1. Trang chủ
  2. » Tất cả

1.Bai thu hoach

21 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 11,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm của Tỉnh Điện Biên về sản xuất nông nghiệp: Là một tỉnh miền núi, cách xa về địa lý với các tỉnh đồng bằng, giaothông đi lại khó khăn, đời sống nhân dân phụ thuộc chủ yếu vào

Trang 1

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông, lâm nghiệp:

Trải qua các thời kì Đảng ta luôn coi trọng vai trò và vị trí của nôngnghiệp

Từ Đại hội V (1981) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: lấy nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu

Đại hội VII đã xác định nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngànhnghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ; phát triển nông - lâm- ngưnghiệp gắn với công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụquan trọng hàng đầu để ổn định tình hình phát triển kinh tế-xã hội

Hội nghị lần thứ Bảy của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X củaĐảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: nông nghiệp có vị trí chiến lược trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sởquan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị xãhội, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc vàbảo vệ môi trường sinh thái

Đại hội XII của Đảng ta đã chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ phát triểnnông nghiệp và kinh tế nông thôn là “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảmbảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”

Quan điểm của Tỉnh Điện Biên về sản xuất nông nghiệp:

Là một tỉnh miền núi, cách xa về địa lý với các tỉnh đồng bằng, giaothông đi lại khó khăn, đời sống nhân dân phụ thuộc chủ yếu vào thuần nôngnghiệp Tỉnh Điện Biên luôn xác định rõ tầm quan trọng của phát triển nôngnghiệp

Nghị quyết số 05 - NQ/TU, ngày 23/5/2016 của Ban Chấp hành Ðảng bộtỉnh Điện Biên về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp đến năm 2020, địnhhướng đến năm 2025 đã chỉ rõ: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với tái

cơ cấu ngành Nông nghiệp nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của từng vùng theo

Trang 2

hướng sản xuất hàng hóa, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm Ðảm bảo anninh lương thực, nâng cao giá trị các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp có lợi thế,

mở rộng mô hình liên kết “4 nhà”

Nghị quyết số 29/NQ-HĐNĐ ngày 14/10/2016 của Hội đồng nhân dântỉnh Điện Biên về việc thông qua đề án phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp đếnnăm 2020, định hướng 2025 đã xác định: Phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản

là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và người dân Là cơ sở để giảmnghèo bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao giá trị các sản phẩmhàng hóa nông nghiệp có lợi thế

* Cơ sở thực tiễn:

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế, đặcbiệt là đối với các tỉnh, các huyện, các xã miền núi nói chung, tỉnh Điện Biênnói riêng Mường Ẳng là một huyện mới của tỉnh Điện Biên song những nămqua huyện luôn chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp để đảm bảo đời sốngcho người dân Một trong những xã có đóng góp quan trọng cho phát triển kinh

tế của huyện, đóng góp không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp chính là xã ẢngTở

Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống conngười, đảm bảo an ninh lương thực là nền tảng cho giữ gìn trật tự xã hội và anninh quốc phòng Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 90% giá trị tổng sản phẩm(năm 2018) toàn xã, là nguồn sống của 91,8% dân số Thu hút 85,4% lao động

(Theo Chi cục Thống kê huyện Mường Ẳng) Có thể khẳng định, trong nhiều năm

nữa nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất vô cùng quan trọng đối với xã miền núinói chung, trong đó có xã Ảng Tở

Trong những năng qua, Đảng bộ và nhân dân xã Ảng Tở đã thực hiệnnhiều chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo như

135, 134, kiên cố hóa kênh mương, nước sạch và vệ sinh môi trường nôngthôn… qua đó kinh tế nông nghiệp của xã đã đạt được một số thành quả nhấtđịnh Sản xuất phát triển trên nhiều lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế từng bướcđược nâng cao, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, đời sống củangười dân ngày càng được cải thiện Tuy vậy, cho đến nay cơ cấu kinh tếcủa xã chủ yếu vẫn là nông, lâm nghiệp Xã có tỷ lệ hộ nghèo 44,98%, hộ

cận nghèo 7,7% (Trích số liệu tại Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng -an ninh của UBND xã Ảng Cang) Trong

quá trình thực hiện, cũng tồn tại những vấn đề cần giải quyết và khuyết điểmcần khắc phục: cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; việc ứng dụng tiến bộ khoahọc, công nghệ, nhất là về giống nhiều loại cây trồng, vật nuôi còn hạn chế,công nghiệp chế biến và ngành nghề kém phát triển; thị trường tiêu thụ nôngsản hàng hoá gặp nhiều khó khăn, khả năng cạnh tranh của nông sản phẩmhàng hoá yếu, lao động dư thừa, nhiều cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đờisống còn rất thấp; tiềm năng to lớn về đất đai và lao động chưa được khaithác có hiệu quả; đời sống của một bộ phận nông dân còn rất khó khăn

Trang 3

Đặc biệt, năm 2020 nông nghiệp Mướng Ẳng gặp thách thức lớn khihơn 60ha lúa chiêm xuân bị chết do thiếu nước Điều này đặt ra vấn đề đòihỏi huyện Mường Ẳng phải nghiên cứu tìm hướng đi mới cho nông nghiệp.Nhìn tổng thể sản xuất nông nghiệp vẫn sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếuquy hoạch và liên kết; tỷ lệ cơ giới hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ caovào sản xuất còn thấp; năng suất lao động, trình độ của nông dân còn rất hạnchế

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn như đã trình bày ở trên, cá nhân đưa ra chủ

đề học tập, nghiên cứu thực tế: “Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại xã Ẳng Tở, huyện Mường Ẳng, tỉnh Điện Biên”.

2 Giới thiệu, giới hạn vấn đề nghiên cứu

2.1 Giới thiệu về vấn đề đặt ra

Việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp giúp cung cấp lương thực,thực phẩm nuôi sống con người, đảm bảo an ninh lương thực, đây là nền tảngcho giữ gìn trật tự xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng đối với bất kì địaphương nào Do đó, việc triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cườnghiệu quả sản xuất nông nghiệp sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất nôngnghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất, gắn sản xuất với chế biến và thịtrường tiêu thụ sản phẩm, chuyển từ nền sản xuất tự túc, tụ cấp là chính sang sảnxuất hàng hóa góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn và tạo ra sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinhthần của người dân tại xã Ảng Cang

2.2 Giới hạn vấn đề nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Ẳng tở – huyện Mường Ẳng – tỉnh Điện Biên

- Nội dung nghiên cứu:

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sản xuất nông nghiệp;+ Đánh giá tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội;

+ Đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế của sản xuất nôngnghiệp;

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất nôngnghiệp

- Thời gian nghiên cứu thực tế tại xã: từ ngày 18/5/2020 đến ngày22 /5/2020

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN,

KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA XÃ ẢNG TỞ

Trang 4

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Ảng Tở thuộc vùng núi Tây Bắc, nằm ở phía Nam huyện Mường Ảng tỉnhĐiện Biên, trung tâm xã cách trung tâm huyện lỵ khoảng 2km, có tổng diện tích tựnhiên là 5.441,17ha Xã có độ địa lý nằm trong khoảng:

- Từ 21° 26' 9,3" đến 21° 31' 56,3" độ vĩ Bắc

- Từ 103° 10' 31" đến 103° 17' 19" độ kinh Đông

Địa giới hành chính của xã giáp với:

- Phía Bắc giáp thị trấn Mường Ảng và xã Ảng Tở

- Phía Đông giáp xã Búng Lao

- Phía Tây giáp xã Ẳng Nưa, huyện Điện Biên

- Phía Nam giáp xã Nặm lịch, huyện Điện Biên Đông

Chạy qua địa phận của xã ở phía Tây Bắc giáp với xã Ảng Tở là con đườngliên xã tuyến Quốc Lộ 279 - Ẳng Cang - Nậm Lịch - Mường Lạn đã được nhựa hóa,phía Tây nối liền với thị trấn Mường Ảng là con đường liên xã đã được cấp phối vàđang có dự án nâng cấp mở rộng Với vị trí địa lý như vậy, xã Ảng Tở rất thuận tiệncho việc tiếp cận thông tin, giao lưu trao đổi hàng hóa, phát triển dịch vụ và cácngành nghề nông thôn

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Nằm ở vùng núi Tây Bắc Bắc Bộ, xã Ảng Tở có địa hình đồi núi xen với cácthung lũng hẹp nhưng tương đối bằng phẳng Độ cao tuyệt đối của các thung lũng vàđồi núi dao động từ 553m (thuộc cánh đồng bản Noong Háng, Bản Giảng) đến1.608m (thuộc khu vực núi cao Bản Hua Nậm) Địa hình có xu hướng thấp dần từnam xuống bắc và từ đông sang tây Toàn xã có 3 dạng địa mạo chính:

a Dạng địa mạo đồng bằng thung lũng trước núi

Diện tích khoảng 820 ha, đó chính là dải đất thung lũng hẹp kéo dài từ bảnMánh Đanh qua bản Bánh đến bản Noong Háng, bản Giảng với chiều rộng trungbình từ 200m đến 400m, chỗ rộng nhất khoảng 1000m thuộc khu vực Bản Giảng,bản Noong Háng

b Dạng địa mạo núi trung bình

Trang 5

Là những dãy núi có độ cao trung bình từ 600m đến 900m phân bố chủ yếudọc theo phía đông và phía tây thung lũng Ẳng Cang có diện tích khoảng 1.600 ha.Đây là khu vực chính trồng cây lâu năm và sản xuất nương rẫy, lúa nương của nhândân trong xã.

c Dạng địa mạo núi cao

Độ cao trên 900 m, diện tích khoảng 3.000 ha Phân bố ở phía Đông và phíaNam của xã, giáp với xã Nậm Lịch cùng huyện và huyện Điện Biên Đông Các dãynúi ở đây có độ dốc lớn thường là trên 350 Vùng này chủ yếu là rừng tự nhiên phòng

hộ

Nhìn chung địa hình địa mạo của Ẳng Cang ít thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng so với các xã vùng khác cùng huyện thì xãẲng Cang lại có một dải thung lung tương đối bằng phẳng và rộng rất thuận lợi chosản xuất lúa nước và xây dựng cơ sở hạ tầng, đây cũng là vùng sản xuất lúa và raulớn nhất của huyện và là nơi tập trung sinh sống của rất nhiều bản người Thái

1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 24,60C (tháng 6 tháng 7)

- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 14,10C (tháng 12 đến tháng 1 nămsau)

- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là: 37,50

- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là: 00

- Biên độ nhiệt độ ngày và đêm dao động từ 90C đến 120C

- Số ngày có sương muối bình quân trong năm: 15 ngày

- Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.580 đến 1.800 giờ

- Tổng tích ôn trong năm 78000C - 80000C

Với nền nhiệt độ và biên độ nhiệt độ, độ chiếu sáng và tổng tích ôn như vậyrất thuận lợi cho cây trồng, cả cây nhiệt đới và ôn đới phát triển, biên độ nhiệt độ

Trang 6

ngày và đêm cao làm tăng phẩm chất của cây trồng đặc biệt là việc tích lũy chấtthơm làm tăng hương vị của sản phẩm Tuy nhiên về mùa lạnh có những lúc nhiệt độxuống quá thấp đôi khi có sương muối gây ảnh hưởng tối cây trồng và vật nuôi.

b Chế độ mưa, độ ẩm không khí, lượng bốc hơi

* Chế độ mưa:

- Lượng mưa trung bình năm là 1.631 mm và phân làm hai mùa rõ rệt Mùamưa từ tháng 5 đến tháng 9 với tổng lượng mưa chiếm tới 80%, lượng mưa cả nămvới số lượng ngày mưa khoảng 98 ngày và có những trận mưa lớn khoảng 200 mm,kéo dài tới 1 ngày - 2 ngày Tháng có lượng mưa trung bình lớn nhất là tháng 8(346mm)

- Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mưa ít, lượng mưa chỉ chiếmkhoảng khoảng 20% lượng mưa trong năm và số ngày mưa khoảng 25 ngày Thángmưa ít nhất là tháng 12 (=20 mm/tháng) Mỗi năm xuất hiện một đến hai lần mưa đáđường kính hạt trung bình khoảng 0,5cm-1cm, thường xảy ra vào tháng 3 đến tháng5

Với tổng lượng mưa trung bình 1.631 mm đủ cung cấp nước cho cây trồng.Tuy nhiên do phân bố không đều nên về mùa mưa, mưa lớn tập trung gây úng ngập

và lũ quét, về mùa khô mưa ít gây hạn kéo dài ảnh hưởng không nhỏ cho sinh trưởngcây trồng vật nuôi và đời sống của nhân dân

* Độ ẩm không khí:

Độ ẩm không khí bình quân năm khá cao khoảng 80% Về mùa khô độ ẩmtrung bình tháng khoảng 76% Về mùa mưa độ ẩm không khí thường xuyên khoảng85%

* Lượng bốc hơi:

Lượng bốc hơi bình quân năm khoảng 889,6 mm Về mùa mưa do mưa nhiều

độ ẩm không khí cao nên độ bốc hơi nhỏ Về mùa khô độ ẩm không khí thấp đặc biệtvào tháng 1,2,3 thường xuất hiện gió mùa Tây Nam khô và nóng cộng với lượngmưa rất thấp làm cho lượng bốc hơi lớn gây khô hạn ảnh hưởng tới sinh trưởng vàphát triển của cây trồng và thường gây ra cháy rừng

* Chế độ gió:

Cũng như huyện tất cả cả các xã khác của huyện Mường Ảng, ở xã Ẳng Cangthịnh hành 2 loại gió:

Trang 7

+ Gió mùa Đông Bắc: Thổi từ Đông Nam lục địa Trung Quốc xuống ViệtNam đến huyện Mường Ảng từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau Do ảnh hưởng củakhông khí lạnh làm cho nền nhiệt giảm từ 40C đến 60C so với bình quân làm chonhiệt độ trung bình xuống thấp, làm giảm năng suất cây trồng vật nuôi.

+ Gió mùa Tây Nam: Thổi từ Vịnh Bengan qua Ấn Độ, Myanma, Lào vàoViệt Nam Gió mùa Tây Nam xuất hiện ở Mường Ẳng từ tháng 2 đến tháng 4 trongnăm với tần suất 20 đến 30 ngày/năm Gió có đặc điểm nóng và khô cộng với vàothời kỳ mưa ít gây khô hạn kéo dài ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng

Tóm lại, điều kiện khí hậu của xã Ẳng Cang chia làm 2 mùa rõ rệt:

+ Mùa mưa: nhiệt độ cao, mưa nhiều, cường độ chiếu sáng lớn thuận lợi chocây trồng vật nuôi phát triển tốt Tuy nhiên, mưa lớn tập trung cộng với địa hình dốcnên thường gây lũ lụt ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống cư dân

+ Mùa khô: nhiệt độ thấp, mưa ít cũng gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất nôngnghiệp Tuy nhiên khí hậu như vậy cũng là điều kiện thuận lợi để đa dạng sản phẩm

cả về cây trồng nhiệt đới và ôn đới

1.1.3.2 Thuỷ văn

+ Tài nguyên nước mặt:

Xã Ẳng Cang không có sông lớn chảy qua Trên địa bàn xã chỉ có suối NậmẲng chảy từ hướng Tây Nam xuống Đông Bắc của xã

Nậm Ảng bao gồm nhiều suối nhỏ hợp thành lại như Nậm Tin Tốc, Nậm Đó,Nậm Vây, Nậm Khua Lái, Suối Nậm Luông Tất cả những suối này đều bắt nguồn từdãy núi cao thuộc địa phận xã Ẳng Cang và xã Ẳng Nưa giáp với huyện Điện Biên.Suối Nậm Ẳng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt trong củanhân dân trong xã Tuy nhiên do điều kiện khí hậu có 2 mùa nên về mùa mưa saunhững trận mưa lớn nước dồn về thường gây ngập úng, lũ, ngược lại mùa khô lưulượng dòng chảy thấp nhiều suối khô cạn không đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt

Hệ thống hồ đập: ngoài hệ thống suối, xã Ẳng Cang còn có hệ thống ao hồnằm rải rác ở các bản đây cũng là nguồn cấp nước khá quan trọng Hiện tại tỉnh ĐiệnBiên đầu tư dự án đắp đập, ngăn suối Nậm Đường tại bản Mánh Đanh, dự kiến hoànthành vào năm 2016 Sau khi hoàn thành hồ thủy lợi bản Mánh Đanh sẽ đủ nướccung cấp cho sản xuất của 4 xã Ẳng Cang, Ẳng nưa, thị trấn Mường Ảng và 1 phần

xã Ẳng Tở

Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh: Tại tất cả các thôn bản đều có

Trang 8

hệ thống cấp nước sinh hoạt được dẫn từ các mó nước về các bể cộng đồng Tuynhiên do nguồn nước có không đều, về mùa khô thường không đủ nước, dòng chảyyếu gây tắc đường ống, mùa mưa dòng chảy mạnh gây áp suất trong đường ống lớngây vỡ đường ống Vì vậy, thường xuyên cần phải tu bổ đường ống và xây thêm bể

và bổ sung thêm nguồn nước mới

+ Tài nguyên nước ngầm:

Hiện tại trên địa bàn xã Ẳng Cang có 1 mỏ nước ngầm lớn hiện đang cungcấp nước sinh hoạt cho Thị trấn Mường Ảng, một số bản vùng thấp của xã ẲngCang và phục vụ một phần diện tích sản xuất nông nghiệp; ngoài ra rải rác có các mỏnước ngầm nhỏ tại các bản: Giảng, Hua ná… tuy nhiên trữ lượng không lớn

Hiện tại trên địa bàn toàn huyện chưa có nghiên cứu cụ thể về nguồn tàinguyên này Để có nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt chủ động và bền vững

đề nghị nhà nước cần có kế hoạch nghiên cứu xây dựng bản đồ nước ngầm cho địaphương để tiện khai thác và sử dụng

1.1.4 Đất đai

Diện tích đất tự nhiên: 5.441,17 ha, mật độ dân số 120 người/km2

- Diện tích đất Nông nghiệp: 4.659,91 ha, trong đó:

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 1.355,74 ha

+ Đất lâm nghiệp: 3.267,5 ha

+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: 36,67 ha

- Đất phi nông nghiệp: 245,03 ha, trong đó:

+ Đất ở: 155,46 ha

+ Đất chuyên dùng: 48,63 ha

+ Đất tôn giáo tín ngưỡng: không có

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 9,02 ha

+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 32,12 ha

- Đất chưa sử dụng: 536,03 ha

Trang 9

1.2 Dân số, lao động

1.2.1 Dân số

Toàn xã có 1.585 hộ, 7.412 khẩu (tăng 154 hộ, 544 khẩu so đầu nhiệm

kỳ Đại hội), gồm có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống Dân tộc Thái chiếm 86%;dân tộc Mông chiếm 13,7%; dân tộc Kinh chiếm 0,3% Xã có 18 bản, trong đó

có 5 bản vùng cao

- Phân theo cơ cấu dân tộc:

Dân số theo cơ cấu dân tộc

Lao động của xã chủ yếu là nông, lâm nghiệp Nhiều ngành nghề trên địabàn rất cần được đào tạo như: trồng và chế biến cà phê, trồng rừng, quản lý và khaithác rừng, chăn nuôi thú y, nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật xây dựng để khai thác tiềmnăng thế mạnh của xã thì lại chưa được đào tạo Lực lượng lao động của xã chủ yếulàm nghề nông, lâm nghiệp và hầu hết chưa qua đào tạo

Ta có thể nhận thấy số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rấtlớn , các ngành nghề khác như buôn bán nhỏ, xây dựng, chiếm tỷ lệ thấp Điều

đó chứng tỏ sản xuất nông nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng đối với người dântại xã Ẳng Cang

1.3 Thu nhập của người dân

- Thu nhập chủ yếu của người dân xã Ẳng Cang chủ yếu từ sản xuất nôngnghiệp, mà phần lớn là từ kết quả trồng trọt Trong đó từ sản xuất nông nghiệp, thủysản: 80%; lâm nghiệp: 15,8% và 4,2% là từ tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch

vụ Nếu so với chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 theo Chỉ thị số1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ, thì thu nhập bình quânhàng tháng đầu người của xã Ẳng Cang chỉ bằng với mức cận nghèo

- Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2013 của xã đạt 3.872 tấn; lươngthực bình quân đầu người năm 2013 đạt 564 kg/người/năm

Trang 10

- Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 6,215 triệuđồng/người/năm So với mức bình quân chung của khu vực đạt 0,44 lần;

1.4 Đánh giá những lợi thế, hạn chế, thách thức

1.4.1 Những lợi thế

- Tiềm năng lớn nhất đối với xã Ảng Cang là quỹ đất dồi dào, đất đaitương đối màu mỡ Đây sẽ là nguồn tư liệu quan trọng để đầu tư phát triển sảnxuất nông lâm nghiệp

- Có nhiều tiểu vùng khí hậu có thể phát triển đa dạng cây trồng, vật nuôivùng nhiệt đới, ôn đới

- Địa hình, địa thế thích hợp trồng các loại cây như ngô, chanh leo, càphê

- Có vị trí nằm cách không xa thành phố Điện Biên Phủ, tiếp giáp với tỉnh Sơn

La, do vậy có nhiều cơ hội để đón nhận sự đầu tư, ứng dụng thành tựu khoa học kỹthuật vào sản xuất, thuận lợi trong giao lưu, trao đổi hàng hóa với bên ngoài

- Các nguồn tài nguyên nước dồi dào, có tiềm năng để phát triển thuỷ điệnvừa và nhỏ kết hợp với công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp

- Lực lượng lao động dồi dào, cần cù chịu khó, đây là nguồn lực quantrọng để phát triển kinh tế xã hội

-Trình độ dân trí còn thấp, công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việclàm còn nhiều bất cập, chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần của ngườidân chưa cao Công tác xóa đói giảm nghèo chưa thật sự bền vững, người dâncong tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước

- Khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của nông dân còn nhiềumặt hạn chế do ảnh hưởng của tập quán sản xuất lạc hậu, ý thức chuyển đổi cơcấu sản xuất của nông dân còn chậm, diện tích đất nhỏ lẻ khá nhiều từ đó chưathể sản xuất tập trung tạo nguồn nguyên liệu trồng lúa chất lượng

- Ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao như: Luật giaothông, luật đất đai, luật hôn nhân và gia đình còn nhiều mặt hạn chế

- Sự chỉ đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền trên một số lĩnh vực

Ngày đăng: 04/10/2021, 20:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w