1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành và phát triển các thể chế chính trị của liên minh châu âu (eu) từ năm 1950 đến năm 2010

142 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thể chế này đã được xây dựng, phát triển và hoàn thiện dần thông qua những lần sửa đổi, bổ sung của các hiệp ước, từ Hiệp ước Pari năm 1951, thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Â

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN!

Đề tài “Quá trình hình thành và phát triển các thể chế chính trị của

Liên minh châu Âu từ năm 1950 đến năm 2010” được thực hiện từ tháng 3

năm 2010 đến tháng 11 năm 2010 Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tác giả

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, người thân và các bạn học viên

Trước hết,em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo

PGS.TS Đinh Công Tuấn – Tổng biên tập Tạp chí nghiên cứu châu Âu, người

thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em từ những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử

- trường Đại học Vinh, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Chuyên ngành Lịch sử Thế giới đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn những người thân, bạn bè và các bạn học viên đã quan tâm, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Hoàng Thị Vân Anh

Trang 3

BẢNG CHÚ GIẢI NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

ASC Cộng đồng an ninh ASEAN

ASCC Cộng đồng văn hoá và xã hội ASEAN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

CFSP Chính sách an ninh và đối ngoại chung

COREPER Uỷ ban đại diện thường trực

EAC Cộng đồng kinh tế ASEAN

ECB Ngân hàng Trung ương châu Âu

ECJ Toà án châu Âu

ECSC Cộng đồng Thanh và Thép châu Âu

EDC Cộng đồng quân sự châu Âu

ECOPHIN Hội đồng các Bộ trưởng kinh tế và tài chính

EEC Cộng đồng kinh tế châu Âu

EP Nghị viện châu Âu

EU Liên minh châu Âu

EURATOM Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu

EPC Hợp tác chính trị châu Âu

ICG Hội nghị liên chính phủ

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

JHA Chính sách tư pháp và nội vụ

NATO Tổ chức quân sự Bắc Đại Tây Dương

QMV Phương thưc bỏ phiếu theo đa số

SEA Đạo luật châu Âu thống nhất

SEM Thị trường châu Âu đơn nhất

TEC Hiệp ước về thành lập Cộng đồng châu Âu

TEU Hiệp ước về Liên minh châu Âu

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 01

1 Lý do chọn đề tài 01

2 Lịch sử vấn đề 03

3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 05

4 Phương pháp nghiên cứu 06

5 Đóng góp của luận văn 06

6 Nguồn tài liệu 07

7 Bố cục luận văn 07

B NỘI DUNG 08

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA LIÊN MINH CHÂU (EU) 08

1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của EU 08

1.1.1 Những ý tưởng thống nhất châu Âu 08

1.1.2 Sự hiện thực hoá ý tưởng thống nhất châu Âu 12

1.1.3 Quá trình mở rộng tổ chức của EU 15

1.2 Quá trình hình thành các thể chế chính trị của EU 24

1.2.1 Những nhân tố tiền đề dẫn đến sự ra đời các thể chế chính trị EU 24

1.2.2 Sự ra đời các thể chế chính trị của EU 29

* Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT RIỂN CÁC THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) 40

2.1 Hội đồng châu Âu 40

2.1.1 Thành phần của Hội đồng châu Âu 40

2.1.2 Vai trò của Hội đồng châu Âu 41

2.1.3 Quá trình phát triển của Hội đồng châu Âu 42

2.1.4 Quan hệ giữa Hội đồng châu Âu và các thể chế khác ở EU 46

Trang 5

2.2 Uỷ ban châu Âu 48

2.2.1 Chức năng và nhiệm vụ 48

2.2.2 Cơ cấu tổ chức 52

2.2.3 Quá trình phát triển của Uỷ ban châu Âu 54

2.3 Hội đồng Bộ trưởng châu Âu 59

2.3.1 Thành phần của Hội đồng Bộ trưởng châu Âu 59

2.3.2 Chức năng và quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng châu Âu 63

2.3.3 Quá trình phát triển của Hội đồng Bộ trưởng châu Âu 65

2.4 Nghị viện châu Âu 70

2.4.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng của Nghị viên châu Âu 71

2.4.2 Quá trình phát triển của Nghị viện 75

2.5 Toà án châu Âu 82

2.5.1 Cơ sở pháp lý của toà án châu Âu là hệ thống luật pháp trong EU 82

2.5.2.Chức năng và thẩm quyền của toà án châu Âu 85

2.5.3 Quá trình phát triển của Toà án châu Âu 87

* Tiểu kết chương 2 91

Chương 3 NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO ASEAN 92

3.1 Nhận xét về quá trình phát triển các thể chế chính trị EU 92

3.1.1 Thành tựu 92

3.1.2 Hạn chế 98

3.2 Triển vọng phát triển các thể chế chính trị EU thông qua Hiệp ước Lisbon 01

3.3 Bài học kinh nhiệm cho ASEAN 18

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

E PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thế kỷ XX đã khép lại cùng với vô vàn những biến động dữ dội và phức tạp, phản ánh những thăng trầm, biến thiên của lịch sử thế giới và trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên hành tinh này Khi đại chiến thế giới II kết thúc, nhân loại đã chứng kiến một xu thế mới trong đời sống quốc tế, đó là việc hình thành các liên kết khu vực hay khu vực hóa Kết quả xu thế này tạo ra rất nhiều tổ chức: Kinh tế, chính trị, xã hội… tồn tại và hoạt động đan xen lẫn nhau Điển hình cho sự thành công của mô hình liên kết khu vực là sự ra đời và phát triển của tổ chức Liên minh châu Âu

Bước vào thế kỷ XXI, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và tăng cường liên kết các tổ chức kinh tế quốc tế, khu vực và trong sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các quốc gia, các khu vực trên tất cả các lĩnh vực, Liên minh châu Âu là mô hình liên kết khu vực và nhất thể hóa được đánh giá thành công ở mức cao nhất hiện nay Cùng với những cường quốc lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc, Liên minh châu Âu là một cực mạnh trong trật tự thế giới đa cực và có vai trò lớn trong quan hệ quốc tế đương đại với vị thế chính trị, tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự ngày càng mạnh

1.2 Quá trình liên kết hội nhập Liên minh châu Âu được thực hiện cả chiều rộng lẫn chiều sâu trải qua nhiều thăng trầm và biến động, bắt đầu từ 6 nước thành viên với sự ra đời Cộng đồng Than - Thép châu Âu (1951), rồi lên 15 thành viên vào năm 1995 Ngày 1/5/2004 làn sóng gia nhập EU lớn nhất trong lịch sử với 10 nước đã nâng tổng số thành viên EU lên 25 nước Tháng 1/2007

EU mở rộng lên đến 27 quốc gia thành viên

Sự hợp nhất của EU gắn liền với sự hình thành một hệ thống các thể chế ở cấp độ châu lục tương tự như một hệ thống chính trị đa tầng Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống thể chế chính trị của EU xoay quanh các trục thể chế bao gồm Uỷ ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Nghị viện châu Âu,

Trang 7

Hội đồng Bộ trưởng châu Âu, Tòa án châu Âu Những thể chế này đã được xây dựng, phát triển và hoàn thiện dần thông qua những lần sửa đổi, bổ sung của các hiệp ước, từ Hiệp ước Pari năm 1951, thành lập Cộng đồng Than và Thép châu

Âu, Hiệp ước Rome (1957) thiết lập Cộng đồng kinh tế châu Âu và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu; Đạo luật châu Âu đơn nhất (1987), Hiệp ước Maastricht (1993), Hiệp ước Amsterdam (1999), Hiệp ước Nice (2000) và đỉnh cao là Hiến Pháp châu Âu (2004), Hiệp ước Lisbon (2007), đã xây dựng cho các thể chế của liên minh các quyền “hành pháp, lập pháp và tư pháp” của một “Nhà nước Liên bang”

1.3 Điều đáng chú ý là, việc mở rộng EU trên cả hai phương diện địa lý và

sự hội nhập theo chiều sâu với xu thế trở thành một liên bang không chỉ hình thành nên một hệ thống các thể chế chính trị mới mà còn hứa hẹn sự chuyển biến căn bản hệ thống chính trị đang vận hành ở châu Âu là vấn đề chính trị đặc biệt có ý nghĩa trong lịch sử châu Âu hiện đại, thu hút sự quan tâm không chỉ từ các Chính phủ, các cơ quan, các nhà khoa học mà đến cả mỗi người dân

1.4 Chính trong quá trình hội nhập của châu Âu mà lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực cọ xát gay gắt và được làm sáng tỏ Vì vậy, nghiên cứu sự vận hành và

xu thế phát triển của các thể chế chính trị ở châu Âu sẽ góp phần làm sáng tỏ diện mạo chính trị đa tầng và phức tạp của châu Âu

1.5 Hiện nay, EU với tư cách đại diện cho một trong ba trung tâm lớn của Thế giới là Hoa Kỳ - Liên minh châu Âu - Nhật Bản đang đẩy mạnh quan hệ với các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Trong bối cảnh nước ta đang từng bước hội nhập khu vực và cộng đồng quốc tế, quan hệ mọi mặt giữa Việt Nam và EU đang trên đà phát triển mạnh thì việc nghiên cứu

về Liên minh Châu Âu để hiểu đúng bản chất và cơ chế hoạt động của tổ chức này là một yêu cầu hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài “Quá trình hình thành và phát triển các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu từ 1950

- 2010” để làm nội dung nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử thế

giới của mình Việc nghiên cứu này đáp ứng nhu cầu tìm hiểu bao quát sự vận

Trang 8

hành, phát triển của các thể chế chính trị cơ bản trong quá trình tồn tại và phát triển của tổ chức Liên minh châu Âu nói riêng và cả Thế giới nói chung Chúng tôi hi vọng được góp một phần nhỏ bé vào quá trình nghiên cứu Lịch sử thế giới hiện đại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên minh châu Âu dù đã phải trải qua những thăng trầm, đảo lộn của lịch

sử nhưng đã trở thành một thực thể chính trị quan trọng, một tổ chức kinh tế hùng mạnh và một mô hình liên kết khu vực thành công nhất Chính vì vậy, quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Liên minh châu Âu đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau Liên quan đến nội dung đề tài đã có rất nhiều công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận được sau đây:

- Học viện ngoại giao, “Liên minh châu Âu”, NXB Chính trị Quốc gia, xuất

bản năm 1995 Cuốn sách đã khái quát tổng thể những chặng đường lịch sử mà

EU đã trải qua trong quá trình hình thành, phát triển theo logíc của từng vấn đề: Lịch sử hình thành và phát triển, các thể chế của Liên minh châu Âu, các kế hoạch tổng quát, các chính sách cộng đồng và mối quan hệ EU với thế giới và Việt Nam

- NXB Chính trị Quốc gia, “Nghị viện châu Âu”, xuất bản năm 2007, do

Văn phòng Quốc hội chủ biên Trên cơ sở giới thiệu sơ lược về hình thành các thể chế của EU, tác giả đã trình bày khá rõ nét tiến trình hình thành, vận động, phát triển của Nghị viện châu Âu Đồng thời phân tích những nỗ lực của thể chế này trong quá trình thực hiện vai trò của mình đối với sự phát triển của Liên minh châu Âu

- Nguyễn Quang Thuấn - Nguyễn An Hà, với cuốn “Các nước Đông Âu gia

nhập Liên minh châu Âu và những tác động tới Việt Nam", NXB Khoa học xã

hội, Hà Nội, năm 2005, đã giới thiệu một cách tổng quát chiến lược mở rộng của

EU hiện nay, những cải cách, hội nhập của các nước Đông Âu vào EU Đồng thời, tác giả cũng đã làm nổi bật những tác động chủ yếu từ chiến lược mở rộng

đó đến mối quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với Liên minh châu Âu

Trang 9

- Trần Thị Kim Dung, “Mối quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu”, NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001 Đây là cuốn sách đã đưa ra một loạt nhân tố thúc đẩy sự ra đời mối quan hệ Việt Nam - EU kể từ sau khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước (1975) cho đến nay Qua đó, tác giả cũng đưa

ra một số nhận xét, đánh giá chung về mối quan hệ giữa Việt Nam - EU

Trong các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như: Tạp chí nghiên cứu châu

Âu, Tạp chí nghiên cứu Quốc tế, Tạp chí nghiên cứu Cộng sản… đã có rất nhiều bài nghiên cứu về Liên minh Châu Âu ở những góc độ khác nhau, như:

Hoàng Văn Ánh, “Tòa án châu Âu và vai trò thúc đẩy tiến trình hình thành

Liên bang châu Âu”, Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số 4/2004

Đặng Minh Đức, “Những nhân tố tác động đến quá trình cải cách hệ thống

thể chế chính trị ở Liên minh châu Âu”, Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số 4/2004

Phan Đặng Đức Thọ, “Bản chất và cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị

Liên minh châu Âu”, Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số 2/2006

Đinh Công Tuấn, “Những thể chế (tổ chức) cơ bản trong Liên minh châu

Âu”, Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số 3/2001

Bên cạnh đó, các nguồn tài liệu của Thông tấn xã Việt Nam cũng luôn quan tâm đến Liên minh châu Âu với những sự kiện rõ ràng, cập nhật

Như vậy, nhìn chung sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với EU đã mang tính tương đối nhưng các nghiên cứu chính thức về tổ chức này vẫn còn ít Đặc biệt, xuất phát từ đặc thù Liên minh châu Âu mới hoàn thành cơ bản hội nhập về kinh tế, còn các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao vẫn còn nằm trong thẩm quyền của các quốc gia thành viên Vì vậy, các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận ở góc độ kinh tế, chưa tập trung vào đúng góc độ chính trị hoặc quy mô nghiên cứu nhỏ, chưa bao quát tổng thể và sâu sắc được cả hệ thống các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu Nhưng những kết quả từ những công trình nghiên cứu được đề cập ở trên sẽ là nguồn tài liệu quý giá cho chúng tôi tham khảo, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thành luận văn đạt hiệu quả

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở của đề tài, nội dung trọng tâm mà chúng tôi nghiên cứu là: Quá trình hình thành và phát triển của các thể chế chính trị trong Liên minh châu Âu Trong đó, chúng tôi cố gắng trình bày những nhân tố tác động đến sự ra đời và luận giải những nhân tố chi phối tiến trình tồn tại, vận động, phát triển của từng thể chế chính trị cơ bản của Liên minh châu Âu

Ngoài ra, nhằm đảm bảo tính logic, liên tục, thống nhất của luận văn và giúp cho nội dung nghiên cứu trọng tâm được rõ ràng, dễ hiểu chúng tôi đã phân tích, hệ thống hoá quá trình thống nhất châu Âu từ ý tưởng đến hiện thực Đồng thời, nêu lên những vấn đề đã và đang đặt ra trong tiến trình tồn tại và phát triển các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu Từ đó, rút ra những bài học về phát triển các thể chế chính trị cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt thời gian: Đề tài luận văn được giới hạn trong thời gian từ 1950,

khi Bộ trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman đưa ra tuyên bố về việc đặt các ngành sản xuất than và thép của Pháp, Đức dưới sự quản lý của một cơ quan chung cho đến năm 2010

- Về nội dung: Liên minh châu Âu là một tổ chức chính trị lớn có cơ cấu

phức tạp Nghiên cứu sự hình thành và phát triển các thể chế chính trị cơ bản của Liên minh châu Âu là tập trung đi sâu nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện và hệ thống hóa những vấn đề có liên quan đến các thể chế chính trị cơ bản của EU gồm: Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Nghị viện châu Âu, Hội đồng

Bộ trưởng châu Âu, Tòa án châu Âu chứ không tìm hiểu toàn bộ hệ thống các thể chế chính trị của tổ chức này

Nội dung đề tài cũng gắn liền sự tồn tại, phát triển các thể chế chính trị cơ bản trong mối quan hệ với các thể chế khác trong liên minh và làm rõ một số yếu tố thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội khác đã ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ đến việc thúc đẩy sự phát triển các thể chế chính trị Liên minh châu Âu

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, trên cơ sở triết học Mác - Lênin, chúng tôi lấy quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài này, với đặc trưng của khoa học lịch sử chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phương pháp: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi còn dùng phương pháp nghiên cứu bộ môn lịch sử để sưu tầm, chọn lọc và xử lý các nguồn tư liệu phục vụ cho nghiên cứu Trên quan điểm tư duy lịch sử nguồn tài liệu đã phản ánh một cách chính xác, khách quan, trung thực về nội dung đề tài Đồng thời, còn kết hợp các phương pháp bổ trợ khác như: phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê, phân tích để đánh giá và rút

ra kết luận một cách chính xác

5 Đóng góp của luận văn

5.1 Nội dung luận văn nghiên cứu một cách toàn diện về sự hình thành và phát triển các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu Việc nghiên cứu đề tài này đã phân tích, làm rõ và hệ thống hóa chi tiết những nhân tố tác động và chi phối sự ra đời, vận động, phát triển của các thể chế chính trị trong EU, góp phần tạo ra cái nhìn toàn diện, đầy đủ về các thể chế chính trị cơ bản của EU Mặt khác, nội dung luận văn cũng chỉ ra quy luật vận động với những nét đặc thù riêng của các thể chế Từ đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá về tiến trình phát triển của các thể chế chính trị và rút ra những tác động, những bài học kinh nghiệm về sự phát triển các thể chế chính trị của EU đối với việc phát triển các thể chế của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong xây dựng cộng đồng ASEAN

5.2 Luận văn góp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu và giảng dạy trong các học phần về lịch sử thế giới đương đại

và các bộ môn liên quan khác

6 Nguồn tài liệu

Để thực hiện được đề tài này, tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:

Trang 12

- Tài liệu tổng hợp: Các sách chuyên khảo về lịch sử thế giới, lịch sử khu vực, lịch sử quan hệ quốc tế

- Các tạp chí nghiên cứu: Tạp chí nghiên cứu châu Âu, Tạp chí nghiên cứu Quan hệ Quốc tế, Tạp chí nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới, Tạp chí Cộng sản

- Các công trình nghiên cứu, báo cáo của các nhà khoa học trong nước và trên thế giới

- Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ

- Các tài liệu có tính chất tham khảo khác, như: Bản tin Tham khảo hàng ngày, tài liệu Tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam; Tài liệu trên trang web: www.google.com

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong

Chương 3: Nhận xét về sự phát triển các thể chế chính trị EU và bài học

kinh nghiệm cho ASEAN

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Liên minh châu Âu (EU)

1.1.1 Những ý tưởng thống nhất châu Âu

Châu Âu có đặc điểm lịch sử đặc thù, là vùng đất không có đường ranh giới châu lục rõ ràng về vị trí địa lý tự nhiên song lại gồm nhiều nước với các biên giới quốc gia luôn biến động, đã tạo ra lịch sử quốc gia riêng biệt nhưng chồng lấn nhau Chính nét đặc thù đó đã biến châu Âu thành nơi thường xuyên diễn ra những cuộc chiến tranh xâm chiếm và chống xâm chiến triền miên nhằm tranh giành đất đai, tài nguyên và áp đặt sự thống trị giữa các quốc gia trong châu lục Sự tàn phá, huỷ diệt của chiến tranh đã làm cho mơ ước về nền hoà bình, phồn thịnh sớm nảy nở thành những ý tưởng liên kết các quốc gia trong

châu lục thành một châu Âu thống nhất

Có thể nói, nền văn minh châu Âu được bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, hình thành dần và khuếch tán trong thời đế chế La Mã Do vậy, những ý tưởng thống nhất châu Âu trước hết xuất phát từ mơ ước về một sự thống nhất châu Âu cơ đốc giáo Năm 1310, nhà luật học, nhà ngoại giao người Pháp Pierre Dubois đã

đề xuất sáng lập nền Cộng hoà của những người theo đạo cơ đốc giáo ở châu Âu

để duy trì hoà bình trên toàn châu lục nhờ áp dụng giáo lý cơ đốc giáo, với

quyền lực nằm trong tay một vị đại đế hay giáo hoàng

Bước vào thời đại khai sáng, khi những ảnh hưởng của nhà thờ dần bị lấn

át bởi chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cộng hoà thì ý tưởng thống nhất châu Âu không còn đơn thuần chỉ về mặt tôn giáo nữa mà còn là sự thống nhất về mặt chính trị, tư tưởng với thể chế chính trị quy cũ Năm 1693, ông Wiliam Pen - nhà chính trị gia người Anh xuất phát từ thực tế sự tàn phá của cuộc chiến tranh Anh - Pháp và mong muốn ngăn ngừa chiến tranh đã đưa ra ý tưởng thống nhất châu Âu với việc ngừng tồn tại các quốc gia riêng lẻ và lập Nghị viện châu Âu Điều này được ông thể hiện rõ trong cuốn sách của ông có tựa đề “tham luận vì nền hoà bình hiện tại và vì một tương lai châu Âu” Tiếp nối ý tưởng này là

Trang 14

Charle de Saint - Piesse với sáng kiên liên minh 18 nước châu Âu không biên giới và có chung ngân khố với nhau như một liên hiệp về kinh tế

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XVIII, khi ở bên kia bờ Đại Tây Dương xuất hiện sự hiện hữu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1775 - 1783), người châu Âu đã mong ước về một Hợp chủng quốc châu Âu và Liên bang châu Âu Tiêu biểu cho những ý tưởng này là các đề xuất của Jean - Jacques Rousseau, Jeremy Benham, Immanueal Kant, Saint Simon,…

Sang thế kỷ XIX, châu Âu bước vào giai đoạn phát triển mạnh của tư bản chủ nghĩa, trở thành trung tâm thế giới bởi những cuộc xâm chiếm ồ ạt các châu lục khác nhằm biến những nơi này thành đất phụ thuộc Cũng bởi vậy mà ý tưởng về một châu Âu thống nhất còn bắt nguồn từ tham vọng giành bá chủ ở châu Âu Năm 1814, Napoleon I lên ngôi hoàng đế, mở đầu nền đế chế Pháp Một năm sau ông đã tuyên bố là một luật duy nhất phải được áp dụng trong các nước châu Âu bị chinh phục Năm 1816, Napoleon đã dự kiến lập một Hợp Chủng Quốc châu Âu với ý tưởng lập nên những thể chế chung đặc biệt là về trính trị pháp lý Ông ta mong muốn đồng nhất các đồng tiền, đơn vị đo lường

và luật pháp cho toàn châu Âu Và đặt vấn đề lấy Napoleon làm cơ sở cho một

bộ luật Châu Âu Ông đã đưa ra tuyên bố rằng: “Một trong những tư tưởng lớn

nhất của tôi là quy tụ, tập hợp các dân tộc chung một địa lý vốn đã bị các cuộc cách mạng và đường lối chính trị giải tán và chia vụn Chính vì vậy, dù còn bị hạn chế thì cũng là một châu lục gồm hơn 30 triệu người Pháp, 15 triệu người Tây Ban Nha, 15 triệu người Italia, 30 triệu người Đức Tôi muốn cho mỗi dân tộc này trở thành chỉ là một bộ phận của một quốc gia và khi đó quốc gia này sẽ

có một tương lai huy hoàng về sức mạnh, vĩ đại, hạnh phúc và phồn vinh”

[65;17]

Ngoài các nhà quân sự, chính trị Các nhà tri thức, nhà thơ, nhà văn từ lâu cũng đã luôn quan tâm đến một châu Âu thống nhất Tại Đại hội hoà bình tháng

8 năm 1849, Victo Huygo đã trình bày tham luận của mình với chủ đề “Liên

bang châu Âu” Trong bản tham luận có đoạn “… sẽ đến một ngày mà các bạn

nước Pháp, nước Nga, nước Italia, nước Anh, nước Đức, các bạn ở tất cả các quốc gia của lục địa vẫn không đánh mất những phẩm chất riêng biệt của mình

Trang 15

sẽ hoà quyện trong một thể thống nhất châu Âu và xây dựng tình anh em châu

Âu Ngày ấy sẽ đến khi chỉ còn một chiến trường khác là các thị trường mở cửa cho thương mại, và những cái đầu cởi mở cho các ý tưởng, ngày ấy sẽ đến khi các cuộc bỏ phiếu thay thế cho bom đạn” [30;87]

Trong những năm 1914 - 1918, mặc dù loài người yêu chuộng hoà bình vẫn luôn mơ ước và kêu gọi một nền hoà bình chung nhưng chủ nghĩa đế quốc với bản chất tham tàn, hiếu chiến đã làm bùng nổ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất Từ châu Âu chiến tranh lan toả như một biểu hiện của sự thắng thế của việc cạnh tranh tàn khốc với việc đặt uy lực và lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, để rồi nhân loại đã phải chứng kiến sự khốc liệt cùng với những hậu quả khủng khiếp của nó Tuy nhiên, cũng chính “chiến tranh” đã làm cho kế hoạch, những tham vọng cho sự thống nhất châu Âu trở thành những yêu cầu cấp thiết nhất về việc liên kết chính trị và kinh tế châu lục Năm 1914, Henri Saint Simon nhà triết học người Pháp đã đưa ra kế hoạch thống nhất châu Âu đầy tham vọng với thể chế cho một hoàng gia, một chính phủ, một nghị viện Những người ủng

hộ cho kế hoạch này còn đi xa hơn khi mơ về một đồng tiền chung châu Âu và một đợn vị đo lường châu Âu

Đến năm 1923, nhà triết học và địa chính trị người Áo Richard Coudenhove - Kalergi đã sáng lập “phong trào toàn châu Âu” bởi ông cho rằng,

“muốn khôi phục những ưu thế mà châu Âu đã suy giảm trong Đại chiến thế giới

lần thứ nhất không có con đường nào khác ngoài việc thực hiện hiện đại hoá hệ thống chính trị trên quy mô hợp tác lớn toàn châu lục” [82;11]

Phong trào này đã thu hút nhiều gương mặt xuất chúng của tiến trình liên kết châu Âu sau này như George Pompidou, Konrad Adenauer, Winston Churchil, Aistide Briand,… Mặc dù vậy, phong này vẫn không được chính phủ nào ở châu Âu chấp nhận, ngoại trừ Chính phủ Pháp với dự án về Liên bang châu Âu do thủ tướng Pháp Aristide Briand đệ trình lên Hội Quốc Liên vào tháng 5/1929 Nhưng dự án này cuối cùng lại không được thực thi

Năm 1939, trong vị thế của một dân tộc tự xưng là “thượng đẳng” nhưng phải chịu thiệt thòi trong việc phân chia thế giới theo hoà ước Vecxai - Oasinhtơn, nước Đức đã châm ngòi cho sự bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai

Trang 16

Ngay khi những lò lửa chiến tranh được dựng lên, người ta đã cảm nhận rõ sự xuất hiện xu thế ngày càng muốn thống nhất châu Âu và thế giới bằng sức mạnh

vũ lực Song cuộc chiến tranh với nỗi kinh hoàng, khủng khiếp nhất trong lịch

sử loài người cũng đã làm bùng lên mối quan tâm về một châu Âu đoàn kết, thống nhất chống kẻ thù chung và chung sống hoà bình

Đáng chú ý là năm 1943, Jean Monnet - người được cho là kiến trúc sư của châu Âu thống nhất ngày nay, khi đó là uỷ viên Uỷ ban giải phóng quốc gia của Chính phủ tự do Pháp lưu vong, đã có câu tuyên bố nổi tiếng tại phiên họp

của Uỷ ban ngày 5/8: “Sẽ không có hoà bình ở châu Âu nếu các quốc gia được

thiết chế lại trên cơ sở chủ quyền dân tộc… Các quốc gia quá nhỏ để đảm bảo cho dân mình sự phồn vinh và phát triển xã hội Các quốc gia châu Âu phải được thiết chế lại thành một liên bang” [82;13].

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, từ sự nhìn nhận lại nguồn gốc, bản chất và hậu quả của các cuộc Đại chiến thế giới, người châu Âu tin tưởng rằng, nếu các quốc gia châu Âu cùng hoạt động trong một mô hình tổ chức thì nguyên nhân dẫn đến chiến tranh có thể được loại bỏ

Ngày 19/9/1946 trong bài diễn văn nổi tiếng của mình tại trường Đại học Zurich, Winston Churchill nguyên Thủ tướng Anh đã mong muốn thành lập một

“Hợp chủng quốc châu Âu”, mà tiền đề của tiến trình thống nhất này là xác lập

“Hội đồng châu Âu” Tuy nhiên, phải đến tháng 10 năm 1948 tại Đại hội La Hay hơn 750 nhân vật nổi tiếng của châu Âu đã họp mặt, kêu gọi các quốc gia châu

Âu cùng nhau xây dựng liên minh kinh tế và chính trị Cuộc họp này đã khuấy động các cuộc thảo luận ở cấp chính phủ và kết quả là Quy chế của Hội đồng châu Âu đã được ký kết bởi đại diện của 10 quốc gia vào tháng 5/1949 (gồm các nước Anh, Bỉ, Đan Mạch, Ireland, Italia, Lucxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thuỵ Điển, Pháp) Nhưng đây chỉ là tổ chức hợp tác ở các khía cạnh về quyền con người, phát triển dân chủ và hợp tác văn hoá nên đã thất bại trong việc giữ vai trò trung gian cho hệ thống quốc gia mới ở Tây Âu

Như vậy, cho đến những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XIX những ý tưởng thống nhất châu Âu vẫn chỉ là ý tưởng Mọi ý định hiện thực hoá thống nhất châu Âu đều bị đẩy lùi Hơn nữa, thực tiễn lúc đó cho thấy tư tưởng và kế

Trang 17

hoạch về một châu Âu của người châu Âu khó thành hiện thực với một châu Âu bước ra từ đống tro tàn của Đại chiến thế giới lần II Tuy nhiên, những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh này mà châu Âu đang phải gánh chịu và ấn tượng

về một châu lục bất an, dễ làm bùng nổ các cuộc chiến tranh đẫm máu cũng như niềm mơ ước, nguyện vọng lâu đời được sống trong khung cảnh thanh bình vĩnh viễn đã thôi thúc người châu Âu trở lại với ý định hiện thực hoá ý tưởng thống nhất châu Âu

1.1.2 Sự hiện thực hoá ý tưởng thống nhất châu Âu

Chiến tranh thế giới thứ II đã làm đảo lộn trật tự thế giới nói chung và châu

Âu nói riêng Châu Âu bị chia cắt thành hai khu vực: Đông Âu xã hội chủ nghĩa

và Tây Âu tư bản chủ nghĩa Trong khi châu Âu phải khắc phục hậu quả chiến tranh, ngày càng tụt hậu, suy yếu toàn diện và đã thực sự mất vai trò trung tâm thế giới thì trong trật tự thế giới mới sau chiến tranh, Liên Xô và Mỹ đã trở thành hai siêu cường và đang ngày càng khẳng định sự lớn mạnh trên trường quốc tế

Trong bối cảnh đó, vấn đề quan trọng nhất đặt ra trước mỗi người dân châu

Âu không chỉ là việc khắc phục hậu quả chiến tranh họ đang gánh chịu mà sâu xa hơn, căn bản hơn, thiết thực hơn và trên tất cả đó là làm thế nào để loại trừ hoàn toàn nguy cơ chiến tranh? Từ thực tế các cuộc chiến tranh cho thấy nước Đức được xem là có tư tưởng “hiếu chiến” bẩm sinh không thể chữa trị đựơc Hơn nữa, sự phân chia châu Âu và Chiến tranh lạnh có thể biến châu Âu thành chiến trường giữa hai phe Đông - Tây, Mỹ và Liên Xô Do vậy, hoà bình chỉ có thể bền vững nếu xoá bỏ được nỗi lo về sự đe doạ của nước Đức hậu chiến được tái vũ trang và hoá giải mối thâm thù lâu năm giữa hai nước Pháp - Đức sau các cuộc chiến tranh liên miên kéo dài trong nhiều thập kỷ, mà nhất là hai cuộc thế chiến vừa qua Và cũng chỉ có con đường hoà bình, cùng hợp tác, liên minh mới mang lại cho các nước Tây Âu sức mạnh để hạn chế được ảnh hưởng từ hai phía Mỹ và Liên Xô Mặt khác, thống nhất châu Âu còn là một đòi hỏi khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất, do đời sống kinh tế quốc tế hoá ngày càng rộng rãi,

do sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ

Trước tình hình đó, các nhà kinh tế, chính trị ở châu Âu cũng đã cảm nhận

rõ sự ngột ngạt, bó hẹp của những vùng lãnh thổ quốc gia mình Chưa bao giờ ý

Trang 18

thức rõ ràng về một cộng đồng chung được thể hiện rõ như vậy và vấn đề hiện thực hoá ý tưởng thống nhất châu Âu trở thành yêu cầu bức thiết lúc bấy giờ

Ngày 9/5/1950, tại phòng khách của Bộ ngoại giao Pháp, trước sự chứng kiến của hai trăm nhà báo và các khách quan trong và ngoài nước, Bộ trưởng

ngoại giao Pháp Robert Schuman đã đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “châu Âu không

thể làm mọi việc ngay một lúc hoặc chỉ theo đuổi một kế hoặch duy nhất Nó sẽ được xây dựng thông qua những thành tựu cụ thể nhằm trước hết tạo ra sự thống nhất thực sự… Chính phủ Pháp đề nghị rằng các ngành sản xuất Than - Thép của Đức và Pháp sẽ được đặt dưới sự quản lý của một cơ quan chung, trong khuôn khổ này sẽ mở cửa đối với các nước châu Âu khác….” [79;12]

Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử đánh dấu giai đoạn hợp tác giữa các nước châu Âu sau rất nhiều lần xung đột trong lịch sử Vì thế ngày 9/5 đã trở thành ngày châu Âu Nội dung của tyên bố R.Schuman có hàm ý chính trị rất sâu xa Trước hết, đó là cách đảm bảo an ninh của Pháp trước Đức vì nếu các nước châu Âu không dắt dẫn tình hình Đức thì Đức sẽ trở thành “ung nhọt” của Pháp, đe doạ nền hoà bình của cả châu Âu Mặt khác, Than và Thép lúc này chính là nguồn lực chiến lược chủ chốt đối với bất cứ chương trình tái vũ trang nào Do đó, đặt chúng dưới sự kiểm soát nào cũng đều là lợi ích sống còn của Pháp Ngoài ra, việc mở rộng chương trình này sang quốc gia châu Âu khác gắn liền một cách hoàn hảo với sự tiến triển chung trong quan hệ của châu Âu với Hoa Kỳ Trước tuyên bố đó Đức chấp nhận phương án Cộng đồng Than -Thép dưới cái tên “kế hoạch Suman” vì Đức chỉ mong sao thoát khỏi cảnh bị nước khác chiếm đóng, khắc phục hậu quả chiến tranh Hơn nữa, đề nghị của Pháp nêu nguyên tắc xây dựng cộng đồng trên cơ sở bình đẳng cho nên có sức thu hút mạnh mẽ

Ngày 18/4/1951, sáu nước bao gồm: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Luxembuog và

Hà Lan đã ký hiệp ước Pari về thành lập Cộng đồng Than - Thép châu Âu (ECSC) Hiệp ước có hiệu lực từ 25/7/1952 với thời hạn là 50 năm Jean Monnet được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của cơ quan quản lý tối cao của ECSC

Như vậy, tổ chức liên kết đầu tiên ở châu Âu đã ra đời Sự ra đời ECSC không những là cầu nối hoà giải mối thù hận lâu đời giữa hai nước Pháp - Đức, mở ra một

Trang 19

giai đoạn mới trong quan hệ đối ngoại của các nước Tây Âu mà còn nhanh chóng làm cho ngành sản xuất Than và Thép được cải thiện, giảm thiểu các nguy cơ khủng hoảng, tạo tiền đề cho sự phát triển của cả những ngành kinh tế khác

Thắng lợi trong liên kết kinh tế đã thúc đẩy việc thực hiện ý tưởng thống nhất châu Âu về mặt chính trị và quân sự Từ đó, dưới tác động của thời kỳ Chiến tranh lạnh mà trực tiếp là cuộc Chiến tranh Triều Tiên, ngày 27/5/1952 các nước trong ECSC đã ký hiệp ước thành lập Cộng đồng phòng thủ châu Âu (EDC) nhằm liên hợp các quân đội quốc gia và tái trang bị cho Tây Đức dưới sự giám sát của cộng đồng Một trong số điều khoản của Hiệp ước quy định là, EDC sẽ đi đến một cơ chế chính trị của Cộng đồng Thế nhưng đến 30/8/1954 khi thông qua hiệp ước, Quốc hội Pháp đã không phê chuẩn vì mối lo sợ về việc tái vũ trang của nước Đức Sự phá sản của hiệp ước này cũng đồng thời kéo theo

sự thất bại của kế hoạch xây dựng một Cộng đồng chính trị Châu Âu (EPC) vào năm 1953

Như vậy, mọi sự cố gắng nhằm liên kết châu Âu cả về lĩnh vực chính trị

và an ninh quốc phòng đã không đem lại kết quả như mong muốn Thất bại này

có hai tác động tới các nước trong ECSC Một là, nó buộc các nước này phải tìm kiếm những đề án liên kết mới để tránh làm nản lòng dư luận dân chúng trước thất bại đó Hai là, nó khẳng định quá trình liên kết của các nước phải bắt đầu từ những mối ràng buộc cụ thể, cho kết quả thực tế

Cũng trong những năm 1950, nhiều sự kiện quan trọng đã nổ ra: Ai Cập quốc hữu hoá kênh đào Suez và chặn đường vận tải của Israel năm 1956, cuộc chiến tranh 6 ngày giữa Israel và các nước Ả Rập láng giềng đưa tới sự cấm vận dầu lửa năm 1967 đối với Israel và các nước phương Tây… đã trực tiếp đe doạ đến quyền lợi nhiều nước châu Âu (đặc biệt là Pháp, Anh, những nước vốn coi khu vực Trung Đông như một nguồn bảo đảm cung cấp năng lượng cho mình)

Tình hình đó khiến châu Âu không còn cách nào khác là phải tập trung liên kết kinh tế và mở rộng phạm vi liên kết của ECSC ra các nuồn năng lượng khác, và năng lượng nguyên tử được xem như bước giải quyết sự cạn kiệt nguồn than và giảm phụ thuộc vào dầu lửa

Trang 20

Tháng 6/1955, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của 6 nước thành viên ECSC đã nhóm họp ở Messine (Italia) để bàn bạc, thảo luận vấn đề xây dựng

châu Âu thống nhất và đi đến quyết định “đã đến thời điểm để bước sang một

giai đoạn mới trong tiến trình xây dựng châu Âu” từ đó đưa ra Nghị quyết

“Chính phủ 6 nước thừa nhận rằng việc xây dựng một Thị trường chung châu

Âu độc quyền về thuế quan và hạn chế số lượng là mục tiêu hành động của Chính phủ 6 nước trong lĩnh vực kinh tế Tất cả các chính phủ đều cho rằng thị trường này phải đựơc thực hiện thông qua các giai đoạn” [39;12]

Từ quyết định liên kết kinh tế một cách sâu rộng đó, Thị trường chung châu Âu ra đời, mở rộng với tất cả các lĩnh vực kinh tế và năng lượng hạt nhân Một Uỷ ban chuyên gia cũng được thành lập Và trên cơ sở báo cáo của Paul Henri Saak, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Italia lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban, trải qua 8 phiên họp và các cuộc đàm phán hết sức khó khăn ngày 25/3/1957 tại Rome (Italia), Hiệp ước về thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu hay EURATOM (EAEC) đã đươc ký kết thúc đẩy thêm một xu thế liên kết mang tính siêu quốc gia

Cùng với Cộng đồng Than - Thép châu Âu, Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu, Cộng đồng kinh tế châu Âu là những tổ chức tồn tại độc lập như một thực thể của các quốc gia: Pháp, Đức, Bỉ, Italia, Hà Lan, Luxembourg Tuy nhiên, do các

tổ chức này tồn tại độc lập nên không tránh khỏi sự chồng chéo, trùng lặp về cơ chế cũng như chức năng hoạt động Vì vậy, để đảm bảo tính chặt chẽ, phát huy tác dụng của hiệu quả liên kết, ngày 1/7/1967 ba tổ chức này đã hợp nhất thành một tổ chức chung có tên gọi là “Cộng đồng châu Âu”(EC)

Sự ra đời và hoạt động của EC đã khẳng định sự tồn tại ở châu Âu một tổ chức liên minh, liên kết các nước châu Âu với nhau Đồng thời, cho thấy rõ các nước châu Âu đã đạt được những mục tiêu căn bản là giữ gìn hoà bình, bắt đầu

từ sự hoà giải giữa Pháp và Đức tạo cơ sở cho sự hình thành trật tự mới ở châu

Âu, hình thành bước đầu về liên kết kinh tế và tạo nền tảng cho một sự liên minh chặt chẽ về chính trị, xã hội để thúc đẩy hơn nữa về sự gắn bó hữu cơ, hợp tác phát triển giữa các dân tộc trên toàn châu lục

Trang 21

1.1.3 Quá trình mở rộng tổ chức của Liên minh châu Âu

Có thể nói, Cộng đồng châu Âu ra đời là kết quả của quá trình vận động lâu dài để hiện thực hoá những ý tưởng thống nhất châu Âu Những thành tựu

mà EC đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị đã ngày càng nâng cao vị thế của các quốc gia thành viên EC trên trường quốc tế

Để hướng tới một châu Âu thống nhất, ổn định và có thực lực mạnh, gắn kết, mở cửa với thế giới và trở thành nhân vật toàn cầu có vai trò chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, các nước châu Âu một mặt tăng cường củng cố liên kết nội khối Một mặt chú trọng mở rộng tổ chức, kết nạp thêm thành viên mới

- Năm 1973, EC tiến hành lần mở rộng thứ nhất, kết nạp thêm Anh, Đan

Mạch, Ai Len

Có thể nói ngay từ khi Cộng đồng kinh tế châu Âu ra đời đã mở ra thị trường chung của 6 nước và giảm thuế quan cũng đồng thời được thực hiện Sự kiện này đã tác động mạnh mẽ đến vương quốc Anh, một nước lớn ở châu Âu

Khi đó, Nhằm giữ vững và phát huy vai trò của mình Anh đã đề nghị thành lập khu vực trao đổi lớn ở châu Âu song Đức và Pháp đã khước từ tham gia Tuy nhiên, sau khi AELE hình thành, Tổng thống Pháp tướng De Gaulle đã

đi tới hoà giải với Thủ tướng Đức Adenauer chống lại Khối liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai - Len, vì đây là khu vực kinh tế mang lại nhiều ưu thế cho Anh và hợp tác với Đức cứu CEE khỏi phải chết yểu trước đề nghị của Anh lập

“một khu vực trao đổi tự do châu Âu” [39;13]

Trước sự khước từ của Pháp, Đức trong việc thành lập AELE và thực tế những thành tựu đã đạt được của EEC về kinh tế, chính trị, Anh buộc phải xem xét lại hành động tự cô lập của mình và đi tới một quyết định quan trọng Ngày 9/8/1960 Anh đệ đơn xin gia nhập EEC, cùng với Anh có các nước Đan Mạch, Ai - Len

Với Anh, để có thể phát triển nền công nghiệp của mình, nước Anh phải tham gia vào EEC thì mới thâm nhập được vào thị trường giàu có ở châu Âu Động cơ của Đan Mạch là muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm nông nghiệp của mình trong thị trường EEC rộng lớn và nền nông nghiệp của mình cũng sẽ được phát triển Còn Ai - Len lại nhận thấy ở EEC sẽ phát triển được tiềm năng từ các nhà máy công nghiệp của mình và mong muốn giảm bớt được những sự phụ

Trang 22

thuộc về nông nghiệp với Anh Về phía EEC, do tính toán về lợi ích, Pháp muốn xây dựng EEC quanh trục Pháp nên Pháp cho rằng, nếu Anh trở thành thành viên thì sẽ có sự cạnh tranh vai trò của Pháp trong EEC

Với những mục tiêu đó cuộc đàm phán giữa EEC và Anh được tổ chức song kết quả không thành do Anh đưa ra quá nhiều yêu sách, Tổng thống Pháp

De Gaulle phải tuyên bố phủ quyết việc kết nạp Anh vào EEC và ngừng tất cả các cuộc thương lượng với những nước nói trên Tuy vậy, ngày 10,11/5/1967, Chính phủ các nước Anh, Đan Mạch, Ai - Len lại tiếp tục đệ đơn xin gia nhập EEC lần thứ hai, còn Na Uy đệ đơn ngày 21/7/1967 Nhưng chính phủ Pháp đã thuyết phục được Đức phủ quyết Anh lần thứ hai Mãi đến năm 1969 khi De Gaulle từ chức đã tạo điều kiện cho bước mở rộng đầu tiên EEC Tổng thống kế nhiệm của Pháp là Georges Pompidou theo đuổi chính sách ủng hộ một châu Âu thống nhất và tuyên bố chấm dứt việc chống Anh gia nhập EEC

Tại Hội nghị thượng đỉnh các nước EC (1970), Tổng thống Pháp và Thủ tướng Đức Willy Brandt là những người đã đưa ra quyết định mở rộng EC, chính thức mời Vương quốc Anh, Na Uy, Ai Len, Đan Mạch thương lượng ký hiệp ước gia nhập EC

Cuối cùng, Hiệp ước được ký kết vào ngày 22/1/1973 Theo đó, Anh, Đan Mạch, Ai Len đã được chấp thuận là thành viên chính thức kể từ ngày 01/01/1973, đưa tổng số các nước thành viên của EC ban đầu từ 6 nước lên 9 nước, (riêng Na Uy mặc dù tham gia ký kết hiệp ước nhưng không trở thành thành viên vì hơn 1/2 số dân Na Uy không tán thành trong cuộc trưng cầu dân ý

Như vậy, qua cuộc mở rộng lần thứ nhất cho thấy rằng, những ý đồ, động

cơ của các quốc gia ứng cử viên lần này mang nặng màu sắc chính trị song nếu dựa trên GDP/đầu người để so sánh có thể thấy EC đã kết nạp thêm 3 nước giàu

có hơn mình Điều này có nghĩa là, trong lần mở rộng lần đầu tiên, các quốc gia xin gia nhập chỉ làm cho liên minh giàu có hơn về kinh tế, mạnh hơn về chính trị

và thực tế các nước đứng đầu liên minh cũng tìm thấy ở những nước gia nhập một khả năng đóng góp thực sự cho ngân sách chung của liên minh Mặc dù vậy, quá trình hội nhập của các nước này không tạo được sự đột phá nào mà điều đó phải đợi đến sự gia nhập của các nước trong những lần mở rộng tiếp theo

Trang 23

- Không gian liên kết châu Âu được mở rộng lần thứ hai với các ứng cử

viên là Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Theo hiệp ước Rome khi thành lập EEC, bất cứ nước châu Âu nào cũng

có thể nạp đơn xin gia nhập EEC Trước sự phát triển của EEC, một số nước ở châu Âu như Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã ngõ ý muốn được gia nhập EEC từ rất sớm

Hy Lạp đệ đơn gia nhập EC vào 1/6/1975, nhưng phải 6 năm sau vào ngày 1/1/1981 Hy Lạp mới trở thành thành viên thứ 10 của EC Sở dĩ như vậy

vì, Hy Lạp là một nước nghèo, có nền kinh tế nặng về nông nghiệp, tình hình chính trị lại không ổn định nên không phải là ứng cử viên được liên minh quan tâm Năm 1974, sau khi Uỷ ban châu Âu tuyên bố Hy Lạp không đủ tiêu chuẩn

về mặt kinh tế trở thành thành viên chính thức và không giới hạn về thời gian cho quá trình hội nhập, chính phủ mới của Hy Lạp đã tuyên bố, Hy Lạp mong ước được trở thành thành viên chính thức của liên minh và đặc biệt nhấn mạnh rằng, tư cách thành viên này sẽ rất có ý nghĩa để xây dựng nền dân chủ ở nước này cũng như củng cố quan hệ giữa Hy Lạp và phương Tây Lời tuyên bố này đã làm cho Hội đồng Bộ trưởng của liên minh động lòng và huỷ bỏ tuyên bố về sự không sẵn sàng của Hy Lạp mà Uỷ ban châu Âu đã đưa ra và mở đường cho Hy Lạp đàm phán để trở thành thành viên chính thức

Cũng tương tự như Hy lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã nộp đơn gia nhập EC từ 1977 nhưng ở các nước này đều có nền chính trị độc tài mà các chính phủ dân chủ thành viên của liên minh không muốn quan hệ với chính phủ độc tài Chỉ sau khi ở Bồ Đào Nha chính quyền độc tài Cactano bị lật đổ năm

1973 và Bồ Đào Nha đã có một chính quyền dân sự Ở Tây Ban Nha sau khi Franco chết năm 1975, thì EC mới chính thức xem xét đến vấn đề gia nhập của

hai nước Quan điểm của EEC cho rằng, “cũng như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ

Đào Nha trở thành thành viên của EC thì điều đó sẽ khuyến khích nền dân chủ trên bán đảo Iberian và cũng giúp cho sự liên kết giữa hai nước này gần gũi hơn với Tâu Âu và NATO” [29; 12]

Do vậy, mãi đến 1/1/1986 sau 10 năm chờ đợi bền bỉ, với hai hiệp ước được ký kết tại Lisbon và Madrid, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha mới trở thành

Trang 24

thành viên thứ 11 và 12 của EC Như vậy, việc mở rộng EC đối với các nước Nam Âu ở lần này cho thấy tiêu chuẩn chính trị của EC đã được đề cao và chú trọng hơn Thực tế cũng đã chứng minh, việc tăng thành viên trong nội khối đã

có hiệu quả kinh tế và chính trị rõ rệt, điều đó giúp tăng cường ảnh hưởng của

EC trên trường quốc tế

- Ngày 1/1/1995 EU đã tiến hành mở rộng lần thứ ba, kết nạp thêm 3

thành viên mới: Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan

Có thể nói, Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo cơ hội cho các nước Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy từng giữ vị trí trung lập thời Chiến tranh lạnh có thể gia nhập vào EC Sở dĩ như vậy vì các nước này và một số nước thành viên của EC đều là thành viên của tổ chức Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (AFTA)

do Anh và một số nước Tây Bắc Âu khác thành lập vào năm 1959, nhưng đây là một tổ chức liên chính phủ lỏng lẻo, mục đích chỉ là tự do thương mại và trên thực tế đến thời điểm này cũng đã mất đi vai trò của một tổ chức kinh tế ở châu

Âu Hơn nữa, do sự gần gũi về mặt địa lý và chính trị, mối quan hệ hợp tác kinh

tế giữa AFTA và EC ngày càng được xúc tiến mạnh dưới nhiều hình thức Do

đó, có thể thấy rõ mối quan hệ giữa các nước thành viên của tổ chức này với EC rất khăng khít cả về kinh tế, xã hội Các nước này muốn trở thành thành viên EC

để tìm kiếm sự hợp tác phát triển hơn trong nhiều lĩnh vực Bên cạnh đó, các nước Bắc Âu hy vọng gia nhập EC sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để giải quyết các khó khăn nảy sinh sau khi Liên Xô cũ tan rã, thị trường Đông Âu và Liên

Xô cũ mất ổn định và thiếu khả năng thanh toán, tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế, xã hội của các nước này Mặt khác, còn có thể thấy rõ ngoài sự lựa chọn hội nhập, các quốc gia này cũng không còn diễn đàn nào khác hiệu quả hơn để tham gia trên chính trường quốc tế

Đối với EC, Phần Lan, Thuỵ Điển, Áo là những quốc gia giàu có, nền kinh tế ổn định, mức thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn mức trung bình của EC Do vậy, năm 1992 EC đã chính thức mở đàm phán xem xét tư cách thành viên cho các nước này và trên tinh thần mở rộng tầm vóc kinh tế, ảnh hưởng chính trị EC sẵn sàng tiếp nhận các nước này làm thành viên Tháng 4/1994 Hiệp định gia nhập của các nước Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan được ký kết

Trang 25

và đến 1/1/1995 EU đã chính thức kết nạp thêm 3 nước này, nâng tổng số nước thành viên lên con số 15

Qua ba lần mở rộng, nhìn chung lợi ích kinh tế và chính trị của các nước thành viên ngày càng được thể hiện rõ Với 15 nước thành viên EU có một thị trường rộng lớn hơn, khả năng cạnh tranh cao hơn và khả năng sử dụng những tiềm năng tự nhiên, con người và tài chính bên trong sẽ dồi dào hơn Đồng thời,

an ninh và khả năng bảo vệ trước tình hình mất ổn định ở Đông Âu và liên Xô

cũ sẽ hữu hiệu hơn

- Năm 2004, EU mở rộng lần thứ tư kết nạp thêm 10 nước Trung - Đông Âu

Sau hơn nửa thế kỷ đi vào hoạt động, các nhà lãnh đạo EU thấy rằng, nếu

mở rộng EU bằng việc gia nhập các nước Trung - Đông Âu sẽ giúp bảo đảm khu vực này phát triển theo hướng dân chủ và thị trường tự do Thêm nữa, kỷ luật và điều lệ của EU sẽ giúp ngăn chặn các cuộc xung đột liên quan đến biên giới, lãnh thổ, sắc tộc và hậu quả của nó ở Trung - Đông Âu do lịch sử để lại nên EU cần phải lôi kéo các nước Trung - Đông Âu vào các mối quan hệ chiến lược với mình Nghĩa là, lần mở rộng thứ tư xuất phát từ những đòi hỏi nội bộ của liên minh nhằm tăng cường tính hiệu quả trong hoạt động và phát triển của EU trên các lĩnh vực Nhưng quá trình liên kết của EU lần này đòi hỏi các nước thành viên EU phải có những cải cách về thể chế

Từ đó, tại Hội nghị liên chính phủ tháng 3/1996, lãnh đạo các nước thành viên đã tập trung chú ý đến vấn đề cải cách thể chế Sau khi bản dự thảo Hiệp định sửa đổi được hoàn tất và được thông qua tháng 10/1997, Bộ trưởng ngoại giao 15 nước thành viên ký Hiệp định tại Amsterdam Hà Lan để bổ sung cho khuôn khổ pháp lý được thông qua tại Maastricht về xây dựng Liên minh kinh tế tiền tệ và tiến tới Liên minh chính trị ở châu Âu

Tuy nhiên, Hiệp ước Amsterdam vẫn chưa giải quyết được vấn đề cải cách thể chế đã đặt ra vì các cuộc tranh cãi không tìm được tiếng nói chung Do

đó, Hội nghị Hội đồng châu Âu kéo dài chưa từng có đã diễn ra tại Nice tháng 12/2000 để tiếp tục đàm phán nhằm xây dựng một hướng mới áp dụng chiến lược “rộng hơn” và “mạnh hơn” ở EU Cuối cùng Hiệp định Nice được ký kết ngày 26/2/2001 và có hiệu lực từ ngày 1/2/2003 Kết quả là Ngày 1/5/2004 đã đi

Trang 26

vào lịch sử của khối với sự kiện kết nạp số lượng thành viên lớn nhất, đưa số thành viên của khối từ 15 nước lên 25 nước 10 thành viên mới của EU gồm 8 nước Đông Âu và 2 quốc gia quần đảo ở Địa Trung Hải bao gồm: Sip, Ba Lan, Man Ta, Latvia, Estonnia, Sezch, Slôvakia, Slôvênia, Hunggari

Lần mở rộng này được đánh giá là bước đi rất táo bạo và khẳng định quyết tâm tăng cường sự hội nhập trên toàn bộ lục địa châu Âu Với sự kiện này,

EU đã trở thành tổ chức liên kết khu vực và nhất thể hoá được đánh giá ở trình

độ cao và thành công nhất bằng quá trình liên kết tự nguyện về kinh tế và chính trị của các quốc gia châu Âu Có thể nói, EU quyết định mở rộng tổ chức, kết nạp 10 thành viên mới trên lộ trình nhất thể hoá đã làm đổi thay căn bản diện mạo lược đồ địa - chính trị châu Âu Sự kiện đó không chỉ làm biến đổi về số lượng, mở rộng lãnh thổ EU trải từ Đại Tây Dương tới Ban Tích ở phía Bắc, Địa Trung Hải ở phía Nam mà còn đưa EU trải qua sự biến đổi sâu sắc về chất Sau sự ra đời đồng tiền chung, EU đang soạn thảo một hiến pháp chung theo hướng hình thành thể chế lập pháp và thậm chí cả hành pháp chung, lực lượng

Trong khi đó, tuyên bố Lacken ngày 15/2/2001 về “Tương lai của châu

Âu” đã thể hiện rõ tham vọng lớn của EU với thế giới: “Châu Âu cuối cùng phải

thống nhất, có vai trò đầu tàu trong trật tự thế giới mới, quyền hạn trong duy trì

ổn định thế giới và có trò chủ đạo cho nhiều quốc gia và mọi người”.[79;6]

Chính vì vậy, trước hàng loạt các vấn đề quốc tế nảy sinh từ thập niên đầu thế

kỷ XXI tháng 3/2002, Hội đồng châu Âu đã quyết định thành lập hội đồng soạn thảo Hiệp định về Hiến pháp do cựu Tổng thống Pháp Giscard d’ Estaing đứng đầu, đến 29/10/2004 “Hiệp định xác lập hiến pháp châu Âu” đã được 25 nguyên thủ quốc gia thành viên EU ký tại Rome

Hiến pháp châu Âu đã đưa ra một loạt các vấn đề nhằm chuyển EU thành một liên minh chính trị của các nước thành viên nhằm chia sẽ giá trị và số phận

Trang 27

chung Một trong những mục tiêu nền tảng của Hiến pháp là xây dựng EU có công cụ đủ mạnh để trở thành một nhân tố quan trọng về kinh tế và có tiếng nói

về chính trị trên thế giới Nhưng khi đưa ra trưng cầu dân ý, Hiến pháp đã bị cử tri Pháp và Hà Lan bác bỏ

Sau thất bại trong việc nỗ lực tìm kiếm một văn bản pháp lý cho cả khối,

EU không thụt lùi trong quá trình thống nhất châu Âu về kinh tế và chính trị Để tiếp tục khẳng định bản chất liên minh, liên kết của mình, EU đã soạn thảo một Hiệp ước mới thay thế Hiến pháp châu Âu

- Ngày 1/1/2007 EU tiếp tục đợt mở rộng lần thứ 6 Kế hoạch quyết định

kết nạp thêm 2 nước Đông Âu là Rumani và Bungari trong cuộc họp của Hội đồng châu Âu tại Bruxen (Bỉ) ngày 16/6/2006 đã được thực hiện, nâng tổng số nước thành viên EU lên 27 quốc gia

Có thể nói, việc Rumani và Bungari trở thành thành viên chính thức đã chứng minh sự nỗ lực to lớn của hai nước này nhằm thoả mãn tất cả mọi điều kiện hội nhập mà EU đặt ra bởi họ đã phải hoàn thành một lượng công việc khổng lồ trong bốn năm để bù lại khoảng thời gian họ đã mất trước đó Những

gì họ làm được để thoả mãn các tiêu chí EU đặt ra sẽ tạo điều kiện cho chính bản thân họ nói riêng, EU nói chung ngày càng phát triển hơn

Từ thực tiễn những lần mở rộng EU, trả lời tạp chí “Tấm gương”, số 48 năm 2007 khi được hỏi quá trình mở rộng EU sẽ tiếp tục ra sao sau khi kết nạp thêm Bungari và Rumani? Ông Jose Socrates Thủ tướng Bồ Đào Nha, đương

kim Chủ tịch Hội đồng Liên minh châu Âu đã trả trả lời rằng: “EU trong những

năm vừa qua đã học được rằng đôi khi sẽ tốt hơn nếu không quá vội vàng Chúng ta phải có thời gian và thu thập những kinh nghiệm với một thể chế mới

đã được tạo nên Tuy nhiên, chúng ta không được phép quên đi những trách nhiệm đối với các nước mà chúng ta đã tiến hành các cuộc đàm phán với họ về gia nhập EU Nếu nước nào đảm bảo được các tiêu chuẩn thì chúng ta sẽ phải chấp nhận, còn nếu không sẽ phải đứng ngoài liên minh này” [52;8]

Đến 19/10/2007 sau quá trình thương lượng kéo dài tại Lisbon các nguyên thủ quốc gia EU đã căn bản thống nhất Hiệp ước cải cách nhằm thay thế Hiến pháp châu Âu cũ Ngày 13/12/2007 Hiệp ước cải tổ, chính thức gọi là Hiệp ước

Trang 28

Lisbon đã được các nguyên thủ và ngoại trưởng 27 nước thành viên Liên minh châu Âu ký kết tại thủ đô Lisbon (Bồ Đào Nha)

Hiệp ước Lisbon là bản sửa đổi Hiến pháp chung Nó thay đổi hoàn toàn cách thức điều hành cùng với cơ cấu hoạch định chính sách EU Với ý nghĩa đó, Hiệp ước được các nhà lãnh đạo các nước EU đánh giá rất cao Hiệp ước Lisbon

ra đời được xem như “Hiệp ước lịch sử” một “Hiệp ước của tương lai” đem đến nhiều điểm mới cho “lục địa già” là tiền đề quan trọng góp phần hoàn thiện EU,

đưa EU trở thành một liên minh thống nhất hiện đại, năng động trong thế kỷ XXI [52;4]

Như vậy, trên 60 năm kể từ sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới II, giấc

mơ mấy nghìn năm thống nhất châu Âu dần được thực hiện nhưng từ những vấn đề được hệ thống hoá và phân tích ở trên đã cho thấy rõ thống nhất châu Âu

là một tiến trình đầy trắc trở lúc tiến, lúc lui, ký Hiệp định rồi sửa đổi, lại ký Hiệp định mới, lại sửa đổi… Tuy nhiên, dù phải trải qua con đường trường chinh đầy gian khó nhưng trong suốt sáu thập kỷ qua châu Âu tồn tại trong hoà bình và phồn vinh, trở thành liên minh kinh tế - chính trị hàng đầu thế giới, đó là điều mong mỏi và cũng là tài sản quý giá của những người sáng lập ra liên minh châu Âu để lại Những thành công với sự nỗ lực và quyết tâm cao mà EU đã đạt được sẽ là nền tảng, tiền đề để các nhà lãnh đạo EU tiếp tục chèo lái con thuyền

EU vượt qua sóng gió, tiếp tục khẳng định chính mình và nâng cao vị thế trên trường quốc tế để tiến bước “vững mạnh” hơn nữa trong thế kỷ XXI

1.2 Quá trình hình thành các thể chế chính trị ở Liên minh châu Âu

Quá trình hình thành và phát triển của EU là một quá trình hội nhập sâu rộng của các nước thành viên Cũng chính quá trình này đã hình thành và phát triển ở EU các thể chế chính trị phức tạp, mới mẻ, có nhiều đặc điểm mang chức năng của một nhà nước mà không cần theo cơ cấu tổ chức lãnh thổ Các thể chế chính trị của EU được tạo ra nhằm giúp các nước thành viên trong liên minh phối hợp ngày càng chặt chẽ hơn, đồng thời hoạch định và điều hành giám sát quá trình liên kết của từng quốc gia thành viên và thực thi, giải quyết một cách

có hiệu quả những nhiệm vụ tồn tại, phát sinh trong tiến trình tồn tại và phát triển của mình

Trang 29

1.2.1 Những tiền đề dẫn đến sự ra đời các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu

Thể chế chính trị là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống mỗi quốc gia, khu vực Bởi thế, các thể chế chính trị tác động đến sự lựa chọn cách hành xử của cá nhân, cộng đồng trong quốc gia, khu vực đó nhằm tạo dựng sự ổn định trật tự và phát triển xã hội

Không nằm ngoài quy luật đó, ở Liên minh châu Âu các thể chế chính trị

là nơi hội tụ những nguyên tắc, hình thức để điều khiển sự vận hành của liên minh thực hiện những mục tiêu đã đặt ra Vì vậy, ngay khi các quốc gia châu Âu liên kết trong một tổ chức thì các thể chế chính trị của châu Âu thống nhất cũng được hình thành và bối cảnh lịch sử ở châu Âu lúc đó cũng là những nhân tố góp phần quan trọng thúc đẩy sự ra đời của các thể chế chính trị của liên minh

Thứ nhất: Từ giữa thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến một xu thế mới

trong đời sống quốc tế, đó là việc hình thành các liên kết khu vực hay khu vực hoá Sở dĩ xu thế này được hình thành là bởi xuất phát từ sự nhận thức, chủ nghĩa cực đoan, tư tưởng hiếu chiến và bản chất tham tàn là thủ phạm gây nên các cuộc chiến tranh Vì vậy, một nhu cầu bức thiết được đặt ra là cần phải có một tổ chức quốc tế có uy tín, quyền lực cao hơn từng quốc gia để làm trung gian tháo gỡ, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế từ trước, trong và sau chiến tranh Có như thế mới đảm bảo nền hoà bình, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia nói riêng, xây dựng nền văn minh, phồn thịnh trên thế giới nói chung

Ở châu Âu, khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, sự khủng khiếp, nỗi kinh hoàng và thảm hoạ của cuộc chiến đẫm máu này đã khiến người châu Âu phải nhìn nhận lại, nhận thức lại các cuộc chiến tranh một cách sát thực hơn Thực tiễn lịch sử cho thấy, hai cuộc Đại chiến thế giới đều bắt đầu từ cuộc chiến của người châu Âu và nước Đức được xem là kẻ châm ngòi cho những cuộc chiến đó Vì thế, đối với châu Âu lúc này việc nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh là hết sức quan trọng, nhưng trước hết và trên tất cả là cần có những biện pháp hữu hiệu chặt đứt hoàn toàn mọi mầm mống, nguyên nhân dẫn đến chiến tranh Vấn đề này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thiết lập một tổ chức

Trang 30

quyền lực siêu quốc gia ở châu Âu có sứ mạng điều hành, phối hợp hoạt động kinh tế từng nước làm nền tảng cho sự liên kết về chính trị, đảm bảo sự hoà bình

ổn định trong toàn châu lục Từ đó, phong trào ủng hộ một Liên minh châu Âu được hình thành

Thứ hai: Mặc dù chiến tranh kết thúc nhưng giữa các nước tham chiến, dù

thắng trận hay bại trận vẫn còn nặng mối ngờ vực nhau làm cho bầu chính trị ở Tây Âu nặng nề và ảm đạm Thêm vào đó mối đe doạ về “Bóng ma cộng sản” ngày càng cao bởi không chỉ dừng lại ở chỗ Liên bang Xô Viết đã mở rộng ảnh hưởng sâu rộng sang khu vực trung tâm châu Âu mà ngay cả ở Pháp và Italia các Đảng cộng sản cũng đã nhận được sự ủng hộ đáng kể Trong lúc các quốc gia Tây Âu đang đi tìm đáp án cho câu hỏi “làm thế nào để ngăn chặn sự tấn công của chủ nghĩa cộng sản”? thì nước Mỹ với vị thế là cực đối đầu với Liên

Xô, nhằm thực hiện mưu đồ vươn lên vị trí bá chủ toàn cầu đã tung ra cái gọi là học thuyết Tơruman chống lại “sự đe doạ” của chủ nghĩa cộng sản, chống lại sự bành trướng của nước Nga, dựng lên sự đảm bảo về mặt chính trị đối với

“những người dân tự do đang phải chống lại sự tấn công của các lực lượng

thiểu số có vũ trang hoặc áp bức bên ngoài” [78;13]

Tiếp đó, khi Chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống XHCN và TBCN đang leo thang, để tăng cường hơn nữa ảnh hưởng đối với các nước phương Tây, Mỹ nhận thấy cần phải phục hưng châu Âu bởi các lý do: Thứ nhất, châu Âu là một thị trường lớn đối với Mỹ, không có một châu Âu thịnh vượng, kinh tế Mỹ có thể lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; Thứ hai, không có viện trợ của Mỹ, các nước Tây Âu có thể chuyển sang con đường XHCN để tái thiết đất nước; Thứ ba, các nước Tây Âu đang chịu ảnh hưởng của Liên bang Xô Viết, các phong trào XHCN đã trỗi dậy ở các quốc gia này; Thứ tư, Đức vốn là một trung tâm công nghiệp của châu lục cần phải được tái thiết để làm vùng đệm ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô Do đó, Tây Đức phải nhanh chóng được hợp nhất với châu Âu.[35;14]

Chính vì vậy, chính phủ Mỹ đã đưa ra kế koạch Marshall năm 1848, trợ giúp các nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá của Tây, Bắc Âu và thực hiện mục đích khống chế các nước này Trong khung cảnh hoang tàn đổ nát mà Thế chiến

Trang 31

II để lại, Tây Âu buộc phải chấp nhận kế hoạch Marshall Nhưng ngược lại người Mỹ đã gắn khoản viện trợ này với điều kiện: Các quốc gia nhận viện trợ phải cam kết thúc đẩy hợp tác kinh tế nội bộ giữa các nước Kết quả là tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu (OECE) gồm 16 quốc gia thành viên ra đời năm 1948 với nhiệm vụ trước mắt là thực hiện chương trình viện trợ của Mỹ

Ngoài ra, để gắn kết các nước Tây, Bắc Âu về mặt quân sự, năm 1949 Mỹ thành lập Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương – NATO nhằm ngăn chặn sự tấn công của CNCS ở nửa kia châu Âu và thậm chí ngay trong lòng các nước Tây Âu Tuy nhiên, sự xích lại gần nhau của các nước Tây, Bắc Âu trong những dự án đầy tham vọng của Mỹ đã làm cho cục diện đối đầu của hai phe trong cuộc Chiến tranh lạnh ngày càng gay go, quyết liệt Nguy cơ châu Âu bị biến thành chiến trường của cuộc đối đầu này ngày càng lộ rõ, mà bất cứ cuộc chiến tranh nào giữa các nước châu Âu lúc này đều là sự “tự sát” của thế giới tư bản Mặt khác, điều này cũng đã tạo tiền đề cho sự hợp tác, liên minh các nước Tây Âu và nhiều quốc gia, chính trị gia hy vọng Tây Âu sẽ có một tiếng nói thống nhất trên trường quốc tế

Thứ ba: Việc các nước Tây Âu chấp nhận sự lệ thuộc, chỉ huy và cả áp đặt của

Mỹ trong mọi lĩnh vực để khắc phục hậu quả chiến tranh, đưa đất nước đi lên là

sự lựa chọn duy nhất lúc này Tuy nhiên, các quốc gia Tây Âu vẫn luôn tìm mọi cách duy trì và bảo vệ lợi ích của dân tộc mình chống lại sự khống chế của Mỹ Khi Chiến tranh lạnh bắt đầu, nước Đức - nơi được xem là khởi nguồn của chiến tranh bị chia thành hai và phát triển theo hai hướng hoàn toàn trái ngược Khi

đó, vấn đề thống nhất và ký hoà ước với Đức trở nên xa vời và hầu như chưa có triển vọng Nhưng theo kế hoạch Marshall Mỹ đã đổ vào Tây Beclin khoảng 1 tỷ USD, làm cho khu vực này nhanh chóng trở nên phồn thịnh Mỹ cũng xây dựng

cơ quan tình báo ở Tây Beclin, thu nhận thông tin từ Đông Âu

Trước thực tế nước Đức ngày càng lớn mạnh, Pháp và các nước Tây Âu hết sức lo ngại Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp Robert Schuman cho rằng, một nước Đức đứng riêng rẽ sẽ là mối hiểm hoạ tiềm tàng đối với nền hoà bình ở châu Âu và từ việc nhận thấy than, thép là hai nguồn nguyên liệu thiết yếu hàng đầu để chế tạo vũ khí, khôi phục kinh tế và phát triển đất nước, Ông đã đề nghị

Trang 32

đặt nền sản xuất than và thép cuả Đức, Pháp dưới một cơ quan quyền lực chung trong một tổ chức “mở cửa” cho các nước châu Âu khác tham gia Khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ mà thực chất là sự đối đầu giữa hai phe đã tác động mạnh đến khu vực châu Âu Tình hình thế giới hết sức căng thẳng, nguy cơ một cuộc khủng hoảng mới đang đến gần Tháng 9/1950 tại Hội đồng NATO, Mỹ chính thức gợi ý vấn đề tái vũ trang Tây Đức, ngay sau đó Chính phủ Mỹ đã cụ thể ý định này bằng kế hoạch Spofford bộc lộ rõ ràng ý đồ tái vũ trang Tây Đức dưới sự kiểm soát của NATO Trong tình hình đó, ngày 20/10/1950 Thủ tướng Pháp Paleven đã đưa bản kế hoạch đề xuất thành lập Cộng đồng phòng thủ châu

Âu (EDC) Mục đích của kế hoạch này là thành lập quân đội châu Âu, các nước thành viên gửi lực lượng quân đội tham gia để ngăn chặn sự trỗi dậy của Đức Tuy nhiên, giới cầm quyền Pháp lúc này không thấy được Đức đã quá mạnh và vượt khỏi tầm kiểm soát của Tây Âu Do đó, sự ra đời của EDC cuối cùng cũng chỉ là một “kế hoạch trên giấy” Những đề xuất thành lập EDC có cơ cấu tổ chức như “một nhà nước liên bang” hay là một liên minh chính trị đã bị Quốc hội Pháp phản đối mạnh mẽ và đã thất bại

Như vậy, với mong muốn đảm bảo an ninh, chính trị cho châu lục, việc đưa ra đề nghị đặt than và thép, dưới sự kiểm soát chung và việc đề xuất thiết lập một liên minh quân sự châu Âu đối phó với Đức mang một hàm ý chính trị sâu xa đã thể hiện và thúc đẩy hơn bao giờ hết nhu cầu châu Âu phải có một cơ chế an ninh, một tiếng nói chính trị chung cho cả khu vực để tăng cường khả năng giải quyết xung đột và duy trì ổn định khu vực, thúc đẩy sự phát triển

Thứ tư: Thực tiễn lịch sử cho thấy, do những yêu cầu chủ quan và khách

quan mà tình hình kinh tế, chính trị đặt ra cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu hướng quốc tế hoá, trong nửa sau thập kỷ 40 của thế

kỷ XX, các nước châu Âu đã có những bước đi cụ thể về liên kết khu vực trong các lĩnh vực kinh tế, thuế quan, tiền tệ và cả về quốc phòng, chính trị Trong đó,

sự ra đời của Hội đồng châu Âu là bước đi đầu tiên trên con đường thống nhất

về mặt chính trị Cụ thể: Năm 1948, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp ông Ceorges Bidault cùng người kế nhiệm là Robert Schuman đề nghị triệu tập một cuộc họp

để thương lượng, đàm phán nhằm hình thành một Quốc hội châu Âu bao gồm

Trang 33

đại diện nghị viện của các nước Đề nghị này lúc đầu đã vấp phải rào cản là sự bất hợp tác của Anh nhưng đến tháng 5/1949 Hội đồng châu Âu cũng được thành lập gồm 2 cơ quan: Một là, Hội đồng Bộ trưởng với các phiên họp tách riêng; Hai là, Nghị viện châu Âu rất hạn chế, chương trình nghị sự do Hội đồng

Bộ trưởng ấn định

Quy chế Hội đồng châu Âu nhanh chóng được các nước thành viên ký

kết, trong đó điều một của quy chế ghi rõ: “Đoàn kết hơn nữa giữa các quốc gia

thành viên nhằm bảo vệ di sản văn hoá chung cũng như thực tiễn những tiến bộ

về kinh tế xã hội, tăng cường thảo luận các vấn đề cùng quan tâm và thoả thuận hoạt động chung giữa các nước thành viên trong hội đồng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hoá, khoa học, pháp luật, quản lý và trong việc duy trì, bảo vệ quyền con người quyền cơ bản” [78;13]

Hội đồng châu Âu ra đời đã trở thành diễn đàn để các quốc gia thảo luận mọi vấn đề liên quan đến lợi ích chung Nhưng mục tiêu nhằm đạt được sự nhất trí sâu rộng hơn giữa các nước thành viên, giữ gìn và thực hiện những ý tưởng, nguyên tắc để thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế xã hội bị hạn chế Việc điều hoà các mối quan hệ chằng chéo ở Tây Âu cũng như trong quan hệ quốc tế vẫn là vấn đề còn để ngỏ, Hội đồng chủ yếu mới tập trung vào vấn đề nhân quyền

1.2.2 Sự ra đời các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu

Trên cơ sở tuyên bố của Rober Suman, sau gần một năm đàm phán Ngày 18/5/1951 Hiệp ước Pari được ký kết với sự tham gia của 6 nước: Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp, Lucxembuog, Italia, đánh dấu sự ra đời của ECSC

Mặc dù mục đích của sự liên kết, liên minh giữa các nước châu Âu được nêu lên trong Hiệp ước là nhằm xây dựng một liên minh chặt chẽ về kinh tế mà chưa đề cập nhiều hoặc đề cập một cách gián tiếp mục tiêu chính trị nhưng chúng ta dễ dàng nhận thấy các nước thành viên muốn thông qua liên kết kinh tế

để tiến tới sự thống nhất trong lĩnh vực chính trị Ngay trong ECSC, những người sáng lập ra tổ chức này đã muốn sáng tạo ra một mô hình cai trị hiệu quả,

có khả năng thực hiện được các quy định ở tầm khu vực

Mô hình này bao gồm bốn thể chế quyền lực cơ bản là: Cơ quan tối cao, Hội đồng Bộ trưởng các nước thành viên, Quốc hội châu Âu và Toà án châu Âu

Trang 34

* Uỷ ban cấp cao: (High Authority)

Là cơ quan siêu quốc gia, có quyền lực cao nhất của Cộng đồng, được thành lập nhằm đưa ra những quyết định có tính chất bắt buộc đối với các nước thành viên để mọi mục tiêu mà cộng đồng đề ra phải được thực hiện thông qua những quy định rõ ràng cụ thể

Bên cạnh đó, Uỷ ban cấp cao cũng có quyền đặt ra các hình phạt đối với những chủ thể không tuân thủ theo những quyết định của mình

Ủy ban cấp cao có chức năng kiểm soát việc sản xuất, phân phối Than và Thép của châu Âu Tuy nhiên, Hiệp ước ECSC cũng quy định rõ Uỷ ban cấp cao

có quyền ban hành quyết định của mình trong các lĩnh vực như: Cấm các khoản trợ giá, quyết định cho phép các thoả thuận giữa các quốc gia thành viên, đề cao nghiên cứu khoa học và kiểm soát giá cả trong những điều kiện nhất định

* Hội đồng Bộ trưởng: (Council of Minsters)

Hội đồng Bộ trưởng ra đời xuất phát từ việc các nước Bỉ, Hà Lan, Lucxembuorg cho rằng, với những chức năng và quyền hạn của mình, Uỷ ban cấp cao có quá nhiều quyền lực và như vậy Cộng đồng sớm hay muộn sẽ bị chi phối bởi liên minh Pháp - Đức Do đó, cần phải có thể chế khác để các quốc gia thành viên có thể điều chỉnh chính sách Đây cũng là lý do mà Hội đồng được thành lập với sự tham gia của đại diện tất cả các nước thành viên bao gồm Bộ trưởng của chính phủ các nước này

Điều 26 của Hiệp ước ECSC ghi rõ: “Hội đồng sẽ thực hiện quyền lợi của

mình theo đúng quy định trong Hiệp ước và đặc biệt có nhiệm vụ điều hoà hoạt động giữa Uỷ ban cấp cao và các cơ quan tương ứng chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế giữa các nước thành viên” [78;18]

Mặc dù hiệp ước ECSC cũng quy định Hội đồng Bộ trưởng có quyền ra quyết định tuỳ thuộc vào từng vấn đề (như có những vấn đề đòi hỏi phải có sự nhất trí, tán thành của tất cả các nước thành viên, cũng có vấn đề cần sự nhất trí của 2/3 hoặc chỉ quá bán) Nhưng Hội đồng hầu như không phát huy được vai trò của mình Các quyết định đưa ra chủ yếu dựa trên cơ chế đồng thuận nên hoạt động rất yếu kém

* Quốc hội chung: (Commn Assembly)

Trang 35

Quốc hội chung ra đời là một phần trong bản kế hoạch ban đầu của Jean Monet bởi theo ông, nếu thiếu vắng một thể chế theo kiểu dân chủ thì cộng đồng mới này khó có thể được công chúng chấp nhận Vì vậy, Quốc hội chung ra đời

có vai trò làm tăng tính chất dân chủ trong cơ chế ra quết định của ECSC, đặc biệt nhằm kiểm soát hoạt động của Uỷ ban cấp cao Tuy nhiên, Quốc hội chung lại không trở thành một đối trọng của cơ quan quyền lực tối cao Trên thực tế trong các phiên đàm phán đầu tiên của Cộng đồng, ý kiến của thể chế này ít giành được sự chú ý của cộng đồng Hơn nữa, quyền giám sát đối với các thể chế khác cũng rất khiêm tốn, mờ nhạt, chỉ có chức năng tham vấn các quyết định của Hội đồng Bộ trưởng

Quốc hội chung có quyền phê chuẩn các thành viên của Uỷ ban cấp cao nhưng không có thẩm quyền lập pháp trực tiếp mà chỉ có thể phê duyệt chương trình hoạt động thường niên do Uỷ ban cấp cao đệ trình với đa số phiếu tuyệt đối của 2/3 số phiếu của nghị sỹ Quốc hội chung

* Toà án châu Âu: (European Court of Justice)

Toà án châu Âu là cơ quan được hình thành nhằm phán xét những tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn giữa các nước thành viên trong liên minh cũng như giữa các thể chế của liên minh với nhau và giữa các thể chế của liên minh với từng quốc gia thành viên Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu vai trò đảm bảo việc tuân thủ luật pháp của cộng đồng chưa được phát huy vì quyền hạn của Toà án chưa nhiều, các hoạt động giám sát cũng như mối quan hệ với các thể chế khác còn hạn chế

Khi Hiệp ước Rome có hiệu lực năm 1958, Cộng đồng EEC và EURATOM có chung Quốc hội và Toà án với ECSC, mỗi cộng đồng có một Hội đồng và Uỷ ban riêng Đến tháng 4/1965 tại Brusells, sáu thành viên ECSC

đã ký Hiệp ước hợp nhất các cơ quan điều hành của CESE, EEC, EURATOM

và được gọi chung là Cộng đồng châu Âu, cho đến khi Hiệp ước Maastricht được ký kết ngày 7/2/1991 đã bổ sung, sửa đổi văn bản pháp lý của cả ba cộng đồng CESE, EEC, EURATOM và đã chính thức gắn chúng trong một tổng thể liên kết duy nhất, đồng thời bổ sung thêm những nội dung liên kết mới Tổng thể

Trang 36

gắn bó hơn bao giờ hết trong tên gọi “Liên minh châu Âu” Hiệp ước Masstricht

đã xây dựng mô hình tổ chức EU hoàn toàn mới dựa trên ba trụ cột:

Trụ cột thứ nhất: Cộng đồng châu Âu (EC)

Trụ cột thư hai: Chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP)

Trụ cột thứ ba: Hợp tác trong lĩnh vực tư pháp và nội vụ (JHA)

Để thực hiện mục tiêu thành lập liên minh kinh tế, tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đơn vị tiền tệ chung và một Ngân hàng Trung ương độc lập Đồng thời, mở rộng tiến trình liên kết châu Âu sang lĩnh vực chính sách đối ngoại và an ninh, tức là xây dựng một liên minh chính trị và đẩy mạnh hợp tác giữa các nước thành viên trong lĩnh vực pháp lý và công việc nội bộ, EU tạo ra những thể chế chính trị, cơ quan siêu quốc gia hoạt động theo nguyên tắc công khai, thực thi nhiệm vụ trong phạm vi, lĩnh vực hoạt động bao gồm: Uỷ ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Hội đồng Bộ trưởng châu Âu, Nghị viên châu Âu, Toà án châu Âu

** Uỷ ban châu Âu

Tháng 3/1957, Hiệp ước Rome được ký kết đã chính thức đổi tên Uỷ ban cấp cao thành Uỷ ban châu Âu Theo đó, mỗi cộng đồng ECSC, EEC và EURATOM đều có Uỷ ban châu Âu riêng Để cơ quan này hoạt động có hiệu quả, Hiệp ước Rome cũng đã có những điều chỉnh mới Uỷ ban châu Âu là cơ quan có quyền điều hành và phát triển thị trường chung, có quyền chỉ hướng chính sách cơ bản cho Cộng đồng Uỷ ban là trung tâm đưa ra những quyết định

và chịu trách nhiệm nhất định đối với việc thực hiện chính sách Tuy nhiên, quyền lực của Uỷ ban trong việc đưa ra những quyết định áp đặt đối với các nước thành viên đã giảm sút hơn nhiều so với Uỷ ban cấp cao

Năm 1965 Uỷ ban của cả 3 cộng đồng được sáp nhập làm một, có trụ sở tại Brussells (Bỉ) và hoạt động độc lập với các nước thành viên

Năm 1991, với Hiệp ước Masstricht ra đời đã khẳng định, Uỷ ban châu

Âu là thể chế đại diện cho lợi ích chung của EU, được coi là bộ máy lập chính sách và giám sát việc thực hiện chính sách khi nó được thông qua; Là cơ quan

đề xướng các quyết định của Liên minh Nghĩa là, Hội đồng chỉ có thể ra quyết

Trang 37

định trên cơ sở đã xem xét những kiến nghị do Uỷ ban soạn thảo Sau đó Uỷ ban

sẽ tiến hành thực hiện chính sách do mình đề ra

Trên con đường thực hiện chính sách đối ngoại và an ninh chung, Hiệp

ước Masstricht khẳng định: “Các nước thành viên sẽ cố gắng cùng nhau xây

dựng và thực hiện một chính sách đối ngoại chung cho châu Âu” và những quy

định khung trong Hiệp ước được xác định với những thuật ngữ chung chung

“Nhằm bảo vệ những giá trị chung, lợi ích cơ bản và sự độc lập của Liên minh”

và “… nhằm phát triển và củng cố nền dân chủ và nhà nước pháp quyền, đề cao

quyền con người và những quyền tự do cơ bản” [27; 30]

Hiệp ước cũng quy định Uỷ ban châu Âu có quyền xây dựng khung chính sách thực hiện trụ cột thứ hai của Liên minh: CFSP Cụ thể: Chủ tịch Uỷ ban sẽ được Hội đồng châu Âu đề cử bằng phương thức bỏ phiếu theo đa số (QMV) và như trước đây, sự đề cử này phải được phê chuẩn của Nghị viện Hội đồng sẽ thông qua một danh sách thành viên của Uỷ ban theo QMV và cũng như trước đây, danh sách phải được Chủ tịch Uỷ ban đồng ý

Như vậy, Uỷ ban châu Âu của EU ra đời được trang bị vai trò quyền hạn trở thành thể chế siêu quốc gia mang tính đặc thù của EU Cùng với cơ quan khác Uỷ ban đã tạo cho EU một tiếng nói đủ mạnh trên trường quốc tế, từ đó làm nền tảng, cơ sở vững chắc để tiếp tục phát triển cùng với sự hội nhập sâu rộng của các nước thành viên vào EU, góp phần đưa EU vững bước trên những chặng đường tiếp theo

** Hội đồng Bộ trưởng

Năm 1965, các Hội đồng của 3 cộng đồng được sáp nhập thành một Hội đồng duy nhất với tên gọi Hội đồng Bộ trưởng của Cộng đồng châu Âu (EC) Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan có quyền lập pháp tối cao của Cộng đồng, thông qua những đề nghị của Uỷ ban các Cộng đồng, đưa ra các chỉ thị quy tắc và quyết định có hiệu lực bắt buộc đối với các nước thành viên Chủ tịch Hội đồng

Bộ trưởng có vai trò rất quan trọng, có quyền triệu tập Hội đồng Bộ trưởng do sáng kiến của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hay Uỷ ban châu Âu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thường chủ trì các cuộc thảo luận và cho tiến hành bỏ phiếu, ký kết các biên bản của Hội đồng Bộ trưởng

Trang 38

Lúc đầu, vấn đề bỏ phiếu cũng hết sức phức tạp Do vậy, trong thoả hiệp Lucxembuog năm 1966 đã quy định quyền lợi có tính sống còn của một hay nhiều thành viên bị đe doạ, thì Hội đồng phải đưa ra được giải pháp mà các nước thành viên có thể chấp nhận trên cơ sở tôn trọng lợi ích lẫn nhau trong một thời gian nào đó

Kể từ khi Liên minh châu Âu hình thành, trong Hội đồng Bộ trưởng nguyên tắc đa số phiếu xác định được áp dụng hầu hết với các quy định trong các Hiệp ước liên minh Bỏ phiếu theo nguyên tác đồng thuận chỉ áp dụng đối với những vấn đề có tính chất cực kỳ quan trọng như sửa đổi hiệp ước, sự tham gia của các thành viên mới…

Bên cạnh đó, Hiệp ước EU đã mở rộng thẩm quyền cho Nghị viện và cơ quan này trở thành thể chế đồng lập pháp với Hội đồng Bộ trưởng trong những vấn đề chính sách mà thủ tục này được áp dụng Tuy nhiên, Hội đồng vẫn đại diện cho các nước thành viên sẽ ban hành pháp luật của EU (chỉ thị, quy định và quyết định) Hội đồng Bộ trưởng châu Âu vẫn là cơ quan có quyền lập pháp tối cao của EU cho dù chức năng này phải chia xẻ với Nghị viện châu Âu Hội đồng

và Nghị viện cũng đều có nhiệm vụ kiểm soát ngân sách của EU

Có thể nói, Hiệp ước Masstricht đã đem đến cho Hội đồng Bộ trưởng châu Âu của EU những yếu tố hết sức quan trọng để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho cơ quan này trở thành cơ quan lập pháp tối cao trong EU

** Hội đồng Châu Âu:

Hội đồng Châu Âu là cơ quan không chính thức, nhưng đặc biệt quan trọng trong hệ thống thể chế chính trị của Liên minh châu Âu

Mặc dù trong Hiệp ước thành lập các Cộng đồng châu Âu không có những điều khoản quy định về cuộc họp gồm các nguyên thủ các quốc gia thành viên Song trên thực tế trong thập niên 60 và nửa đầu thập niên 70 thế kỷ XX, nhiều cuộc họp cấp cao giữa các nước thành viên đã được tổ chức như cuộc họp tại Bon năm 1961, tại Rome năm 1967, tại La Hay năm 1969, tại Pari năm 1972, v v Năm 1974 tại Hội nghị thượng đỉnh Pari, các nhà lãnh đạo cao nhất các nước thành viên đã quyết định thể chế hoá các cuộc gặp gỡ cấp cao này bằng việc thành lập Hội đồng châu Âu

Trang 39

Hội đồng châu Âu ra đời là xuất phát từ lý do cho rằng, Cộng đồng châu

Âu không thể đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng các khó khăn thách thức đang ngày một tăng, trong khi đó Uỷ ban châu Âu đã bị yếu bởi vì việc ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận Cả hai cơ quan này đều không thể hiện vai trò lãnh đạo cần thiết Do vậy, từ 1975 Hội đồng châu Âu ra đời và trở thành thể chế cần thiết để những người đứng đầu các chính phủ ngồi cùng nhau trao đổi, bàn bạc và định ra những hướng lớn cho Cộng đồng

Hội đồng có chức năng đưa ra những thông báo chính trị về những thoả thuận giữa các nhà lãnh đạo quốc gia thành viên song không được thể chế hoá một cách chính thức vào khuôn khổ của Cộng đồng Do đó, phải đến năm 1983 với tuyên bố Stuttgart vai trò của Hội đồng mới được làm rõ, năm 1987 Hội đồng châu Âu được chính thức hoá trong Đạo luật châu Âu đơn nhất

Khi Hiệp ước Masstricht được ký kết EU ra đời đã mở rộng Hiệp ước Đạo luật châu Âu đơn nhất, khẳng định Hội đồng châu Âu có trách nhiệm định hướng phát triển chung của EU Đồng thời, Hội đồng cũng được giao một số trách nhiệm cụ thể và quyền ra quyết định liên quan tới liên minh kinh tế - tiền

tệ châu Âu, đặc biệt Hiệp ước Masstricht đã tăng cường quyền lực Hội đồng châu Âu trong cột trụ chính sách đối ngoại và an ninh chung Cụ thể là, Hội đồng châu Âu sẽ đưa ra quan điểm chung trên nguyên tắc đồng thuận và các quốc gia thành viên phải đảm bảo chính sách của mình phù hợp những quan điểm chung đó Hội đồng cũng phải quyết định những vấn đề nào hành động chung trên cơ sở những hướng dẫn chung và khi đưa ra những hành động chung thì Hội đồng cũng có quyền đưa ra các biện pháp thực hiện cụ thể thông qua phương thức bỏ phiếu theo đa số

Từ khi ra đời, Hội đồng châu Âu họp mỗi năm từ 2 đến 3 lần, bao gồm các vị nguyên thủ quốc gia, chính phủ các nước và ông Chủ tịch Hội đồng châu

Âu Các quyết định của Hội đồng thường là những định hướng chính trị cho hoạt động của Cộng đồng

Từ những phân tích trên chúng ta thấy rằng, sự hình thành Hội đồng châu

Âu là một quá trình kéo dài và với Hiệp ước Liên minh Châu Âu, cơ quan này

Trang 40

được “Hợp hiến hoá” thành một cơ chế quyền lực làm cho hoạt động của Liên minh châu Âu trở nên hiệu quả hơn, cả trong đối nội và đối ngoại

** Nghị viện Châu Âu: (EP)

Ra đời từ tổ chức tiền thân là Quốc hội chung được hình thành theo Hiệp ước ECSC Khi những nỗ lực mở rộng ECSC thành Cộng đồng chính trị châu

Âu và Cộng đồng phòng thủ châu Âu thất bại, khiến các thành viên trong Cộng đồng phải tiếp tục kiếm tìm những đề án liên kết mới và đi sâu vào liên kết kinh

tế Kết quả là Hiệp ước EEC và EURATOM ra đời Với hai Hiệp ước này, các nhà lãnh đạo châu Âu đã quyết định giải tán Quốc hội chung và thay thế bằng cơ quan Nghị viện duy nhất cho cả 3 cộng đồng Vì vậy Nghị viện được thành lập

Ngoài vai trò tư vấn của Quốc hội chung, EP đã có một số quyền lực giám sát nhất định Ban đầu thành viên của nó được dự định do Nghị viện của các nước thành viên uỷ quyền nhưng sau một loạt thoả thuận, các bên đã nhất trí

rằng các Nghị sỹ nghị viện sẽ được bầu “bằng chế độ đầu phiếu phổ thông với

một thủ tục bầu cử thống nhất trong mọi quốc gia thành viên” [76; 22]

Tuy nhiên, dù cơ quan này dùng tên Nghị viện, song trong các văn bản chính thức vẫn phải dùng tên ban đầu là Quốc hội chung Cho đến 3/1962, một nghị quyết chính thức đã được thông qua để đổi tên Quốc hội chung thành Nghị viện châu Âu Dù nghị quyết được các thành viên thông qua với đa số phiếu nhưng các thể chế khác của Cộng đồng lại không để tâm đến việc này Gần 25 năm sau, Hội đồng Bộ trưởng mới chính thức thừa nhận việc đổi tên này của Nghị viện thông qua Đạo luật châu Âu đơn nhất Đạo luật đã chính thức thừa nhận tên của Nghị viện Đồng thời, giao thêm cho Nghị viện một số quyền mới trong một số lĩnh vực chung, thể hiện ở hai “thủ tục mới” tán thành và hợp tác trong việc thông qua các quyết định

Từ 1979, Nghị viện đã được chính những công dân châu Âu trực tiếp bầu

cử với nhiệm kỳ 5 năm Nghị viện họp mỗi tháng một phiên toàn thể tại Strabourg và các cuộc họp toàn thể phụ ở Bruxelles

Năm 1990, Hội nghị thượng đỉnh Dublin đã quyết định chuyển Cộng đồng từ một chủ thể yếu dựa trên liên kết kinh tế và hợp tác chính trị, sang một Liên minh mang bản sắc chính trị, có chính sách đối ngoại và an ninh chung

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w