẽ trực tiếp đến lạm phát
Nguyễn Thanh Bình, Hồ Lê Nguyệt Cầm, Đỗ Trịnh Quỳnh Như (2019) nhận định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng do tác động đáng kể đến giá cả thị trường trong nước, cán cân thương mại và sản lượng quốc gia Nghiên cứu này tập trung phản ánh tác động của tỷ giá hối đoái đa phương tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của 5 quốc gia trong khu vực ASEAN bao gồm: Việt Nam, Indonesia, Singapore, Philipines, Malaysia trong giai đoạn 1989-2018 thông qua phương pháp Prais-Winsten (PCSE) Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ dương giữa tỷ giá hối đoái đa phương và tốc độ tăng GDP ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam,
cụ thể khi tỷ giá hối đoái đa phương tăng 1% sẽ có tác động tích cực, làm tăng trưởng GDP của 5 quốc gia tăng 16,2%
Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 1992-2009 đã khẳng định giữ ổn định tỷ giá có thể giúp tăng cường lòng tin vào đồng nội tệ, buộc Chính phủ phải kiểm soát thâm hụt ngân sách và tốc độ tăng tín dụng và thông
Trang 3120
qua đó tăng cường mức độ tin cậy vào chính sách của Chính phủ Khi những yếu tố này được kiểm soát, lạm phát sẽ ổn định Đặc biệt, trong một nền kinh
tế có mức độ “đô la hoá” cao như Việt Nam, khi nguy cơ lạm phát quay trở lại
và niềm tin vào VND giảm sút, người dân sẽ quay lưng lại với đồng nội tệ và chuyển sang dự trữ vàng và USD để tiết kiệm và phòng thân Do đó, việc quản
lý tỷ giá có ảnh hưởng đến kiểm soát lạm phát vì tỷ giá không chỉ ảnh hưởng tới hàng hoá xuất nhập khẩu mà còn tới các hàng hoá nội địa nếu giá của chúng thường được tính bằng USD Mặc dù vậy, nghiên cứu này cũng cho rằng chỉ một mình chính sách tỷ giá không thể có hiệu quả trong chống lạm phát, ổn định tỷ giá không gắn với kiểm soát cung tiền và tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng như các điều tiết vĩ mô nhằm kiểm soát tổng cầu thì cũng không thể giúp ngăn chặn và kiểm soát lạm phát, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn luân chuyển tương đối tự do Mặt khác, nếu tổng cầu và các chính sách tiền tệ được kiểm soát hợp lý thì việc điều chỉnh tỷ giá theo thị trường không nhất thiết sẽ gây ra lạm phát Chính sự lưỡng lự, không rõ ràng, không nhất quán trong chính sách
tỷ giá mới dễ gây ra kỳ vọng lạm phát và lạm phát thực tế ở kỳ sau nếu các chính sách kinh tế vĩ mô không đi theo hướng kiểm soát lạm phát
Đối với mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) cho rằng sự lên giá thực của VND trong giai đoạn nghiên cứu đã làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới Nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1992-2009 cho thấy tình hình nhập siêu của Việt Nam gắn kết khá chặt chẽ với biến động của tỷ giá thực tế Giai đoạn 1992-1996 tuy tỷ giá danh nghĩa được giữ tương đối ổn định nhưng do lạm phát của Việt Nam vẫn cao hơn nhiều
so với lạm phát ở Mỹ nên VND đã lên giá thực tế Gắn với quá trình lên giá này là sự gia tăng liên tục của thâm hụt thương mại Giai đoạn từ 1997-2003 là giai đoạn VND mất giá danh nghĩa và do lạm phát ở Việt Nam thấp, VND cũng
Trang 3221
mất giá thực tế và gần như theo sát giá danh nghĩa, thâm hụt thương mại nhìn chung ở mức thấp nhưng bắt đầu tăng cao vào cuối giai đoạn khi tỷ giá thực bắt đầu ngừng tăng Những năm gần đây, từ 2003 đến nay, đánh dấu sự lên giá thực mạnh mẽ của VND do tỷ giá danh nghĩa được giữ tương đối cứng nhắc và
sự mất giá danh nghĩa vào cuối năm 2008 và 2009 không bù đắp được chênh lệch lớn về lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ Gắn liền với tình trạng lên giá thực
tế này là mức nhập siêu ngày càng lớn và kéo dài
UBKTQH và UNDP (2012) đã cho thấy tỷ giá có ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, tác động tích cực này phụ thuộc vào cả 2 yếu tố: sản phẩm xuất khẩu và thị trường xuất khẩu Kết quả này khẳng định vai trò của công cụ tỷ giá trong việc thúc đẩy xuất khẩu
Nguyễn Thị Thùy Vinh và S Fujita (2007) đo lường mối tương quan giữa
tỷ giá hối đoái thực đa phương với tăng trưởng kinh tế và mức giá của Việt Nam trên cơ sở số liệu trong giai đoạn 1992-2005 với việc ứng dụng mô hình VAR đã cho thấy tỷ giá hối đoái có những tác động đáng kể đến sản lượng kinh
tế và lạm phát, song mối quan hệ này thể hiện mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn khác nhau Trước năm 1999, khi cơ chế tỷ giá của Việt Nam chưa được điều chỉnh theo cơ chế thị trường, tỷ giá không có tác động đến mức giá chung, chỉ có mức giá tác động đến tỷ giá Sau năm 1999, khi nền kinh tế thay đổi cơ chế xác định tỷ giá tại Việt Nam thông qua việc cho phép các NHTM xác định
tỷ giá giao dịch hàng ngày dựa trên tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố vào đầu ngày và biên độ dao động áp dụng cho từng thời kỳ thì tồn tại mối quan hệ 2 chiều giữa tỷ giá và lạm phát và cả tăng trưởng kinh tế Mặc dù vậy, tỷ giá không có tác động đáng kể đến lạm phát, chỉ có lạm phát tác động đáng kể đến tỷ giá Các tác giả kết luận tác động của tỷ giá đến lạm phát không đơn giản vì trong một nền kinh tế mở, tỷ giá thực ảnh hưởng đến giá cả tương đối giữa các hàng hoá sản xuất trong nước và mặt hàng nhập khẩu Tỷ giá có
Trang 3322
thể tác động trực tiếp đến lạm phát do việc thay đổi giá cả tính bằng đồng nội
tệ của các mặt hàng nhập khẩu và qua đó ảnh hưởng đến chỉ số giá cả Do đó, Việt Nam cần hướng tới một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn để ổn định kinh tế vĩ
mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
1.3 Tỷ giá cân bằng và các mô hình ước lượng
1.3.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
- Các nền tảng lý thuyết chung về tỷ giá cân bằng và các phương pháp ước tính
Các mô hình ước tính tỷ giá cân bằng khác nhau trở nên phổ biến ở trên thế giới vào cuối những năm 1990 với sự ra đời của đồng Euro năm 1999 và sự nổi lên của các nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông Âu Koen và cộng sự (2001), Maeso-Fernandez và cộng sự (2002), và Detken và cộng sự (2002) đã
sử dụng các mô hình xác định tỷ giá cân bằng khác nhau để tìm hiểu các nhân
tố cấu thành cơ bản tác động đến đồng Euro và phân tích các phương trình hành
vi của đồng tiền này Sâu hơn, Stein (2002) đã nghiên cứu việc mở rộng thành viên trong Liên minh châu Âu (EU) có ảnh hưởng đến giá trị cân bằng thực của đồng Euro hay không Cũng như trường hợp đồng Euro, cũng đã có nhiều nghiên cứu xem xét biến động của các đồng tiền ở các nước chuyển đổi Egert
và cộng sự (2001) đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề tỷ giá cân bằng đối với các đồng tiền ở khu vực Trung và Đông Âu Trong các nghiên cứu này, một lượng lớn các kiến nghị chính sách có thể ảnh hưởng đến sự biến động của các đồng tiền nội tệ và mức độ sai lệch đã được đưa ra thảo luận bao gồm
cả tình trạng thâm hụt vãng lai lớn
Trong nhiều nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tỷ giá thực đa phương cân bằng đã được ước tính với nhiều phương pháp khác nhau Robert Tchaidze (2007) đã sử dụng 3 cách tiếp cận khác nhau để ước tính tỷ giá cân bằng từ tỷ giá REER Cách tiếp cận đầu tiên – Phương pháp cán cân vĩ mô
Trang 3423
(MB) – xây dựng cán cân vãng lai chuẩn dựa trên mối quan hệ giữa cán cân vãng lai và một bộ các nhân tố cấu thành cơ bản REER được điều chỉnh theo mức co giãn giữa tài khoản vãng lai với REER Cách tiếp cận thứ 2 - Tiếp cận
tỷ giá hối đoái thực cân bằng- trực tiếp hơn, dựa vào mối quan hệ thực nghiệm giữa REER và các nhân tố cơ bản Cuối cùng, cách tiếp cận thứ 3 - dựa trên cân bằng bên ngoài (ES) - đánh giá mức ổn định của tài khoản vãng lai
Tổng quan nhiều nghiên cứu ngoài nước cho thấy, nhìn chung, phương pháp ước tính tỷ giá cân bằng được hình thành trên cơ sở phân loại tỷ giá cân bằng thành 3 loại: tỷ giá cân bằng ngắn, trung và dài hạn
MacDonald (1997) và Clark, MacDonald (1998) đã đưa ra những nghiên cứu đầu tiên về tỷ giá cân bằng hành vi (Behavior Equilibrium Exchange Rate (BEER)) – đại diện cho tỷ giá cân bằng ngắn hạn - để minh họa cấu trúc cơ bản của phương pháp tiếp cận BEER để điều chỉnh tỷ giá thực về tỷ giá cân bằng Những nền tảng lý thuyết của phương pháp tính BEER dựa trên các khái niệm
cơ bản của thuyết ngang giá lãi suất không có bảo hiểm (UIP) Các nghiên cứu tiếp nối sau đó như Edwards và Savastano (1999), Wren- Lewis (1998), Rebecca L Driver và Peter F Westaway (2003), Jongwanich (2009), đã tiếp tục kế thừa và phát triển phương pháp này Jongwanich (2009) mở rộng thêm lựa chọn các biến kinh tế cơ bản trong phương trình của Clark và MacDonald khẳng định phương pháp phân rã các thành phần ngắn hạn và dài hạn, và giai đoạn nghiên cứu khác nhau có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái cân bằng và tổng độ sai lệch khác nhau Hinkle và Montiel (1997) cho rằng phương pháp BEER phù hợp khi ước lượng tỷ giá cân bằng ở các nước đang phát triển với việc cung cấp
lý thuyết và các cách tiếp cận thực nghiệm bao gồm kỹ thuật ước lượng cân bằng từng phần, cấu trúc mô hình cân bằng tổng quát Wren- Lewis (1998) đã lập luận rằng phương pháp tính BEER là một phương pháp tính đơn giản hơn
Trang 3524
là một mô hình ước lượng tỷ giá hối đoái BEER có thể nắm bắt sự dịch chuyển
cơ bản và có hệ thống của tỷ giá hối đoái
Phương pháp tính tỷ giá cân bằng cơ bản (Fundamental Equilibrium Exchange Rate (FEER )) - tỷ giá cân bằng trung hạn - được đưa ra ban đầu từ công trình nghiên cứu quốc tế của Williamson (1985) và tiếp tục được mở rộng bởi chính học giả này vào năm 1994 Tiếp sau đó, phương pháp này tiếp tục được mở rộng bởi nhiều nghiên cứu như Wren –Lewis (1992); Bayoumi và cộng sự (1994); (MacDonald, 2000); Drvier và Westaway (2004),… Các nghiên cứu cho rằng ước tính tỷ giá cân bằng theo phương pháp FEER từ tỷ giá hối đoái đa phương là cho tỷ giá REER phải thoả mãn đồng thời cả cân bằng bên trong và bên ngoài, như vậy FEER là một “phương pháp tính tỷ giá hối
đoái thực tế phù hợp với cân bằng kinh tế vĩ mô trung hạn” Wren_ Lewis
(1992) đã chỉ ra rằng FEER chỉ là “phương pháp tính tỷ giá hối đoái thực phù hợp trong điều kiện cân bằng kinh tế vĩ mô trung hạn” Điều này đồng nghĩa với cách tiếp cận FEER không áp dụng cho lý thuyết xác định tỷ giá hối đoái
mà được giả định rằng một sự phân kỳ tỷ giá hối đoái hiện hành từ FEER sẽ tạo động lực đưa tỷ giá giao ngay về tỷ giá FEER Cách tiếp cận này chỉ để ước tính FEER cho giá trị cân bằng trong trung hạn Tuy nhiên, quá trình hội tụ từ
tỷ giá thực trong ngắn hạn về giá trị cân bằng lại không được xác định (MacDonald, 2000)
Phương pháp ước lượng tỷ giá cân bằng tự nhiên (Natural Real Exchange Rate (NATREX))- tỷ giá cân bằng dài hạn - được Stein (1994) mô tả cụ thể theo đó các nhân tố cơ bản là sự biến động năng suất và tiết kiệm xã hội (sự ưa thích theo thời gian của việc tiêu dùng/ chi tiêu của Chính phủ và hộ gia đình) trong nước và nước ngoài, được thể hiện bởi nhân tố Z(t) Các nhân tố cơ bản được xác định là ngoại sinh không chỉ tác động đến đầu tư, tiết kiệm và tài khoản vãng lai mà còn tác động đến quỹ đạo của NATREX NATREX sẽ hội
Trang 3625
tụ về một tỷ lệ bền vững trong dài hạn khi không có một sự thay đổi nào trong các nhân tố cơ bản (không có sự thay đổi trong dòng vốn và nợ) Khi khoảng thời gian càng dài thì việc điều chỉnh tỷ giá động có thể được đánh giá tốt nhất bằng phương pháp NATREX Đó là lý do cho những nghiên cứu gần đây rất
ưa chuộng áp dụng mô hình NATREX để phân tích ý nghĩa của chính sách tiền
tệ và chính sách tỷ giá trong dài hạn, ví dụ như nghiên cứu của Rajan và Siregar (2002) khi phân tích về chênh lệch tỷ giá trước và sau khủng hoảng của đồng Dollar Hong Kong và đồng Dollar Singapore; hay Stein (2002) nghiên cứu về tác động của sự mở rộng liên minh châu Âu lên tỷ giá cân bằng Như vậy có thể nhận thấy về bản chất NATREX là một dạng khác của FEER Tuy nhiên,
để xác định NATREX phải xem xét cả điều kiện trong trung hạn và dài hạn khi tổng vốn và nợ nước ngoài hội tụ về các giá trị ở trạng thái dừng của nó
1.3.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Tổng quan nghiên cứu các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy, mặc dù còn ít, song từ những năm 2000, tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu thực hiện ước lượng tỷ giá cân bằng Hạ Thị Thiều Dao và cộng sự (2011) đã ước lượng tỷ giá BEER từ tỷ giá REER với việc sử dụng phương pháp lọc Hodrick - Prescott (HP) và sau đó đã sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai
số (ECM) để đánh giá tác động của các biến số cơ bản đến tỷ giá cân bằng Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái đa phương của Việt Nam đã bị đánh giá cao so với các đối tác ngoại thương chính trong tương quan với thời điểm gốc của giai đoạn nghiên cứu, năm 2000, điều này cho thấy sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam so với các đối tác ngoại thương chính giảm Diễn biến này càng làm cho mục tiêu cân bằng cán cân thương mại bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu càng khó được thực hiện
Đáng chú ý, UBKTQH và UNDP (2012) đã nghiên cứu tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000-2011, xem xét các nhân tố quyết định, ước lượng tỷ giá cân
Trang 3726
bằng của Việt Nam theo phương pháp BEER, từ đó tính toán mức độ sai lệch
và thực hiện các đánh giá tác động đối với xuất khẩu Trong nghiên cứu này, UBKTQH và UNDP (2012) đã sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy đa thức để ước lượng tỷ giá cân bằng từ các hệ số dài hạn của REER dựa trên các biến kinh tế cơ bản với mẫu gồm 20 nước
Tóm lại, các nghiên cứu đã thực hiện ở Việt Nam chưa đánh giá được tác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
1.4 Sai lệch tỷ giá và các tác động
1.4.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 ở Đông Á đã khiến việc ước lượng mức độ sai lệch của tỷ giá (hay độ chênh lệch so với tỷ giá cân bằng) được nhiều học giả quan tâm Các nghiên cứu tập trung vào giải quyết các vấn đề: (i) Ước tính mức độ sai lệch của đồng nội tệ ở khu vực Đông Á (thường là
tỷ giá song phương với các ngoại tệ chủ chốt như đô la Mỹ hoặc Yên Nhật Bản) như Husted và MacDonald (1998 and 1999), Rajan và Siregar (2002), Rajan, Sen và Siregar (2004), Lim (2000 & 2002) và Montiel (1997); (ii) Liệu độ lệch (hay chênh lệch so với tỷ giá cân bằng) này chỉ xảy ra trong khoảng thời gian ngắn hay tạm thời? Liệu một nền kinh tế như phần lớn các nước Đông Á, mở cửa và phụ thuộc vào cả nền kinh tế Mỹ và Nhật Bản, có nên áp dụng chính sách tỷ giá cứng nhắc với đồng USD? Hay nên neo tỷ giá cứng với đồng Yên? Rajan, Sen và Siregar (2004) đã phát hiện ra chính sách neo tỷ giá mềm với đồng USD được Chính phủ Thái Lan áp dụng trong giai đoạn trước khủng hoảng 1997 đã giúp đồng Baht luôn cân bằng với đồng USD song lại chênh lệch lớn với đồng Yên Sự sai lệch của tỷ giá cân bằng với đồng Yên là nguyên nhân khiến thâm hụt cán cân vãng lai song phương lớn với nền kinh tế Nhật Bản đặc biệt vào giữa những năm 1990 Stephane Roudet và cộng sự (2007) cho rằng để đo lường mức độ sai lệch của tỷ giá đòi hỏi phải xây dựng một biến
Trang 3827
số không quan sát được, tỷ giá cân bằng EREER, theo đó các nhân tố cấu thành nên EREER cần được phân tách thành các nhân tố tạm thời và dài hạn Như vậy, EREER- tỷ giá cân bằng được xác định là REER trong dài hạn phù hợp với giá trị cân bằng của các nhân tố cơ bản cấu thành nên nó
Các nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của sai lệch tỷ giá đến các biến
số kinh tế vĩ mô Razin và Collins (1999); Aguirre Calderon (2005); Prasad và
cộng sự (2007) đã đánh giá tác động của sai lệch tỷ giá đến tăng trưởng kinh
tế, theo đó khẳng định sai lệch tỷ giá càng lớn, tăng trưởng kinh tế sẽ càng giảm Nghiên cứu của Aguirre và Calderon (2005) cũng đã có những đóng góp quan trọng bằng cách, giả định tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước khác nhau
sẽ phụ thuộc vào mức độ hoặc dấu của sai lệch tỷ giá Với việc sử dụng mô hình tăng trưởng chuẩn, tác giả kết luận là mức độ suy thoái kinh tế phụ thuộc vào độ lớn của sai lệch tỷ giá Đồng nội tệ càng bị định giá thực thấp, càng là nhân tố lớn gây tổn thương tăng trưởng kinh tế, nhưng mức độ định giá thực thấp nhỏ và trung bình có thể khuyến khích tăng trưởng kinh tế
Chênh lệch lớn giữa REER và tỷ giá cân bằng còn là một trong những dấu hiệu cảnh báo nguy cơ một nước có thể bị tấn công tiền tệ dẫn đến khủng hoảng Jongwanich (2009) dựa trên nghiên cứu các nền kinh tế Ðông Á chỉ ra rằng, trước khủng hoảng năm 1997, phần lớn REER của các nước Ðông Á đều lệch
âm so với EREER (đồng tiền bị định giá cao) và những nước có mức lệch lớn
là những nước bị tấn công tiền tệ mạnh nhất Nếu như mức lệch của Indonesia trước năm 1997 là 20% thì ở Thái Lan chỉ là 15%, Malaysia là 10% và Hàn Quốc khoảng 7%
Goldfain và Valdes (1996) đã chỉ ra xu hướng lên giá thực của đồng nội
tệ trong chế độ tỷ giá cố định Đồng nội tệ lên giá thực đã được đánh giá là một dấu hiệu cảnh báo sớm cho khủng hoảng tiền tệ (Kaminsky et al., 1998; Burkart and Coudert, 2002; Bussière and Fratzscher, 2006) Ở một khía cạnh khác, đồng
Trang 39bị định giá cao thường gắn với tình trạng quốc gia không có khả năng can thiệp trên thị trường ngoại hối do dự trữ ngoại hối cạn kiệt Cách giải thích thứ hai gắn với trường hợp một số nước Đông Nam Á với nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào dòng vốn ngắn hạn nước ngoài Trong ngắn hạn, nền kinh tế chi tiêu nhiều hơn, xuất hiện bong bóng trên thị trường chứng khoán và bất động sản, kèm theo hiện tượng nội tệ lên giá thực Song khi dòng vốn ngắn hạn đảo chiều, ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước không có khả năng can thiệp xuất hiện cả khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế Các nghiên cứu cũng đã làm rõ tác động của sai lệch tỷ giá đối với nhân
tố lạm phát Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa phá giá đồng nội tệ và tăng
trưởng kinh tế đều chỉ ra một hiệu ứng khác làm giảm hiệu quả của việc giảm giá đồng nội tệ tới tăng trưởng kinh tế, đó là hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát Với các nước có nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng nhập khẩu thì việc phá giá sẽ làm tăng mức giá trong nước Các nghiên cứu thực nghiệm và cả lý thuyết đã chỉ ra rằng sự can thiệp của Chính phủ nhằm giữ tỷ giá hối đoái thực dưới tỷ lệ cân bằng (mức thấp hơn) sẽ gây ra lạm phát Calvo, Reinhart và Vegh (1995) và Siregar (2000) đã lần lượt nghiên cứu và làm rõ vấn đề này ở một số nước Mỹ La tinh (như Brasil, Chile và Colombia)
và Indonesia Một nghiên cứu gần đây về vấn đề này ở các nước Đông Á (Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan, Goo (2006) cũng đã cho thấy cơ chế tỷ giá hối đoái dẫn đến đồng tiền bị định giá thấp hơn (hoặc cao hơn) giá trị thực là nguyên nhân dẫn đến lạm phát (giảm phát)
Trang 4029
1.4.2 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
Tổng quan nghiên cứu trong nước cho thấy, một số ít các nghiên cứu trong nước đã tính toán mức độ sai lệch tỷ giá của Việt Nam, song chưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá các tác động của sai lệch tỷ giá đến các chỉ tiêu kinh
tế vĩ mô Hạ Thị Thiều Dao (2011) đã tính toán sai lệch tỷ giá của Việt Nam giai đoạn 2000-2010 khoảng 7% và dao động đổi chiều khá nhanh Ðiều này cũng gợi ra một câu hỏi: Vấn đề đáng quan tâm ở đây là mức độ lệch bao nhiêu
là đáng cảnh báo cho một cuộc tấn công tiền tệ? Tác giả cho rằng câu hỏi này đòi hỏi phải có một nghiên cứu sâu hơn nhưng biến động khá nhanh của chênh lệch giữa REER và EREER gây ra sự không ổn định về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam UBKTQH và UNDP (2012)) tính toán tỷ giá thực đa phương của Việt Nam, tính toán sai lệch tỷ giá Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ thực hiện đánh giá tác động của REER đến chỉ tiêu xuất khẩu trên cơ sở sử dụng các
số liệu khá cập nhật, chi tiết hơn cả về tần suất thời gian và không gian so với các nghiên cứu trước đây, sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá ảnh hưởng của tỷ giá REER đối với các sản phẩm xuất khẩu theo danh mục quốc tế Kết quả của nghiên cứu đưa ra mức sai lệch lên đến 20% trong giai đoạn cuối năm
2010 cũng đã được chính nghiên cứu này cho rằng kết quả trên cần phải kiểm tra và xem xét, bao gồm cả các phân tích độ nhạy của việc lựa chọn mô hình và các biến số
1.5 Một số hạn chế của các công trình nghiên cứu và những vấn đề được nghiên cứu sâu trong Luận án
1.5.1 Một số hạn chế của các công trình nghiên cứu
Mặc dù có nhiều nghiên cứu thực hiện xác định tỷ giá REER, tỷ giá cân bằng và độ sai lệch tỷ giá nhưng số nghiên cứu thực hiện ứng dụng REER để xem xét sai lệch tỷ giá ở Việt Nam chưa nhiều Đồng thời, có thể do hạn chế
về số liệu và tần suất số liệu trong các nghiên cứu hiện có, sự lựa chọn mô hình