Vậy ta có thể định nghĩa về thuế nhƣ sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật của mỗi tổ chức, cá nhân đối với nhà nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng để t
Trang 1Giáo viên hướng dẫn : GV HỒ THỊ HỒNG MINH
Sinh viên thực hiện : VÕ THỊ KHÁNH MỸ_ MSSV: K105041612
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương 1 Cơ sở lý luận chung về thuế 1 Khái niệm về thuế 2
2 Phân biệt thuế với phí, lệ phí 2
3 Các đặc trưng cơ bản của thuế 5
4 Phân loại thuế 6
4.1 Căn cứ vào phương thức đánh thuế 6
4.2 Căn cứ vào cơ sở đánh thuế 6
4.3 Căn cứ theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách nhà nước 7
4.4 Căn cứ theo phương thức sử dụng 8
5 Vai trò của thuế trong nền kinh tế nước ta 9
6 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế 6.1 Tên gọi 10
6.2 Đối tượng nộp thuế 11
6.3 Mức thuế, thuế suất 12
7 Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế 13
8 Thủ tục kê khai, thu nộp, quyết toán thuế 13
Chương 2 Tìm hiểu về một vài sắc thuế 1 Thuế tiêu thụ đặc biệt 1.1 Khái niệm 14
1.2 Tác dụng 14
1.3 Phạm vi áp dụng và cách tính thuế 1.3.1 Đối tượng chịu thuế 14
1.3.2 Đối tượng nộp thuế 15
1.3.3 Thuế suất tiêu thụ đặc biệt 15
1.3.4 Cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt 16
2 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2.1 Khái niệm 16
2.2 Vai trò 16
2.3 Đối tượng nộp thuế 16
2.4 Những trường hợp không thuộc diện nộp thuế xuất, nhập khẩu 16
2.5 Người nộp thuế 17
2.6 Phương pháp tính thuế 17
Trang 33.1 Khái niệm 18
3.2 Đối tượng nộp thuế 18
3.3 Đối tượng chịu thuế 18
3.4 Đối tượng không chịu thuế GTGT 18
3.5 Căn cứ tính thuế 23
3.6 Phương pháp tính thuế 23
4 Thuế thu nhập doanh nghiệp 23
5 Thuế thu nhập cá nhân 26
Chương 3 Thực trạng và giải pháp cải cách thuế ở Việt Nam 1 Thực trạng quản lý thuế 29
2 Giải pháp 30
Kết luận 34
Tài liệu tham khảo 35
Trang 4Thuế có vai trò hết sức quan trọng Thuế ra đời là một yếu tố khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước Để duy trì sự tồn tại của mình và thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, nhiệm vụ về kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng thì nhà nước cần có những nguồn vật chất nhất định Thuế không những chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu của ngân sách nhà nước mà còn là một công
cụ điều tiết vĩ mô các hoạt động của nền kinh tế, làm chuyển đổi các nguồn lực và định hướng hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, đầu tư đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ổn định đời sống xã hội Để phát huy tốt tác dụng đó, hiện nay nội dung của chính sách thuế đã thường xuyên được thay đổi để ngày càng hoàn thiện hơn, ứng dụng một cách phù hợp với diễn biến của đời sống kinh tế xã hội và phù hợp với yêu cầu quản lí tài chính Nhận thấy vai trò hết sức quan trọng của thuế, nên em quyết định chọn đề tài này với mục đích sẽ có một cái nhìn tổng quát
về thuế, để tạo nền cho những nghiên cứu sâu hơn về sau
Trang 5Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
1 Khái niệm về thuế:
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia Nước nào cũng có những khoản chi ngân sách hằng năm Để tài trợ cho những khoản công chi đó, có 5 nguồn tài trợ chính sau:
- Bằng thuế
- Bằng cách phát hành tiền tệ
- Bằng cách phát hành công trái
- Nhận viện trợ hoàn lại và vay, nợ của nước ngoài
- Nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài
Trong đó thuế giữ vai trò quan trọng hơn cả, vì thuế có sự điều tiết chia sẻ và công bằng giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp đồng thời nói lên sức mạnh tự chủ về tài chính của một quốc gia
Vậy ta có thể định nghĩa về thuế nhƣ sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật của mỗi tổ chức, cá nhân đối với nhà nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng để trang trải các chi phí vì lợi ích chung của toàn dân như: quốc phòng, an ninh, giao thông, giáo dục, y tế… Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước
2 Phân biệt thuế với lệ phí, phí
+ Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật của các cá nhân và pháp nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp
+ Lệ phí: Là khoản thu vùa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc
thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách nhà nước như lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng, lệ phí hải quan…
Trang 6+ Phí: Là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên về xây dựng, bảo
dưỡng, duy tu của nhà nước đối với những hoạt động phục vụ người nộp phí
- Những loại phí mang tính phổ biến như: phí giao thông, thuỷ lợi phí
- Loại mang tính chất địa phương như: quỹ bảo vệ trật tự , an ninh Phí cầu đường ở thôn,xã
Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mang tính pháp lý nhưng giữa chúng có sự khác biệt như sau:
Giá trị pháp
lý
- có giá trị pháp lý cao hơn lệ phí, phí
- được ban hành dưới dạng văn bản pháp luật như:
Luật, Pháp lệnh do Quốc hội
và ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Trình tự ban hành một Luật thuế phải tuân theo một trình tự chặt chẽ
- Phí, lệ phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định của chính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh
và định hướng phát triển kinh
tế
· Ðảm bảo sự bình đẳng giữa
Chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch
vụ công cộng như: dịch vụ công
Trang 7những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội
- Thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia
chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan
Hình thức
thực hiện
- Thuế được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
- Các cá nhân và pháp nhân
có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở được hưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất đối giá
- Mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá
- Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy ra khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp
- Nói chung mục đích của việc sử dụng của các loại thuế thường là tạo nguồn qũy ngân
- Mục đích của từng loại lệ phí rất
rõ ràng, thường phù hợp với tên gọi của nó Nói một cách chính xác hơn, tên gọi của loại lệ phí nào phản ánh khá đầy đủ mục đích sử dụng loại lệ phí đó
Trang 8sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước
3 Các đặc trưng cơ bản của thuế:
- Tính chất bắt buộc:
Thuế thể hiện quan hệ kinh tế- chính trị giữa nhà nước và các tổ chức, cá nhân; nhà nước với quyền lực của mình, ban hành các luật thuế và bắt buộc các tổ chức cá nhân phải thực hiện trách nhiệm của mình Để ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, luật thuế quy định các hình thức xử lí vi phạm thích ứng với các hành vi vi phạm
- Thuế không hoàn trả một cách trực tiếp
Nộp thuế thể hiện sự chuyển dịch quyền sở hữu thu nhập; thông qua thuế thu nhập từ các tổ chức và cá nhân chuyển sang nhà nước Nhà nước có toàn quyền sử dụng thu nhập từ trong tay mình Số thu từ thuế được nhà nước đưa vào cân đối chung cho các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước
Tuy nhiên, trong xã hội dân chủ việc sử dụng tiền thuế của nhà nước phải chịu sự giám sát của người dân và các tổ chức chính trị Mặc dù không hoàn trả một cách trực tiếp chi tiêu của nhà nước, đặc biệt là các khianr chi phí phúc lợi xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, các khoản thu này được tài trợ bằng thuế Như vậy nhà nước hoàn trả cho người dân qua chi tiêu
từ thuế
- Thuế dùng vào chi tiêu công
Tổng số thu về thuế, được đưa vào ngân sách nhà nước và cân đối chung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội Suy cho cùng, chi tiêu
từ thuế của nhà nước, đều phục vụ cho lợi ích của cộng đồng xã hội
4 Phân loại thuế
Trang 94.1 Căn cứ vào phương thức đánh thuế:
Cách phân loại thường được sử dụng nhiều là căn cứ vào phương thức đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp trên thu nhập của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội Theo cách này thuế được phân thành 2 loại chủ yếu, đó là thuế trực thu và thuế gián thu
4.1.1 Thuế trực thu (Direct tax):
Thuế trực thu là thuế dánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của các đối tượng nộp thuế Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật định cũng là người nộp thuế
Ví dụ : Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam quy định những người Việt Nam có thu nhập bình quân tháng trong một năm trên 4000000 đồng sau khi đã miễn trừ gia cảnh (nếu có) thì phần thu nhập vượt đó phải nộp thuế cho nhà nước Như vậy những cá nhân này vừa là người nộp thuế, vừa là người chịu thuế
Việc quản lí thu thuế này phức tạp và chi phí thường cao so với thuế gián thu
Thuế trực thu khác thuế gián thu ở chỗ không được cộng vào giá hàng hóa, dịch
vụ
4.1.2 Thuế gián thu (Indirect tax):
Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá
cả hàng hoá.Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian
Trang 10(thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng.Thuế gián thu
là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế vào công ty ( chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng
Các loại thuế gián thu:
Thuế giá trị gia tăng
Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế xuất nhập khẩu
Thuế doanh thu…
4.2 Căn cứ vào cơ sở đánh thuế
Thuế thu nhập: là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và pháp nhân Trong
trường hợp đánh vào thu nhập của cá nhân, nó được gọi là thuế thu nhập cá nhân Còn trong trường hợp đánh vào thu nhập của pháp nhân, nó được gọi là thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận, v.v Ở hầu hết các nước, thuế thu nhập là nguồn thu của chính quyền trung ương
Thuế tiêu dùng: là loại thuế có cơ sở đánh thuế trên giá trị hàng hóa được tiêu
thụ Thu nhập của các tổ chức và cá nhân có thể đem ra tiêu dùng phục vụ cho đời sống hoặc cho sản xuất kinh doanh Thuế tiêu dùng là các loại thuế gián thu như thuế gía trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Thuế tài sản: là loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản của các thể nhân,
pháp nhân Tuy nhiên không phải mọi tài sản của các cá nhân và pháp nhân đều bị
Trang 11đánh thuế tài sản, mà tùy thuộc vào mục tiêu kinh tế- xã hội trong từng thời kì mà mỗi quốc gia có sự lựa chọn đánh thuế tài sản đối với những loại tài sản nhất định Tài sản của các thể nhân có thể biể hiện dưới dạng chứng khoán, thương phiếu, nhà cửa, đất đai, máy móc, xe cộ, thiết bị kĩ thuật, nhãn hiệu…Thuộc loại thuế tài sản bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau như thuế nhà, thuế đất, và các sắc thuế đánh vào tài sản khác
4.3 Căn cứ theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách nhà nước
Dựa vào tiêu thức này, thuế thường phân thành : thuế trung ương và thuế địa phương
- Thuế trung ương: là loại thuế được nhà nước ban hành luật pháp và điều tiết 100% vào ngân sách nhà nước ở trung ương
- Thuế địa phương: là loại thuế được nhà nước quy định thu trên phạm vi lãnh thổ được phân công quản lý, và được điều tiết vào ngân sách nhà nước ở địa phương 100%
4.4 Căn cứ theo phương thức sử dụng:
Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh thuế, có thể chia các sắc thuế thành 2 loại: thuế tổng hợp và thuế lựa chọn
- Thuế tổng hợp: là loại thiế đánh vào tất cả các thành phần của cơ sở đánh thuếmà không có trường hợp ngoại lệ, không có miễn, giảm thuế
- Thuế có sự lựa chọn : là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của cơ sở đánh thuế, ví dụ như thuế thu nhập cá nhân có thể coi là một sắc thuế điển hình của loại này
Trên thực tế có rất nhiều tiêu thức phân loại thếu, tùy theo yêu cầu quản lý thuế của mỗi nước Tuy nhiên hiện nay ở nhiều nước thường dựa vào tiêu thức phân loại thuế theo phương thức đánh thuế và đối tượng đánh thuế để hoạch định chính sách thuế và tổ chức quản lí thuế
5 Vai trò của thuế trong nền kinh tế nước ta
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách
Trang 12Một nền tài chính quốc gia lành mạnh và vững chắc phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Thuế là nguồn thu quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng kinh tế định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Hiện nay nguồn thu từ nước ngoài giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay, có trả Trước mắt, thuế phải là một công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội và phát triển kinh tế bền vững
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế phải được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, thuế phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tài nguyên chịu thuế và tiêu dùng xã hội
Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế:
Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách, thuế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập Vì vậy căn cứ vào tình hình cụ thể, nhà nước sử dụng công cụ này để chủ động điều hành nền kinh tế Lúc nền kinh tế quá thịnh thì việc gia tăng thuế có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của tổng nhu cầu làm giảm phát triển của kinh tế Những mặt hàng quan trọng như xăng dầu, sắt thép… khi có sự biến động giá cả trên thế giới,
để ổn định giá cả trong nước nhà nước thông qua công cụ thuế để ổn định giá cả Như vậy, qua việc xây dựng các luật thuế mà nhà nước có thể chủ động phát huy vai trò điều hoà nền kinh tế Dựa vào công cụ thuế, nhà nước có thể thúc đẩy hoăc hạn chế việc tích luỹ đầu tư, khuyến khích xuất khẩu…
Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội:
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội
Sự bình đẳng và công bằng xã hội được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đằng về nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất kì đối tượng nào
Trang 13Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa Người có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp.Tuy nhiên phải để người có thu nhập cao chính đáng được hưởng thành quả lao động của mình thì mới khuyến khích họ phát triển sản xuất kinh doanh, tránh lạm thu, trùng lắp để đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội
Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà phải được biểu hiện bằng luật pháp, chế độ qui định của nhà nước Phải có những biện pháp chống thất thu về thuế đối với đối tượng nộp thuế, về căn cứ tính thuế, về tổ chức quản lý thu thuế, về chế độ miễn giảm thuế, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các vụ
vi phạm trốn thuế…
6 Các yếu tố cấu thành của một sắc thuế:
Mỗi sắc thuế được ban hành nhằm đáp ứng các mục tiêu riêng song nhìn chung, mỗi sắc thuế đều được cấu thành bởi các yếu tố sau:
6.1 Tên gọi
Tên gọi của mỗi sắc thuế thường phản ánh nội dung chính của nó và để phân biệt với các loại sắc thuế khác, thể hiện đối tượng tác động của sắc thuế hoặc mục tiêu của việc áp dụng sắc thuế đó
Ví dụ: thuế “giá trị gia tăng” cho ta thấy loại thuế này chỉ đánh vào phần giá trị
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ sau mỗi lần chúng được luân chuyển; thuế “thu nhập doanh nghiệp” đánh trên thu nhập của doanh nghiệp; thuế “tiêu thụ đặc biệt” đánh vào việc tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ đặc biệt được sản xuất hoặc nhập khẩu
- Cách đặt tên thuế được sử dụng phổ biến là :
+ Đặt tên theo đối tượng đánh thuế
Ví dụ: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, …
+ Đặt tên theo nội dung
Ví dụ: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…
6.2 Đối tượng nộp thuế: chủ thể của thuế ( người nộp thuế)
Trang 14Đối tượng nộp thuế là những cá nhân, pháp nhân có đối tượng tính thuế, không chỉ các đơn vị kinh doanh là người nộp thuế mà ở bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào là đối tượng tính thuế đều thuộc diện nộp thuế
Ví dụ: một cá nhân không kinh doanh những hàng hóa nhận được quà tặng từ
nước ngoài để tiêu dùng vào mục đích cá nhân, nhưng vì hàng hóa nhận được có giá trị cao hơn mức miễn thuế của chính phủ thì cũng phải nộp thuế nhập khẩu và thuế thu nhập cá nhân
- Người nộp thuế là người đem tiền thuế nộp cho nhà nước, người chịu thuế là người có thu nhập bị thuế điều tiết
Đối tượng tính thuế:
Đối tượng tính thuế là những căn cứ để xác định số tiền thuế phải nộp, là cơ sở tính thuế được thể hiện dưới dạng tiền tệ Một loại thuế không thể vừa tính trên đối tượng này vừa tính trên đối tượng khác, về cơ bản có 3 đối tượng chính để tính thuế như sau:
- Giá trị hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi hoạt động kinh tế
- Giá trị tài sản
- Thu nhập của doanh nghiệp hoặc cá nhân
Những loại thuế đánh vào hàng hóa dịch vụ hay tài sản xác định đối tượng tính thuế thể hiện qua việc xác định đồng thời đối tượng chịu thuế và giá tính thuế
Ví dụ: Đối tượng chịu thuế nhập khẩu là các mặt hàng được phép nhập khẩu
qua biên giới quốc gia, giá tính thuế có thể là bán hàng hóa và dịch vụ và cũng có thể là giá do nhà nước quy định
Những loại thuế đánh vào thu nhập của doanh nghiệp và cá nhân, việc xác định giá tính thuế không cần thiết đặt ra bởi phần lớn căn cứ tính thuế thể hiện dưới hình thức tiền tệ
6.3 Mức thuế, thuế suất
Mức thuế, thuế suất là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế, có thể nói, đó
là “linh hồn” của một sắc thuế, phản ánh yêu cầu và mức độ động viên của Nhà
Trang 15nước trên một cơ sở tính thuế, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Có các loại mức thuế-thuế suất sau đây:
Mức thuế cụ thể (Mức thuế tuyệt đối):
Mức thu thuế được ấn định bằng một mức tuyệt đối dựa trên cơ sở thuế
Thuế suất nhất định:
Thuế suất được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên cơ sở tính thuế, không thay đổi theo quy mô của cơ sở tính thuế
Thuế suất luỹ tiến:
Thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của cơ sở tính thuế (thường là thu nhập chịu thuế hoặc trị giá tài sản chịu thuế) Có hai loại thuế suất luỹ tiến: thuế suất luỹ tiến từng phần và thuế suất luỹ tiến toàn phần
- Thuế suất luỹ tiến từng phần: Biểu thuế gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc là một mức thuế suất tương ứng, theo đó, thuế suất tăng dần theo từng bậc thuế Thuế được tính từng phần theo bậc thuế và mức thuế suất tương ứng của từng bậc, số thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc Ví dụ, biểu thuế luỹ tiến từng phần
áp dụng đối với thu nhập thường xuyên quy định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Thuế suất luỹ tiến từng phần có ưu điểm là do thuế được đánh tăng dần theo mức tăng của thu nhập, tài sản, sát với khả năng đóng góp của đối tượng nộp thuế nên đáp ứng được mục tiêu công bằng xã hội theo chiều dọc, vì vậy, thường được sử dụng trong các sắc thuế thu nhập và thuế tài sản Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhược điểm là kỹ thuật tính toán thuế phức tạp
Biểu thuế:
Biểu thuế là bảng tổng hợp các thuế suất hoặc mức thuế nhất định trong một sắc thuế Ví dụ, biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; biểu thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao; biểu thuế tiêu thụ đặc biệt
Chế độ miễn, giảm thuế
Miễn, giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế, theo
đó, quy định cụ thế các trường hợp, đối tượng nộp thuế được phép miễn thuế hoặc giảm bớt nghĩa vụ thuế so với thông thường (vì một số lý do khách quan
Trang 16bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ hoặc tai nạn bất ngờ, hoặc vì một số lý do nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước ) Trong mỗi loại thuế, chế
độ cũng quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền xét miễn, giảm thuế
7 Trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế
Yếu tố này quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong quá trình thi hành luật thuế, ví dụ như, nghĩa vụ về đăng ký, kê khai, thu nộp thuế; nghĩa vụ về thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; nghĩa vụ về khai báo, cung cấp các thông tin cần thiết cho việc tính và thu thuế Việc quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế một mặt, nhằm nâng cao ý thức tự giác chấp hành luật thuế, đưa việc thực thi luật thuế vào nề nếp, kỷ cương; mặt khác, là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm về thuế, đảm bảo sự kiểm soát, quản lý của cơ quan thuế đối với quá trình chấp hành luật thuế được chặt chẽ, kịp thời
8 Thủ tục kê khai, thu nộp, quyết toán thuế
Quy định rõ hình thức thu nộp, thủ tục thu nộp, kê khai, quyết toán thuế, thời gian thu nộp nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng của chính sách, tạo cơ sở pháp lý để xử lý các trường hợp vi phạm luật thuế
Ngoài các yếu tố cơ bản trên đây, trong các sắc thuế còn quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của cơ quan thuế và các cơ quan liên quan trong quá trình thi hành luật thuế; các hình thức vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm
hành chính
Trang 17Chương 2 Tìm hiểu về một vài sắc thuế
1 Thuế tiêu thụ đặc biệt
1.1 Khái niệm:
Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế thu vào một số hàng hoá ở khâu sản xuất, nhập khẩu và một số dịch vụ theo qui định của Nhà nước
1.2 Tác dụng:
- Hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội
- Điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho ngân sách
- Tăng cường quản lý sản xuất kinh doanh đối với một số hàng hoá, dịch vụ
1.3 Phạm vi áp dụng và cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt:
1.3.1 Đối tượng chịu thuế:
Đối tượng chịu thuế TTĐB là các mặt hàng nhập khẩu, sản xuất trong nước và các hoạt động dịch vụ gồm:
Hàng hoá:
Thuốc lá điếu, xì gà; rượu; bia; bài lá; vàng mã, hàng mã; ô tô dưới 24 chỗ ngồi; xăng các loại và các chế phẩm để pha chế xăng; máy điều hoà nhiệt độ có
công suất từ 90.000 BTU trở xuống, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung
tích xi lanh trên 125cm3; máy bay, du thuyền
Hoạt động dịch vụ:
Kinh doanh vũ trường, mát – xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy jackpot; kinh doanh giải trí có đặt cược; kinh doanh gôn (golf): bán thẻ hội viên, vé chơi golf, kinh doanh sổ số
1.3.2 Đối tượng nộp thuế:
Tổ chức, cá nhân (gọi chung là cơ sở) sản xuất, nhập khẩu hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB là đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 181.3.3 Thuế suất tiêu thụ đặc biệt
Biểu thuế thu nhập đặc biệt có 12 mức thuế suấtthuế tiêu thụ đặc biệt khác từ 10-80% phân theo từng loại hàng hóa, dịch vụ, tùy thuộc vào mức độ cần điều tiết đối với hàng hóa, dịch vụ đó Thuế suất tiêu thụ đặc biệt không phân biệt hàng hóa nhập khẩu hay hàng hóa sản xuất trong nước
1.3.4 Cách tính giá tính thuế TTĐB:
Giá tính thuế TTĐB của hàng hóa, dịch vụ là giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có thuế TTĐB và chưa có thuế giá trị gia tăng, được xác định cụ thể như sau:
Đối với hàng hoá sản xuất trong nước, giá tính thuế TTĐB được xác định như sau:
Giá tính thuế TNĐB = Giá bán chưa có thuế GTGT/(1+ thuế suất thuế TTĐB)
Trường hợp cơ sở sản xuất hàng hóa chịu thuế TTĐB bán hàng qua các chi nhánh, cửa hàng, cơ sở phụ thuộc thì giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là do các chi nhánh, cửa hàng, cơ sở phụ thuộc bán ra chưa có thuế GTGT Cơ sở sản xuất bán hàng thông qua đại lý bán đúng giá do cơ sở quy định, hưởng hoa hồng thì giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá bán chưa có thuế GTGT do cơ sở sản xuất quy định chưa trừ tiền hoa hồng Nếu cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn đặc thù không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế GTGT và thuế GTGT, thì giá bán chưa có thuế GTGT được xác định theo công thức:
Giá bán chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán/ ( 1+ thuế suất thuế GTGT)
Đối với hàng nhập khẩu: Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu được xác định như sau:
Giá tính thuế TTĐB = Giá tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập khẩu
Trang 19 Đối với hàng hóa chịu thuế TNĐB được tiêu thụ qua các cơ sở kinh doanh thương mại thì giá làm căn cứ tính thuế TTĐB là giá bán chưa có thuế GTGT của
cơ sở sản xuất nhưng không được thấp hơn 10% so với giá bán bình quân do sở thương mại bán ra Trường hợp giá bán của cơ sở sản xuất thấp hơn 10% so với giá
cơ sở kinh doanh thương mại bán ra thì giá do cơ quan thuế ấn định
2 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
2.1 Khái niệm:
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn được gọi chung là thuế quan (taiff) là một loại thuế gián thu đánh vào các hàng hóa được giao thương qua biên giới các quốc gia hoặc một nhóm quốc gia
2.3 Đối tượng nộp thuế:
Tất cả các tổ chức, cá nhân có hàng hóa được phép xuất khẩu nhập khẩu đều là đối tượng nộp thuế Nếu xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác thì tổ chức nhận ủy thác là đối tượng nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu
2.4 Những tượng hợp không thuộc diện nộp thuế XNK:
- Hàng vận chuyển quá cảnh, chuyển khẩu hoặc mượn đường qua biên giới Việt Nam Hàng đưa vào kho ngoại quan rồi chuyển đến nước khác, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam, theo qui chế quản lý kho ngoại quan
Trong quá trình vận chuyển trên lãnh thổ Việt Nam không được tiêu thụ hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào, không được tự tháo gỡ hàng hóa, đồng thời chịu sự giám