Mặc dù địa phương được trao quyền quản lýngân sách nhiều hơn, song hầu hết các địa phương vẫn phụ thuộc khá nhiều vào cácquyết định từ Trung ương, việc thực hiện phân cấp giữa các cấp ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
- -TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG
Đề tài:
THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
GVHD : TS Nguyễn Thanh Dương
Nhóm thực hiện : Nguyễn Thái Dung
Trần Thị Mỹ Duyên
Lê Thúy Hằng Phạm Sơn Nghĩa Hoàng Thị Xuân
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 3
1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước 3
1.1.2 Vai trò của NSNN 3
1.2 Phân cấp quản lý NSNN 6
1.2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN 6
1.2.2 Sự cần thiết phân cấp ngân sách nhà nước 6
1.2.3 Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN 7
1.2.4 Nội dung phân cấp ngân sách 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
2.1 Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay 10
2.1.1 Hệ thống NSNN ở Việt Nam 10
2.1.2 Phân cấp về thẩm quyền ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu – chi ngân sách nhà nước 12
2.1.3 Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi 14
2.2 Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam 20
2.2.1 Những kết quả đạt được 20
2.2.2 Những mặt hạn chế 21
2.2.3 Nguyên nhân 24
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 26
3.1 Giải pháp về phân cấp nguồn thu cho ngân sách 26
3.2 Giải pháp phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước 27
3.3 Hoàn thiện phân cấp quy trình ngân sách nhà nước 27
3.4 Các giải pháp hỗ trợ khác 29
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Phân cấp ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề được quan tâm trong cảicách hành chính nhà nước ở nhiều nước Việt Nam cũng xác định vấn đề quan trọngnày đối với công cuộc cải cách hành chính nhà nước Trong chương trình tổng thể cảicách hành chính giai đoạn 2001-2010 đã đề cập đến các nội dung đổi mới cơ chế quản
lý ngân sách nhà nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của Trung ương đồng thời phát huytính chủ động, năng động sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trongviệc điều hành ngân sách
Xu hướng tăng cường phân cấp được thể hiện rõ trong quá trình cải cách tàichính công những năm gần đây Đặc biệt Luật ngân sách ban hành năm 2002 đã tạo ra
sự chuyển biến đáng kể trong phân cấp ngân sách cho địa phương
Tuy nhiên, việc thực thi phân cấp ngân sách nhà nước trên thực tế còn nhiềuvướng mắc và cũng còn không ít hạn chế Mặc dù địa phương được trao quyền quản lýngân sách nhiều hơn, song hầu hết các địa phương vẫn phụ thuộc khá nhiều vào cácquyết định từ Trung ương, việc thực hiện phân cấp giữa các cấp chính quyền địaphương còn nhiều lúng túng, phân cấp cho ngân sách cấp dưới phụ thuộc hoàn toàn vàoquyết định của chính quyền cấp tỉnh
Để góp phần tiếp tục hoàn chỉnh hơn nữa luật NSNN nói chung và chế độ phân
cấp quản lý nhân sách nói riêng, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải
pháp hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt nam trong điều kiện hiện nay”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài luận này gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sáchnhà nước
Chương II: Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiệnnay
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước
Khái niệm ngân sách thường dùng để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trongmột thời gian nhất định Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, mộtchương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó Nếu chủ thể đó làNhà nước thì được gọi là Ngân sách Nhà nước
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN:
Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chi bằng tiềncủa Nhà nước trong một giai đoạn nhất định
Quan điểm của Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trìnhbày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong một năm
Tại Việt Nam, Điều 1 của Luật NSNN (2002) khẳng định: NSNN là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiện vụ của Nhà nước.
Về bản chất, NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thểkhác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong phân phối tổng sản phẩm xã hội,thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộphận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nướcchuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của Nhà nước
Trang 6Vai trò của NSNN được thể hiện qua các điểm sau:
Thứ nhất, vai trò huy động nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi
tiêu của nhà nước
Vai trò này được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước Sựhoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có cácnguồn lực tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định Các nhu cầu chi tiêu củanhà nước phải đáp ứng từ các nguồn thu của ngân sách nhà nước, chủ yếu là từ thuthuế Nhà nước đặt ra một tỷ lệ huy động tổng sản phẩm xã hội vào NSNN, lấy đó làmcăn cứ điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp và dân cư trong phân phốitổng sản phẩm xã hội Thực hiện việc này vừa phải đảm bảo nhu cầu của Nhà nước,vừa phải đảm bảo nhu cầu của doanh nghiệp và dân cư, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, tiếtkiệm và đầu tư phát triển
Thứ hai, vai trò điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội của NSNN
Nhà nước sử dụng NSNN là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội theo
ba nội dung cơ bản:
Một là, kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng kinh tế xã hội Nhànước thực hiện chính sách thuế để vừa kích thích vừa gây sức ép phát triển nền kinh tế.Thuế là một công cụ chủ yếu của Nhà nước trong việc quản lý và điều tiết vĩ mô nềnkinh tế; có tác dụng phục vụ và giải phóng có hiệu quả các tiềm năng của các thànhphần kinh tế; thúc đẩy sắp xếp lại sản xuất, hạch toán kinh tế, gắn kinh tế thị trường với
kế hoạch kinh tế quốc dân, mở rộng kinh tế đối ngoại, bảo vệ kinh tế nội địa, thực hiện
sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế để phát triển có lợicho nền kinh tế
Tạo điều kiện thuận lợi trên các mặt tài chính để khuyến khích các thành phầnkinh tế có doanh lợi trong đầu tư phát triển Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế và xãhội, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động, thịtrường Đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các công trình trọng điểm, các cơ sởkinh tế then chốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, có thêm những sản phẩm chủ lực, tạo cơ
Trang 7sở vật chất kỹ thuật và làm chỗ dựa cho các ngành, các thành phần kinh tế trong pháttriển kinh tế.
Hai là, điều tiết thị trường giá cả, chống lạm phát Hai yếu tố cơ bản của thịtrường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối mạnh sự hoạtđộng của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm chogiá cả tăng hoặc giảm đột biến gây ra biến động trên thị trường Để đảm bảo lợi ích củangười sản xuất và người tiêu dùng Nhà nước sử dụng ngân sách để can thiệp vào thịtrường thông qua các khoản chi của Ngân sách Nhà nước dưới hình thức tài trợ vốn, trợgiá và sử dụng các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính
Trong quá trình điều chỉnh thị trường NSNN còn tác động đến sự hoạt động củathị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm phát, kiểm soátlạm phát Khi có lạm phát: Nhà nước rút tiền vào Ngân hàng bằng cách tăng lãi suấttiền gửi ngân hàng Để chống lạm phát Nhà nước áp dụng các biện pháp: giải quyết cânđối NSNN, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hànhtrái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia trên thị trường vốn với tưcách là người mua và bán chứng khoán
Ba là, điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội Nền kinh tế thịtrường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn xã hội bị phân hóa về thu nhập Nhà nướccần phải có chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cáchchênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách Nhà nước là một công cụ tài chính hữuhiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư trên phạm vi toàn xã hội
ở cả hai mặt thu và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợicông cộng, chi trợ cấp với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hộicủa Nhà nước
Ở nước ta hiện nay Nhà nước khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp bằngcách cho vay, hỗ trợ vốn, giảm thuế,…Nhưng có thu nhập cao thì người dân phải nộpthuế thu nhập và phí lệ phí cho Nhà nước Nhà nước dùng tiền đó đầu tư vào chínhsách xã hội như giáo dục (hiện nay nước ta đã hòan thành phổ cập giáo dục cấp II),y tế
Trang 8(miễn phí khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, mua bảo hiểm y tế cho ngườinghèo ), trợ cấp cho những gia đình thuộc diện chính sách…
1.2 Phân cấp quản lý NSNN
1.2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là quá trình Nhà nước trung ương phân giao nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lýngân sách
Phân cấp quản lý NSNN thể hiện chính quyền địa phương được giao nhữngnhiệm vụ thu chi cụ thể, có quyền tự chủ về ngân sách và quyền lực thực thi các chứcnăng hành chính trong phạm vi của địa phương mình Phân cấp ngân sách không chỉtập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phương, qua đó tạo điềukiện cho chính quyền hoạt động độc lập hơn trong khả năng của mình để xây dựng cácchính sách chi tiêu mà còn phải hướng tới việc nâng cao tính trách nhiệm về chính trị,tính hiệu quả và minh bạch
Phân cấp NSNN là một trong những vấn đề căn bản trong tổ chức quản lý tàichính công Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chínhquyền trong thu, chi NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp NSNN còn phảnánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phương, giữađịa phương với quốc gia
1.2.2 Sự cần thiết phân cấp ngân sách nhà nước
Sự tồn tại của hệ thống chính quyền nhiều cấp đòi hỏi mỗi cấp chính quyền phải
có nguồn lực tài chính tương ứng để thực thi các hoạt động ở cấp mình Nói cách khác,mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách riêng của mình, được thông qua theonhững quy định của Hiến pháp hay Pháp luật
Phân cấp ngân sách không những tạo ra nguồn lực tài chính mang tính độc lậptương đối cho mỗi cấp chính quyền chủ động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củamình, mà đó còn là động lực khuyến khích ở mỗi cấp chính quyền và dân cư ở địaphương tích cực khai thác các tiềm năng của mình để phát triển địa phương
Trang 9Ở Việt Nam, xu hướng tăng cường phân cấp quản lý đang ngày càng trở nên rõnét Trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tếthị trường, nhà nước Trung ương thực hiện phân cấp ngày càng nhiều cho chính quyềnđịa phương trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước Đi đôi với việc phân cấpquản lý hành chính, tất yếu phải thực hiện phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyềnđịa phương để đảm bảo nguồn lực tài chính cần thiết cho việc thực thi những nhiệm vụnày Việc để cho chính quyền mỗi cấp trực tiếp đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ có hiệu quảcao hơn là sự áp đặt từ trên xuống Đồng thời điều này còn khuyến khích chính quyềnđịa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, sáng tạo của địa phương trong pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế - xã hội ngàycàng đa dạng, phức tạp Nhà nước Trung ương không thể quản lý mọi hoạt động mộtcách tập trung theo khuôn mẫu cứng nhắc, cũng như không thể giải quyết được vấn đềphát sinh tại mỗi địa phương Xu hướng chung là các nước ngày càng phân cấp nhiềuhơn cho chính quyền địa phương trong quản lý hành chính cũng như trong lĩnh vực tàichính - ngân sách
1.2.3 Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
Việc phân cấp quản lý NSNN được căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, phân cấp NSNN được tiến hành đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế
và tổ chức bộ máy hành chính
Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗi chính quyền về quyền hạn, tráchnhiệm trong điều hành NSNN các cấp Đồng thời, phân cấp NSNN phải đồng bộ vớiphân cấp quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tính tương hợp giữa nguồn thu với việc trangtrải các nhu cầu chi tiêu nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của các cấpchính quyền
Thứ hai, ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo.
Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nước trung ươngtrong quản lý kinh tế, xã hội của cả nước mà Hiến pháp đã quy định và từ tính chất xãhội hoá của nguồn tài chính quốc gia
Trang 10Nguyên tắc này được thể hiện:
- Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN được ban hành thống nhất và dựa chủyêu trên cơ sở quản lý ngân sách trung ương
- Ngân sánh trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh
tế và trong xã hội Điều đó có nghĩa là: các khoản thu chủ yếu có tỷ trọng lớn phảiđược tập trung vào Ngân sách trung ương, các khoản chi có tác động đến quá trình pháttriển kinh tế, xã hội của cả nước phải do Ngân sách trung ương đảm nhiệm Ngân sáchtrung ương chi phối hoạt động của Ngân sách địa phương, đảm bảo tính công bằnggiữa các địa phương
Thứ ba, đảm bảo tính công bằng trong phân cấp NSNN
Mục đích của phân cấp NSNN là nhằm sử dụng nguồn lực tài chính công có hiệuquả hơn trong việc cung cấp hàng hóa công cho xã hội Để giảm bớt khoảng cách giàunghèo giữa các vùng, các địa phương, trong quá trình phân cấp cần đảm bảo cơ chếđiều hòa, trợ cấp giữa trung ương với địa phương, giữa ngân sách cấp trên với ngânsách cấp dưới Ngoài ra, phân cấp NSNN phải đảm bảo phát triển cân đối, đồng đềugiữa các vùng miền, địa phương thông qua chi nhân sách trung ương vào đầu tư cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội
1.2.4 Nội dung phân cấp ngân sách
Ở Việt Nam, phân cấp ngân sách thường được xem xét trên ba nội dung cơ bản:
Một là, phân cấp về thẩm quyền ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn,
định mức thu – chi ngân sách nhà nước
Hai là, phân cấp về vật chất là sự phân chia giữa các cấp ngân sách về các khoản
thu và nhiệm vụ chi, cũng như các quy tắc về chuyển giao ngân sách từ cấp trên xuốngcấp dưới và ngược lại
Ba là, phân cấp về quy trình ngân sách – quan hệ giữa các cấp chính quyền trong
quản lý quy trình ngân sách: quyết định dự toán, phân bổ ngân sách và điều chỉnh dựtoán ngân sách; phê chuẩn quyết toán ngân sách
Trang 11Trong số các nội dung nói trên thì phân cấp về vật chất, hay là việc xác định cácmối quan hệ của chính quyền nhà nước các cấp trong phân giao nguồn thu và nhiệm vụchi thường là vấn đề phức tạp và nhạy cảm nhất trong phân cấp ngân sách.
Trang 12CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay
Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nước, phù hợpvới mô hình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nước ta hiện nay, hệ thống ngân sáchnhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương
Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủđạo trong hệ thống ngân sách nhà nước Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyềntrung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội của đất nước Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầuthực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hoá, sựnghiệp an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát triển…) Đây còn làtrung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của địa phương Trên thực tế, ngân sách trungương là ngân sách của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảmbảo các nhiệm vụ chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nước Ngân sách trung ươngbao gồm các đơn vị dự toán của cấp này, với mỗi Bộ, mỗi cơ quan ngang Bộ là mộtđơn vị dự toán của ngân sách trung ương
Trang 13Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chínhquyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp Ngoài ngân sách xã chưa cóđơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấyhợp thành.
- Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thựchiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh vàthành phố trực thuộc trung ương
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sáchhuyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quantrọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếp trên địa bàn
và nhiệm vụ chi cũng được bố trí để phục vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân
cư trong xã mà không thông qua một khâu trung gian nào Ngân sách xã là cấp ngânsách cơ sở trong hệ thống NSNN, đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủđộng khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thônmới, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn
Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta, ngân sách trung ương chi phối phần lớncác khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phương chỉ được giao nhiệm vụđảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương Quan hệ giữa các cấp ngânsách được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương được phânđịnh nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trêncho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, cácđịa phương Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới Trường hợp cơ quanquản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiệnnhiệm vị chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trêncho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷquyền thực hiện nhiệm vụ chi, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm
vụ của ngân sách cấp khác trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ
Trang 142.1.2 Phân cấp về thẩm quyền ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu – chi ngân sách nhà nước
Quốc hội quyết định tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn bù đắp
bội chi; phân tổ NSNN theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chithường xuyên và chi đầu tư phát triển, chi trả nợ Quốc hội giao cho Uỷ ban thường vụQuốc hội quyết định phương án phân bổ NSTƯ cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từNSTƯ cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Như vậy, Quốc hội quyết địnhnhững vấn đề then chốt nhất về NSNN, đảm bảo cơ cấu thu, chi NSNN hợp lý và cânđối NSNN tích cực, đồng thời giám sát việc phân bổ NSTƯ và ngân sách của các địaphương
Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Quốc hội
giao về quyết định phương án phân bổ NSTƯ, giám sát việc thi hành pháp luật vềNSNN
Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội các dự án luật, pháp lệnh
và các dự án khác về NSNN; ban hành các văn bản pháp quy về NSNN; lập và trìnhQuốc hội dự toán và phân bổ NSNN, dự toán điều chỉnh NSNN trong trường hợp cầnthiết; giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, ngành; thống nhất quản lý NSNNđảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý ngành và địa phương trongviệc thực hiện NSNN; tổ chức kiểm tra việc thực hiện NSNN; quy định nguyên tắc,phương pháp tính toán số bổ sung nguồn thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấpdưới; quy định chế độ quản lý quỹ dự phòng NSNN và quỹ dự trữ tài chính; kiểm tranghị quyết của HĐND về dự toán và quyết toán NSNN; lập và trình Quốc hội quyếttoán NSNN và quyết toán các công trình cơ bản của Nhà nước
Bộ tài chính chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về NSNN trình
chính phủ; ban hành các văn bản pháp quy về NSNN theo thẩm quyền; chịu tráchnhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý NSNN; hướng dẫnkiểm tra các bộ, cơ quan khác ở trung ương và địa phương xây dựng dự toán NSNNhàng năm; đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi
Trang 15định mức chi NSNN; thanh tra, kiểm tra tài chính với tất cả các tổ chức, các đơn vịhành chính, sự nghiệp và các đối tượng khác có nghĩa vụ nộp ngân sách và xử dụngngân sách; quản lý quỹ NSNN và các quỹ khác của Nhà nước; lập quyết toán NSNNtrình Chính phủ.
Bộ kế hoạch và đầu tư có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội của cả nước và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó cócân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng kếhoạch tài chính, ngân sách; phối hợp với bộ tài chính lập dự toán và phương án phân bổNSNN trong lĩnh vực phụ trách; phối hợp với bộ tài chính và các bộ ngành hữu quankiểm tra đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản
Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chímh trong việc lập dự
toán NSNN đối với kế hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi NSNN; tạm ứng choNSNN để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN theo quyết định của thủ tướng Chínhphủ
Các bộ, ngành khác có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chính, UBND cấp tỉnh để
lập, phân bổ, quyết toán NSNN theo ngành, lĩnh vực phụ trách ; kiểm tra theo dõi tìnhhình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; báo cáo tình hình thực hiện
và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; phối hợp với bộ tàichính xây dung định mức tiêu chuẩn chi NSNN thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách
Hội đồng nhân dân có quyền quyết định dự toán và phân bổ NSĐP, phê chuẩn
quyết toán NSĐP; quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện NSĐP;quyết định điều chỉnh dự toán NSĐP trong thời gian cần thiết; giám sát việc thực hiệnngân sách đã quyết định Riêng đối với HĐND cấp tỉnh, ngoài những nhiệm vụ, quyềnhạn nêu trên còn được quyền quyết định thu, chi lệ phí, phụ thu và các khoản đóng gópcủa nhân dân theo quy định của pháp luật
Uỷ ban nhân dân lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương, dự
toán điều chỉnh NSĐP trong trường hợp cần thiết trình HĐND cùng cấp quyết định vàbáo cáo cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp Kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp dưới
về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách Tổ chức thực hiện NSĐP và báo cáo về
Trang 16NSNN theo quy định Riêng đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, UBNDcòn có nhiệm vụ lập và trình HĐND quyết định việc thu phí, lệ phí, phụ thu, huy độngvốn trong nước cho đầu tư xây dựng cơ bản thuộc địa phương quản lý.
Như vậy, luật đã quy định tương đối rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơquan, chính quyền Nhà nước trong lĩnh vực NSNN Đặc biệt đối với HĐND và UBNDcác cấp đã có sự đổi mới theo hướng tăng tính tự chủ, sáng tạo của địa phương trongviệc phát huy tiềm năng hiện có, bồi dưỡng và tăng thu cho ngân sách cấp mình, từ đóchủ động bố trí chi tiêu hợp lý, có hiệu quả theo kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội củađịa phương, phù hợp với quy hoạch tổng thể và chế độ thu, chi thống nhất của Nhànước
2.1.3 Phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi
2.1.3.1 Về các nguồn thu NSNN
Luật ngân sách năm 1996 và 2002 đều phân biệt ba loại nguồn thu: Nguồn thungân sách Trung ương hưởng 100%, nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100% vànguồn thu được phân chia tỷ lệ giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.Đối với phân cấp nguồn thu, sự khác nhau cơ bản giữa Luật năm 1996 và 2002 là Luậtnăm 1996 quy định cụ thể nhiệm vụ thu cho 4 cấp chính quyền, Luật 2002 cho phépchính quyền cấp tỉnh được quyền quyết định phân cấp nguồn thu cho cấp huyện và xã
- Nguồn thu ngân sách Trung ương được hưởng 100%, gồm thuế xuất nhập khẩu,VAT và thuế tiêu thụ đặt biệt với một số hàng hóa nhập khẩu, thuế và các khoản thu từdầu khí, các khoản thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành
- Nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%: gồm thuế nhà đất, thuế tàinguyên thiên nhiên (trừ dầu khí), thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền sửdụng đất, tiền thuê đất, thu từ cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, lệ phí trước
bạ và phần lớn các loại phí khác
- Nguồn thu được chia theo tỷ lệ giữa chính quyền Trung ương và địa phương:Gồm thuế VAT (loại trừ VAT đối với hàng nhập khẩu), thuế thu nhập doanh nghiệp(loại trừ những đơn vị hạch toán toàn ngành), thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc
Trang 17Tỷ lệ phân chia nguồn thu được xác định trên cơ sở tổng thu từ nguồn thu màngân sách địa phương được hưởng 100% và tổng chi ngân sách địa phương được tínhtheo định mức phân bổ.
Luật ngân sách nhà nước không nêu rõ tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa ngân sáchTrung ương và ngân sách địa phương mà giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyếtđịnh ổn định trong thời kỳ từ 3 đến 5 năm Tại từng tỉnh, các loại thuế được phân chia
sử dụng chung một tỷ lệ phần trăm phân chia Tỷ lệ này thay đổi ở các tỉnh khác nhau
và được tính toán trong quá trình xây dựng ngân sách vào thời kỳ ổn định Trước khiLuật ngân sách nhà nước năm 2002 có hiệu lực, các loại thuế được phân chia bao gồmVAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế chuyển lợi nhuận ranước ngoài Luật năm 2002 ra đời đã đưa thêm thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa,dịch vụ trong nước và phí xăng dầu vào danh mục thuế được phân chia
Ở nước ta, công tác thu thuế được tổ chức tập trung Tổng cục Thuế thu mọikhoản thuế nội địa thông qua hệ thống cơ quan thuế nằm ở từng tỉnh và huyện Tổngcục Hải quan thu các loại thuế xuất nhập khẩu Chỉ một số loại phí và lệ phí nhỏ là do
cơ quan tài chính và cơ quan cung cấp dịch vụ thu Cơ chế này có nhiều ưu điểm: đơngiản hóa việc quản lý quỹ ngân sách, tạo điều kiện thực hiện nhất quán chính sách thuếtrong cả nước
Quy mô thu NSNN từ năm 2004 đến 2010 (áp dụng luật NSNN 2002)
Nguồn: số li u quyết toán NSNN – B Tài chính ệu quyết toán NSNN – Bộ Tài chính ộ Tài chính
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
3
176,619
222,398
269,117
339,856
273,141
303,472
NSĐP(*) 85,553 107,22
8
128,445
161,940
208,673
130,859
159,028
Tổng thu NSNN 224,77
6
283,847
350,843
431,057
548,529
404,000
462,500
(*) không bao gồm phần bổ sung của ngân sách Trung ương.