Chế độ tỷ giá cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá neo, là một chế độ mà Ngân hàng nhà nước phải can thiệp trên thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá sao cho nó biến động xung quanh
Trang 1CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1 Lý luận chung về tỷ giá
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp, và là công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu định trước của nhà nước
Một số khái niệm thường được nhắc đến như sau:
•Theo nhà kinh tế học người Mỹ Samuelson: tỷ giá là giá để đổi đồng tiền của một
nước lấy tiền của một nước khác
•Theo lý thuyết P.P.P (Purchasing Power Parity) tỷ giá phản ánh tương quan sức mua
đối ngoại giữa đơn vị tiền tệ nước này với đơn vị tiền tệ nước khác
•Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1997): tỷ giá là tỷ lệ giữa giá trị của đồng
tiền này với giá trị của đồng tiền nước ngoài Tỷ giá này trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam xác định và công bố
Tựu trung lại, Tỷ giá hối đoái (hay tỷ giá) là một sự so sánh về mặt giá cả giữa hai
đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác Về mặt kinh tế, tỷ giá phản ánh sức mua đối ngoại của một đồng tiền trên thị trường quốc tế
Trong tỷ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng kia đóng vai trò đồng tiền định giá
Đồng tiền yết giá (Commodity Currency – ký hiệu là “C”): là đồng tiền có số đơn vị
cố định và bằng 1 đơn vị
Đồng tiền định giá (Term Currency – ký hiệu là “T”): là đồng tiền có số đơn vị thay
đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường
Ví dụ: 1 USD = 19.500 VND, trong đó: USD là đồng tiền yết giá, còn VND là đồng tiền định giá
1.1.2 Chức năng của tỷ giá
•Tỷ giá là cơ sở giá cả cho các giao dịch chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác nhằm phục vụ các hoạt động thương mại hàng hóa, dịch vụ, tài chính – tín dụng và đầu tư
•Tỷ giá là cơ sở cho việc so sánh giá cả hàng hóa, dịch vụ trên các thị trường nội địa
và thị trường thế giới
Trang 2•Tỷ giá là cơ sở giúp so sánh các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của các quốc gia được biểu thị bằng các đồng nội tệ khác nhau.
1.1.3 Tác động của tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn đến xuất nhập khẩu hàng hóa và tư bản (vốn), giá
cả hàng hóa trong nước, do đó nó có tác động không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân của một nước
1.1.3.1 Tỷ giá tác động đến hàng hóa xuất nhập khẩu
- Khi tỷ giá tăng, tức giá trị đồng nội tệ giảm, làm cho giá cả hàng hóa xuất khẩu tính bằng tiền nước ngoài giảm Từ đó, sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước trên thị trường thế giới sẽ tăng lên, tạo ra tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy hàng hóa xuất khẩu Đồng thời, tỷ giá tăng làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tăng dẫn đến hạn chế nhập khẩu
- Ngược lại, khi tỷ giá giảm, nghĩa là giá trị đồng nội tệ tăng sẽ gây ra tác động giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hóa
1.1.3.2 Tỷ giá tác động đến xuất nhập khẩu tư bản
- Tỷ giá thay đổi cũng tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn) từ quốc gia này sang quốc gia khác Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích kiếm lợi nhuận và tránh rủi ro Khi tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ hạn chế việc đầu tư ra nước ngoài của nhà đầu tư trong nước, vì họ sẽ không có lợi nếu chuyển vốn bằng đồng nội tệ ra nước ngoài để đổi lấy ngoại tệ tăng giá Đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ muốn đem vốn đầu tư vào nước
có tỷ giá đang tăng để có được lợi nhuận cao nhất
- Ngược lại, nếu tỷ giá giảm trong trường hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ giảm và tư bản xuất khẩu sẽ tăng
1.1.3.3 Tỷ giá tác động đến giá cả hàng hóa trong nước:
Ngoài các nhân tố như cung cầu, lạm phát,… giá cả trong một quốc gia còn chịu sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá tăng, giá tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng nhập khẩu tăng lên kéo theo giá cả các mặt hàng trong nước có liên quan cũng tăng theo Đồng thời do tác động giảm nhập khẩu nên cầu hàng hóa nhập khẩu cũng sẽ gia tăng, tất cả điều
đó làm cho giá cả chung trong nền kinh tế cũng gia tăng Ngược lại, khi tỷ giá giảm sẽ có tác động làm cho mức giá chung giảm
Trang 3Chế độ tỷ giá cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá neo, là một chế độ mà Ngân hàng nhà nước phải can thiệp trên thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá sao cho nó biến động xung quanh một tỷ giá cố định (gọi là tỷ giá trung tâm) trong một biên độ hẹp đã được định trước.
1.1.4.2 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn (Floating Rate):
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của Ngân hàng Nhà nước Loại tỷ giá hối đoái này ít được áp dụng vì các thị trường tiền
tệ thường không hoàn hảo và do vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà nước
1.1.4.3 Chế độ tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước (Managed Floating Rate):
Theo chế độ này, tỷ giá được ấn định bởi Ngân hàng Nhà nước, nhưng Ngân hàng Nhà nước sẽ có biện pháp can thiệp mỗi khi thị trường trở nên bất ổn định, hoặc khi tỷ giá hối đoái đi chệch xa mức thích hợp Loại tỷ giá hối đoái này hiện đang được áp dụng tại các nước phát triển trên thế giới
Ngoài cách phân loại chính sách tỷ giá theo mức linh hoạt của tỷ giá được đề cập ở trên ra, theo cơ chế tỷ giá hiện đại thì, IMF còn phân chính sách tỷ giá của các quốc gia thành 9 loại như sau:
- Cơ chế thỏa thuận tỷ giá hay Liên minh tiền tệ (Exchange Arrangements with No Separate Legal Tender or Monetary Union)
- Cơ chế tỷ giá theo Đô la hóa (Dollarization/Eurozation)
- Cơ chế tỷ giá chuẩn tiền tệ (Currency Board Arrangements)
- Cơ chế thỏa thuận ấn định neo tỷ giá (Other Conventional Fixed Peg Arrangements)
- Cơ chế dải băng tỷ giá (Pegged Exchange Rates within Horizontal Bands)
- Cơ chế tỷ giá con rắn tiền tệ (Crawling Pegs)
- Cơ chế tỷ giá dãi băng tăng dần (Exchange Rates within Crawling Bands)
- Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết không công bố trước (Managed Floating with No Predetermined Path for the Exchange Rate)
- Cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn tự do (Independently Floating)
Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài tiểu luận thì Nhóm xin không phân tích chi tiết các chế độ tỷ giá này
1.1.5 Các nhân tố tác động đến tỷ giá
1.1.5.1 Mức cung cầu ngọai tệ:
Trang 4a Mức cầu ngoại tệ:
Trên thị trường ngoại hối, cầu ngoại tệ chính là tổng lượng ngoại tệ cần mua.Cầu ngoại tệ phát sinh từ nhu cầu mua ngoại tệ của các tổ chức bao gồm các nhà nhập khẩu, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các tổ chức khác của các cá nhân, nhằm phục vụ cho các mục đích thanh toán, đầu cơ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và của NHNN, nhằm mục đích can thiệp để bình ổn tỷ giá
b Mức cung ngoại tệ
Trên thị trường ngoại hối, cung ngoại tệ chính là tổng số lượng ngoại tệ cần bán Cung ngoại tệ phát sinh từ nhu cầu bán ngoại tệ của các tổ chức bao gồm: các nhà xuất khẩu, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các tổ chức khác của các cá nhân, nhằm phục vụ cho các mục đích thanh toán, đầu cơ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và của NHNN, nhằm mục đích can thiệp để bình ổn tỷ giá
Ví dụ về cung cầu ngọai tệ tác động đến tỷ giá:
Trong Hoạt động đầu tư: Nếu nhà đầu tư trong nước dùng tiền mua tài sản ở
nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu thì cần phải có ngoại tệ Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm
Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ
c Cân bằng tỷ giá
Giống như bất kỳ một loại sản phẩm nào được bán trên thị trường, giá cả của một đồng tiền được xác định bởi cung cầu của đồng tiền đó Như vậy, đối với mỗi mức giá của USD, sẽ có một mức cầu và một mức cung USD tương ứng Tại bất kỳ thời điểm nào, một đồng tiền nào sẽ thể hiện mức giá mà tại đó cân bằng với mức cung của đồng tiền đó và đây
chính là tỷ giá cân bằng
1.1.5.2 Cán cân thương mại:
Trang 5Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu Cán cân thanh toán của một quốc gia có thể rơi vào một trong ba trạng thái sau: Cân bằng, thâm hụt hay thặng dư, ảnh hưởng trực tiếp hay nhạy bén đến tỷ giá
Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng Tác động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái
1.1.5.4 Lãi suất
Thị trường nào có mức lãi suất ngắn hạn cao thì những luồng vốn ngắn hạn có xu hướng đổ về thị trường đó để tìm kiếm lợi nhuận Do đó, làm cho cung về ngoại tệ tăng lên, trong khi cầu về ngoại tệ không thay đổi; làm cho tỷ giá đi theo xu hướng giảm
Ngoài ra, sự chênh lệch lãi suất giữa đồng nội tệ với đồng ngoại tệ trong cùng một quốc gia sẽ tác động đến xu hướng đầu tư và ảnh hưởng đến tỷ giá
1.1.5.5 Tỷ lệ lạm phát
Khi tỷ lệ lạm phát ở một quốc gia tăng lên hay giảm xuống sẽ làm giá trị của đồng tiền nước đó thay đổi dẫn tới tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước đó so với nước ngoài bị biến động
Nếu mức lạm phát của một nước mà cao hơn so với một nước khác thì đồng nội tệ nước đó sẽ có sức mua thấp hơn so với ngoại tệ và do đó giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ sẽ giảm Hệ quả là tỷ giá hối đoái tăng lên Lạm phát càng kéo dài, đồng nội tệ càng mất giá, tỷ giá hối đoái sẽ càng biến động mạnh
1.1.5.6 Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế
Chính phủ của bất kỳ một nước nào cũng có thể thực hiện các chính sách thuế khóa và tiền tệ riêng biệt của mình để kiểm soát nền kinh tế, kiểm soát tăng trưởng của mức cung tiền tệ sao cho chúng tác động thuận lợi đến các cân đối vĩ mô
Các biện pháp can thiệp vào tỷ giá của chính phủ gồm có:
• Áp đặt rào cản về ngoại hối
Trang 6• Áp đặt những rào cản về ngoại thương.
• Can thiệp vào thị trường ngoại hối
• Tác động đến những biến động vĩ mô như: Lãi suất, thu nhập quốc dân, lạm phát
1.1.5.7 Yếu tố tâm lý của người tiêu dùng
Lòng tin của người tiêu dùng vào giá trị của đồng tiền nói riêng và vào chính sách kinh
tế, tiền tệ của chính phủ nói chung đóng một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu tỷ giá Khi người dân lo sợ về sự ổn định của nền kinh tế, họ luôn tìm cách đẩy đồng bản tệ ra lưu thông hoặc chuyển nó thành ngoại tệ, bất động sản, hoặc hàng hoá v.v Việc làm này được diễn ra nhanh chóng với một khối lượng chuyển đổi rất lớn, tạo cơn sốt giả tạo về ngoại tệ, đẩy ngoại tệ tăng giá và kéo bản tệ giảm giá
1.1.5.8 Hoạt động đầu cơ
Hoạt động của những người đầu cơ ngoại tệ tác động mạnh đến tỷ giá hối đoái Khi nhà đầu cơ dự đoán giá của một loại ngoại tệ nào đó sẽ lên, họ sẽ dùng nội tệ để mua một số lượng lớn ngoại tệ, làm cho ngoại tệ này ở trên thị trường trở nên khan hiếm, cung sẽ nhỏ hơn cầu về ngoại tệ đó dẫn đến giá của loại ngoại tệ đó tăng do đó tỷ giá hối đoái tăng lên
1.1.5.9 Tình trạng đô la hóa
Đô-la hóa là quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ và thay vào đó sử dụng đồng tiền của nước khác ổn định hơn làm phương tiện thanh toán Đô-la hóa xảy ra là do những phản ứng trong các bất ổn kinh tế vĩ mô dẫn tới lạm phát tăng cao, lãi suất nội tệ tăng cao (kể cả lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực) Hậu quả là các doanh nghiệp chuyển sang vay USD với lãi suất thấp hơn Ngoài ra, do tình trạng bất ổn của đồng nội tệ, cho nên các nhà đầu tư chuyển sang đầu tư vào địa ốc và sử dụng USD trong các giao dịch này
1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái
1.2.1 Khái niệm về chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ được dùng để tác động vào quan hệ cung - cầu ngọai tệ trên thị trường ngoại hối, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu kinh tế - xã hội cần thiết Về cơ bản, chính sách tỷ giá tập trung chú trọng vào giải quyết hai vấn đề lớn: lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và điều chỉnh
tỷ giá hối đoái
1.2.2 Ý nghĩa của chính sách tỷ giá
•Là một bộ phận hữu cơ và không thể tách rời của chính sách tiền tệ
Trang 71.2.3 Mục tiêu của chính sách tỷ giá
- Mục tiêu ngắn hạn
•Giữ ổn định của chính sách tiền tệ nói chung mà trước hết là ổn định tỷ giá, đặc biệt
là tỷ giá với các đồng tiền mạnh của thế giới
•Thu hút được nhiều ngoại tệ và tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
•Mở rộng dần các hoạt động tài chính quốc tế của quốc gia bằng cách tăng cường các hoạt động thương mại quốc tế, thu hút vốn đầu tư, tín dụng quốc tế…
- Mục tiêu dài hạn
•Đẩy mạnh quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế
•Nâng dần vị trí quốc tế của đồng nội tệ
1.2.4 Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái
1.2.4.1 Công cụ lãi suất (Lãi suất tái chiết khấu)
Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái được thực hiện với mong muốn tạo ra sự thay đổi cấp thời về tỷ giá
Tác động của công cụ lãi suất tái chiết khấu đến tỷ giá hối đoái được thực hiện theo cơ chế khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất thị trường, tỷ suất lợi tức của các tài sản nội – ngoại tệ thay đổi làm thay đổi hướng chảy của các dòng vốn đầu tư quốc tế Kết quả là vốn ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dịch chuyển đến nơi có lãi suất cao và cung ngoại tệ ở quốc gia đó sẽ tăng dần đến tỷ giá giảmTuy nhiên, chính sách chiết khấu chỉ có ý nghĩa nhất định đối với tỷ giá hối đoái vì lãi suất và tỷ giá chỉ có mối tác động qua lại chứ không phải là mối quan hệ nhân quả Lãi suất không phải nhân tố duy nhất quyết định sự vận động vốn giữa các nước Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước không ổn định thì không nhất thiết không thực hiện được Do vậy, điều kiện để thực hiện chính sách lãi suất chiết khấu là phải có một thị trường vốn đủ mạnh, linh hoạt và tự do
1.2.4.2 Công cụ dự trữ ngoại tệ
Đây là biện pháp trực tiếp mà ngân hàng trung ương tác động đến tỷ giá hối đoái Thông qua các tổ chức kinh doanh ngoại hối, nhà nước đã chủ động tác động vào cung cầu ngoại tệ bằng việc mua bán ngoại tệ để trực tiếp điều chỉnh tỷ giá
Khi tỷ giá ở mức cao (tức là đồng nội tệ giảm giá) tới mức làm ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh tế trong nước cũng như các hoạt động kinh tế đối ngoại, Ngân hàng trung ương sẽ bán ngoại tệ ra để thu nội tệ về Khi đó do cung về ngoại tệ tăng tác động làm giảm
tỷ giá Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm xuống, ngân hàng trung ương sẽ mua ngoại tệ
Trang 8vào, tức là làm tăng cầu ngoại hối khi cung chưa kịp biến động để nâng tỷ giá hối đoái lên tới mức hợp lý
Tuy nhiên, để có thể thực hiện có hiệu quả công cụ trên, ngân hàng trung ương cần phải có dự trữ ngoại tệ thật dồi dào và đủ lớn để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết Hơn nữa, chính sách này chỉ có tác dụng tạm thời và hạn chế sự biến động của tỷ giá chứ không thể thay đổi được tình hình tỷ giá trong nước Nếu tỷ giá giảm sút do cán cân thanh toán quốc tế hay bị lạm phát, việc ngân hàng trung ương tung ngoại tệ ra bán thì sẽ làm cho dự trữ ngoại tệ càng căng thẳng, tình hình hao hụt ngày càng nghiêm trọng hơn do vậy tỷ giá hối đoái càng bị giảm sút
1.2.4.3 Quy định biên độ và tỷ giá liên ngân hàng
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một phần của thị trường ngoại hối Đó là nơi các định chế tài chính trung gian của một quốc gia mua bán, trao đổi ngoại hối Nói cách khác, trong phạm vi một quốc gia, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là điểm gặp gỡ của cung cầu tiền tệ và là nơi định hình tỷ giá Thông qua thị trường, ngân hàng trung ương - cơ quan quản lý tiền tệ của chính phủ - có thể nắm bắt thông tin, kiểm soát, quản lý, điều tiết tỷ giá nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách ngoại hối Bằng việc đặt lệnh mua, lệnh bán cuối cùng, ngân hàng trung ương sẽ điều tiết hoạt động ngoại hối của các tổ chức tài chính trung gian và ổn định tiền tệ
Trang 9CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
TẠI VIỆT NAM2.1 Chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam qua các thời kỳ:
2.1.1 Chính sách tỷ giá thời kỳ trước 1989:
Đây là thời kỳ nền KT mang tính kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà nước can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, quyết định các chính sách KT vi mô và vĩ mô theo một kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc Sự can thiệp này đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng các quy luật cung cầu trên thị trường, nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch
Hơn nữa, hệ thống các nước XHCN lại áp dụng một chiến lược phát triển KT hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại thương và ngoại hối, do đó độc quyền trong việc ban hành và ấn định tỷ giá
Do vậy, Nhà nước độc quyền xác định tỷ giá cố định, không tính đến những yếu tố cung cầu của thị trường
Hậu quả của một cơ chế tỷ giá cố định và đa tỷ giá mang tính áp đặt bất chấp quy luật cung cầu tiền tệ đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng Đồng tiền VN được định giá quá cao so với các đồng tiền tự do chuyển đổi Tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thị trường làm cho hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng Đối với các DN, đặc biệt là doanh nghiệp SX hàng xuất khẩu, đã rơi vào tình trạng khó khăn thua lỗ, tuy có chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương (lỗ thì ngân sách cấp bù, còn lãi thì nộp ngân sách) nhưng dù sao cũng triệt tiêu động lực phát triển xa hơn
2.1.2 Chính sách tỷ giá thời kỳ 1989-1997:
- Việc xác định tỷ giá chưa thích ứng với cung cầu ngoại tệ: Cung cầu ngoại tệ đóng
vai trò quyết định đến những biến động của tỷ giá hối đoái, đặc biệt đối với nước đang phát triển kinh tế như Việt Nam, khi mà VNĐ chưa có giá trị chuyển đổi vì tương đối yếu trên thị trường trong và ngoài nước Do Nhà nước chưa nắm chắc và tác động tốt đến các nhân
tố ảnh hưởng đến tỷ giá nên dẫn đến sự xác định tỷ giá vẫn còn chưa thích ứng với cung cầu ngoại tệ
Thời gian này không ai thừa nhận có lạm phát trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai dám đưa vấn đề ra để phân tích, bàn luận công khai Không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra trong một thời gian dài cho đến khi xảy ra cuộc đổi tiền vào năm 1985 Nhưng sau đổi tiền, CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%, nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong hai năm tiếp theo
Cuối năm 1988 và qua năm 1989, nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát
được đưa ra, một trong những quyết định quan trọng ghi nhận được lúc đó là việc lần đầu
Trang 10tiên mạnh tay nới lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988 và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991
Việc thả nổi tỷ giá trong giai đoạn này góp phần làm lạm phát giảm mạnh so các năm 86-88 và có tác động rất mạnh đến cán cân thương mại Nếu chỉ xét trong khu vực giao dịch bằng USD, xuất khẩu trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm Tỉ lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990 (nguồn http://vietbao.vn/Kinh-te/K ho-khan-hay-xuat-hien-nhung-cai-cach-manh-me/20789032/87/ )
Tuy nhiên, sau khi điều hành chính sách tỷ giá thả nổi, nhà nước vẫn thiếu sự kiểm
soát chặt chặt chẽ, thậm chí còn buông lỏng về các nguồn thu ngoại tệ, làm cho dự trữ ngoại
tệ của quốc gia tăng chậm và thị trường ngoại tệ gặp phải những cơn sốt theo chu kỳ (thường là cuối quý hay cuối năm khi mà các nhu cầu nhập khẩu và trả nợ đến hạn tăng cao) Sự thâm hụt tài chính của chính phủ, nợ nước ngoài tăng nhanh, lạm phát thường tăng
vọt bất thình lình Do đó, từ năm 1992 Việt Nam đã chuyển sang chế độ tỷ giá cố định
có điều chỉnh, theo đó NHNN áp đặt trực tiếp vào tỷ giá thông qua việc áp dụng các quy định trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày.
Sau năm 1992, chính phủ tiếp tục có những điều chỉnh cải cách vể chính sách tỷ giá bằng cách quy định biên độ dao động của tỷ giá so với tỷ giá chính thức được công bố hàng ngày bởi Ngân hàng nhà nước
Theo đó, tỷ giá VND/USD tăng vọt lên trên 13.000 VND/USD trong tháng cuối năm
1991, giảm đột ngột còn 11.000 VND/USD đến năm 1992, sau đó và được neo giữ ở mức thấp trong suốt nhiều năm từ 1992 đến 1996 trong khoảng từ 10.500 đến 11.000 VND/USD (nguồn http://vietbao.vn/Kinh-te/Kho-khan-hay-xuat-hien-nhung-cai-cach-manh-me/20789032/87/)
Vào năm 1994 khi thị trường ngoại tệ phát triển đến một mức độ nhất định, cùng với
số lượng ngân hàng tham gia giao dịch ngày càng tăng, phạm vi và cường độ hoạt động
ngày càng phát triển và mở rộng Trước tình hình mới Ngân hàng Nhà nước đã cho
phép thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng ra đời Thị trường liên Ngân hàng có quy mô
lớn hơn và mang tính thị trường khách quan, linh hoạt hơn, tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành của Ngân hàng Nhà nước càng sát thực tế hơn Hoạt động của thị trường liên Ngân hàng làm cho Ngân hàng Nhà nước có thể nắm bắt được diễn biến của nền kinh tế và kịp
thời điều tiết tỷ giá hối đoái Ngân hàng Nhà nước bắt đầu công bố tỷ giá chính thức giữa ngoại tệ với VND, qua đó tỷ giá mua bán trên thị trường chỉ dao động trong biên độ cho phép là ± 0,5% so với tỷ giá chính thức (Quyết định số 245/QĐ-NH7 ngày 03/10/1994).
Sự ra đời của thị trường liên Ngân hàng nâng cao thực lực trong việc Ngân hàng Nhà nước can thiệp và điều hòa hướng tỷ giá thị trường theo mục tiêu của chính sách tỷ giá và
Trang 11chính sách tiền tệ Tỷ giá đã phản ánh tương đối khách quan về sức mua của đồng tiền Việt Nam và quan hệ cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế Ngân hàng Nhà nước khuyến khích các ngân hàng tham gia tích cực hơn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, và cho phép các ngân hàng được điều chỉnh tỷ giá linh hoạt hơn Năm 1996 thì mức biên độ dao động được nâng lên ±1%.
Tuy nhiên cơ chế cứng nhắc cùng với tỷ giá đồng nội tệ cao đã làm mất đi cơ hội của đất nước khi mà dòng FDI thế giới đang hướng mạnh vào Điều này làm cho nội lực của nền kinh tế bị thương tổn nghiêm trọng Tăng trưởng kinh tế của VN từ 1992 đến 1996 đạt đến 9% năm, nhưng từ 1997 thì giảm dần
Tình hình kinh tế xã hội vào lúc đó cũng hết sức gay gắt Tình trạng lỗ lãi, nợ nần mà không có cơ chế phá sản làm cho hàng loạt công ty đang hoạt động hết sức khốn đốn
- Ngày 13/10/1997, tăng biên độ dao động lên ±10%
- Ngày 14/2/1998 theo quyết định 37/1998/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ đã điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái chính thức 5,6% từ 11.175 lên 11.800 VND/USD.Nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh Mặc dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến động đáng kể
Với quyết định này đã giúp giảm bớt mức độ VND bị đánh giá cao trong thanh toán đối ngoại, tạo điều kiện rút ngắn chênh lệch về tỷ giá của thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do (khoảng cách chênh lệch giữa 2 thị trường trên chỉ còn khoảng 0,2% so với đầu năm 1998 là 7 – 8%), mức chênh lệch về lãi suất nội tệ và ngoại tệ được điều chỉnh hợp
lý, rủi ro tỷ giá hối đoái nói chung đã vào mức thấp xa so với các năm trước Điều này tạo điều kiện tốt cho kinh doanh ngân hàng, ổn định tâm lý gửi tiền của cá nhân, nhà đầu tư và doanh nghiệp
Vào đầu tháng 8/1998, so với USD thì VND lên giá khoảng 16%, hoạt động kinh tế đối ngoại gặp nhiều khó khăn hơn, nhất là xuất khẩu, tình hình cung cầu ngoại tệ lại căng
thẳng trở lại Vì thế, ngày 7/8/1998, Ngân hàng Nhà nước giảm biên độ giao dịch còn
±7%, tỷ giá chính thức điều chỉnh từ 11.815 lên 12.298 VND/USD, tức VND giảm giá
Trang 124,1% Mặc dù biên độ được điều chỉnh giảm nhưng tỷ giá chính thức tăng nên thực chất
VND bị phá giá Tỷ giá chính thức này được ấn định trên cơ sở tỷ giá mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nên tỷ giá này sẽ phản ánh sát hơn tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị trường Quyết định này đã giúp cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng giao dịch sôi động hơn, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng chủ động hơn, cân đối nhu cầu ngoại tệ, bước đầu giải tỏa tâm lý găm giữ, đầu cơ ngoại tệ
Để triệt thoái tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ và tập trung lượng ngoại tệ vào sự quản lý của nhà nước, vào ngày 12/9/1998, Chính phủ ban hành Quyết định số 173/QĐ-
TTg Theo Quyết định này, người cư trú là tổ chức phải bán 80% số ngoại tệ thu được từ nguồn thu vãng lai cho ngân hàng trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ
ngày ngoại tệ được ghi có vào tài khoản tiền gửi Mặc dù chính sách quản lý mới này
mang đậm tính chất hành chính, nhưng cũng đem lại kết quả khả quan:
- Quan hệ cung - cầu ngoại tệ chính thức trên thị trường được cải thiện đáng kể đã góp phần ổn định tốt hơn tỷ giá hối đoái
- Tỷ giá giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được duy trì trong biên độ quy định, khoảng cách chênh lệch về tỷ giá giữa thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường tự do được giảm thiểu khá thấp (dưới 1%)
Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã làm tăng sức cạnh tranh thương mại, tác động tích cực đối với xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu trong các năm 1997 – 1998, cán cân tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán cũng giảm dần thâm hụt, mặc dù đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh trong các năm này
Tuy nhiên, điều chỉnh tỷ giá như trên cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, bởi vì khi VND giảm giá đã làm tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài của cả chính phủ và các doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thực tế, mỗi sự thay đổi của tỷ giá chính thức đều có những tác động nhất định trong đời sống kinh tế và đôi khi NHNN cũng rơi vào tình trạng muốn điều chỉnh tỷ giá chính thức cho phù hợp với thực tế nhưng lại rất khó khăn vì không tính toán cân nhắc kỹ sẽ dẫn đến những biến động bất thường trên thị trường Nếu điều chỉnh hàng ngày sẽ gây tâm lý bất ổn, còn nếu giữ “cứng” quá lâu khi điều chỉnh rất dễ gây biến động đột ngột Cơ chế này
rõ ràng là không phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường và thông lệ quốc tế Bởi vậy, việc thay đổi cách xác định mức tỷ giá là cần thiết
2.1.4 Chính sách tỷ giá năm 1998-2007:
2.1.4.1 Chính sách tỷ giá sau khủng hoảng 1997:
Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết Chế độ tỷ giá neo mềm đã từ bỏ ((tỷ giá cố định với biên độ dao động ) áp dụng từ tháng 07/1997 đến 02/1999 bị từ bỏ vì Cuộc khủng hoảng 1997 đã làm cho một loạt đồng tiền của các nước trong khu vực như: đồng Won (Hàn Quốc), đồng Baht
Trang 13(Thái Lan), đồng Rupiah (Indonesia), đồng Ringgit (Malaysia) giảm giá mạnh so với USD Điều này vô hình chung làm cho VND bị đánh giá cao hơn thực tế so với các đồng tiền của
các nước trong khu vực Từ ngày 26/02/1999 sử dụng chế độ tỷ giá linh hoạt là tỷ giá chính thức công bố hằng ngày được xác định trên cơ sở bình quân mua bán thực tế trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó Đây là
một sự thay đổi về quản lý, điều hành tỷ giá cho phù hợp với quy luật thị trường vì tỷ giá chính thức xem như có căn cứ là mức tỷ giá bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Theo đó, biên độ giao dịch cũng được rút xuống là ±0,1% Theo quan điểm của NHNN, đây là một bước ngoặc lịch sử trong điều hành tỷ giá, chuyển từ chế độ cố định với những công cụ điều hành chủ yếu là hành chính sang một chế độ tỷ giá mới linh hoạt hơn và mang tính thị trường cao hơn
Tác động tích cực của chính sách tỷ giá đến nền kinh tế:
- Tạo quyền chủ động cho các NHTM trong việc tự quy định tỷ giá của VND so với các ngoại tệ khác (không phải là USD)
- Giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh mà vẫn đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước
- Khơi thông thị trường ngoại tệ
- Tỷ giá sẽ xích gần lại với thị trường tự do nên khả năng chênh lệch lớn giữa 2 thị trường khi có biến động là khó xảy ra
- Giải quyết vấn đề khát USD cho doanh nghiệp
- Giảm tâm lý hoang mang dao động khi điều chỉnh tỷ giá, lòng tin vào đồng tiền ít bị lung lay, giảm tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ
- Tỷ giá mềm dẻo, linh hoạt hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế giúp nước ta dễ hoà nhập với nền kinh tế quốc tế hơn Đặc biệt là chuẩn bị cho năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO
Tuy nhiên, chính sách cũng bộc lộ một số nhược điểm như:
- Việc lấy tỷ giá của ngày hôm trước cho dao động trong biên độ cho phép để làm tỷ giá giao dịch của ngày hôm sau không mang ý nghĩa kinh tế Vì tỷ giá của ngày hôm trước không có ý nghĩa trong ngày hôm nay
- Tỷ giá được công bố có giá trị trong một ngày sẽ bất lực khi thị trường có biến động mạnh về cung cầu
- Nền kinh tế còn yếu, tâm lý chờ phá giá VND luôn thường trực, khiến tỷ giá thực tế
ở thị trường liên ngân hàng luôn ở xu hướng tăng thêm với mức được phép là 0,1%
Để tránh xu hướng này NHNN phải thường xuyên dùng ngoại tệ can thiệp vào thị trường, mà dự trữ ngoại tệ thì rất hạn chế
Trang 14Thực tế thì từ cuối tháng 3/1999 tỷ giá mua và bán của ngân hàng luôn cao hơn tỷ giá chính thức Như vậy tình hình đã quay trở lại như trước khi thay đổi cách xác định tỷ giá chính thức vào ngày 26/2/1999, chỉ có khác là mức chênh lệch không cao bằng trước đó vì biên độ đã bị thu hẹp Điều này cho thấy sự thật là việc thay đổi cách xác định tỷ giá hối đoái chính thức trên tuy là sự thay đổi về cơ chế quản lý, điều hành tỷ giá cho phù hợp nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết những bất hợp lý của cơ chế điều hành tỷ giá đã có từ trước.
Chế độ tỷ giá nêu trên nếu xét về thực chất được coi là gần với tỷ giá cố định nhưng
có thể điều chỉnh vì thực tế là các công cụ can thiệp còn yếu kém, thuần túy mang tính kinh
tế nên cần phải được hỗ trợ thêm bằng các công cụ hành chính phi kinh tế khác Nhưng khi
đã sử dụng đến các công cụ hành chính phi kinh tế thì ít nhiều cũng sẽ vi phạm các quy luật thị trường hay ít nhất cũng làm cản trở và hạn chế tác động tự điều chỉnh của các lực lượng thị trường Do đó sự tồn tại của thị trường ngầm song song với thị trường chính thức, nơi không bị kiểm soát bởi các công cụ hành chính là một điều không thể tránh khỏi
Cụ thể, vào năm 1999, ở nước ta chính thức chịu sức ép cầu lớn hơn cung ngoại tệ, các NHTM không còn đủ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu nữa Vì vậy vào ngày
30/12/1999 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 242/1999/QĐ-TTg quy định doanh nghiệp nhập khẩu hàng tiêu dùng phải tự cân đối nhu cầu ngoại tệ với mục đích giảm
cầu ngoại tệ trên thị trường chính thức, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng, phần ngoại tệ
phụ trội sẽ do thị trường ngầm cung cấp Điều này đã làm cho thị trường ngầm có điều kiện
phát triển và Việt Nam đã thừa nhận thị trường ngoại tệ ngầm như một bộ phận của thị trường ngoại hối Việt Nam
Từ năm 2004, cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể đó là Từ
năm 2004, trên nền tảng chính sách tỷ giá đã lựa chọn, NHNN đang thực thi lộ trình linh
hoạt hóa tỷ giá qua nhiều bước
- Vào tháng 5/2004, NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất
- Tiếp đến là thừa nhận tính tự do chuyển đổi của các ngoại tệ mạnh Tháng 11/2004, chính thức áp dụng quyền chọn ngoại tệ Tháng 07/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch USD tiền mặt, Cho Eximbank thí điểm mua bán ngoại tệ mặt theo giá thỏa thuận
2.1.4.2 Chính sách tỷ giá năm 2007:
- 31/12/2006, NHNN quyết định nới lỏng biên độ dao động từ ±0.25% lên ±0.5%
- Năm 2007, NHNN Việt Nam điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng VND yếu so với USD từ 1% lên 2%/năm Đầu năm 2007, NHNN Việt Nam đưa ra tỷ giá VND/USD trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng 16.165 VND/USD, trong khi tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do là 16.070 VND/USD Do đó, một số NHTM bán USD cho NHNN Việt Nam
để kiếm lời
Trang 15Những tháng cuối năm 2007, NHNN Việt Nam vẫn đưa ra tỷ giá 16.114 VND/USD theo hướng VND mất giá so với USD, nhưng tỷ giá ngọai tệ trên thị trường liên ngân hàng vẫn cao hơn tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do Ý đồ của một số NHTM muốn lặp lại như 6 tháng đầu năm 2007, muốn bán USD cho NHNN Việt Nam để kiếm lời Nhưng NHNN Việt Nam đưa ra điều kiện: NHNN Việt Nam chỉ mua USD tối đa bằng số USD gây
ra trạng thái ngoại tệ thị trường mà thôi Cách xử sự của NHNN Việt Nam với các NHTM được phép kinh doanh ngọai tệ như vậy khiến cho “USD rẻ” trên thị trường tự do
Động thái mới nhất từ phía NHNN nhằm kiểm soát lạm phát trong năm 2008 là quyết định nới lỏng biên độ tỷ giá VND/USD từ ±0.5% lên ±0.75% ngay trong những ngày cuối năm 2007 (ngày 24/12/2007) nhằm tăng khả năng thanh toán cho thị trường và tăng cường
sự linh hoạt của tỷ giá trong bối cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam ngày càng lớn, tạo điều kiện cho dòng vốn ra và vào nhịp nhàng hơn
2.1.5 Chính sách tỷ giá năm 2008
Diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới khiến cho kinh tế Việt Nam gặp nhiều thách thức Trong những tháng đầu năm 2008, tỷ lệ lạm phát gia tăng nhanh trong khi thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán bắt đầu suy yếu Trong 6 tháng đầu năm, do biến động giá trên thị trường thế giới, nhập siêu của Việt Nam đã tăng mạnh Tính tới cuối tháng
6, nhập siêu đã lên tới 14,8 tỷ USD, đe dọa sự bền vững của cán cân thanh toán và gây áp lực lên tỷ giá USD/VND
Trong bối cảnh kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, mức độ tự do hóa các giao dịch vốn tương đối cao, biến động của các luồng vốn đầu tư, đặc biệt là luồng vốn gián tiếp đã ảnh hưởng mạnh tới cung cầu ngoại tệ và tỷ giá Trong năm 2008, luồng vốn đầu tư gián tiếp đã liên tục biến động, khiến cho cung cầu ngoại tệ mất cân đối Luồng vốn này gia tăng đáng kể trong ba tháng đầu năm, gây áp lực tăng giá VND, sau đó có dấu hiệu đảo chiều làm tăng cầu ngoại tệ khi tình hình kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn Sau khi
có dấu hiệu tăng nhẹ trở lại do kinh tế vĩ mô Việt Nam diễn biến khả quan, trong các tháng cuối năm, tình trạng khủng hoảng thị trường tài chính quốc tế lại khiến cho các nhà đầu tư
có xu hướng rút vốn về nước để bảo đảm thanh khoản của các tổ chức ở chính quốc
Trang 16Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 - Nguồn: BIDV
Theo thực trạng biến động tỷ giá, ta phân thị trường ngoại tệ Việt Nam trong năm
2008 ra làm 4 giai đoạn:
a Giai đoạn 1 (1/1/2008 – 25/3/2008): Tỷ giá giảm
- Đầu năm 2008, tỷ giá dao dộng quanh mức 16.000 – 16.200 VND/USD, đến giữa tháng 3/2008, tỷ giá giảm xuống còn 15.400 VND/USD
- Ngày 30/1/2008, NHNN thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008), lãi suất tái chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6%/năm…
Nguyên nhân tỷ giá giảm:
Việc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) cắt giảm lãi suất lần 3, từ mức 5,25% ở thời điểm đầu năm 2007, xuống chỉ còn 4,25%/năm, làm USD mất giá mạnh so với các đồng tiền khác trên thế giới, trong đó có VND
Trong dịp Tết Nguyên đán, lượng kiều hối chuyển về nước tăng mạnh, nhất là kiều bào có nhu cầu bán ngoại tệ lấy tiền đồng chi tiêu trong dịp tết
Đang là thời điểm các doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu bán ngoại tệ có được từ xuất khẩu để trả lương thưởng cũng như cân đối tài chính cuối năm
Dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua VND
Trong năm 2008, các quỹ đầu tư nước ngoài đổ một lượng vốn đầu tư gián tiếp khá lớn vào nhiều lĩnh vực khác nhau ở nước ta Chưa kể, một số tập đoàn NH lớn trên thế giới trở thành cổ đông chiến lược và rót số vốn đầu tư hàng trăm triệu USD vào một số NH TMCP nội địa