1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn đàm phán quốc tế cuộc đàm phán đi đến ký kết hiệp định paris 1973

14 1,8K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cuộc đàm phán đi đến ký kết hiệp định Paris 1973
Tác giả Nguyễn Thị Mai
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Ánh
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Đàm phán Quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 640,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đi đàm phán có chính danh một chính phủ có tính pháp lý cao hơn, trong năm 1969 CPCMLT miền Nam Việt Nam đã được thành lập trong lòng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam.. Đối tượng

Trang 1

ĐỀ TÀI:

Cuộc đàm phán đi đến ký kết hiệp định Paris 1973

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Hoàng Ánh

Hà Nội, tháng 04/2011

Trang 2

2

PHỤ LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

1 Các bên tham gia đàm phán 4

2 Đối tượng đàm phán 5

3 Quá trình đàm phán 5

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc đàm phán 8

5 Kết quả cuộc đàm phán 9

6 Chiến lược, chiến thuật đàm phán 11

KẾT LUẬN 12

Trang 3

3

LỜI MỞ ĐẦU

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến tranh dài nhất thế kỉ XX và hội nghị Paris cũng là hội nghị ngoại giao dài nhất thế kỉ XX Hội nghị này kéo dài gần 5 năm (1968 – 1973) Toàn văn hiệp định Paris bao gồm 9 khoản với 23 điều Hiệp định Paris là kết quả của sự đấu tranh giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu

về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối

về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị, chính nghĩa Đó còn

là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ Ở

Pa-ri đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo

lý, hai thứ mưu lược khác nhau

Hiệp định Paris thực sự là mốc son chói lọi cho nền ngoại giao Việt Nam, là kết quả của những hi sinh trên chiến trường và sự đấu tranh không mệt mỏi trên bàn đàm phán

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Chính phủ Cách mạng lâm thời đã được đề cử giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1973 vì những gì ông đã đạt được cho nền hòa bình dân chủ Việt Nam

Trong khuôn khổ tiểu luận môn học “Đàm phán quốc tế” dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hoàng Ánh, tôi đã tiến hành nghiên cứu cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Paris để từ đó tìm hiểu sâu hơn những kiến thức về kỹ năng đàm phán Do khuôn khổ thời gian có hạn cùng trình độ hiểu biết và kiến thức còn hạn hẹp nên bài tiểu luận này chắc chắn sẽ còn những thiếu sót, kính mong sự góp ý của TS Nguyễn Hoàng Ánh

và các bạn để tôi sẽ hoàn thiện hơn trong các tiểu luận cũng như luận văn sau này Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

4

NỘI DUNG

1 Các bên tham gia đàm phán

Liên quan đến các bên tham gia đàm phán là câu chuyện về chiếc bàn đàm phán Phía Hoa Kỳ muốn họ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngồi một bên Phía Việt Nam muốn có 4 bên: 1.Mỹ; 2.Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn); 3.Việt Nam Dân chủ cộng hòa đại diện cho miền Bắc Việt Nam và 4.Chính phủ cách mạng lâm thời (CPCMLT) đại diện cho miền Nam Việt Nam (Để đi đàm phán có chính danh một chính phủ có tính pháp lý cao hơn, trong năm 1969 CPCMLT miền Nam Việt Nam đã được thành lập trong lòng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam)

Sự kiện này có thể được giải thích như sau: Phía Mỹ muốn một giải pháp hòa bình, theo đó chính quyền Sài Gòn sẽ kiểm soát được hoàn toàn miền Nam Việt Nam Nếu xảy ra khả năng này, CPCMLT và những cán bộ Cộng sản nòng cốt của CPCMLT sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt Vì vậy, chừng nào Việt Nam Dân chủ cộng hòa vẫn yêu cầu CPCMLT phải có một đoàn riêng tại hội nghị, tự phát ngôn và có tiếng nói riêng thì chừng đó CPCMLT vẫn có quyền tự định đoạt cho mình

Cuối cùng một phương án thỏa hiệp đã được thông qua: sẽ dùng một chiếc bàn tròn lớn

và hai bàn chữ nhật nhỏ, để hai bên đều có thể cảm thấy yêu cầu của mình được đáp ứng Các nhân vật đại diện bao gồm:

- Henry Cabot Lodge, Jr dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ

- William P Rogers bộ trưởng bộ ngoại giao Hoa Kỳ

- Trần Văn Lắm, phía Việt Nam Cộng hoà

- Nguyễn Duy Trinh, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

- Nguyễn Thị Bình, phía Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam

Và các nhân vật khác: Lê Đức Thọ và Henry Kissinger

Trang 5

5

2 Đối tượng đàm phán

Hiệp định Paris được ký kết với nhiều nội dung, tuy nhiên đối tượng của tất cả các cuộc đàm phán trong suốt 5 năm đó là việc Mỹ phải tiến hành rút quân hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam

3 Quá trình đàm phán

Cuộc đấu tranh để có được thỏa thuận cùng ngồi trên bàn đàm phán diễn ra rất cam go Chúng ta luôn muốn giải quyết vấn đề miền Nam bằng con đường ngoại giao hoà bình Tuy nhiên, với ý đồ lăm le xâm chiếm toàn bộ Việt Nam, đế quốc Mỹ đã khiến cuộc thương lượng phải diễn ra trên chiến trường trong suốt những năm 1966, 1967, 1968 Cuối cùng, với thắng lợi có tính chất quyết định trên bầu trời miền bắc và chiến thắng xuân Mậu Thân (1968) đã buộc Hoa Kì phải ngồi vào bàn đàm phán

Suốt thời kỳ từ 1968 đến 1972, hội nghị Paris diễn ra trong bế tắc Trong suốt quá trình hội nghị các cuộc họp chính thức chỉ mở màn, tố cáo nhau, tranh luận vài điều mà không thể giải quyết được bất cứ vấn đề cốt lõi nào Chỉ có các cuộc tiếp xúc bí mật của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của Bắc Việt Nam và Tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn của tổng thống Hoa Kỳ, là đi vào thảo luận thực chất nhưng không đi được đến thỏa hiệp

Lập trường ban đầu của Hoa Kỳ: quân đội Hoa Kỳ cùng các đồng minh nước ngoài

rút khỏi Việt Nam phải đồng thời với việc quân của Bắc Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có quyền tồn tại trong giải pháp hoà bình

Lập trường ban đầu của Bắc Việt Nam: quân đội Hoa Kỳ phải rút khỏi Việt Nam,

quân đội Bắc Việt Nam có quyền ở lại chiến trường miền Nam Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không được tồn tại trong giải pháp hoà bình Trong đó vấn đề quy chế của quân đội Bắc Việt tại chiến trường miền Nam Việt Nam là cốt lõi, chìa khoá của mọi mâu thuẫn của các bên

Cuối năm 1972, đã quá mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài và bị dư luận trong nước và quốc

tế đòi hỏi giải quyết vấn đề hoà bình ở Việt Nam trong thời gian nhiệm kỳ tổng thống

Trang 6

6

của mình như đã hứa, chính phủ Hoa Kỳ của Tổng thống Richard Nixon đã nhượng bộ trong vấn đề cốt lõi này Về phía mình Bắc Việt Nam cũng nhượng bộ về vấn đề quyền tồn tại của chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu Trong cuộc tiếp xúc riêng với đại diện Mỹ ngày 8/10/1972, ta đã đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết

Ngày 17/10/1972, văn kiện Hiệp định hoàn tất và hai bên đã thoả thuận đến ngày 31/10/1972 sẽ ký chính thức Trước khi ký, ngày 22/10/1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng mọi hoạt động chống phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20

Vậy mà sau đó, lúc bản hiệp định chỉ còn chờ chữ ký để trở thành hiện thực thì Nhà Trắng lại ngang ngược phản lại những điều đã giao ước Kissinger bỏ chuyến bay đến

Hà Nội, thông báo trì hoãn ngày ký kết và ngày ngừng bắn với lý do Nguyễn Văn Thiệu không chịu ký

Trước sự bội ước của Hoa Kỳ, ngày 26 tháng 10 , Chính phủ ta ra tuyên bố sự quay quắt lật lọng của Nhà Trắng với nhân dân toàn thế giới Người phát ngôn của Chính phủ ta, trước đông đảo các nhà báo quốc tế ở Pa-ri đã lên tiếng tố cáo : "Hòa bình đã ở đầu ngọn bút nhưng chính phủ Mỹ đã trở mặt, phản lại những điều đã thỏa thuận'' Dư luận Mỹ và thế giới xôn xao

Bị lên án kịch liệt, Kissinger buộc phải tổ chức họp báo Kissinger thừa nhận nội dung của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra là đúng, mặt ông ta lại phát biểu rất ỡm ở: "Thưa quý bà, quý ông! Sau mười năm diễn biến , cuộc chiến tranh đã đến hồi kết thúc Chúng ta tin rằng Hòa bình đang ở trong tầm tay "

Hành động tinh khôn này của Kissiger đã trấn an được dư luận Mỹ Nícxơn đã thắng đối thủ Mắc Ga-vơn trong cuộc bầu cử Sau đó, Nícxơn cho Kissinger bay sang Paris họp tiếp với nhiệm vụ trì hoãn và gây bế tắc hội nghị, Nícxơn còn bảo Chánh văn phòng Handerman gọi điện mật nhắc nhở thêm : "Cần tránh những điều gì tỏ ra là chúng ta phá vỡ thương lượng Nếu xảy ra tan vỡ thì phải là do phía Hà Nội gây ra

Trang 7

7

Trong bất cứ trường hợp nào phía chúng ta cũng không được tỏ ra là bên có sáng kiến chấm dứt thương lượng " (theo Hồi ký của Nícxơn)

Tháng 11 năm 1972 ở thủ đô nước Pháp, Kissinger đòi sửa 69 điều trong những điều

mà hai bên đã thỏa thuận hồi tháng 10, trong đó lật lại vấn đề cốt lõi: quy chế của lực lượng Bắc Việt, và nêu vấn đề khu phi quân sự Điều này thể hiện sự lật lọng trắng trợn

từ phía Mỹ, chúng ta đề nghị thu hồi các nhượng bộ từ các buổi họp trước đó và đưa ra yêu cầu mới, trong đó có việc lật lại vấn đề cơ bản về trao trả tù binh Mỹ Hồi tháng

10, phía Bắc Việt đã đồng ý trao trả tù binh Mỹ vô điều kiện trong vòng 60 ngày Nay

họ muốn gắn việc trao trả tù binh với việc thả hàng ngàn tù chính trị tại Nam Việt Nam

- một vấn đề mà họ đã từng đồng ý dành nó cho các thương thảo cụ thể sau này giữa các bên Việt Nam

Ngày 6 tháng 12, Kissinger đưa ra lời đe dọa: nếu cuộc thương lượng bị tan vỡ thì chiến tranh sẽ tiếp diễn với cường độ mạnh hơn Đến lúc đó cuộc chiến tranh sẽ thay đổi tính chất, cuộc thương lượng cũng sẽ thay đổi tính chất Mỹ sẽ không bàn bạc về hiệp định này nữa

Ngày 7 tháng 12, Nícxơn gửi điện mật báo cho Kissinger : "Chúng ta sẽ ném bom dữ dội Bắc Việt, nhưng sẽ không thông báo cho công chúng biết trước", và chỉ thị Kissinger vẫn phải tỏ ra mềm dẻo, tiếp tục màn kịch đàm phán thêm một thời gian nữa

Để có thể đi đến ký kết hiệp định hòa bình, trong những ngày này, phía ta đã có nhiều nhân nhượng, nhưng cũng có những điều không thể nào nhân nhượng nổi Cuối cùng đến ngày 13 tháng 12, cuộc đàm phán hoàn toàn bế tắc, phải dừng lại

Cố vấn Lê Đức Thọ nhìn thẳng vào mặt Kissinger cảnh cáo: "Các ông gieo gió ắt phải gặp bão" Hôm đó Cố vấn Lê Đức Thọ lên máy bay về Hà Nội, còn Kissinger bay về Washington Trước khi rời Paris, trước các nhà báo ở sân bay Orlean, Kissinger lớn tiếng tố cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phá vỡ thương lượng

Trang 8

8

Ngày 14 tháng 12, Nicxon chính thức ra lệnh: "Hải quân tiếp tục rải thủy lôi phong tỏa các cảng và các cửa sông Bắc Việt Không quân bắt đầu cuộc tiến công bằng B52 vào

Hà Nội, Hải Phòng"

Một chiến dịch đã được Mỹ chuẩn bị tỉ mỉ từ trước (thông qua ngày 30/11/ 1972, với

sự tham gia bàn bạc của Nícxơn, cố vấn Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laird, Thứ trưởng Quốc phòng Hang và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Moorer) , các tàu chiến Mỹ tiến hành việc thả thủy lôi, còn các phi công chiến lược ở Guam và Utapato thì chuẩn bị sẵn sàng chờ đến ngày 18 tháng 12 (theo giờ Hà Nội ) thì oanh tạc

Hà Nội Chiều 18 tháng 12, chiếc máy bay chở Cố vấn Lê Đức Thọ hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm Chỉ mấy giờ sau, những loạt bom đầu tiên của B52 Mỹ đã dội xuống Hà Nội Chiến dịch Linebacker II này diễn ra trong 12 ngày đêm với kết quả là thất bại thảm hại về tay Hoa Kỳ

Tờ Bưu điện Washington (Washington Post), dưới dòng tít lớn "Đợt ném bom khủng

bố nhân danh hòa bình" viết: "Thất bại này buộc Tổng thống Nícxơn và cố vấn của ông

ta phải chấp nhận trở lại những điều khoản mà cách đây ba tháng họ đã bác bỏ "

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc đàm phán

Thứ nhất là môi trường đám phán: Đàm phán là một quá trình liên tục, diễn ra ngay

trước khi các bên có ý định đàm phán với nhau Phía Hoa Kỳ có lẽ sẽ không đồng ý ngồi vào bàn đàm phán cho đến khi chúng ta giành được những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường miền Bắc và chiến thắng Mậu Thân năm 1968 Sau đó, cuộc đàm phán chìm trong bế tắc cho đến năm 1972; nhờ có dư luận Mỹ và dư luận thế giới tỏ ra phẫn

nộ đối với cuộc chiến tranh xâm chiến dai dẳng tại Việt Nam trước thềm bầu cử Tổng thống Mỹ nên phía Mỹ đã phải nhượng bộ về vấn đề quy chế của quân đội Bắc Việt Nam tại miền Nam Như vậy các yếu tố xung quanh bàn đàm phán có tác động quyết định tới hướng đi của cuộc thương lượng

Trang 9

9

Thứ hai là ưu thế: Trong cuộc chiến ngoại giao này, chúng ra đã tận dụng được những

ưu thế lúc bấy giờ: có sự ủng hộ to lớn của dư luận toàn cầu, có những kênh phát ngôn chính thống và đáng tin, quan trọng hơn cả là chiến thắng liên tiếp trên tất cả các mặt trận đã khiến Mỹ bối rối và tìm cách thoát chạy khỏi Việt Nam bằng một con đường danh dự

Thời gian trước thềm ký kết hiệp định Paris cũng là thời điểm Níc Xơn cần lấy lòng nhân dân Hoa Kỳ cho đa số phiếu bầu vào vị trí Tổng thống, đây là nhân tố khách quan

mà chúng ta đã nắm bắt được để tạo lợi thế cho mình, gia tăng sức ép cho Mỹ

Thứ ba là thời gian: Trong giai đoạn nước rút đi đến cuộc đàm phán cuối cùng, từng

ngày từng giờ đều là cuộc đối đầu của trí tuệ và trí lực Hai bên liên tục gặp gỡ, trao đổi, bàn bạc, rồi lại cảnh cáo dọa dẫm, thậm chí lật lọng bội ước, trấn an dư luận bằng những phát ngôn xảo trá Hai bên giành giật từng mốc thời gian, ứng biến tức thời trước hành động của đối phương

Hầu hết các điều khoản của hiệp định Pari đều mang lại những thuận lợi cho cách mạng nước ta đồng thời buộc chính quyền Mĩ và chính quyền Sài Gòn vào tình trạng bất lợi Đó là các nội dung cụ thể:

- Lệnh ngừng bắn sẽ được thi hành trên toàn miền Nam Việt Nam

- Hoa Kỳ sẽ ngừng tại chỗ mọi hành động quân sự nhắm vào hải phận, không

phận và địa phận của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa…

- Hoa Kỳ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền

Nam Việt Nam

- Trong vòng 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày ký Hiệp Định, Hoa Kỳ và các nước

can thiệp (được nhắc đến trong điều 3a) triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam toàn bộ quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự (kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự, nhân viên quân sự cộng tác với chương trình hòa bình), vũ khí, đạn dược và vật liệu chiến tranh Lực lượng cảnh sát và các cố vấn của các nước

Trang 10

10

nói trên cũng như của tất cả các tổ chức bán quân sự cũng phải rút quân trong thời hạn này

Theo những nội dung này thì Mỹ không được dính líu quân sự vào Việt Nam, Mỹ phải rút hết quân và vũ khí ra khỏi lãnh thổ nước ta Nguỵ quân mất đi nguồn viện trợ đắc lực nhất Nguồn viện trợ này có tính chất sống còn đối với Nguỵ quân, Nguỵ quyền Trong khi đó, sức mạnh quân đội cách mạng Việt Nam không thay đổi, thậm chí tăng lên về số lượng và chất lượng Với điều khoản này, chúng ta hoàn toàn có lợi để thực hiện giải phòng miền Nam, thống nhất nước nhà

- Sau lệnh ngừng bắn, hai phía miền Nam Việt Nam được phép tiến hành thay

thế định kỳ những vũ khí, đạn dược, vật liệu chiến tranh đã bị phá hủy, hư hỏng, hao mòn hoặc hết thời hạn sử dụng theo nguyên tắc một-đổi-một…

Với điều khoản này, quân đội cách mạng có thêm nhiều lợi thế Với nguyên tắc “một đổi một” trong thay thế và tăng cường vũ khí quân đội Mỹ và Nguỵ gặp những bất lợi

do vũ khí của chúng mang vào nước ta chủ yếu qua hải cảng Từ đó, cơ quan giám sát quốc tế dễ dàng kiểm soát số lượng vũ khí của địch Trong khi đó, quân đội cách mạng ngày đêm tăng cường cho miền Nam bằng rất nhiều con đường mà không một cơ quan quốc tế nào có thể kiểm soát được Chính vì vậy tương quan lực lượng sẽ có lợi cho ta Các điều khoản về tương lai miền Nam và đất nước:

- Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị của miền

Nam Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do, dân chủ dưới sự giám sát của quốc tế Các nước quốc gia khác sẽ không áp đặt bất kỳ một xu hướng chính trị hay một

cá nhân nào lên miền Nam Việt Nam

- Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến 17 (mười bẩy) chỉ là tạm thời

chứ không phải là ranh giới lãnh thổ hay chính trị

Qua hai điều khoản trên, cộng với thực tế cách mạng Việt Nam, chúng ta hoàn toàn tin tưởng miền Nam sẽ được giải phóng đất nước sẽ thống nhất đi lên CNXH

Ngày đăng: 25/12/2013, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w