- Là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào vào một nước, được chính phủ nước đó chấp nhận để hợp tác kinhdoanh trên cơ sở hợp đồ
Trang 1Tiểu luận Lý thuyết tài chính tiền tệ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT
NAM
GVHD: HỒ THỊ HỒNG MINH LỚP: K10504
MSSV: K105041640
Họ tên: Hoàng Thị Tâm
Trang 2MỤC LỤC
LỜIMỞĐẦU 1
I KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm của FDI 2
3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
4 Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế 4
II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 11
1.Khái quát tình hình 12
1.1 Trước khi mở cửa 12
1.2 Sau khi mở cửa 15
2.Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 15
2.1 Quy mô nhịp độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh 17
2.2.Cơ cấu vốn đầu tư 17
3 Nhận xét chung 18
3.1 Thành tựu 18
3.2 Môt số tồn tại 19
III XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 22
1 Xu hướng 23
2 Một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoại tạiViệt 24
IV.KẾTLUẬN 25
Trang 3Vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu trong tổng vốn đầu tư kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia, là điều kiện cần thiết để khai thác và phát triển nguồn lựctrong nước Cùng với quá trình toàn cầu hóa, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) ngày càng trở nên quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế Đối với các nướcđang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, FDI có ý nghĩa hơn, thể hiện
ở vai trò quan trọng trong hoạt động cung cấp vốn, công nghệ và mở rộng quy mô sảnxuất, tạo ra những năng lực sản xuất mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Đa số các nước đều tồn tại hai hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại quốc giamình và các doanh nghiệp trong nước đầu tư trực tiêp ra các nước khác Ở đây chúng
ta sẽ đi tìm hiểu về đầu tư trực tiếp của nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư.Những lợi ích và bất lợi của nó ra sao? Thực trạng ở Việt Nam như thế nào? Và nhữnggiải pháp nào để khắc phục tình hình hiện nay?
I KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI
1 Khái niệm:
Có nhiều khái niệm khác nhau về FDI :
- Theo Lênin cho rằng hoạt động đầu tư nước ngoài là hoạt động “xuất khẩu tư bản”
từ các tư bản phát triển sang các nước thuộc địa nhằm duy trì sự áp bức bóc lột vàkhai thác tài nguyên thiên nhiên
- Là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất
kỳ tài sản nào vào một nước, được chính phủ nước đó chấp nhận để hợp tác kinhdoanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp100% vốn nước ngoài (Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987)
- Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với nhữngquan hệ lâu dài”, theo đó một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực tiếp) thuđược lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục đích củanhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặttại nền kinh tế khác đó
Từ các quan điểm trên về FDI, có thể rút ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoàinhư sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất
Trang 4kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểmsoát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi”.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài vàphản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế(được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanhnghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (doanhnghiệp FDI hay chi nhánh nước ngoài)
Nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hoặc hợp tác đầu tư để xâydựng các cơ sở hạ tầng dịch vụ, đồng thời trực tiếp quản lý quá trình kinh doanh, trựctiếp thụ hưởng kết quả quá trình đầu tư Đầu tư trực tiếp thường có lợi cho nước nhậnđầu tư, vì nó góp phần làm phát triển năng lực sản xuất của nền kinh tế tiếp nhận côngnghệ tiên tiến từ bên ngoài, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế ngày càng hiện đại, sảnphẩm hàng ngày càng phong phú, đa dạng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
2 Đặc điểm của FDI
- Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hành đầu là tìmkiếm lợi nhuận cao hơn (có thể do lãi suất ở nước ngoài cao, cơ chế thuế quan thuậnlợi hoặc cơ sở hạ tầng tốt hơn) và cũng nhằm mục đích phân tán rủi ro của các nhà tưbản; theo cách phân loại đầu tư nước ngoài của UNCTAD, IMF, và OECD thì FDI làđầu tư tư nhân
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn phápđịnh hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểmsoát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư (ví dụ: luật Mỹ quy định tỷ lệnày là 10%; Anh là 20% )
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỷ lệnày
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanhnghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phảilợi tức
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu tráchnhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được chọn quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư,hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ của mình, do
đó sẽ đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Vì thế, hình thức này mang tínhchất khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không đểlại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư, từ đócác nước nhận đầu tư tiếp nhận công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệmquản lý hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới
3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tồn tại dưới các dạng sau:
3.1 Phân theo hình thức đầu tư:
* Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract BCC):
Trang 5-Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tưtrong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinhdoanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinhdoanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách phápnhân mới nào.
Ví dụ: Tháng 02/1998, công ty Than VN (VINACOAL) đã ký hợp đồng hợp tác
kinh doanh với Công ty CAVICO.Ltd của Mỹ và Canada để khai thác tại mỏ than NúiBéo (Quảng Ninh)
Tổng trữ lượng khoảng 28,7 triệu tấn
Công thứ khai thác dự kiến từ 1- 1,2 triệu tấn/năm
Tổng vốn đầu tư cho dự án khoảng 356 tỉ VND, trong đó phía Việt Nam đã đầu tư 65
tỉ VND, phần còn lại nhà đầu tư mới
Phía nước ngoài nhận việc khoan, nổ mìn, bốc xúc đất đá
Phía VN nhận việc xúc và sàng tuyển than
Tỉ lệ ăn chia là:
+ Nước ngoài: 66,7% lợi nhuận
+ Việt Nam : 33,83% lợi nhuận
Đặc điểm của hình thức BCC:
- Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa cácbên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ
- Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời một công ty mới
- Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận, phù hợp với tínhchất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu của hợp đồng
- Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thuyết phải được đề cập trong văn bản hợp đồnghợp tác kinh doanh
* Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh( Join Venture Company - JVC):
Xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên củanước nhận đầy tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia Một xí nghiệpliên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh
Ví dụ:
Đặc điểm của hình thức liên doanh này là:
- Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới và đượcthành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn
- Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp liên doanh đượcquy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước
Trang 6- Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phânchia lợi nhuận và rủi ra theo tỉ lệ góp vốn.
* Hình thức công ty hay xí nghiệp 100%vốn từ nước ngoài:
Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức
cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịutrách nhiệm về kết quả kinh doanh
Ví dụ:
Đặc điểm của các công ty này là:
- Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhânmới ở nước nhận đầu tư
- Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư
- Chủ đầu tư thuê đất tại nươc sở tại
- Chủ đầu tư thuê và trả lương cho công nhân, các chuyên gia là công nhân nước ngoài
và nướ sở tại
* Hình thức đầu tư BOT (Built-Operate- Tranfer): hợp đồng xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao.
Là hình thức đầu tư được kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hếtthời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho nhà nước Việt Nam
Đặc điểm của hình thức BOT:
Về phía nhà đầu tư :
- Nắm quyền sở hữu, quản lý và làm chủ độc quyền tài sản của công trình kinh doanh
và chụi rủi ro về thiết kế, xây dựng dự án khi điều hành hoạt động của xí nghiệp
- Chụi rủi ro phát sinh do thời gian có thể bị chậm trễ và chi phí ngoài dự toán, nhưngđổi lại là việc đẩy mạnh hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng vốn của họ
- Để khuyến khích nước sở tại phát triển phát triển đầu tư phát triển theo hình thứcBOT, nhà đầu tư thường đảm bảo duy trì sự tiện dụng của công trình “còn mới nhưban đầu” đối với tài sản sẽ chuyển giao cho Nhà nước khi hết hạn hợp đồng
Đối với nhà nước nhận đầu tư:
- Nhà nước hay Chính phủ nước sở tại chụi mọi rủi ro khác ngoài khả năng kiểm soátcủa nhà đầu tư và cam kết:
+Bảo đảm đề phòng rủi ro về chính trị
+Không trưng dụng tài sản của nhà đầu tư trong thời gian hợp đồng có hiệu lực
+ Đảm bảo không có những thay đổi bất lợi về pháp lý hay cá quy định có liên quan.+đảm bảo khả năng chuyển đổi ngoại tệ cho nhà đầu tư
Trang 7- Đổi lại Chính phủ nước sở tại có quyền:
+ Góp vốn bằng nguồn tài nguyên
+Khi hết hạn hợp đồng, lấy lại quyền sở hữu và hoạt động kinh doanh công trìnhBOT
* Hợp đồng phân chia sản phẩm:
Hợp đồng này quy định nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn để tìm kiếm thăm dò vàkhai thác tài nguyên trên nước sở tại Nếu tìm được và khai thác được sản phẩm thìthỏa thuận phân chia theo nguyên tắc tỉ lệ:
- Nhà nước được hưởng 50-70% tiềm bán sản phẩm đối với mỏ lượng dữ trữ lớn
- Nước chủ nhà được hưởng 30-40%tiềm bán sản phẩm đối với mỏ có sản lượng nhỏ
- Nếu không tìm thấy sản phẩm hoặc có tìm tháy nhưng không dủ sản lượng côngnghiệp để khai thác nhà đầu tư phải chui rủi ro 100%
* Cho thuê tài chính :
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc thuê máy mócthiết bị và các tài sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị và động sản
Trang 8theo yêu cầu của bên thuê và nắn quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sửdụng tài sản thuê và không được huy bỏ hợp đồng trước thời hạn.
Ví dụ: Nhà máy may Việt Thắng từ năm 1993 thuê của công ty Fuji và công ty
Jing Jang (Nhật) và hai công ty Hàn Quốc (YenHan và Hosan) 90 máy dệt chuyêndùng đưa và sản xuất, đã làm tăng lợi nhuận hàng năm của Việt Thắng , đồng thờigiúp công ty đưa ra nhưng sản phẩm đạt yêu cầu của suất khẩu Năm 1994 xuất khẩu 1triệu mét vải thu 960.000 USD, tăng thêm lợi nhuận là 430 USD Năm 19955 xuấtkhẩu 1,66 triệu mét vải thu 2,05 triệu USD
*Hợp tác liên doanh (Core Share):
Doanh nghiệp nước sở tại và nước ngoài hợp tác liên doanh theo phương thức:
Thời gian đầu khai thác sản phẩm và dịch vụ dựa trên nhãn hiệu thương mại của bênnào có tiếng trước Sau một thời gian nhất định việc khai thác dịch vụ - sản phẩm sẽtiếp tục với nhãn hiệu, kí mã hiệu, thương hiệu của đối tác kia
Ví dụ:
3.2 Phân theo bản chất đầu tư:
* Đầu tư phương tiện hoạt động: Là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua
sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức nàylàm tăng khối lượng đầu tư vào
* Mua lại và sáp nhập: Là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có
vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đanghoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốnFDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu
tư vào
3.3 Phân theo tính chất dòng vốn:
* Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công ty
trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản
lý của công ty
* Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt
động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm
* Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong
cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, tráiphiếu doanh nghiệp của nhau
3.4 Phân theo động cơ của nhà đầu tư:
Trang 9* Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹnăng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào Nguồn vốn loạinày còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận(như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ củanước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tàinguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
* Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh
doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tốsản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sảnxuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
* Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc
giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư nàycòn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước vàkhu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khuvực và toàn cầu
4 Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế:
4.1.Ảnh hưởng tích cực:
* FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế giúp chonước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế (vốn, công nghệ, tàinguyên, lao động )
Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP của các nước tiếp nhận đầu tư, tăngthu nhập người lao động Hoạt động FDI thông qua các hoạt động di chuyển vốn,công nghệ, kĩ năng đã góp phần nâng cao năng suất lao động của các nước tiếp nhậnđầu tư
*Bổ sung cho nguồn vốn trong nước:
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển được lấy từ hai nguồn đó là nguồn vốn trong nước vànguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay, đầu tưgián tiếp và đầu tư trực tiếp Tuy nhiên đối với các nươc nghèo và đang phát triển luônlâm vào tình trạng thiếu vốn Để phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói kia thìnguốn vốn của đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phương án rất thích hợp so với cácnguồn vốn khác bởi:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không tạo ra khoản nợ
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính ổn định cao và không thuận lợi cho việc rút
vốn như các khoản vay hay các khoản đầu tư gián tiếp
Trang 10- Lợi nhuận chỉ được chuyển về nước khi dự án tạo ra lợi nhuận và một phần lợi
nhuận đươc các chủ đầu tư sử dụng để tái đầu tư
*FDI góp phần vào quá trình chuyển giao công nghệ:
Công nghệ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp các nước đang pháttriển theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát triển dựa vàolợi thế của nước đi sau (kế thừa những thành tựu khoa học kỹ thuật của nhân loại) Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trìnhphát triển khoa học – công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và năng suất lao động tainước tiếp nhận đầu tư
Tác động tích cực của FDI đối với công nghệ qua:
- Chuyển giao công nghệ: để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt đông sản
xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nướcđang phát triển Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng phức tạp vìvậy chuyển giao công nghệ thông qua FDI là một kênh chuyển giao hiệu quả
và chi phí thấp Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm cho khoảng cáchcông nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp Hình thứcchuyển giao được thực hiện qua:
Chuyển giao bên trong là hình thức chuyển giao giữa công ty mẹ và công tycon (nước tiếp nhận đầu tư)
Chuyển giao bên ngoài được thực hiện giãu các công ty khác nhau liêndoanh với doanh nghiệp trong nước
- Hoạt động phổ biến công nghệ: Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối với
các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư thông qua cạnh tranh sẽ thúc đẩycải thiện và nâng cao công nghệ trong nước; di chuyển lao động từ nơi có trình
độ cao đến các nước đang phát triển góp phần chuyển giao công nghệ
*Nâng cao chất lượng lao động
Chất lượng lao động có tác động không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của mộtquốc gia FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư về cả số lượnglẫn chất lượng Số lượng là việc giải quyết việc làm cho người lao động Còn chấtlượng, FDI làm thay đổi cơ bản, nâng cao năng lực và kỹ năng lao động thông qua:đào tạo trực tiếp và đào tạo gián tiếp trình độ lao động
- Trực tiếp đào tạo: Do các công ty nước ngoài hoặc có doanh nghiệp có vốn FDIphải tuyện dụng lao động địa phương Để lao động địa phương có thể sử dụngthành thạo những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao, phương thức đào tạo cóthể là: đào tạo trực tiếp thông qua các khóa học do các chuyên gia của công tygiảng dạy hoặc kết hợp với các cơ sở trong nước tiếp nhận đầu tư
- Gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp nhận đầu tư Các nướcđầu tư FDI yêu cầu đầu tư vào nước có chất lượng lao động cao để không mất nhiềuthời gian và chi phí đào tạo Do vậy, với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cácnước tiếp nhận đầu tư phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực có hiệu quả đểđáp ứng được nhu yêu cầu tuyển dụng
*Góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Trang 11Giải quyết việc làm cho người lao động tại các nước tiếp nhận đầu tư: hoạt động đầu
tư FDI đã góp phần không nhỏ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp qua:
- Trực tiếp tạo việc làm bằng cách tuyển dụng lao động đia phương và các doanhnghiệp có vốn FDI
- Gián tiếp tạo việc làm thông qua các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụcho các doanh nghiệp có vốn FDI
Vấn đề nâng cao thu nhập : người lao động làm việc trong các công ty có vốn FDIthường cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước Nguyên nhân là do sản lượng sảnxuất tại các doanh nghiệp FDI thường cao hơn so với doanh nghiệp trong nước, laođộng có chất lượng cao hơn, quy mô thị trường rộng lớn
*FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư
Cơ cấu đầu tư của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói cách khác là tổngthể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế
Ba yếu tố cơ bản cấu thành cơ cấu kinh tế của một quốc gia là: cơ cấu thành phần kinh
tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế Trong số ba yêu tố đó, cơ cấu ngànhkinh tế đống vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức của những cơ cấu kinh tếkhác Do vậy việc thay đổi cơ cấu kinh tế ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tếcủa một quốc gia Một cơ cấu khinh tế hơp lý ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nềnkinh tế phát triển Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng vàtrình độ quản lý co tác động mạnh đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi vàdịch chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư
Việc nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho thấy một đặc điểm lànguồn đầu tư đó nhằm vào các ngành công nghiệp và dịch vụ Đối với ngành nôngnghiệp, tỷ lệ của vốn đầu tư đó là tương đối thấp hoặc có thì chủ yếu đầu tư vào ngànhcông nghiệp chế biến Như vậy, nhìn chung hoạt động FDI góp phần làm cho cơ cấukinh tế của nước tiếp nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng tương đối ngành côngnghiệp và dịch vụ so với ngành nông nghiệp
*Một số tác động tích cực khác:
- Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc
gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cảcác xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽtham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hútđầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩymạnh xuất khẩu
- Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với
nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp lànguồn thu ngân sách quan trọng
- Có tác động lan tỏa đến các thành phần khác trong nền kinh tế: Thông qua sự
liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với các doanhnghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từdoanh nghiệp có vốn FDI đến các thành phần khác của nền kinh tế Sự lan toả
Trang 12này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theohàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành.
- Góp phần bảo vệ môi trường, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên 4.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộ nhiều mặt hạnchế
* Vấn đề bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế
Thứ nhất, vốn do hoạt động FDI cung cấp có chi phí vốn cao hơn các nguồn khác tưnước ngoài (vay thương mại hoặc vay tư các chính phủ)
Thứ hai, vốn do hoạt động FDI có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của quốc giatiếp nhận đầu tư Nếu vốn FDI được cung cấp là lớn sẽ làm giảm cầu tiền, tăng lạmphát và ảnh hưởng đến kế hoạch điều chỉnh chính sách tiền tệ
* Vấn đề môi trường, chuyển giao công nghệ và hiệu quả sản xuất.
Về vấn đề môi trường, tốc độ tăng trưởng cao sẽ sử dụng nhiều tài nguyên và chất thải
từ hoạt động sản xuất là nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường.Hoạt động đầu tư trực tiếp chủ yếu được tiến hành trong công nghiệp và chất thải nếukhông được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường Ngoài nguyên nhân trên còn có việcchuyển giao công nghệ lạc hậu từ nước đi đầu tư sang nước nhân đầu tư cũng là mộtnguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Các nước nghèo và đang phát triển trở thành “bãi rác ” để các nước công nghiệp phát triển di chuyển những máy móc, trang thiết bịlỗi thời Việc chuyển giao công nghệ mang lại lợi ích cho các nước đầu tư và hậu quảcho các nước nhận đầu tư Thứ nhất, thải công nghệ lạc hậu để đổi mới công nghệnươc mình Thứ hai, việc chuyển giao mang lại nguồn thu cho nươc đi đầu tư
Về chuyển giao công nghệ và hiệu quả sản xuất: chuyển giao công nghệ lạc hậu làmgiảm hiệu quả sản xuất tại các nước nhận đầu tư, công nghệ hóa học sẽ kìm hãm kinh
tế của các nước nhận đầu tư
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra một cơ cấu kinh tế bất hợp lý: mục đích của các
nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu đầu tưvào các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao
* Hiện tượng chảy máu chất xám: các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện về thu
nhập, việc làm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ các cán bộ khoa học, nhànghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta về làm việc cho họ
* Chuyển giao công nghệ lạc hậu: dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học –
kỹ thuật, quá trình nghiên cứu - ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máy móc thiết bịnhanh chóng trở nên lạc hậu Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giaosang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp Việc đó làm cho trình độ côngnghệ của các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu
* Chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn: các nước nhận đầu tư đã
phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như giảm thuế, miễn thuế,giảm tiền thuê đất, nhà xưởng
* Tạo sức cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước: với ưu thế về vốn, công
nghệ, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đặt doanh nghiệp trong nước vào vòngxoáy cạnh tranh khốc liệt về thị trường, lao động và các nguồn lực khác
Trang 13* Các tác động tiêu cực khác: hoạt động đầu tư nước ngoài có thể gây ra những bất ổn
về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường, gia tăngkhoảng cách giàu nghèo
II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1 Khái quát tình hình :
1.1 Trước khi mở cửa
Chỉ sau hai năm sau ngày thống nhất đất nước Ngày 18-7-1977 chính phủ nước cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành điều lệ về đầu tư của nước ngoài ởCHXHCN Việt Nam trong đó: "Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam hoan nghênhviệc đầu tư của nước ngoài ở trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của ViệtNam và hai bên cùng có lợi" Để khuyến khích đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam,bản điều lệ cũng đã đưa ra nhiều hình thức ưu đãi đối với đầu tư của nước ngoài ởViệt Nam và đây như là một tín hiệu tích cuực rất đáng quan tâm Tuy nhiên sau khibản điều lệ ra đời thì không có đối tác nào bỏ tiền vào nơi đang nằm trong tình trạngchiến tranh, tình hình an ninh không ổn định Hơn nữa tình hình kinh tế Việt Nam lúc
đó rất nhiều khó khăn, sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, các dịch vụ khôngphát triển, hệ thống pháp luật vừa thiếu vừa không phù hợp về các thông lệ quốc tế,vừa quan điểm không rõ ràng về đường lối tổng thể phát triển kinh tế
1.2 Sau khi mở cửa
Sau khi ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 12/1987, năm đầu tiên thựchiện (1988) đã có 37 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng số vốnđầu tư là 366 triệu USD Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời phù hợp với xuhướng của sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi Tuy nhiên sau hai năm thực hiện đầu tư nướcngoài cũng đã bộc lộ một số quan điểm chưa phù hợp với điều kiện thực tế và thông lệquốc tế Vì vậy chúng ta đã thực hiện hai lần sửa đổi Luật bổ sung thứ nhất đượcquốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-6-1990 và luậtsửa đổi thứ hai là vào 23-12-1992 Trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn về hoạtđộng đầu tư nước ngoài, chúng ta đã có quan điểm rõ ràng về thu hút và sử dụngnguồn lực bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nềnkinh tế Chúng ta coi trọng nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực bên ngoài
là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền kinh tế
a) Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua
Giai đoạn trước 1996: FDI liên tục gia tăng cả về số dự án và vốn đầu tư, đạt mức kỷlục là 8,6 tỷ USD về tổng số vốn đăng ký vào năm 1996 Trong giai đoạn này tốc độtăng trưởng bình quân hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 50% mộtnăm Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng đáng kể từ mức 37 dự án với tổng số vốnđầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký
8640 triệu USD năm 1996