BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á APEC Asia Pacific Economic ASEM Asia - Euro Meeting Diễn đàn hợp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
======***======
BÙI THỊ HUYỀN
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU
ÂU (EU) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ
XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
VINH – 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
======***======
BÙI THỊ HUYỀN
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU
ÂU (EU) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ
Trang 3lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa sau Đại học, ban chủ nhiệm và các thầy, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học Vinh Đặc biệt tôi
xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đinh Công Tuấn - Tổng
biên tập Tạp chí nghiên cứu châu Âu, người thầy đã tận tình giúp đỡ và cho
em những lời khuyên, chỉ giáo quý báu trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong suốt quá trình làm luận tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ về mặt
tư liệu của thư viện trường Đại học Vinh, thư viện trường Đại học quốc gia
Hà Nội, Thư viện quốc gia, Viện nghiên cứu châu Âu, trung tâm Thông tấn xã Việt Nam
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, người thân và các đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin kính chúc quý thầy cô giáo, bạn bè và gia đình lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt!
Vinh, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Bùi Thị Huyền
Trang 4BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết
tắt
Tiếng Anh Tiếng Việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á APEC Asia Pacific Economic
ASEM Asia - Euro Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu
ARF Asean Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
EC European Community Cộng đồng châu Âu
EEC European Ecolomic
Community
Cộng đồng kinh tế châu Âu
EU European Union Liên minh châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp của nước ngoài FTA Free Trade Association Hiệp hội thương mại tự do GSP Generalized System of
Preferenceses
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
MNF Most Favored Nation
Treatment
Đãi ngộ tối huệ quốc
ODA Official Development Aid Viện trợ phát triển chính thức PCA Parnership and Cooperation
Agreement
Hiệp định Đối tác - Hợp tác
TREATI Trans Regional Eu -
ASEAN Trade Initiatives
Sáng kiến thương mại xuyên khu vực EU - ASEAN
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5Bảng 9 Kim ngạch Xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chính
của Việt Nam sang EU
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phơng pháp nghiên cứu 5
5 Nguồn tài liệu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chơng 1: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN CHÂU ÂU (EU) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI 8
1.1 Nhân tố quốc tế và khu vực đầu thế kỷ XXI 8
1.1.1 Bối cảnh quốc tế 8
1.1.2 Bối cảnh khu vực Á - Âu 10
1.2 Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu và các nớc thành viên đối với châu Á, khu vực ĐôngNam Á và Việt Nam 12
1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với EU 21
1.4 Nhân tố lịch sử: Quan hệ Việt Nam Liên minh châu Âu (EU) trớc năm 2000……… 26
1.4.1 Quan hệ Việt Nam - EU trớc năm 1990 26
1.4.2 Quan hệ Việt Nam - EU từ 1990 đến năm 2000………29
Chơng 2: QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 35
2.1 Quan hệ chính trị 35
2.2 Quan hệ kinh tế ……… 48
2.2.1 Quan hệ thơng mại 48
Trang 72.2.2 Quan hệ đầu tư 72
2.2.3 Viện trợ phát triển 79
2.3 Các quan hệ khác (văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế )82
2.3.1 Quan hệ trên lĩnh vực văn hóa……… 82
2.3.2 Quan hệ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ 85
2.3.3 Quan hệ trên lĩnh vực y tế 91
Chương 3: ĐÁNH GIÁ, TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TRONG TƯƠNG LAI 95
3.1 Đánh giá 95
3.1.1 Những thành tựu 95
3.1.2 Những hạn chế 97
3.2 Thực trạng và Triển vọng quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) trong tương lai 99
3.2.1 Thực trạng 99
3.2.2 Triển vọng 104
3.3 Những giải pháp phát triển quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) trong tương lai 107
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, lịch sử nhân loại đã lật sang một trang sử mới, trong đó xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển được coi là một quy luật tất yếu khách quan mà bất kỳ dân tộc nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tuân theo Cùng với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của lực lượng sản xuất, nền kinh tế thị trường trên thế giới đã không ngừng phát triển và hoàn thiện, xu thế Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng, đặc biệt là sự tăng cường liên kết mạnh mẽ, sâu sắc của các tổ chức quốc tế và khu vực, đã thúc đẩy không ngừng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt giữa các quốc gia trên thế giới trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị,
an ninh, văn hóa, xã hội,
Hòa mình vào dòng chảy đó, cùng với sự kế thừa và phát triển những mối quan hệ lâu đời trong lịch sử, trải qua nhiều bước đi thăng trầm và thử thách, quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) đã ngày càng được củng
cố và phát triển Đặc biệt, trong bối cảnh hợp tác Á - Âu ngày càng được tăng cường cả về bề rộng lẫn chiều sâu, thì quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - EU sẽ càng có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển hơn nữa
Hiện nay, Liên minh châu Âu (EU) với 27 nước thành viên là một tổ chức liên kết khu vực được đánh giá là thành công nhất trên thế giới Cùng với Mỹ và Nhật Bản, Liên minh châu Âu là một trong những trung tâm kinh
tế, chính trị lớn nhất trên thế giới Được xem là một cực mạnh trong trật tự thế giới đa cực và có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế, với vị thế chính trị, tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật và an ninh quân sự ngày càng hùng mạnh Chính vì thế, việc thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác với Liên minh châu Âu (EU) đang ngày càng mở ra triển vọng hợp tác tốt đẹp cho Việt Nam trên con đường phát triển của mình
Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với cộng đồng châu Âu (EC) vào ngày 22/10/1990 và hai bên đã ký kết hiệp định khung vào ngày
Trang 917/7/1995 Kể từ đó đến nay, hai bên Việt Nam - Liên minh châu Âu đã không ngừng vun đắp cho mối tình hữu nghị hợp tác ngày càng thêm tươi đẹp
Ngày 14/6/2005, thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký quyết định
về: “Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu và chương trình hành động của Chính phủ về phát triển quan hệ Việt Nam - Liên minh châu
Âu đến năm 2010 và định hướng năm 2015”, nhằm đưa mối quan hệ này lên
tầm cao mới: Quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu dài giữa Việt Nam và EU Với đề án tổng thể và chương trình hành động này một lần nữa khẳng định mối quan hệ bền chặt giữa Việt Nam và EU trong tương lai
Trong tầm nhìn của EU, Việt Nam là một thị trường lớn đầy hấp dẫn và giàu tiềm năng: dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, và đang chuyển mình trong quá trình hội nhập Hơn thế, Việt Nam còn là đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có vị trí chiến lược rất quan trọng trong khu vực Đông Nam Á… Như vậy đối với EU, Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung là thị trường đầu tư, một địa chỉ hợp tác đáng tin cậy và đầy hứa hẹn Điều đó, càng tạo thêm niềm tin cho nhân dân Việt Nam trong quá trình thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) ngày càng thêm bền chặt
Năm 2010 là năm kỷ niệm tròn 20 năm Việt Nam và EU chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, và 15 năm ký kết hiệp định khung Hai bên đã trải qua
9 vòng đàm phán để tiến tới ký kết hiệp định: Đối tác - Hợp tác (PCA) trong thời gian sắp tới Và ngày 04/10/2010, tại Brucxen (Bỉ) Việt Nam - EU đã ký tắt hiệp định Đối tác - Hợp tác mới (PCA), mở ra một triển vọng hợp tác toàn diện trong tương lai
Như vậy, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa Việt Nam - EU đang ngày càng được củng cố và phát triển, nó có một vai trò rất lớn đối với sự phát triển của đất nước ta Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm (1995); Diễn đàn hợp tác Á- ÂU (ASEM); Diễn đàn hợp tác
Trang 10kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC năm 1998); Tổ chức thương mại thế giới WTO (2006) Vì thế, đây chính là những cơ sở và điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam - EU ngày càng phát triển Nhằm
tiến tới xây dựng mối quan hệ hai bên “thành một hình mẫu về hợp tác giữa một trung tâm phát triển và một đất nước đang phát triển” [97], vì vậy đây là
vấn đề vừa có tính thời sự, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Do
đó, chúng tôi đã chọn đề tài: “Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU)
trong thập niên đầu thế kỷ XXI” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Việt Nam - EU là một trong những nội dung quan trọng trong tổng thể quan hệ giữa Việt Nam với các nước, tổ chức trong khu vực, cũng như trên thế giới Từ nửa cuối những năm 70 đến trước năm 1990, quan hệ Việt Nam với EU mang tính chất quan hệ nhỏ lẻ không chính thức Vì vậy những bài viết, tài liệu nghiên cứu còn rất ít Từ năm 1990, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với EU và ký kết hiệp định khung 1995 Kể từ đó các bài viết, các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - EU đã dần tăng lên một cách nhanh chóng
Nghiên cứu về sự ra đời, phát triển của Liên minh châu Âu (EU) và quan hệ Việt Nam - EU đã có các công trình khoa học đáng chú ý sau:
Trong cuốn “Liên minh châu Âu” (nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà
Nội xuất bản 1995), tác giả Đào Huy Ngọc đã đề cập đến lịch sử hình thành
và phát triển, các thể chế của EU, các kế hoạch tổng quát và chính sách cộng đồng của EU, quan hệ giữa EU với thế giới và Việt Nam
Cuốn “Hợp tác kinh tế và thương mại với EU” (Ban biên tập Trung tâm
Thông tin thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước xuất bản năm 1995), nội dung chủ yếu là nghiên cứu về quá trình phát triển và hoạt động của EU nói chung, tổng quan về kinh tế mỗi nước thành viên nói riêng và các chính sách chung của cộng đồng
Trang 11Trong luận án tiến sĩ với đề tài “Quá trình hình thành và phát triển quan hệ Việt Nam - EU”, (năm 1999) tác giả Trần Thị Kim Dung đã đề cập khá chi
tiết về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu
qua các giai đoạn lịch sử Đặc biệt cuốn “Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu” (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2001), tác giả đã trình bày
một cách rõ nét các mối quan hệ về chính trị, kinh tế - thương mại - đầu tư, văn hóa, giáo dục giữa Việt Nam và EU từ năm 1968 đến năm 2000
Trong cuốn “Thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư giữa Liên hiệp châu
Âu và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” (NxB Khoa học Xã hội Hà
Nội năm 2001), tác giả Bùi Huy Khoát đã đưa ra những nhận định cụ thể về triển vọng trong quan hệ thương mại - đầu tư giữa Việt Nam với EU trong tương lai
Đặc biệt luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử của Đỗ thị Hà (Vinh, năm
2007), với đề tài: “ Quan hệ hợp tác, thương mại đầu tư giữa Việt Nam - Liên minh châu Âu (1995-2006)”, tác giả đã trình bày khá chi tiết về quan hệ hợp
tác, thương mại đầu tư giữa Việt Nam - EU từ năm 1995-2006
“Đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu đến năm 2010 và định hướng 2015” (Ban hành kèm theo quyết định số 143/2005/QĐ-TTg ngày
14/06/2005), của Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu lên những nét cơ bản về các chính sách lớn của EU và vị thế của EU trên trường quốc tế, từ đó đề ra các chủ trương và giải pháp cho quan hệ Việt Nam - EU trong tương lai
Đặc biệt đề tài khoa học cấp Nhà nước (KX.01.04/06-10) về “Chương trình hội thảo quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Liên minh châu Âu: Thực trạng và triển vọng” của Viện nghiên cứu châu Âu, (Hà Nội 2008) với các
báo cáo tiêu biểu như: PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn-Viện trưởng Viện
nghiên cứu châu Âu với đề tài “Tổng quan quan hệ kinh tế Việt Nam - EU từ
1995 đến nay”; “Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam - EU năm 2007 và triển vọng 2008” của PGS.TS Đinh Công Tuấn và Đinh Công Hoàng; “Sơ
Trang 12lược nội dung chiến lược hợp tác phát triển của EU cho Việt Nam giai đoạn 2007-2013” của Hồ Thanh Hương …
Hơn nữa, phải kể đến các bài viết và các công trình nghiên cứu in trong Tạp chí nghiên cứu Châu Âu của Viện nghiên cứu châu Âu, với các tác giả tiêu biểu như: Bùi Huy Khoát, Nguyễn Quang Thuấn, Đinh Công Tuấn, Nguyễn An Hà, Mai Hoài Anh, Nguyễn Thị Như Hà…
Ngoài ra, trên một số website cũng như các trang tin của Thông tấn xã,
có nhiều bài viết tiêu biểu như: “Việt Nam - EU đối tác chiến lược mới” của Phương Hải; “Việt Nam - EU tiến tới đàm phán hiệp định PCA - thúc đẩy khuôn khổ hợp tác mới” của Thùy Trang; “EU đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam” của Thuận Ánh…
Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua một số công trình mang tính tập hợp, những tư liệu với các quy mô lớn, nhỏ, khác nhau Tuy các công trình đó không trực diện phân tích hay đặt trọng tâm nghiên cứu về vấn đề mà luận văn này đặt ra Nhưng đó là nguồn tư liệu gợi mở, quý báu, hữu ích để chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) trong thập niên đầu thế kỷ XXI
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là tìm hiểu và nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - EU trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục
- đào tạo, khoa học công nghệ , y tế trong thập niên đầu thế kỷ XXI trong sự tác động của tình hình thế giới và khu vực Từ đó rút ra được những nhận xét, đánh giá, triển vọng và giải pháp của mối quan hệ này trong tương lai
Về phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - EU trong thập niên đầu thế XXI, cụ thể từ năm 2000 đến 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu vấn đề, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng, và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trang 13Đây là đề tài khoa học xã hội thuộc lĩnh vực lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic được đặc biệt coi trọng Quá trình nghiên cứu tác giả đã dựa trên cơ sở các tư liệu, số liệu, các sự kiện lịch sử để phân tích,
xử lý và đi đến hệ thống hóa và khái quát hóa vấn đề
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp, thống kê…, để nâng cao hiệu quả vấn đề được nghiên cứu
5 Nguồn tài liệu
- Gồm các văn kiện, nghị quyết, báo cáo, của Đảng và Chính phủ, một số văn bản hiệp định được ký kết giữa Việt Nam và EU
- Các bài viết chuyên khảo có liên quan, một số luận văn, công trình nghiên cứu , và các báo cáo khoa học về quan hệ Việt Nam - EU
- Các bài viết được in trên Tạp chí nghiên cứu châu Âu, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, các bản tin của Trung tâm Thông tấn xã Việt Nam
- Tài liệu trên mạng Internet
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ các nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) trong thập niên đầu thế kỷ XXI
- Luận văn đi sâu phân tích quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế giữa Việt Nam - Liên minh châu Âu
từ năm 2000-2010
- Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam - EU, qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá cũng như triển vọng và những giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác Việt Nam - EU lên một tầm cao mới trong tương lai
- Nội dung bản luận văn, các tài liệu tham khảo, phụ lục là những tư liệu tham khảo cần thiết cho giới nghiên cứu và cho công tác giảng dạy, học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng
Trang 147 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Các nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Liên minh
châu Âu (EU) trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2010
Chương 3: Đánh giá, triển vọng và những giải pháp thúc đẩy quan hệ
Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) trong tương lai
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1 Nhân tố quốc tế và khu vực đầu thế kỷ XXI
1.1.1 Bối cảnh quốc tế
Bước vào thế kỷ XXI, hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo của thế giới Thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, các quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế trên tất cả các mặt, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội , không những thế, các dân tộc vẫn nâng cao ý thức độc lập tự chủ, đấu tranh chống lại sự áp đặt của nước ngoài, của các lực lượng thù địch vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trước tình hình đó, các nước lớn đã có sự điều chỉnh chính sách, giảm cam kết về quân sự ở bên ngoài, dàn xếp với nhau về các vấn đề ở khu vực bằng phương pháp hòa bình Nếu như trước đây chiến tranh là giải pháp hữu hiệu cho các cuộc xung đột giữa các quốc gia, các cường quốc có thể áp đặt ý chí của mình bằng vũ lực với các quốc gia nhỏ, yếu hơn thì trong thời kỳ phát triển mới hiện nay thực tế đó đã thay đổi Các quốc gia đã ngày càng nhận
thức được rằng: “hòa bình, ổn định, hợp tác, đối thoại là con đường tốt nhất
để giải quyết các xung đột và bất đồng giữa các quốc gia” [42;14]
Cùng với những thay đổi về chính trị, kinh tế, cuộc cách mạng Khoa học
- Công nghệ và nền kinh tế tri thức đã và đang phát triển sâu rộng với quy mô chưa từng có trong lịch sử Những thành tựu phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới là tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức đang trở thành xu hướng tất yếu của nền kinh tế hậu công nghiệp, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế chung của toàn thế giới Ngoài ra,
Trang 16sự phát triển của công nghệ thông tin đã góp phần tạo lập những mạng lưới gắn kết các mô hình kinh tế, các tổ chức xí nghiệp để tạo nên một không gian thông tin kết nối với nhau, từ đó xóa nhòa những giới hạn về “không gian” và
“thời gian”, “rút ngắn khoảng cách” trong các hoạt động kinh tế và hợp tác quốc tế
Như vậy, cuộc Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển với tốc
độ nhanh chóng ở trình độ kỹ thuật cao, nổi bật là công nghệ thông tin đã mang lại những biến đổi ngày càng sâu sắc và mạnh mẽ trong toàn bộ đời sống của nhân loại Trong quá trình phát triển của mình, các nước đều rất coi trọng phát triển công nghệ thông tin, viễn thông nhất là Internet Các nước đều xác định đây
là chìa khóa để “giải mã” bài toán phát triển nền kinh tế tri thức trong tương lai thịnh vượng Như vậy, khoa học công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của quy trình sản xuất ra của cải cho xã hội Nếu trước kia sự phát triển của xã hội chủ yếu dựa vào những gì có sẵn ở thiên nhiên, thì ở giai đoạn này sự phát triển của xã hội chủ yếu dựa vào yếu tố tri thức, ở trình độ phát triển cao của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Để vươn lên tự khẳng định mình, không bị tụt hậu và cô lập, các nước buộc phải tiến hành “cải tổ”, “cải cách”,
“đổi mới” và không ngừng mở rộng giao lưu, hợp tác với bên ngoài cho phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại
Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa và khu vực hoá cũng đang diễn ra ngày một mạnh mẽ chưa từng thấy với những biểu hiện của xu thế tăng cường hợp tác giữa các quốc gia và khu vực trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Kinh tế ngày càng đóng vai trò quyết định trong việc xác định
vị thế, sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế Hiện nay, hầu hết các nước đều chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều nước trở thành thành viên mới của các tổ chức tài chính và thương mại thế giới như:
WB, IMF, WTO, APEC, AFTA Do vậy, quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của sự phát triển kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho các nước có những bước nhảy vọt trong sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội
Trang 17theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Đồng thời gắn kết các nước lại với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết, tạo cơ hội cho quá trình hội nhập và phát triển Nhưng mặt khác nó cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối với tất cả các nước, nhất là các nước chậm và đang phát triển Đó là nguy cơ tụt hậu và cuộc cạnh tranh gay gắt về kinh tế , đồng thời nhiều vấn đề mang tính cấp bách toàn cầu như chênh lệch giàu nghèo, khan hiếm nguồn năng lượng, bệnh dịch, thiên tai đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải có sự phối hợp chung Vì thế
xu hướng hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia trên thế giới Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh quốc gia Các nước đều cùng hướng tới mục tiêu chung
“tăng cường hiểu biết, mở rộng nhận thức chung, phát triển hợp tác, cùng tạo
ra tương lai” [22;11]
1.1.2 Bối cảnh khu vực Á - Âu
Cùng với sự biến động của cục diện thế giới đã tác động mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và đặc biệt là khu vực Á - Âu Điều đó được thể hiện trong những cuộc tiếp xúc chính trị cấp cao giữa các nhà lãnh đạo hai bên trong khuôn khổ ASEAN - EU, tại các cuộc gặp ASEM III ở Seoul(Hàn Quốc) vào tháng 10/2000, ASEM IV ở Copennhaghen (Đan Mạch) vào tháng 09/2002, ASEM V ở Hà Nội vào tháng 10/2004, ASEM VI ở Henxinki (Phần Lan) vào tháng 09/2006, ASEM VII vào năm 2008, và đặc biệt là từ ngày 04-05/10/2010 Hội nghị cấp cao Á - Âu lần thứ tám (ASEM VIII) được tổ chức tại Brucxen (Bỉ) đã thành công thắng lợi và qua đó ngày càng xiết chặt hơn mối quan hệ hợp tác giữa hai khu vực Á - Âu nói chung và trong khuôn khổ ASEAN - EU nói riêng Đối với khu vực châu Âu thì ngày càng biến động mạnh, bên cạnh những thành công bước đầu trong việc “nhất thể hóa”, châu
Âu cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ bởi nguy cơ khủng bố, sự bất đồng quan điểm giữa các nước thành viên và hàng loạt vấn
đề xã hội nảy sinh khác
Trang 18Ở châu Á, thời đại châu Á bắt đầu, nền kinh tế châu Á, mà trước hết là Đông Á và Đông Nam Á bùng phát với các hiện tượng thần kỳ và sự trỗi dậy của các nền kinh tế như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapo, Thái Lan , châu Á nổi lên là khu vực kinh tế phát triển năng động nhất, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới Mặt khác, từ đây các nước châu Á không còn lệ thuộc hoàn toàn về vốn và công nghệ vào các nước phương Tây như trước nữa, buôn bán nội khối cũng phát triển mạnh , tình hình chính trị khu vực châu Á cũng tương đối ổn định, các tổ chức hợp tác khu vực ngày càng hoạt động hiệu quả, yếu tố đó khiến cho các nước lớn đều cân nhắc, tính toán để khai thác lợi ích khu vực này Vì đây là một khu vực được đánh giá giàu tài nguyên thiên, có vị trí chiến lược quan trọng, nguồn lao động dồi dào Mỹ tìm cách củng cố vị trí của mình tại đây, ngay cả Liên bang Nga trong tư cách kế thừa Liên Xô cũng tìm cách quay trở lại với việc tích cực tham gia Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) Còn Tổng thống B Clintơn thì cho rằng: “không khu vực nào trên thế giới quan trọng với Mỹ bằng châu Á Khu vực châu Á - Thái Bình Dương
có thể và tất sẽ tạo ra việc làm, thu nhập và ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng chính trị và tăng trưởng kinh tế của Mỹ” [23;45]
Nhìn lại sự phát triển quan hệ Âu - Mỹ với “Chương trình nghị sự mới xuyên Đại Tây Dương” và chứng kiến quan hệ Á - Mỹ đang trên đà phát triển Các nhà lãnh đạo EU đã thấy rõ sự mất cân đối của tam giác quan hệ Âu
- Mỹ - Á, họ thấy cần phải làm sống động lại quan hệ Âu - Á, nhanh chóng xác định một chỗ đứng cho mình trong khu vực này để không bị đứng ngoài
cuộc Chính vì thế mà Thủ tướng Đức H Kol đã cho rằng: “Châu Á có thể trở thành châu lục quan trọng nhất trong thế kỷ XXI, bởi vậy một chính sách châu Á đầy sức sống sẽ phù hợp với lợi ích chính trị và kinh tế cơ bản của chúng ta Chính phủ bảo đảm sẽ có sự ủng hộ mạnh mẽ cho giới kinh tế tiến quân vào châu Á” [1,68] Còn Tổng thống Pháp J Chirac cũng tuyên bố: “Từ nay Pháp
Trang 19phải lấy lại vị thế của mình trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa đến chính trị ở châu Á” [1,68]
Như vậy, vào những năm đầu thế kỷ XXI tình hình quốc tế và khu vực
có nhiều thay đổi theo hướng tích cực đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước tăng cường hợp tác, phát triển để chủ động hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Việt Nam và EU cũng nằm trong trào lưu phát triển chung đó, việc phát triển mối quan hệ Việt Nam - EU ngày càng trở nên cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với EU và Việt Nam, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển chung của khu vực và thế giới Mặt khác, với sự phát triển năng động của khu vực Đông Nam Á đã tạo ra một vị thế mới cho khu vực, thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các trung tâm lớn để giành ưu thế trong bàn cờ quốc tế Điều đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ Việt Nam - EU phát triển, nhất là trong giai đoạn hiện nay để tạo ra một cán cân đối trọng với tiềm lực kinh tế của Mỹ và Nhật Bản,
EU cần đến sự hợp tác với các nước châu Á, khu vực Đông Nam Á nói chung
và đặc biệt là Việt Nam
1.2 Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu và các nước thành viên đối với châu Á, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam
Liên minh châu Âu (EU) là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của thế giới Khu vực này đã từng là cái nôi của các cuộc cách mạng công nghiệp then chốt trong lịch sử loài người, một trong những cội nguồn của nền văn minh thế giới Hơn thế, Liên minh châu Âu là một tổ chức liên kết khu vực và nhất thể hóa được đánh giá ở trình độ cao và thành công nhất hiện nay Cùng với những cường quốc lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung quốc, Liên minh châu Âu là một cực mạnh trong trật tự thế giới đa cực đó và có vai trò to lớn trong quan hệ quốc tế đương đại, với vị thế chính trị, tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự ngày càng hùng mạnh Quá trình liên kết hội nhập Liên minh châu Âu được thực hiện trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trải qua nhiều thăng trầm và biến động bắt đầu từ 6
Trang 20nước thành viên với sự ra đời của Cộng đồng Than-Thép châu Âu năm (1951), rồi lên 15 thành viên vào năm (1995) Ngày 1/5/2004 làn sóng gia nhập EU lớn nhất trong lịch sử với 10 nước tham gia đã nâng tổng số thành viên EU lên 25 nước Và đến tháng 3/2007 EU tiếp tục mở rộng và nâng tổng
số thành viên lên 27 quốc gia Đó là những thành công mà Liên minh châu Âu
đã đạt được trong quá trình mở rộng và phát triển của mình và ngày càng thể hiện rõ vai trò và vị thế của mình trong khu vực cũng như trên thế giới, hướng
tới mục tiêu “châu Âu không biên giới” [1;68], nhằm xây dựng một ngôi nhà
chung châu Âu ngày càng vững mạnh và phát triển
Trong suốt thập niên 90, do những tác động của tình hình thế giới, Liên minh châu Âu (EU) luôn phải đối diện với những vấn đề nan giải trong nội bộ
cả về kinh tế, chính trị và xã hội Điều này đã khiến cho vai trò và vị trí của
EU với tư cách là một trong ba trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển phần nào
bị hạn chế so với Mỹ và Nhật Bản Với mục tiêu lấy lại hình ảnh của châu Âu trong những thập kỷ trước, các quốc gia của EU đang nỗ lực thúc đẩy nhiều
biện pháp nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng, “tạo đà tăng tốc cho con tàu EU trong hành trình tiến vào thiên niên kỷ mới - thế kỷ XXI” [56;11]
Như chúng ta đã biết hai châu lục Á - Âu đã có quan hệ gắn bó từ xa xưa trong lịch sử kể từ khi các nhà buôn phương tây tìm đường sang Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản , tiêu thụ hàng hóa, mua vàng bạc, hàng xa xỉ Thời
kỳ lịch sử cận đại tiếp theo là thời kỳ lịch sử châu Á bị các nước châu Âu xâm chiếm làm thuộc địa Nhưng nếu bỏ qua những dấu ấn thực dân thì có thể thấy ảnh hưởng của châu Âu được ghi nhận khá rõ trong đời sống xã hội châu Á, chẳng hạn như văn hóa, ngôn ngữ, thiết chế nhà nước Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa ở châu Á, quan hệ Á -
Âu bắt đầu trở nên xa cách và mờ nhạt Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, EC chủ yếu quan tâm đến vấn đề an ninh châu Âu và hợp tác nội khối Sau một thời gian coi nhẹ tiềm năng phát triển của châu Á, vào giữa những năm 90 vừa qua và đặc biệt trong thập niên đầu thế kỷ XXI, EU nhận thấy sự cần thiết
Trang 21phải thay đổi chính sách của họ đối với châu lục này, do châu Á ở thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh không còn là châu Á nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế và thụ động về chính trị như trong những thập niên trước nữa Trước một châu Á đang thay đổi nhanh chóng như vậy, các nước lớn đều tiến hành điều chỉnh chính sách của họ đối với khu vực này Thực tế đó khiến EU nhận ra rằng nếu
tiếp tục chính sách “lẩn tránh châu Á” [38;89], EU sẽ tự đánh mất những cơ
hội, những lợi ích mà một châu Á đang vươn lên mạnh mẽ có thể đưa lại cho
họ Nhằm duy trì ảnh hưởng và quyền lợi của châu Âu ở châu Á, ngày 13/7/1994 Ủy ban châu Âu đã trình lên hội đồng châu Âu một văn kiện quan
trọng nhan đề: “Hướng tới một chiến lược châu Á mới” Mục đích của chiến
lược này là nhằm tăng cường sự có mặt về kinh tế và chính trị của EU ở châu
Á để duy trì vai trò lãnh đạo của Liên minh trong nền kinh tế thế giới Trong chiến lược châu Á mới của EU, vị trí của ASEAN trở nên rất quan trọng, ASEAN được EU xem là bàn đạp để đi vào vùng châu Á - Thái Bình Dương năng động về kinh tế trong thế kỷ XXI
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng quan hệ Á - Âu chỉ thực sự thay đổi sau sự nổi lên của “các con rồng” châu Á Vào những năm đầu của thế kỷ XXI nền kinh tế châu Á, trước hết là Đông Á và Đông Nam Á bùng phát với các hiện tượng “thần kỳ” của các con rồng châu Á Trước sự phát triển đầy ấn
tượng đó EU nhận ra rằng không thể “bỏ lỡ chuyến tàu châu Á” [23;20]
Chính vì thế mà các nhà lãnh đạo EU đã đề ra một chiến lược mới đối với châu Á, không ngừng điều chỉnh quan hệ với các khu vực Nam Á, Đông Bắc
Trang 22nói chung và khu vực nói riêng, tháng 9/2001 EU lại công bố văn bản mới:
“châu Âu và châu Á: Một khuôn khổ chiến lược quan hệ đối tác đã được gia tăng”, [2;76-78] Do đó EU cần phải chú trọng tăng cường hơn nữa sự phát
triển quan hệ hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đối với châu Á
Chiến lược châu Á mới của EU đã đề ra những mục tiêu cụ thể để thúc đẩy mối quan hệ EU - châu Á trong những năm đầu thế kỷ XXI, những mục tiêu đó được nhấn mạnh ở 6 điểm trọng yếu nhất đó là:
Thứ nhất: Tăng cường sự cam kết của Cộng đồng châu Âu đối với châu
Á về mặt chính trị và an ninh, cho phép EU đóng vai trò tích cực hơn trong các cơ cấu khu vực, xúc tiến việc ngăn chặn xung đột bằng cách chia sẻ những kinh nghiệm chung và bằng cách tăng cường đối thoại EU - châu Á về vấn đề tư pháp và vấn đề nội bộ, một lĩnh vực bao gồm cả quyền tị nạn, di cư
và buôn bán vũ khí
Thứ hai: Phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai bên Việc tăng
cường buôn bán và đầu tư sẽ được đẩy mạnh nhờ những thuận lợi do việc dễ tiếp cận với thị trường và các điều kiện đầu tư tốt hơn đối với cả hai bên, trong đó có việc đạt được sự nhất trí của châu Á về một vòng đàm phán thương mại mới
Thứ ba: Đóng góp một cách hiệu quả vào việc giảm bớt đói nghèo ở toàn
châu Á bằng nhiều hình thức như đưa các chương trình hợp tác của châu Âu tới các lĩnh vực như giáo dục, y tế, quản lý kinh tế - xã hội hoặc gắn kết giữa chống đói nghèo và bảo vệ môi trường Việc tăng cường các cuộc đối thoại về các vấn đề chính sách xã hội cũng được đề nghị tăng cường nhằm trao đổi kinh nghiệm về cách thức tốt nhất để đương đầu với những thách thức của toàn cầu hóa và hiện đại hóa
Thứ tư: Xúc tiến vai trò xã hội dân sự và đối thoại giữa châu Âu và châu
Á qua việc EU giúp phát triển các thể chế ở các nước châu Á nhằm khuyến khích dân chủ, xã hội dân sự và quản lý theo luật pháp
Trang 23Thứ năm: Thiết lập những liên minh với các đối tác châu Á chủ yếu trên
các diễn đàn đa phương, giải quyết những vấn đề có tính quan trọng toàn cầu, chẳng hạn như cải cách Liên hợp quốc, WTO, vấn đề môi trường, mặt trái của toàn cầu hóa và hàng loạt những tệ nạn khác như tội phạm quốc tế, chủ nghĩa khủng bố và sự lan tràn của bệnh AIDS
Thứ sáu: Nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa châu Âu và châu Á, tăng
cường vị thế và vai trò của EU ở châu Á chủ yếu bằng việc lập ra các văn phòng đại diện mới hoặc cơ quan đại diện thương mại ở một số nước và khuyến khích các cuộc trao đổi ở cấp đại học, trao đổi văn hóa, khoa học, cũng như các cuộc tiếp xúc giữa các xã hội dân sự ở hai khu vực [2;76-78]
Đề cập đến chiến lược mới này, ông Chris Patten cao ủy phụ trách đối
ngoại của EU đã nhấn mạnh: “Ủy ban châu Âu sẽ làm hết sức mình để tăng cường các đối tác khu vực và toàn cầu hóa với châu Á” và ông kêu gọi các nước thành viên EU cũng như các nước đối tác của họ ở trong khu vực “hãy bắt đầu suy nghĩ làm thế nào để đạt được những mục tiêu chung của chúng ta” Theo nhận định của các nhà nghiên cứu chiến lược mới này nhấn mạnh
quan hệ với Trung Quốc sẽ là nhân tố then chốt đối với hòa bình và an ninh trong bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XXI Ngoài ra EU cũng đặc biệt chú ý đến
Ấn Độ - một trong những nền dân chủ lớn nhất thế giới, và Nhật Bản nước có tiềm lực kinh tế và chính trị hàng đầu ở châu Á Còn đối với Việt Nam, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Italia ông Massimo D’Alema cho rằng:
“Việt Nam là một nhân tố mới đang nổi lên tại khu vực Đông Nam Á, đồng thời cũng là một trong những đối tác quan trọng nhất của EU trong khu vực” [81;1]; hay “Việt Nam xứng đáng là một trong những đối tác quan trọng nhất trong khu vực và là một đối tác mang tầm vóc thế giới mà chúng tôi mong muốn cùng giải quyết các thách thức toàn cầu, trên nhiều diễn đàn quốc tế đối với các vấn đề như hòa bình và an ninh, thay đổi khí hậu và phát triển”
[81;1] Đó là lời khẳng định của ông Jose Manuel Barroso chủ tịch Ủy ban châu Âu trong chuyến thăm Việt Nam cuối tháng 11/2007
Trang 24Mặt khác, đối với khu vực Đông Nam Á, EU cũng rất coi trọng việc tăng cường quan hệ với khu vực này Coi đây là ưu tiên then chốt của EU trong những năm đầu của thế kỷ XXI Điều này thể hiện ở chỗ: EU tăng cường gia tăng đối thoại toàn diện với ASEAN và đề cao các quan hệ song phương với các đối tác ASEAN chủ chốt Trên cơ sở đó ngày 9/7/2003, Ủy ban châu Âu
đã ban hành văn bản “Đối tác chiến lược mới với các nước Đông Nam Á”
[23;23] Nhằm tăng cường hợp tác mạnh mẽ hơn giữa hai bên, các nhà lãnh đạo EU cho rằng: châu Âu và Đông Nam Á có thể chia sẻ các lợi ích và những giá trị để có thể xác lập quan hệ đối tác mới, làm sống động sự hợp tác hai chiều, phù hợp với những ý tưởng chiến lược đã xây dựng và xác định các mục tiêu chủ chốt trong quan hệ với châu Á Chiến lược đối với Đông Nan Á như là sự thể hiện cái chung trong cái riêng với những mục tiêu, chính sách và biện pháp xác thực nhất Trong văn bản này, Ủy ban châu Âu đã đưa ra những lĩnh vực ưu tiên hợp tác với ASEAN như sau:
Thứ nhất: Ủng hộ sự ổn định khu vực và chống lại chủ nghĩa khủng bố Thứ hai: Thấm nhuần các vấn đề nhân quyền, dân chủ và quản trị tốt
trong mọi khía cạnh của đối thoại và hợp tác Đây là một trong những vấn đề được EU ưu tiên trong chính sách phát triển và chúng ta sẽ được EU đưa ra bàn thảo trong các cuộc đối thoại song phương, khu vực hay trong chính sách khu vực
Thứ ba: Xây dựng và tăng cường quan hệ thương mại đầu tư mới Trong
chính sách này với Đông Nam Á, EU khẳng định hợp tác chặt chẽ với nhau hơn nữa, song phương cũng như đa phương Hai bên cùng nhau hợp tác trong việc chia sẻ lợi ích, phát triển hệ thống thương mại đa phương trong khuôn khổ vòng đàm phán thương mại Doha của WTO Đồng thời, Ủy ban châu Âu
đưa ra kế hoạch hành động thương mại giữa hai khối “sáng kiến thương mại xuyên khu vực EU - ASEAN”, (gọi là TREATI) Thực hiện TREATI sẽ mở
rộng vòng thương mại và đầu tư, đồng thời thiết lập một cơ chế có hiệu quả trong việc đối thoại và tạo điều kiện cho thương mại phát triển, thâm nhập thị
Trang 25trường của nhau TREATI sẽ cho ra một khung pháp lí rõ ràng trong quan hệ thương mại hai bên, đồng thời sẽ mở đường cho việc hình thành khu vực mậu dịch tự do thương mại trong tương lai
Thứ tư: Tiếp tục trợ giúp các nước nghèo trong khu vực
Thứ năm: Tăng cường đối thoại và hợp tác trong các lĩnh vực cụ thể Đây
là một nội dung quan trọng để đẩy mạnh trở lại quan hệ của EU với Đông Nam Á.[23;23-24]
Có thể nói, chiến lược châu Á mới, kể cả chiến lược được điều chỉnh và chiến lược Đông Nam Á riêng biệt là dấu hiệu khẳng định ý đồ chiến lược EU muốn trở lại một khu vực từng gắn bó với mình trong lịch sử với một thế hệ
mới Trong tiến trình xây dựng một châu Âu “mạnh hơn và mở rộng hơn”, phía EU muốn khẳng định xu hướng trở thành “siêu quốc gia”, tạo một cực có
vị thế ngang ngửa với Mỹ Do đó, chiến lược châu Á theo đuổi mục tiêu gia tăng sự hiện diện về kinh tế và chính trị của EU với tư cách là một chỉnh thể chứ không phải đơn thuần là con số cộng, là đại diện của các nước thành viên riêng lẻ Chính vì thế, EU đã “đầu tư” cho sự hiện diện-sự quay trở lại này với việc luôn luôn yêu cầu sự “hiển thị” EU trong hầu hết các hoạt động của mọi
dự án mà EU tài trợ
Đặc biệt trong chiến lược mới của mình đối với châu Á, EU đã tìm thấy
ở Việt Nam những ưu thế về kinh tế và chính trị để chọn Việt Nam làm “địa bàn đầu cầu” [62;129], điểm tựa quan trọng trong chiến lược đối ngoại của
mình Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á mà EU hiểu rõ nhất, ở đó
EU dễ dàng tìm thấy được tiếng nói đồng thuận và có uy tín ủng hộ việc xây dựng mối quan hệ quốc tế hòa bình, hợp tác, bình đẳng và hai bên cùng có lợi Điều mà EU rất cần khi mong muốn có một vị trí ngày càng lớn trên thế giới
và trong xu thế hội nhập hiện nay
Việt Nam có vị trí địa lý - chính trị vô cùng thuận lợi cho giao lưu quốc
tế Việt Nam nằm ở trung tâm của tuyến đường biển huyết mạch từ Bắc Á xuống Đông Nam Á và Ấn Độ Dương, nằm trên tuyến đường giao thông hàng
Trang 26hải quốc tế từ các nước SNG, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc sang các nước Nam Á, Trung Đông, châu Phi nên Việt Nam có điều kiện để phát triển giao thông đường biển Có thể nói, lợi thế về vị trí địa lý của Việt Nam có ý nghĩa không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị Theo như nhận định của các nhà hoạch định chiến lược EU, là một nước lớn ở Đông Nam Á, Việt Nam có
vị trí hết sức quan trọng đối với hòa bình, ổn định, an ninh và phát triển của
cả khu vực, nhất là đối với ASEAN Đó là “hình ảnh tương lai của châu Á trong thế kỷ XXI, một đối tác chiến lược của EU” [1;68] Mặt khác, EU cũng
muốn tăng cường hơn nữa sự có mặt của mình tại khu vực này để củng cố quan hệ cạnh tranh ba phía Mỹ - châu Âu - Nhật Bản Ngoài ra, đến với Việt Nam, EU còn có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn với một Trung Hoa đại lục kề cận và vươn tới thị trường Nga và Đông Âu, một thị trường rộng lớn mà Việt Nam vốn thông thuộc và có một số lợi thế nhất định
Trong con mắt của các nhà đầu tư EU, Việt Nam là một thị trường đầy hấp dẫn với tiềm năng to lớn về kinh tế, tài nguyên thiên nhiên phong phú, một thị trường rộng lớn và nguồn nhân lực dồi dào Đây là một khoản lợi không dễ gì bỏ qua nhất là đối với những nhà kinh doanh chuyên nghiệp như
EU Chính vì thế mà Pháp luôn coi Việt Nam là: “địa bàn đầu cầu”; “vùng đoàn kết ưu tiên” để họ tiến vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương [33;66]
Vì vậy, việc duy trì và phát triển quan hệ Việt Nam - EU là một tất yếu khách quan vì sự ổn định và thịnh vượng chung của khu vực cũng như vì lợi ích của mỗi bên Đối với EU, thực tế trong những năm qua ngày càng giành cho Việt Nam vị trí xứng đáng hơn trong chính sách của mình qua hàng loạt những hoạt động đẩy mạnh hợp tác, hỗ trợ, ưu tiên dành cho Việt Nam trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là kinh tế Rõ ràng, vị thế của Việt Nam một thị trường tuy không lớn lắm nhưng có thể mang lại cho EU những lợi ích đặc biệt, đã và đang được nâng lên trong chính sách mới của EU đối với châu Á
Bởi Việt Nam là một nhân tố không thể thiếu để “đại quốc gia” này hoàn
thành trọn vẹn chiến lược mới đối với châu Á - Thái Bình Dương Ngược lại
Trang 27Việt Nam cũng tìm thấy ở EU một thị trường đầy tiềm năng cho sự nghiệp thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa của mình
Như vậy trong chiến lược châu Á của EU, khu vực Đông Á được xác định là trọng tâm và trong đó, EU lại coi Đông Nam Á, trước hết là Việt Nam
là “mũi đột phá” để từ đó xâm nhập sang các thị trường khác ở châu Á Việt
Nam ngày càng có vai trò quan trọng đối với EU do vị trí chiến lược của Việt Nam ở Đông Nam Á EU xác định Việt Nam là nhân tố quan trọng trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực, vị trí quan trọng của Việt Nam ở châu
Á đã được nhiều chính khách EU thể hiện cụ thể bằng các tuyên bố như: “sẽ cùng Việt Nam phát triển quan hệ toàn diện” đó là lời tuyên bố của thủ tướng
Anh J Major; còn đối với Pháp luôn coi Việt Nam là một ưu tiên trong chính
sách của Pháp đối với châu Á, coi “Việt Nam là cửa ngõ của Pháp vào châu Á” Đồng thời, ngoại trưởng Pháp ông A Juppe’ cũng tuyên bố khẳng định
lại quyết tâm của Pháp là muốn củng cố hơn nữa mối quan hệ đặc biệt giữa
hai nước Ông nói: “Nước Pháp nằm ở giữa lục địa châu Âu đang ngày càng trở nên thống nhất với Việt Nam nằm ở giữa châu Á đã được hòa giải và đang tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, hai nước chúng ta có thể cùng nhau làm nên nhiều chuyện lớn” [24;53] Còn đối với Đức, đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức, ông K C Kraemer thì phát biểu: “Trong chính sách của chính phủ Liên bang Đức, Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt và Việt Nam là nhịp cầu nối có một không hai của Đức tại châu Á” [1;68]; “Việt Nam là nước EU ưu tiên và
EU sẽ giành cho Việt Nam sự hợp tác và giúp đỡ cần thiết” Một nước Việt
Nam đổi mới thành công, ổn định về chính trị, dồi dào về tiềm năng và triển vọng phát triển đã và đang trở thành một đối tác quan trọng đối với các nước Đặc biệt là Liên minh châu Âu cùng với các thành viên của họ, đó là những
cơ sở vững chắc để thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và EU lên một tầm cao mới ngày càng phát triển và bền chặt hơn không chỉ ở hiện tại mà còn trong tương lai
1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với EU
Trang 28Trong bối cảnh chung của tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động mạnh mẽ, xuất hiện những xu thế mới và những đặc điểm mới Những
xu thế đó vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với Việt Nam trên con đường phát triển của mình
Như vậy, để thực hiện thành công công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, cũng như bảo vệ những thành quả mà chúng ta đã đạt được, thì yêu cầu đặt ra là phải đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, dần đi vào thế ổn định
và phát triển Đồng thời, phải phá bỏ thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch và thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ vào tháng 12/1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam
đã được diễn ra và thành công tốt đẹp, đã mở đầu cho công cuộc đổi mới của đất nước Đại hội đã đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ cho công cuộc đổi mới của đất nước Trong đó, công tác đối ngoại là một trong những nội dung
quan trọng nhất, với nhiệm vụ hàng đầu là “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc” và “mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [23;10]
Đặc biệt ngày 20/08/1988, Nghị quyết Trung ương 13 do bộ chính trị khóa VI
đã thông qua chiến lược đối ngoại đổi mới, đó là những chính sách, bước đi đúng đắn và kịp thời nhất tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đất nước không chỉ có ý nghĩa lịch sử to lớn trong hoàn cảnh lúc bấy giờ mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với giai đoạn hiện nay Cụ thể của đường lối đó là:
- Về đổi mới tư duy, nghị quyết đã chuyển từ coi trọng an ninh sang coi
trọng phát triển và mở rộng quan hệ quốc tế Nghị quyết khẳng định “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ quốc tế, chúng ta ngày càng có khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn”
- Mục tiêu công tác đối ngoại của nước ta là “phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”
Trang 29- Phương thức đấu tranh mới là “chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình với tất cả các đối tác chính”
- Quan điểm bạn - thù được đánh giá lại, không còn coi nước nào là “hòn
đá tảng”, “đối lập” hay “kẻ thù nữa” [23;10-11]
Có thể nói, với chính sách này của Việt Nam là phù hợp với xu thế chung của thế giới nên đã nhận được sự ủng hộ tích cực của bạn bè quốc tế Từ trong bối cảnh đó, quan hệ Việt Nam - EU đã có những chuyển biến căn bản, tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào ngày 22/10/1990, tạo ra một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác giữa hai bên Sự kiện đó đồng thời là một minh chứng sinh động cho sự thành công của đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng
và nhà nước Việt Nam, sau gần 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước Bước sang thập niên 90, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động
Sự sụp đổ của Liên Xô và Chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu đã làm thay đổi đặc điểm của tình hình thế giới Loài người bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh Đây cũng là một thời cơ đồng thời cũng là một thách thức hết sức gay gắt Trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới sau chiến tranh Lạnh, Việt Nam tiếp tục điều chỉnh, triển khai chính sách đối ngoại đổi mới đã được đề ra năm 1986 Tại Đại hội Đảng lần thứ VII (6/ 1991), đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đã có bước chuyển căn bản về định hướng Đại hội tiếp tục khẳng
định lại nhiệm vụ bao trùm của đường lối đối ngoại Việt Nam là: “giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”; Việt Nam “muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”; “coi trọng quan hệ hợp tác với các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới”; đặc biệt chú trọng “mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước Tây
Trang 30Bắc Âu” [23;15] Trong đó nhấn mạnh đến việc tận dụng vốn, công nghệ cao,
kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng và quản lý kinh tế của các nước EU
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1/1994) tiếp tục khẳng định: Việc mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị trí của Việt Nam trên thế giới, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc là một thành quả quan trọng của công cuộc đổi mới
Để phát huy những kết quả đã đạt được, hội nghị nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, hạn chế mặt bất đồng trong quan hệ với các nước Phải thấy rõ khó khăn và thách thức cũng như thuận lợi và cơ hội, theo dõi sát diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế để có chủ trương, biện pháp kịp thời và linh hoạt trước thời cuộc Tiếp đó Đại hội VIII năm (1996) và IX năm (2001), lần thứ X năm (2006) của Đảng cộng sản Việt Nam
và đặc biệt vào những năm đầu của thế kỷ XXI, do nhận thức và dự đoán được những diễn biến phức tạp và khó lường của tình hình thế giới Đảng và nhà nước ta đã chủ động đề ra những đối sách hữu hiệu nhằm đối phó một cách có hiệu quả với các thách thức từ bên ngoài Một lần nữa khẳng định tiếp tục đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa nhằm củng cố
và khai thác có hiệu quả nhân tố quốc tế - thời đại để tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước Trong chính sách đối ngoại, chúng ta nhất quán theo đuổi ưu tiên đối ngoại hàng đầu là tiếp tục củng
cố và tạo lập môi trường quốc tế, khu vực hòa bình, ổn định để tập trung phát
triển đất nước theo tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc
và phát triển” [2;79-80] Trên cơ sở đó, Việt Nam rất chú trọng đẩy mạnh quan
hệ với các nước và các trung tâm tư bản phát triển, đặc biệt là Liên minh châu
Âu (EU)
Trang 31Trong quá trình hội nhập vào cộng đồng thế giới, việc xây dựng, củng cố
và phát triển quan hệ nhiều mặt với EU có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết đối với Việt Nam Bởi vì EU là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị có ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế Xét trên quan hệ song phương,cải thiện,
mở rộng và tăng cường quan hệ với EU sẽ giúp Việt Nam khai thác được nguồn vốn, công nghệ, thị trường và phương pháp quản lý hiện đại từ EU để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, sự nghiệp công nghiệp hóa nói riêng Do vậy, Việt Nam rất chú trọng đến việc phát triển quan
hệ với EU, xem đây là một trong những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta
Đối với Việt Nam, EU là một trong những cực quan trọng trên thế giới Việt Nam muốn đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế của mình với tất cả các nước trên thế giới, thì EU là một đối tác truyền thống sẽ giúp Việt Nam cân bằng và phát triển các quan hệ của mình Ngược lại, đối với EU, Việt Nam là một đối tác quan trọng có thể gặt hái được nhiều lợi ích trong quan hệ bằng việc huy động các tiềm năng dồi dào, đặc biệt là nguồn nhân lực đông đảo của Việt Nam Có thể nói việc phát triển quan hệ với EU
đã tác động tích cực đến việc cải thiện và phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các thành viên EU và trong chừng mực nhất định
sẽ tác động tích cực đến mối quan hệ giữa Việt Nam với một số nước lớn và các tổ chức quốc tế
Sau khi trở thành thành viên của ASEAN, mối quan hệ giữa Việt Nam và
EU nói chung, giữa Việt Nam và các thành viên EU nói riêng đã được bổ sung và hỗ trợ thêm bằng mối quan hệ EU - ASEAN và trong khuôn khổ ASEM Việt Nam ngày càng có vai trò tích cực, quan trọng trong hoạt động của ASEAN, ARF, ASEM , và ngày càng khẳng định vị thế của mình trong khu vực cũng như trên thế giới Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO (2006) điều đó càng tạo thêm sức mạnh của chúng ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện tốt
Trang 32nhất để phát triển kinh tế của đất nước Như vậy để thực hiện thành công mục
tiêu tổng quát: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; Vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao” [55;70], thì chúng ta phải thực
hiện mở rộng quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ với EU nói riêng Đó là nhiệm vụ cần và không thể thiếu trên chặng đường phát triển của đất nước, và Việt Nam ngày càng giành được nhiều niềm tin và thiện cảm lớn từ các nhà lãnh đạo cũng như các nhà đầu tư EU Như lời khẳng định của ông Jacques
Delos - chủ tịch EU có nói: “Liên minh châu Âu không thể có mặt khắp nơi trên thế giới, nhưng Việt Nam là nước phải được ưu tiên Cộng đồng sẽ dành cho Việt Nam tình cảm xứng đáng, sự giúp đỡ và hợp tác cần thiết”[55;71]
Nhận biết được điều đó, Đảng và nhà nước ta ngày càng củng cố và phát triển mối quan hệ tốt đẹp này lên một tầm cao mới, khai thác có hiệu quả những lợi ích mà EU mang lại Chính vì thế hiện nay, trong chiến lược phát
triển của mình Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định “EU là đối tác chiến lược quan trọng trong hế kỷ XXI” [54;19]
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng với chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng và nhà nước nhằm có thêm bạn
bè, tạo thêm thế mạnh và tranh thủ nguồn vốn, công nghệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước là hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thế giới hiện nay Đặc biệt với việc tăng cường thiết lập quan hệ mọi mặt với EU, chúng ta ngày càng gặt hái được nhiều thành tựu rực rỡ, không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, mà còn trên các
lĩnh vực khác như: Văn hóa, giáo dục, y tế, du lịch , và “Việt Nam đang khai thác thành công những cơ hội từ EU” [57;1], góp phần đưa quan hệ hợp tác Việt
Trang 33Nam - EU lên tầm cao mới theo phương châm “quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu dài và tin cậy, vì hòa bình và phát triển” [28;1]
1.4 Nhân tố lịch sử : Quan hệ Việt Nam Liên minh châu Âu (EU) trước năm 2000
1.4.1 Quan hệ Việt Nam - EU trước năm 1990
Kế thừa và phát triển những mối quan hệ truyền thống, trải qua nhiều bước đi thăng trầm và biến động của lịch sử, quan hệ giữa Việt Nam - EU đang ngày càng phát triển tốt đẹp Để thấy được quá trình hình thành, phát triển và đi lên của mối quan hệ này chúng ta có thể khái quát qua các giai đoạn phát triển như sau:
* Giai đoạn trước năm 1968
Đây là giai đoạn mà các nước thành viên EEC có thái độ khác nhau đối với Việt Nam trước cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ Có những nước giữ thái độ từ im lặng (như Italia) đến ủng hộ tích cực Mỹ (Tây Đức), hoặc tiếp tục nuôi dưỡng những tham vọng nhất định Vì thế, mức độ quan hệ của các nước thành viên này với hai miền Nam và Bắc Việt Nam rất khác nhau
Nhiều nước đã có quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn ngay từ những năm 50 như Italia, Tây Đức (1955), hoặc Pháp, mà không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Những nước EEC khác như Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxembua tuy không ở trong bối cảnh quan hệ khá đặc biệt như Pháp và Tây Đức, nhưng cho tới năm 1968 hầu như cũng vẫn giữ thái độ nghiêng về Mỹ là chính, ủng hộ Mỹ và có quan hệ chính trị, kinh tế với chính quyền Sài Gòn Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng trong thời kỳ này, các nước EEC ít nhiều đều ủng hộ chính quyền Sài Gòn về chính trị, đồng thời có viện trợ, giúp đỡ về kinh tế và kỹ thuật Các mối quan hệ với miền Bắc Việt Nam chỉ ở mức rất hạn chế hoặc hầu như không có [13;74]
* Giai đoạn từ 1968 đến 1973
Sở dĩ chọn năm 1968 làm mốc để phân chia giai đoạn vì mốc thời gian này có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước EEC là
Trang 34bởi vì từ năm 1968 trở về sau, ngày càng có nhiều nước thành viên EEC có thái độ thực tế hơn đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều hình thức cũng như hành động xích lại gần với miền Bắc Việt Nam Có ba lí
do chính sau đây:
Thứ nhất: Mỹ ngày càng xa lầy và bế tắc ở Việt Nam, nhất là từ sau cuộc
tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 Vì thế, họ quan tâm nhiều hơn đến một giải pháp chính trị để vừa ngăn chặn được thắng lợi cuối cùng của cách mạng, lại vừa có thể giúp cho chính thể Sài Gòn tiếp tục tồn tại
Thứ hai: Ở nhiều nước Bắc Âu đã dâng lên mạnh mẽ phong trào nhân
dân chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam Những thanh niên, sinh viên tham
gia phong trào này được gọi là “thế hệ 68” hay “thế hệ Việt Nam” Cũng trong
thời kỳ này, châu Âu đang bước dần vào hòa dịu, chính sách Phương Đông mới của chính phủ Đức đang dần định hình
Thứ ba: Việc triệu tập hội nghị Paris là bước đầu giải quyết vấn đề chiến
tranh Việt Nam mà ở đó khả năng quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam ngày càng
lộ rõ [13;75]
Do vậy, thái độ của đa số các nước EEC đã có sự chuyển biến nhất định đối với Việt Nam theo hướng thực tế hơn và tích cực hơn, chủ yếu là đối với mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời Còn đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì chỉ có một vài nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao như Thụy Điển (11/01/1972), Đan Mạch (25/11/1971),
Áo (11/12/1972), những nước thành viên EEC còn lại đều thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong năm1973 như: Phần Lan(01/1973), Bỉ (03/1973), Pháp (04/1973), Hà Lan (04/1973), Anh (09/1973) [13;75]
Nhìn chung trong giai đoạn này, tùy thái độ chính trị của các nước EEC
đã có chuyển biến theo hướng tích cực đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, nhưng mới là bước đầu Còn
đa số các nước này vẫn theo lối “bắt cá hai tay” và “giữ cầu quan hệ”
[13;77], đồng thời vẫn nuôi những ý đồ riêng nhất định Trong suốt thời kỳ
Trang 35này, các mối quan hệ chính trị vẫn là chính, còn quan hệ kinh tế, thương mại
và đầu tư còn hết sức hạn chế Bởi vì do hoàn cảnh chiến tranh và triển vọng cuộc chiến chưa rõ ràng, nên khó có thể thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế to lớn và lâu dài
* Giai đoạn từ khi ký hiệp định Paris đến thời điểm Việt Nam thống nhất đất nước (1973- 1975)
Hiệp định Paris về Việt Nam được ký ngày(27/01/1973), được coi là một dấu mốc cực kỳ quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước EC, vì
từ thời điểm này hầu hết các nước EC đã có nhận thức khác về tình hình Việt Nam Khi Mỹ buộc phải rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam thì vấn đề
sẽ chỉ còn là công việc nội bộ giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam Do vậy thái độ của các nước EC đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày càng thực
tế và tích cực hơn Một số nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như Italia và Hà Lan (03/1973), Pháp (đồng thời
cả chính quyền Sài Gòn tháng 04/1973) Song chính sách chung của các nước này vẫn là duy trì cân bằng quan hệ ngoại giao với cả hai miền [13;77]
* Giai đoạn từ 1975 đến 1990
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, uy tín của Việt Nam đã được nâng cao trên trường quốc tế Chính bởi hoàn cảnh thuận lợi này đã khiến cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước thành viên EC được cải thiện ngày càng tích cực Trong giai đoạn từ 1975-1978, viện trợ kinh tế của EC giành cho Việt Nam là 109 triệu USD, trong đó viện trợ trực tiếp là 68 triệu USD [13;80] Đối với những nước có thiện cảm và quan hệ tốt với Việt Nam thì họ càng ủng hộ Việt Nam nữa về mọi mặt, còn những nước vốn có quan hệ thù địch với Việt Nam thì đã tỏ ra có thái độ tích cực hơn, thân thiện hơn
Bước sang thập kỷ 80, đặc biệt từ sau năm 1984, tình hình chung thế giới cũng như khu vực Đông Nam Á đã có nhiều thay đổi Đó là sự hòa dịu trước việc bình thường hóa quan hệ Liên Xô - Mỹ, vốn có quan hệ căng thẳng từ
Trang 36chiến tranh Lạnh, rồi việc ba cường quốc Liên Xô-Mỹ-Trung Quốc cải thiện quan hệ với nhau, tiến tới chấm dứt cuộc chiến tranh Lạnh kéo dài mấy chục năm Điều này đã tạo cơ hội mới cho sự phát triển quan hệ quốc tế trên phạm
vi toàn cầu nói chung, ở khu vực Đông Nam Á nói riêng Cũng từ cuối năm
1984, quan hệ Việt Nam - EC đã được cải thiện, EC đã bắt đầu nối lại viện trợ cho Việt Nam Từ năm 1986, Đại hội Đảng cộng sản việt Nam lần thứ VI đã
đề ra chính sách đổi mới, chuyển hướng nền kinh tế nước ta từ kế hoạch tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường và thực hiện chính sách kinh tế mở
cửa Trong đó, quan hệ kinh tế với các nước được xác định là “chuyển quan
hệ kinh tế đối ngoại theo hướng nền kinh tế mở, đa phương hóa quan hệ và đa dạng hóa hình thức” [13;90] Đây là bước ngoặt lớn của Việt Nam trong sự
phát triển kinh tế cả về đối nội cũng như đối ngoại Năm 1987, Việt Nam ban hành luật đầu tư nước ngoài, tạo nên những điều kiện và tiền đề quan trọng cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước nói chung và EC nói riêng Đặc biệt
từ năm 1990, Việt Nam thực hiện chính sách đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, thêm vào đó là vấn đề Campuchia đã được giải quyết ổn thỏa (Việt Nam rút quân khỏi Campuchia 08/1989) đã tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam nối lại quan hệ hợp tác kinh tế với các nước mặc dù rất hạn chế do bị
Mỹ thực hiện chính sách bao vây cấm vận
1.4.2 Quan hệ Việt Nam - EU từ 1990 đến năm 2000
* Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (22/10/1990) đến năm 1995
Đối với Việt Nam đến đầu những năm 1990, tình hình trong nước vô cùng khó khăn Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng trong công cuộc đổi mới, song Việt Nam chưa hoàn toàn thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn
bị Mỹ thực hiện chính sách cấm vận, bao vây về kinh tế, đồng thời chưa có được quan hệ hoàn toàn bình thường với các nước Hơn nữa, do Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu tan rã, chỗ dựa vững chắc về chính trị và kinh tế
Trang 37trước đây nay không còn nữa, thị trường truyền thống của Việt Nam bất ngờ
bị thu hẹp, nguồn viện trợ cũng không còn Trong tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đã đề ra chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, nhằm có thêm bạn bè tranh thủ thêm nguồn vốn, công nghệ cho sự
phát triển kinh tế của nước ta Đại hội VII tuyên bố: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển”; đồng thời “chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”[2;79-80]
Do thấy rõ tiềm năng phát triển của Việt Nam, một số nước thành viên của EU đứng đầu là Pháp, Đức, Italia, Bỉ đã đẩy mạnh quan hệ với nước ta Các nước này là những nước đầu tiên cử nhiều đoàn cấp cao tới thăm và nối lại viện trợ cho Việt Nam
Bằng những nỗ lực của cả hai phía, ngày22/10/1990 Hội nghị ngoại trưởng của 12 nước thành viên EU đã quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam ở cấp đại sứ Chính việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa cả khối EU như một siêu quốc gia với Việt Nam, đã đánh dấu một bước chuyển biến mới quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam - EU và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động nằm trong chính sách chung của EU đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương Việt Nam được coi là thị trường có nhiều tiềm năng to lớn vì vậy EU đã dành cho Việt Nam một vị trí xứng đáng trong chính sách của họ
Trong quan hệ với Việt Nam, nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của các nước
Tây Bắc Âu vẫn tự hào, họ đã từng là những người thuộc “thế hệ Việt Nam”,
từng xuống đường tham gia biểu tình chống chiến tranh Việt Nam Ngày 12/06/1992, Nghị viện châu Âu đã thông qua nghị quyết tăng cường quan hệ giữa EU và 3 nước Đông Dương, trong đó yêu cầu Ủy ban châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng EU đề ra những biện pháp cụ thể đẩy mạnh quan hệ mọi mặt với Việt Nam Chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp Mitterand tháng
Trang 3802/1993 - nguyên thủ quốc gia phương tây đầu tiên tới việt Nam, đã đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ Pháp với Việt Nam nói chung Tiếp đó là hàng loạt các chuyến thăm của quan chức cấp cao các nước EU tới nước ta, đó là chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Áo Th Klestin, Thủ tướng Thụy Điển Carl Bild, Thủ tướng Hà Lan W.Kok, Công chúa Anh, Hoàng tử kế vị Bỉ Ngoài
ra EU còn mở nhiều lớp bồi dưỡng cho cán bộ Việt Nam, tổ chức nhiều cuộc hội thảo nhằm tăng cường hơn nữa sự trao đổi thông tin về châu Âu [23;29-30]
Về phía Việt Nam, nhiều vị lãnh đạo cấp cao nước ta đã đi thăm chính thức một số nước thành viên EU Chủ tịch Lê Đức Anh đã dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng chủ nghĩa phát xít, được tổ chức tại Paris và thăm nước Cộng hòa Pháp (1995), thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm một loạt nước thành viên EU như: Pháp, Đức, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển Đây là những chuyến thăm chính thức của các vị đứng đầu chính phủ Việt Nam tới các nước EU Quan hệ hợp tác và trao đổi về phía quốc hội giữa hai bên Việt Nam và
EU cũng được phát triển và mở rộng, nhiều đoàn quốc hội của các nước thành viên EU đã đến thăm Việt Nam và ngược lại Đáng chú ý nhất là chuyến đi của Chủ tịch quốc hội Nông Đức Mạnh sang thăm các nước Pháp, Đức, Thụy Điển, Anh, Bỉ và Nghị viện châu Âu trong năm 1995 Đặc biệt là những cuộc
đi thăm và tiếp xúc cao cấp của các ngành Lập pháp giữa hai bên đã tạo ra những cơ sở chính trị quan trọng, thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ hợp tác đa dạng trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và EU
Nhìn chung đối với từng nước thành viên EU, quan hệ hợp tác viện trợ cho Việt Nam không ngừng phát triển Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Pháp F Mitterand vào tháng 02/1993, Pháp đã quyết định tăng gấp đôi viện trợ năm 1993 so với năm 1992 cho Việt Nam, ngoài ra còn viện trợ hợp tác khoa học kỹ thuật, đào tạo cán bộ kinh tế Đức tăng cường viện trợ tài chính kỹ thuật cho Việt Nam, Anh rất quan tâm đến hợp tác kinh tế và giúp đỡ vật chất cho Việt Nam Bên cạnh đó, phải kể đến các khoản
Trang 39viện trợ to lớn và có hiệu quả của các nước Bắc Âu như Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch [23;29]
* Quan hệ Việt Nam - EU từ khi ký hiệp định khung (năm 1995) đến năm 2000
Năm 1995 được coi là mốc son lịch sử trong quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam và EU Sở dĩ như vậy là bởi vì năm 1995 là năm kết thúc thắng lợi kế hoạch 5 năm 1991-1995, với việc hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu do
đó nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội Trên lĩnh vực đối ngoại chúng ta đã tạo được một vị thế mới đưa đất nước hòa nhập với thế giới
và thế giới cũng đã đến với Việt Nam Với việc Mỹ tuyên bố bỏ lệnh cấm vận
và thiết lập quan hệ bình thường với Việt Nam và Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức ASEAN (28/07/1995) đã tạo nên một chuyển biến quan trọng trong quan hệ đối ngoại của nước ta Đặc biệt là đối với Liên minh châu
Âu (EU), đỉnh cao của sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam và EU được đánh dấu bằng sự kiện trọng đại diễn ra vào ngày 17/07/1995 tại Brussels (Bỉ), với
sự có mặt của 15 vị Bộ trưởng Bộ ngoại giao của các nước thành viên EU và các quan chức cao cấp của Ủy ban châu Âu, trong đó có Ông J Santer là Chủ tịch Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã thay mặt chính phủ Việt Nam cùng Ông Javier Solana - Bộ trưởng ngoại giao Tây Ban Nha - chủ tịch đương nhiệm Hội đồng bộ trưởng châu Âu và Ông Manuel Marin, Phó chủ
tịch Ủy ban châu Âu - thay mặt Liên minh châu Âu, đã ký chính thức “Hiệp định hợp tác giữa CHXHCN Việt Nam và cộng đồng châu Âu” Hiệp định này
được gọi là “Hiệp định khung” vốn đã được hai bên đàm phán từ cuối năm
1993 và ký tắt vào ngày 31/05/1995 [13;126]
Bản hiệp định khung Việt Nam - EU bao gồm phần mở đầu và 21 điều khoản, 3 phụ lục đính kèm, bản hiệp định hoan nghênh sự cải thiện quan hệ hợp tác và thương mại kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao Nội dung bản hiệp định bao gồm nhiều lĩnh vực về thương mại, về đầu tư, về quyền sở hữu trí tuệ, hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ, hợp tác phát triển, ngoài ra trong hiệp định còn có các nội dung hợp tác về thông tin, về truyền thông [13;126- 130]
Trang 40Kể từ khi Hiệp định khung được ký kết, EU đã tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ với Việt Nam lên một tầm cao mới Thành quả đó được thể hiện trong những cuộc tiếp xúc chính trị cấp cao giữa các nhà lãnh đạo hai bên, trong khuôn khổ ASEAN - EU, đặc biệt tại cuộc gặp ASEM I ở Băng Cốc (03/1996) và ASEM II ở Luân Đôn (04/1998) Một sự kiện đáng nhớ là vào tháng 01/1996 văn phòng đại diện thường trực của Ủy ban châu Âu tại Việt
Nam đã đi vào hoạt động và lần đầu tiên “ngày châu Âu”- ngày 09/05 hàng
năm đã được long trọng tổ chức tại Việt Nam Nhân dịp này hai bên đã ký thỏa thuận hợp tác cho giai đoạn (1996-2000), trước tiên là chương trình hoạt động cho năm (1996-1998) Ngoài ra hai bên còn ký nhiều nghị định thư về các dự án giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực y tế, quản lý, hợp tác đầu tư Đồng thời các mối quan hệ của EU cũng đã không ngừng được củng cố và phát triển, nhiều vấn đề song phương được giải quyết ổn thỏa [13;132]
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, kể từ khi kí kết hiệp định khung đã
mở ra những triển vọng mới trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU trên
cả ba phương diện trong khuôn khổ ASEAN - EU, Việt Nam - EU và Việt Nam với từng thành viên EU Điều đó là hoàn toàn phù hợp với đường lối đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, tạo những tiền đề và nền tảng vững chắc cho chặng đường phát triển tiếp theo của nước ta trong thế kỷ mới
* Tiểu kết chương I
Thế kỷ XX đã khép lại cùng với những biến động dữ dội và phức tạp của
xã hội loài người, cùng với những thăng trầm và biến thiên của lịch sử Bước vào thế kỷ XXI, lịch sử nhân loại đã bước sang một trang mới, hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thế giới Thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, các nước vừa đấu tranh, vừa hợp tác cùng tồn tại hòa bình
Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng Khoa học kỹ thuật
đã đem đến cho nhân loại những sự thay đổi kỳ diệu cho con người, cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới Bên cạnh đó, cùng với quá trình Toàn cầu hóa và Khu vực hóa cũng đang diễn ra ngày một mạnh mẽ với tốc độ nhanh