1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình ngữ văn 7 (GIẢI B CẤP HUYỆN)

21 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 57,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình ngữ văn 7 (GIẢI B CẤP HUYỆN) Dạy học nói chung, dạy Văn nói riêng đều rất cần cái tâm của người thầy. Đặc biệt trong giai đoạn ngành giáo dục đang triển khai xây dựng mô hình trường học mới. Với sự hiểu biết, với kiến thức phong phú cùng lòng nhiệt tình, say mê giảng dạy là điều kiện cần nhưng chưa đủ mà chúng ta phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy để mỗi giờ học không chỉ phát huy được tính tích cực, hào hứng, nắm bắt kiến thức nhanh nhạy của học sinh mà còn hướng các em say mê tìm hiểu, khám phá. Qua đó các em biết yêu thương, trân trọng, cảm thông, chia sẻ...vì “Văn học là nhân học”.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁOKẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I-

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:

II - SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ :

1/ Đặc điểm tình hình tại đơn vị :

Trường THCS Bình Thạnh Đông là một trong những đơn vị trường thuộc vùngnông thôn của Huyện Phú Tân, nằm ven trục tỉnh lộ 951, với khung viên trường khá khangtrang Qui mô trường thuộc loại 2 với 25 lớp thực dạy, tổng số hơn 950 học sinh cho 04khối 6-7-8-9 Trường có 54 cán bộ giáo viên nhân viên, đa số giáo viên trẻ nhiệt tình trongcông tác, có kinh nghiệm trong giảng dạy Cũng như các đơn vị trường trong huyện,trường THCS Bình Thạnh Đông cũng có nhiều điều kiện thuận lợi, khó khăn nhất định :

a/ Thuận lợi :

- Trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương và lãnh đạo ngành nênđược đầu tư khá tốt về mọi mặt

- Đội ngũ sư phạm nhà trường cũng nỗ lực không ngừng để từng bước nâng cao

chất lượng giảng dạy theo từng năm và phấn đấu chuẩn bị cho lộ trình trường chuẩn quốcgia

- Cơ sở vật chất từng bước được hoàn thiện đạt chuẩn quốc gia

- Đa số học sinh có tinh thần học tập tốt, được sự quan tâm của gia đình

- Cùng với phong trào xây dựng nông thôn mới, trường được đầu tư cải tạo xâydựng các hạn mục cơ bản đáp ứng cho công tác giảng dạy trong những năm sắp tới và làđiều kiện để được công nhận trường chuẩn quốc gia

- Được sự hợp tác hỗ trợ của hội phụ huynh và các mạnh thường quân trong vàngoài địa bàn hỗ trợ tích cực cho các hoạt động của nhà trường

b/ Khó khăn :

Trang 2

- Tuy nhiên, cũng như nhiều đơn vị trường khác trong huyện Trường THCS BìnhThạnh Đông cũng gặp không ít khó khăn trong việc nâng cao chất lượng ở nhiều bộ môn

- Với nhiều lý do khác nhau và đặc thù từng bộ môn, mà giáo viên từng bộ môn lạinhững vấn đề khó khăn khác nhau Bộ môn Ngữ văn cũng không ngoại lệ, nhiều nămgiảng dạy Ngữ văn bản thân cũng gặp không ít khó khăn trong việc nâng cao chất lượng

- Đa số học sinh của trường thuộc địa bàn nông thôn, điều kiện kinh tế một bộ phận khôngnhỏ gia đình học sinh còn nhiều khó khăn, tinh thần học tập của học sinh chưa tích cực

- Việc giảng dạy bộ môn tại đơn vị chưa thật sự thu hút học sinh, nhất là khả năng làm văncủa các em

- Một bộ phận không nhỏ học sinh chưa có động cơ học tập đúng đắn, ham chơi…

- Cơ sở vật chất có phần xuống cấp đang được cải tạo nên cũng gây khó khăn cho hoạtđộng giảng dạy, nhất là các loại đồ dùng dạy học mới…

2/ Tên sáng kiến : “Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình Ngữ văn 7”

3/ Lĩnh vực : Giảng dạy môn Ngữ Văn

III- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN :

1/ THỰC TRẠNG BAN ĐẦU TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN :

Trên thực tế qua nhiều năm giảng dạy trực tiếp thể loại ca dao- dân ca trữ tình lớp 7

và qua dự giờ thăm lớp đồng nghiệp, tôi và các đồng nghiệp đều nhận thấy một điều nhưsau:

Về phía giáo viên: Khi dạy ca dao thường là chủ quan, cho là dễ vì vậy bài soạnthường sơ sài, ít có sự đầu tư và nghiên cứu, thường dạy như một bài văn thơ hiện đại Khiđọc một bài ca dao trữ tình chưa cảm nhận hết ý tư, xúc cảm được gửi gắm trong lời cadao Thậm chí không ít giáo viên còn nói nhầm giữa ca dao với tục ngữ, giữa câu ca daovới bài ca dao Bởi ca dao có những bài chỉ có hai câu – đặc biệt những bài ca dao ngắnthường không có tên Nếu không nghiến cứu kĩ sẽ khó xác định được nội dung chủ yếu

mà bài ca dao muốn đề cập đến Việc truyền tải kiến thức đến học sinh còn mờ nhạt, chungchung, chưa làm nổi bật ý nghĩa sâu xa của mỗi bài ca dao

Về phía học sinh: Bởi ca dao rất quen thuộc trong đời sống con người, nên nhiềuhọc sinh khi học phần văn học ca dao thường cho rằng mình đã biết, thậm chí là đã rấtthuộc Chính vì vậy học sinh coi nhẹ việc học ca dao, coi học ca dao một cách đơn giản.Các em không xác định rõ tầm quan trong của ca dao nên ngay từ khâu chuẩn bị bài và tiếp

Trang 3

thu bài giảng các em không mấy hào hứng Chính vì vậy việc cảm nhận nội dung ca daomột cách sâu sắc và để hiểu hết ý nghĩa của mỗi bài ca dao ở các em là không có Trên lớpcác em thường không tập trung chú ý nghe giảng Các em thường gọi bài ca dao là câu cadao, câu tục ngữ Thực tế có khá nhiều em còn chẳng thèm thuộc một câu ca dao hoặc mộtbài ca dao nào chính xác Khi yêu cầu học sinh phân tích và cảm thụ nội dung, ý nghĩa bài

ca dao thì các em lúng túng, trình bày cách hiểu hời hợt

Qua khảo sát bài kiểm tra của học sinh khi kiểm tra về chủ đề ca dao-dân ca trongnăm học 2017-2018, khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Cụ thể :

2 / SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN :

Trong việc giảng dạy phân môn văn hiện nay không ít giáo viên loay hoay lúngtúng trước tác phẩm nghệ thuật và tài liệu hướng dẫn ( hình như hướng dẫn một đường màtác phẩm lại gợi cho giáo viên một ấn tượng khác) Không ít những giờ dạy học tác phẩmvăn chương đã diễn ra khá bài bản, giáo viên đã đi hết một quy trình (theo trình tự các đềmục) mà ta chưa yên tâm chút nào … do mở nhầm cửa người dạy, người học đã chưa điđến được cái đích cuối cùng Nguyên nhân chính là chưa xác định, chưa tìm hiểu kĩ đặc

trưng thể loại của tác phẩm với tính chất nội dung của nó là không "chính danh" và đã không "chính danh" thì việc phân tích có sắc sảo đến đâu cũng chỉ là võ đoán Chính vì vậy

mà tôi đã chọn đề tài này với mục đích là cùng tìm hiểu về đặc trưng của ca dao-dân ca để

từ đó định hướng phương pháp giảng dạy ca dao- dân ca nhằm cá thể hoá việc học, đưahọc sinh trở thành nhân tố cá nhân tích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìm hiểunhững văn bản ca dao-dân ca, khám phá chân lí và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

- Phạm vi áp dụng : trong giảng dạy ngữ văn 7

- Điểm đổi mới : Đưa ra phương pháp giảng dạy ca dao - dân ca trong chương trình

ngữ văn 7 một cách bài bản và đúng cách theo đúng đặc trưng thể loại Giúp học sinh có

Trang 4

3/ NỘI DUNG SÁNG KIẾN :

3.1/ TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN :

a/ Những điều giáo viên cần nắm vững khi giảng dạy ca dao-dân ca:

* Khái niệm Ca dao-dân ca

* Nhìn chung về các loại Ca dao-dân ca

* Các loại ca dao – dân ca chủ yếu

* Đặc trưng của Ca dao-dân ca

- Đề tài

- Chức năng

- Đặc điểm thi pháp : Ngôn ngữ trong ca dao, thể thơ trong ca dao, kết cấu của cadao, thời gian và không gian trong ca dao, thủ pháp nghệ thuật chủ yếu

* Phương thức diễn xướng

b Phương pháp giảng dạy ca dao :

* Giới thiệu bài mới

* Phần dạy bài mới :

- Đọc – thảo luận chú thích

- Phần phân tích: Xây dựng hệ thống câu hỏi theo đặc trưng thể loại, tìm những câu

ca dao tương tự, phân tích nội dung

- Phần luyện tập

3.2/ THỜI GIAN THỰC HIỆN :

Thời gian nghiên cứu áp dụng thực hiện sáng kiến kinh nghiệm : năm học

2018-2019, 2019-2020

3.3/ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN :

a- Những điều giáo viên cần nắm vững khi giảng dạy ca dao-dân ca:

* Khái niệm Ca dao-dân ca

Theo SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 35 đã nêu khái niệm về ca dao- dân ca như sau:

- Ca dao- dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người.

- SGK cũng phân biệt hai khái niệm ca dao và dân ca

Trang 5

+ Dân ca là những sáng tác dân gian kết hợp lời và nhạc.

+ Ca dao là lời thơ của dân ca.

* Nhìn chung về các thể loại ca dao-dân ca :

Lịch sử sinh thành, phát triển của ca dao, dân ca rất lâu dài, phong phú, phạm vi cáchiện tượng ca dao dân ca của cộng đồng người Việt nói riêng cũng như các dân tộc nóichung rất rộng lớn, đa dạng Việc phân loại, phân kì và vùng ca dao - dân ca là biện phápcần thiết không thể thiếu khi tìm hiểu về ca dao - dân ca

Các thể loại văn học dân gian nói chung cũng như các thể loại ca dao - dân ca nóiriêng đều là sản phẩm của lịch sử, gắn bó với đời sống của con người trong những thờigian và không gian nhất định Do ca dao - dân ca có những đặc điểm tương đồng và khácbiệt với nhau nên việc phân loại ca dao - dân ca cũng có những điểm chung, riêng tươngứng

* Các loại Ca dao – dân ca chủ yếu :

Trang 6

Vì là phần lời của những câu hát dân gian nên ca dao thiên về tình cảm và biểu hiệnlòng người, phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của con người Thực tại kháchquan được phản ánh thông qua tâm trạng con người, nó thể hiện vẻ đẹp trang trọng ngaytrong đời thường con người.

- Chức năng

Là "tấm gương của tâm hồn dân tộc" là "một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình" ( F Hê ghen).

- Đặc điểm thi pháp

+ Ngôn ngữ trong ca dao

Nói đến thi pháp ca dao, trước hết phải nói đến phương tiện chủ yếu của ca dao, tức

là ngôn ngữ Bởi vì ca dao là phần lời của dân ca, cái yếu tố nhạc điệu, động tác có vai tròrất quan trọng trong dân ca, còn ở phần lời thơ thì vai trò chủ yếu thuộc về ngôn ngữ, cácyếu tố khác đều trở thành thứ yếu Chính vì vậy mà ca dao có khả năng sống độc lập ngoài

ca hát ( tức là ngoài sự diễn xướng tổng hợp của dân ca) và trở thành nguồn thơ trữ tìnhdân gian truyền thống lâu đời và phong phú nhất của dân tộc

Ngôn ngữ trong ca dao đậm đà màu sắc địa phương, giản dị, chân thực, hồn nhiên,gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Ví dụ như bài ca dao:

Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát menh mông".

Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai

( Trong đó ni= này; tê= kia: tiếng địa phươpng miền trung)

Có nhiều bài ca dao được lan truyền nhanh chóng trở thành tiếng nói riêng của nhân nhiềuđịa phương khác nhau nhờ sự thay đổi địa danh là chủ yếu Ví dụ:

Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

Ai vô xứ Huế thì vô … + Thể thơ trong ca dao

Ca dao là phần lời của dân ca, do đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh ra từ dân ca.Các thể thơ trong ca dao cũng được dùng trong các loại văn vần dân gian khác (như tụcngữ, câu đố, vè …) Có thể chia các thể thơ trong ca dao thành bốn loại chính là:

(1) Các thể vãn

Trang 7

"thượng lục hạ bát") Đây cũng là thể thơ sở trường nhất của ca dao Thể thơ này được phân

thành hai loại là lục bát chính thể (hay chính thức) và lục bát biến thể (hay biến thức) ởlục bát chính thể, số âm tiết không thay đổi (6+8), vần gieo ở tiếng thứ sáu (thanh bằng),nhịp thơ phổ biến là nhịp chẵn (2/2/2 …), cũng có thể nhịp thay đổi (3/3 và 4/4) ở lục bátbiến thể, số tiếng (âm tiết) trong mỗi vế có thể tăng, giảm (thường dài hơn bình thường)

Ví dụ: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mong bát ngát

Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông (12 âm tiết) + Kết cấu của ca dao

Thể cách của ca dao

"Phú", "tỉ", "hứng" là ba thể cách của ca dao (cách phô diễn ý tình).

"Phú" ở đây có nghĩa là phô bày, diễn tả một cách trực tiếp, không qua sự so sánh.

Ví dụ: Cậu cai nón dấu lông gà,

Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.

Ba năm được một chuyến sai,

áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.

"Tỉ" nghĩa là so sánh (bao gồm cả so sánh trực tiếp - tỉ dụ và so sánh gián tiếp - ẩn

dụ)

Ví dụ: Thân em như trái bần trôi,

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

"Hứng" là cảm hứng Người xưa có câu "Đối cảnh sinh tình" Những bài ca dao trước nói đến "cảnh" (bao gồm cả cảnh vật, sự việc) sau mới bộc lộ "tình" (tình cảm, ý nghĩa, tâm sự) đều được coi là làm theo thể "hứng".

Ví dụ: Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.

Phương thức thể hiện

Những bài ca dao trong SGK Ngữ văn 7 chủ yếu có ba phương thức thể hiện đơn là:

Trang 8

Phương thức đối đáp (đối thoại), chủ yếu là bộ phận lời ca được sáng tác và sử dụngtrong hát đối đáp nam nữ, bao gồm cả đối thoại hai vế và một vế.

Ví dụ: Đối thoại hai vế:

- Ở đâu năm cửa nàng ơi

Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?

Sông nào bên đục, bên trong?

Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?

Đền nào thiêng nhất sứ Thanh

Ở đâu mà lại có thành tiên xây?

- Thành Hà Nội năm cửa nàng ơi

Sông lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.

Nước sông Thương bên đục bên trong,

Núi Đức Thánh Tản thắt cổ bồng lại có thánh sinh

Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh

Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây."

Phương thức trần thuật (hay kể chuyện trữ tình, khác với trần thuật trong các loại tựsự)

Ví dụ: Con cò chết rũ trên cây,

Cò con mở lịch xem ngày làm ma.

Cà cuống uống rượu la đà,

Chim ri ríu rít bò ra lấy phần.

Chào mào thì đánh trống quân,

Chim chích cởi trần, vác mõ đi giao."

Phương thức miêu tả (miêu tả theo cảm hứng trữ tình, khác với miêu tả khách quantrong các thể loại tự sự)

Ví dụ: Đường vô xứ Huế quanh quanh,

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.

Ai vô xứ Huế thì vô …

Ngoài ra còn có cả ba phương thức kép là (trần thuật kết hợp với đối thọai; trầnthuật kết hợp với miêu tả; kết hợp cả ba phương thức)

Trang 9

Do nhu cầu truyên miệng và nhu cầu ứng tác, nhân dân thường sử dụng nhữngkhuân, dạng có sẵn, tạo nên những đơn vị tác phẩm hoặc dị bản hao hao như nhau.

Ví dụ: "Thân em như" … ("hạt mưa sa", "hạt mưa rào", "tấm lụa đào", "trái bần trôi" …)

+ Thời gian và không gian trong ca dao

có nghĩa là chiều nào cũng vậy, sự việc diễn ra lặp đi lặp lại

Ngoài ra thời gian trong ca dao còn sử dụng hàng loạt những trạng ngữ (hay cụm

từ) chỉ thời gian như : "bây giờ"; "tối qua"; "đêm qua" … thì ai cũng hiểu là người nói đang ở

thời điểm hiện tại để nhớ lại và nhắc lại chuyện vừa xảy ra chưa lâu Nhìn chung thời giantrong ca dao trữ tình là thời gian nghệ thuật mang tính tượng trưng, phiếm chỉ (hay phiếmđịnh) Vì thế nó phù hợp với nhiều người, ở nhiều địa điểm và thời điểm khác nhau

những nơi khác trong ca dao, nhất là ca dao về phong cảnh và sản vật các địa phương

Ví dụ: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ

Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.

Cũng giống như thời gian, khi không gian được nói đến như một yếu tố góp phầntạo nên hoàn cảnh, trường hợp để tác giả bộc lộ cảm nghĩ (trực tiếp hoặc gián tiếp) thì đó

là không gian mang tính chất tượng trưng do tác giả tưởng tượng, hư cấu hoặc tái tạo theocảm xúc thẩm mĩ của mình Ví dụ những hình ảnh về không gian, địa điểm mang tính chất

tượng trưng, phiếm chỉ, thường xuyên xuất hiện trong ca dao trữ tình ( "cánh đồng", "thác",

"ghềnh", "bờ ao", "mái nhà", "ngõ sau" …) Ngay cả những địa điểm có thực khi vào ca dao trữ

tình cũng mang tính chất tượng trưng

+ Thủ pháp nghệ thuật chủ yếu

Trang 10

Những bài ca dao được đưa vào SGK Ngữ văn 7 có nhiều thủ pháp nghệ thuật khácnhau (mang nét đặc trưng của ca dao truyền thống) Ở đây tôi chỉ đề cập đến những thủpháp chủ yếu.

So sánh là thủ pháp nghệ thuật được dùng thường xuyên, phổ biến nhất, bao gồm sosánh trực tiếp (tỉ dụ), so sánh gián tiếp (ẩn dụ) Tỉ dụ là so sánh trực tiếp, thường có những

từ chỉ quan hệ so sánh: như, như là, như thể …đặt giữa hai vế (đối tượng và phương tiện sosánh)

Ví dụ bài ca dao sau là tập hợp bốn hình ảnh ẩn dụ, mỗi hình ảnh ám chỉ một cảnhngộ đáng thương của người lao động:

Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.

Thương thay lũ kiến tí ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.

Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe.

Đặc biệt ẩn dụ gắn rất chặt với nghệ thuật nhân hoá, dùng thế giới loài vật để nóithế giới loài người

Ngày đăng: 04/10/2021, 20:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2/ Hiệu quả đạt được : - Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình ngữ văn 7 (GIẢI B CẤP HUYỆN)
2 Hiệu quả đạt được : (Trang 18)
Có thể nhận thấy rõ kết quả qua 2 năm áp dụng sáng kiến, từ các bảng thống kê trên cho thấy chất lượng học sinh có tiến bộ rõ rệt so với những năm chưa áp dụng sáng kiến - Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình ngữ văn 7 (GIẢI B CẤP HUYỆN)
th ể nhận thấy rõ kết quả qua 2 năm áp dụng sáng kiến, từ các bảng thống kê trên cho thấy chất lượng học sinh có tiến bộ rõ rệt so với những năm chưa áp dụng sáng kiến (Trang 18)
NỘI DUNG TRANG - Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình ngữ văn 7 (GIẢI B CẤP HUYỆN)
NỘI DUNG TRANG (Trang 21)
II.SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ : 1/ Đặc điểm tình hình tại đơn vị : - Phương pháp giảng dạy chủ đề ca dao dân ca trong chương trình ngữ văn 7 (GIẢI B CẤP HUYỆN)
1 Đặc điểm tình hình tại đơn vị : (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w