Việc sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại trong dạy học còn nhiều hạn chế, học sinh người DTTS khó tiếp thu kiến thức phần Hình học, HS chưa được quan tâm bồi dưỡng năng lực tự học, t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM XUÂN QUỲNH
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY CHỦ
ĐỀ PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN CHO
HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM XUÂN QUỲNH
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY CHỦ
ĐỀ PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN CHO
HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Trọng Thanh
VINH - 2010
Trang 3NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Công nghệ thông tin và truyền thông CNTT&TT
Phương pháp tọa độtrong không gian PPTĐ TKG
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của luận văn 4
7 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn .6
1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán 6
1.2 Tác động của công nghệ thông tin tới đổi mới phương pháp dạy học môn Toán 7
1.3 Tổng quan về website dạy học 14
1.3.1 Khái niệm website dạy học 14
1.3.2 Đặc trưng của website dạy học 16
1.3.3 Khả năng hỗ trợ của website với hoạt động dạy và học 17
1.3.4 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng website dạy học 19
1.3.5 Các yêu cầu sư phạm và quy trình thiết kế website dạy học 24
1.3.6 Những hạn chế và chú ý khi sử dụng website dạy học 27
1.4 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học ở trường DBĐHDT 29
1.4.1 Khả năng ứng dụng CNTT 30
1.4.2 Thái độ đối với việc ứng dụng CNTT&TT 33
1.4.3 Mức độ ứng dụng CNTT 34
Trang
Trang 51.4.4 Kỹ năng ứng dụng CNTT&TT 35
1.4.5 Tâm lý HS về việc ứng dụng CNTT trong dạy học 37
Kết luận chương 1 38
Chương 2: Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học chủ đề Phương pháp tọa độ trong không gian cho HS hệ DBĐHDT 39
2.1 Tổng quan về dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian ở trường DBĐHDT 39
2.1.1 Mục tiêu dạy học hình học ở trường Dự bị đại học dân tộc 39
2.1.2 Nội dung dạy học hình học ở trường Dự bị đại học dân tộc 40
2.1.3 Đặc điểm giáo trình hình học ở trường Dự bị đại học dân tộc 41
2.1.4 Những khó khăn trong dạy học Hình học cho Dự bị đại học dân tộc 42 2.1.5 Nội dung chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian ở trường Dự bị đại học dân tộc 45
2.1.6 Một số khó khăn khi dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian ở trường Dự bị đại học có thể khắc phục được với sự hỗ trợ của website dạy học 47
2.2 Xây dựng website hỗ trợ dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian cho học sinh DBĐHDT 49
2.2.1 Những căn cứ của việc thiết kế website “Phương pháp toạ độ không gian” 49
2.2.2 Ý đồ sư phạm của việc sử dụng website hỗ trợ dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian cho học sinh DBĐHDT 51
2.2.3 Định hướng xây dựng website “Phương pháp toạ độ không gian” 53
2.2.4 Cấu trúc website “Phương pháp toạ độ không gian” 55
2.3 Tổ chức dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian cho HS DBĐHDT với sự hỗ trợ của website “Phương pháp toạ độ không gian” 63
Trang 62.3.1 Các hình thức tổ chức dạy học có thể khai thác khả năng hỗ trợ của
website dạy học phương pháp toạ độ trong không gian 63
2.3.1.1 Hình thức 1: Tích hợp Website dạy học Phương pháp toạ độ trong không gian vào các giờ dạy truyền thống 63
2.3.1.2 Hình thức 2: giúp học sinh tự học 68
2.3.1.3 Hình thức 3: Sử dụng Website dạy học trong kiểm tra, đánh giá học sinh 73
2.3.2 Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian có khai thác Website dạy học 74
2.3.2.1 Quy trình thiết kế tiến trình dạy học 74
2.3.2.2 Minh hoạ một tiết dạy cụ thể chủ đề phương pháp toạ độ không gian có khai thác website dạy học 75
2.4 Điều kiện sử dụng website có hiệu quả 87
2.4.1 Điều kiện về cơ sở vật chất 88
2.4.2 Điều kiện phần mềm 88
2.4.3 Yêu cầu về kĩ năng cơ bản 88
Kết luận chương 2 89
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 91
3.1 Mục đích của thực nghiệm 91
3.2 Đối tượng thực nghiệm 91
3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 92
3.4 Phương pháp thực nghiệm 92
3.5 Kết quả thực nghiệm 93
3.5.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 93
3.5.2 Đánh giá kết quả học tập của học sinh 94
Kết luận chương 3 99
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngày nay công nghệ thông tin (CNTT) đang xâm nhập vào hầu
hết các lĩnh vực của đời sống con người Việc đưa CNTT với tư cách là phương tiện dạy học (PTDH) hiện đại đã trở thành một xu thế của giáo dục thế giới
Trong Chỉ thị số 55/2008/CT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã nêu: “Công nghệ thông tin (sau đây viết tắt là CNTT) là công cụ đắc lực
hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần năng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dung CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triễn CNTT của đất nước” Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2000 - 2010 cũng nhấn mạnh: các ứng dụng CNTT sẽ trở thành thiết bị dạy học chủ đạo trong giảng dạy Một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) hiện nay ở nước ta
và trên toàn thế giới là ứng dụng và phát triển CNTT vào dạy học Và thực
tế trong những năm gần đây đã cho thấy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học
đã mang lại hiệu quả cao hơn so với PPDH truyền thống Một trong những hướng ứng dụng CNTT vào dạy học là xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học
1.2 Thực hiện chủ trương mang tính chiến lược của Đảng và Nhà
nước về chính sách đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) cho miền núi, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã tổ chức hệ dự bị đại học dân tộc (DBĐHDT) ở các trường đại học (ĐH), các trường DBĐHDT và thực hiện chế độ cử tuyển với đối tượng học sinh người DTTS thi trượt ĐH học bổ sung, hệ thống hoá kiến thức thêm 1 năm để học tiếp ĐH Số học sinh DBĐHDT mỗi năm có khoảng gần 8.000 HS và ở trên 100 trường ĐH, 4 trường DBĐHDT trong cả nước, đây là nguồn cán bộ tương lai góp phần phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng cho khu vực miền núi, vùng dân tộc
Trang 8Trong hơn 30 năm qua, các trường DBĐHDT đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy cho HS, nhưng kết quả vẫn chưa cao Nhìn chung học lực của HS còn yếu, chưa tích cực học tập, chưa phát huy hết khả năng bản thân; Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại được Nhà nước đầu
tư đồng bộ nhưng GV và HS chưa khai thác, sử dụng có hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học để HS có đủ điều kiện vào học đại học, cao đẳng là nhiệm vụ của các trường đào tạo DBĐHDT đang được các cấp, các ngành quan tâm Tuy nhiên, PPDH các bộ môn khoa học tự nhiên nói chung và bộ môn Toán nói riêng ở trường DBĐHDT vẫn mang nặng tính chất truyền thụ một chiều
HS ít được tạo điều kiện bồi dưỡng các phương pháp nhận thức, rèn luyện
và tư duy khoa học, phát triển năng lực giải quyết vấn đề Việc sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại trong dạy học còn nhiều hạn chế, học sinh người DTTS khó tiếp thu kiến thức phần Hình học, HS chưa được quan tâm bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu và kỹ năng CNTT để đáp ứng phương pháp học tập mới, có hiệu quả cao hơn Vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng CNTT nói chung và khai thác các trang website hỗ trợ dạy học hình học cho học sinh DBĐHDT là cần thiết
1.3 Phần kiến thức chương “Phương pháp tọa độ trong không gian” có
nội dung chiếm một phần hai phần hình học học kỳ 2 của hệ DBĐHDT và
đề cập đến các kiến thức quan trọng như cách xác định tọa độ của véctơ, tọa
độ của điểm, biểu thức tọa độ của các phép toán véctơ, phương trình đường thẳng, phương trình mặt phẳng, phương trình mặt cầu, các công thức tính góc, khoảng cách Thực chất là nghiên cứu hình học bằng công cụ đại số
Khi giảng dạy và học tập chương này HS gặp phải một số khó khăn như: Các đối tượng hình học trước kia đã được nghiên cứu bằng phương pháp tổng hợp, tuy trừu tượng nhưng vẫn có chỗ tựa trực quan, khi phát triển
từ phương pháp tổng hợp sang phương pháp toạ độ thì các đối tượng đã được hình thức hóa ở mức trừu tượng cao hơn vì vậy HS khó thấy được ý
Trang 9nghĩa hình học của PPTĐ bởi một lí do quan trọng là thiếu những dụng cụ trực quan, sinh động
Do đó việc tiếp thu, lĩnh hội các kiến thức của phần này gặp những hạn chế, đôi khi HS phải chấp nhận một số tính chất, tiếp thu một cách thụ động Để nâng cao chất lượng tri thức của HS, giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách có căn cứ khoa học thì việc trực quan hóa các tính chất hình học là một nhu cầu cần thiết khi giảng dạy
1.4 Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT
trong dạy học toán ở trường DBĐHDT như Trần Trung: “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ dạy học hình học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh dự bị đại học dân tộc”, Luận án Tiến
sỹ, Đỗ Hồng Thuận: “Xây dựng và tổ chức một số tình huống kiến tạo tri thức hình học không gian cho học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của phần mềm Cabri 3D”, Luận văn Thạc sỹ, cũng như đã có những công
trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học chủ đề “Phương pháp tọa
độ trong không gian” ở trường phổ thông như Lê Đức Hùng:“Góp phần bồi dưỡng năng lực tự học Toán cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học hình học lớp 10”, Luận văn Thạc sỹ, Lê Thị Tuyết Nhung:“Vận dụng quan điểm hoạt động vào dạy Hình học ở lớp đầu cấp Trung học phổ thông”, Luận văn Thạc sỹ, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu việc khai thác các website hỗ trợ dạy học kiến thức “Phương pháp tọa độ trong không gian” cho học sinh DBĐHDT
Với những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là “Xây dựng và
sử dụng website hỗ trợ dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian cho học sinh dự bị đại học dân tộc”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc thiết kế website hỗ trợ dạy học kiến thức chủ đề Phương pháp tọa độ trong không gian trong chương trình hình học hệ DBĐHDT, nhằm thúc đẩy khả năng tự học của HS, đổi mới phương pháp dạy học môn toán và góp phần đa dạng hóa phương tiện dạy học ở trường DBĐHDT
Trang 103 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được Website hỗ trợ dạy học chủ đề Phương pháp tọa
độ trong không gian và được sử dụng phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Toán thì sẽ phát huy tính tích cực, năng lực tự học của
HS trong hoạt động học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
toán ở trường DBĐHDT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tìm hiểu định hướng đổi mới PPDH và tác động của CNTT tới đổi mới PPDH môn toán Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và
4.4 Nghiên cứu sử dụng Website đã xây dựng được trong dạy học chủ
đề Phương pháp tọa độ trong không gian cho học sinh DBĐHDT
4.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học đã đặt ra
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các văn kiện của
Đảng, Nhà nước về định hướng đổi mới PPDH Nghiên cứu tài liệu lý luận
về việc sử dụng MVT và những ứng dụng của nó trong việc đổi mới PPDH
và nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường THPT và trường DBĐHDT Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, SGV, giáo trình bộ môn Toán của trường DBĐHDT Sầm Sơn và các tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung phần PPTĐ trong không gian
5.2 Phương pháp điều tra, quan sát: Lập phiếu điều tra, quan sát kết
quả mục đích thăm dò ý kiến của HS để nắm bắt được những thuận lợi và
Trang 11khó khăn của các em, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp về việc dạy học phần nội dung này để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm giảng dạy một
số giáo án đã đề xuất trong luận văn “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian cho học sinh dự bị đại học dân tộc” nhằm đánh giá khả thi và hiệu quả của đề tài
5.4 Phương pháp phân tích, đánh giá: Sử dụng phương pháp phân
tích định tính, phân tích định lượng nhằm rút ra các kết luận liên quan Đánh giá kết quả bằng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
6 Những đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong dạy học; Xác đinh những khả năng ứng dụng của website dạy học Những khả năng ấy là hoàn toàn phù hợp với việc triển khai các PPDH hiện đại theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
6.2 Chúng tôi làm đề tài này một mặt cố gắng làm rõ bản chất của các khái niệm Website dạy học, Bài giảng điện tử, Bài tập điện tử, nhằm mô tả các khả năng và xu hướng ứng dụng CNTT về góc độ lý luận, mặt khác xác định các chức năng dạy học, những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản khi thiết kế xây dựng website dạy học và những kĩ năng, lưu ý cần thiết khi sử dụng chúng làm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung và phần kiến
thức Phương pháp tọa độ nói riêng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học chủ đề Phương pháp tọa độ trong không gian cho học sinh dự bị đại học dân tộc
Trang 12Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Luận văn có sử dụng 71 tài liệu tham khảo, trong đó có 66 tài liệu và 05 website Phụ lục của luận văn có 12 trang
Trang 13kỹ năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡng cho
HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Trong quá trình dạy học, cùng với những thay đổi về mục tiêu, nội dung, cần có những thay đổi căn bản về phương pháp dạy học (PPDH) (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả hình thức, phương tiện và kiểm tra, đánh giá) Tồn tại của PPDH hiện nay là việc
GV thường cung cấp cho HS những tri thức dưới dạng có sẵn, thiếu yếu tố tìm tòi, phát hiện; việc GV dạy chay, áp đặt kiến thức khiến HS thụ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Đây là những lý do dẫn tới nhu cầu đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo con người lao động sáng tạo phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Từ nhu cầu đổi mới PPDH, các nhà khoa học giáo dục nước ta đã khẳng
định hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: "Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự
giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu" [21]
Theo Nguyễn Bá Kim [21] định hướng trên có những hàm ý sau đây:
- Xác lập vị trí chủ thể của HS, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo của HS
Trang 14- Quá trình dạy học là xây dựng những tình huống có dụng ý sư phạm cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
- Chế tạo và khai thác những phương tiện phục vụ quá trình dạy học
- Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của HS
- Xác định vai trò mới của GV với tư cách người thiết kế, uỷ thác,
điều khiển và thể chế hoá
1.2 Tác động của công nghệ thông tin tới đổi mới phương pháp dạy học môn Toán
Theo Nguyễn Bá Kim [21], môi trường dạy học truyền thống được mô
tả như Hình 1.1:
Hình 1.1: Môi trường dạy học truyền thống
Trong Hình 1.2 ta nhấn mạnh vị trí trung tâm của cá nhân HS, trong
đó có làm rõ hơn các yếu tố mới trong môi trường dạy học có sự hỗ trợ của CNTT&TT
Trang 15Hình 1.2 Môi trường dạy học mới
Theo Đào Thái Lai [28], với sự tham gia của công nghệ thông tin và truyền thông, môi trường dạy học thay đổi, nó có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình dạy học gồm: Mục tiêu dạy học; nội dung dạy học; phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiện dạy học và kiểm tra, đánh giá
- Xét về mục đích và nội dung dạy học:
Khi sử dụng máy vi tính (MVT) như một phương tiện dạy học (PTDH), vấn đề đặt ra là điều chỉnh lại những yêu cầu về kỹ năng trong khi dạy một loạt chủ đề toán học ở các bậc học, cụ thể như:
Trong hoạt động toán học, có những việc đòi hỏi phải tư duy, nhưng cũng có những việc trung gian chỉ đòi hỏi một loại công việc đơn điệu nào
đó như tính toán, vẽ hình Những việc này lại cần thời gian, sức lực và kết quả có thể không chính xác Có thể lược bỏ yêu cầu rèn luyện thuần tuý các
Trang 16kỹ năng làm việc có tính đơn điệu, không đòi hỏi tư duy đó Khi HS được giải phóng khỏi các công việc này thì khả năng tập trung tư duy vào chủ đề chính tốt hơn Như vậy, CNTT&TT đã tác động trực tiếp dẫn đến xu hướng tăng cường các hoạt động để HS có điều kiện hiểu sâu hơn hoặc mở rộng hơn về nội dung kiến thức Toán học
Tuy nhiên, những yêu cầu gắn với việc rèn luyện các thao tác trí óc thì không thể giảm nhẹ được, dù cho có thể dùng máy tính thay thế chúng Chẳng hạn việc tính nhẩm, việc dạy HS thuộc các bảng cộng và nhân trong dạy học toán vẫn hết sức quan trọng
Cùng với việc giảm bớt một số yêu cầu, nội dung, do thời gian được tiết kiệm, ta lại cần xem xét việc đưa thêm các nội dung mới Các nội dung mới này được đưa vào tuỳ theo nhu cầu của bản thân môn học và của thực tiễn
Tóm lại, trong việc xây dựng chương trình môn Toán sẽ có khá nhiều thay đổi về mục đích, yêu cầu, nội dung dạy học
- Xét về việc rèn luyện kỹ năng, củng cố, ôn tập kiến thức cũ:
Ngày nay các phần mềm dạy học (PMDH) đã trở nên rất phong phú,
đa dạng, trong đó có rất nhiều phần mềm có thể khai thác để rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS Chẳng hạn với phần mềm Graph, HS có thể rèn luyện các kỹ năng cơ bản về khảo sát hàm số, tính diện tích của một miền phẳng, xác định góc của tiếp tuyến tại một điểm nào đó trên đồ thị với trục hoành với phần mềm hình học Euclides, Geomter’s Sketchpad HS có thể rèn luyện kỹ năng dựng hình, tìm hiểu các bài toán quỹ tích một cách rất hiệu quả Phần mềm GeoSpacW có thể giúp HS rèn luyện việc dựng hình, xác định thiết diện, xác định các khối tròn xoay và rất nhiều nội dung khác
Trang 17trong hình học không gian Với các phần mềm trắc nghiệm, HS được cung cấp một khối lượng câu hỏi mà để trả lời được HS phải thực sự nắm được kiến thức cơ bản và đạt được kỹ năng thực hành đến một mức độ nhất định Như vậy, việc luyện tập và tự kiểm tra đánh giá của HS không còn bị hạn chế về mặt thời gian và nội dung như các phương pháp kiểm tra thông thường
- Xét về góc độ rèn luyện, phát triển tư duy toán học:
Nhiều người lo ngại MVT với các chức năng “trong suốt” đối với người sử dụng nên HS không có sự gắn kết giữa hình tượng tính toán trong não với thực hiện tính toán trên MVT Một số bước trung gian được MVT thực hiện do đó mất cảm giác thuật toán Tại hội nghị nghiên cứu toán học thế giới lần thứ 3 đã tiến hành thảo luận xung quanh vấn đề nghi ngại trên Trần Vui [68] khi nghiên cứu việc dạy học toán với phần mềm The Geomter’s Sketchpad đã khẳng định vai trò của phần mềm này trong việc phát triển khả năng sáng tạo toán học cho HS Phạm Huy Điển [8] khẳng định MVT có khả năng làm sáng tỏ các khái niệm toán học phức tạp bằng những minh họa trực quan hoàn hảo Như vậy dạy học toán với hỗ trợ của MVT đã cho phép GV tạo môi trường để phát triển khả năng suy luận toán học, tư duy logic, tư duy thuật toán, đặc biệt là năng lực quan sát, mô tả, phân tích so sánh cho HS HS sử dụng MVT và phần mềm để tạo ra các đối tượng toán học, sau đó tìm tòi khám phá các thuộc tính ẩn chứa bên trong đối tượng đó Chính từ quá trình mò mẫm, dự đoán HS đi đến khái quát hoá, tổng quát hoá và sử dụng lập luận logic để làm sáng tỏ vấn đề
- Về phương pháp và hình thức dạy học:
Trang 18Khi ứng dụng CNTT&TT trong dạy học, HS được nhúng vào một môi trường hết sức mới mẻ, hấp dẫn, đa dạng và có tính trợ giúp cao CNTT&TT
mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những PPDH theo lý thuyết kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để áp dụng rộng rãi Trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy (dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu), thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho HS các phương pháp học Trước kia thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thành thục kĩ năng vận dụng, nay cần chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của HS Việc chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn
Các nhà giáo dục thường nói nhiều tới việc tổ chức hoạt động sáng tạo, tích cực, tự lực cho HS Theo Đào Thái Lai [26] trong điều kiện các PTDH truyền thống những biện pháp nhằm tích cực hoá HS chỉ đạt được những kết quả nhất định MVT và internet sẽ tạo ra một môi trường hoạt động cho HS HS là chủ thể hoạt động, tác động lên các đối tượng thuộc môi trường, nhờ đó HS chiếm lĩnh được những tri thức và kĩ năng mới Với internet, HS có thể tự tra cứu thông tin ở các thư viện điện tử, cập nhật các thông tin mới mẻ, trao đổi với các HS và GV ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới vào thời điểm bất kỳ Đối với HS, thế giới tri thức được mở rộng hầu như vô hạn, họ không bị giới hạn bởi nguồn tri thức (hầu như duy nhất) của
GV trên lớp và cuốn SGK hàng năm nữa, điều đó mở ra khả năng phát triển năng lực tự học, tự tìm kiếm tri thức, làm việc độc lập của từng HS
Trong tình hình đó, vai trò của GV vẫn hết sức quan trọng, tuy nhiên,
GV không là nguồn tri thức duy nhất nữa, mà GV giữ vai trò hướng dẫn, chỉ đạo Quan hệ GV và HS trong bối cảnh mới cũng sẽ khác với truyền thống,
Trang 19chuyển từ vai trò người chuyển tải tri thức sang vai trò người cố vấn, trợ giúp GV đóng vai trò tổ chức, điều khiển, thông qua tác động lên cả HS và môi trường CNTT&TT
Trong điều kiện các PTDH truyền thống, GV phải quan tâm tới vài chục HS Vì thế, dù có cố gắng đến đâu, việc đảm bảo nguyên tắc phân hoá trong dạy học vẫn hạn chế Tất cả các chi tiết diễn biến của hoạt động học tập của mỗi HS khó được GV nắm bắt được và xử lí kịp thời Về lí luận, cần phải giúp từng HS làm việc theo đúng khả năng, phù hợp năng lực về tri thức và các kĩ năng của mình, có nhịp độ làm việc phù hợp với cá nhân Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được nếu có CNTT&TT trợ giúp Lúc này mỗi HS đều có một “trợ giảng” riêng, có thể được trợ giúp tại thời điểm khó khăn bất kì, đúng lúc với liều lượng thích hợp Mỗi HS đều có một phương án làm việc riêng, thực hiện nhiệm vụ phù hợp cá nhân HS đó (có thể giống nhưng cũng có thể khác tất cả các bạn khác), các nhiệm vụ này được PMDH hoạch định phù hợp.PMDH được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của GV tới từng gia đình HS, khi làm bài tập trên MVT, HS sẽ được kiểm soát, được giúp đỡ và được đánh giá tại chỗ
Các hình thức dạy học như dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng sẽ có những đổi mới trong môi trường CNTT&TT Đó là: cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, các cá nhân làm việc theo các nhóm linh hoạt
- Hiệu quả sử dụng các PPDH tăng lên rõ rệt:
Nhờ có MVT, có thể tổ chức các thực nghiệm ảo Thông qua một loạt các kết quả hoặc thông qua sự biến thiên của đối tượng, bằng suy luận có lí,
HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Những PPDH hiện đại có điều kiện phát huy rất hiệu quả khi ứng dụng CNTT&TT
Trang 20Do sự phát triển của CNTT&TT, chúng ta đã có trong tay nhiều công
cụ tốt hỗ trợ quá trình dạy học đặc biệt là một số PMDH Nhờ sử dụng các PMDH này mà một HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập HS hoàn toàn có khả năng tìm hiểu các đối tượng, sự kiện toán học… thông qua tác động lên đối tượng, xem xét
và phân tích nó, có thể đưa ra các dự đoán về các mối quan hệ mang tính quy luật Người GV sẽ có điều kiện giúp được tất cả HS rèn luyện tốt năng lực sáng tạo, rèn luyện phương pháp nghiên cứu trong học tập Đây là một tác dụng lớn của CNTT&TT trong quá trình đổi mới PPDH Nếu nhà giáo dục biết khai thác một cách thích hợp CNTT&TT (trong đó bao gồm các PMDH) thì có thể tạo ra những đổi mới trong dạy học, sẽ có những thành tựu mới mà giáo dục truyền thống chưa thể đạt được
- Giảm vai trò của một số phương tiện dạy học truyền thống:
Do xuất hiện máy tính vạn năng, xuất hiện các sách giáo khoa điện tử
vì vậy các bảng tra cứu, sổ tay toán học, bàn tính gảy, thước tính sẽ được xem xét lại (về khả năng tồn tại hoặc khả năng sử dụng trong các tình huống
sư phạm hạn chế nào đó)
Tăng khả năng xây dựng môi trường đa phương tiện và môi trường làm việc trên Internet: Để nâng cao chất lượng dạy và học, cần hiểu rằng chỉ riêng MVT thì không đủ mà cần tăng cường nghiên cứu tạo ra môi trường đa phương tiện gồm có máy tính, video, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa phương tiện, mạng internet, các website giáo dục
- Xét về việc hình thành phẩm chất, đạo đức, tác phong cho HS trong quá trình dạy học toán:
Trang 21Việc sử dụng CNTT&TT ngay khi ngồi trên ghế nhà trường đã trực tiếp góp phần hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng thành thạo MVT và làm việc trong môi trường CNTT&TT cho HS Đây là những kỹ năng không thể thiếu của người lao động trong thời đại phát triển của CNTT&TT
Sử dụng CNTT&TT trong quá trình thu thập và xử lý thông tin đã giúp hình thành và phát triển cho HS cách giải quyết vấn đề hoàn toàn mới, đưa ra các quyết định trên cơ sở kết quả xử lý thông tin Cách học này tránh được kiểu học vẹt, máy móc, nhồi nhét thụ động trước đây
Trong quá trình học tập với sự trợ giúp của CNTT&TT, HS có điều kiện phát triển năng lực làm việc với cường độ cao một cách khoa học, đức tính cần cù, chịu khó, khả năng độc lập, sáng tạo, tự chủ và kỷ luật cao
Việc tự đánh giá, kiểm tra kiến thức bản thân bằng các phần mềm trên MVT cũng giúp HS rèn luyện đức tính trung thực, cẩn thận, chính xác và kiên trì, khả năng quyết đoán
1.3 Tổng quan về website dạy học
1.3.1 Khái niệm website dạy học
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực hoạt động của con người Nói riêng trong giáo dục, một loạt khái niệm mới đã nảy sinh và dần trở nên quen thuộc đối với mọi người Nhưng những khái niệm ấy cho đến nay hầu như vẫn chưa được định nghĩa một cách đầy đủ, chính xác và khoa học Trong các công trình nghiên cứu ứng dụng CNTT vào giáo dục hay những sản phẩm của CNTT dành cho giáo dục
ở nước ta, các khái niệm ấy được dùng hoặc là như một tên gọi mặc nhiên, hoặc là đưa ra khái niệm chỉ dựa vào một vài đặc điểm, thuộc tính của nó mà chưa lột tả hết ngoại diên và nội hàm của khái niệm Đó cũng là điều dễ
Trang 22hiểu, vì rằng sự phát triển của khoa học Tin học có tính bùng nổ và chưa phải đã đạt đến đỉnh điểm Do đó, cùng với sự phát triển của Tin học, các khái niệm cũng sẽ dần dần được hoàn thiện và chính xác hoá Hơn nữa, sẽ tồn tại những cách định nghĩa khác nhau nếu như dựa trên những căn cứ khác nhau
Về phần mình, chúng tôi đưa ra định nghĩa khái niệm ''Website dạy học'' chủ yếu dựa vào chức năng dạy học mà không quan tâm đến các yếu tố
kỹ thuật hàm chứa trong nó Hay nói cách khác, khái niệm được nhìn nhận dưới nhãn quan của người nghiên cứu khoa học giáo dục
Trang Web (Web page) là trang thông tin trên mạng Internet Nội dung thông tin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ hoạ, ảnh tĩnh, ảnh động, phim, âm thanh, tiếng nói Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt với các trang khác và giúp mọi người truy cập đến Bảng Web (Website) là tập hợp các trang Web được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc (Home page), hay còn được gọi là trang xuất phát, trang đầu tiên Mỗi bảng Web có một địa chỉ riêng và đó cũng chính là địa chỉ của trang gốc hay trang xuất phát
Để thực hiện được việc truy nhập, liên kết các tài nguyên thông tin khác nhau theo kỹ thuật siêu văn bản, WWW sử dụng khái niệm URL (Uniform Resource Locator), đây là một dạng tên để định danh duy nhất cho một tài liệu hoặc một dịch vụ trên Web Cấu trúc của URL gồm các thành phần thông tin như: giao thức Internet được sử dụng, vị trí của server (domain name), tài liệu cụ thể trên server (path name) và có thể có thêm các thông tin định dạng khác
Hoạt động của Web cũng dựa trên mô hình Client/Server Tại trạm
Trang 23Client, người sử dụng sẽ dùng Web Browser để gửi yêu cầu để tìm kiếm các tệp tin HTML đến Web Browwser ở xa trên mạng Internet nhờ địa chỉ URL Web Server nhận các yêu cầu đó và thực hiện rồi gửi kết quả về Web Client, Web Browser sẽ biên dịch các thẻ HTML và hiển thị nội dung các trang tài liệu được yêu cầu Để nối kết Internet, người ta dùng giao thức SLIP (Serial Line Internet Protocol) hoặc PPP (Point-to-Point Protocol) Hai giao thức này đều cho phép người sử dụng nối với Internet qua các đường dây điện thoại quay số (Dial-up-Telephone) Nhưng vì đơn giản, dễ cài đặt và không yêu cầu cấp phát địa chỉ riêng (địa chỉ này sẽ được nhà cung cấp dịch vụ tạm thời khi sử dụng dịch vụ) nên PPP được ưa chuộng hơn so với SLIP
Xuất phát từ khái niệm của Website ở trên, ta có thể hiểu Website dạy học là một phương tiện dạy học (dưới dạng phần mềm máy tính), được tạo
ra bởi các siêu văn bản (là các tài liệu điện tử như bài giảng, SGK, SBT, SGV ) trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh), để
hỗ trợ việc dạy học và cung cấp cho những người sử dụng khác trên các mạng máy tính
1.3.2 Đặc trưng của website dạy học
Website dạy học được cấu thành từ những Site riêng biệt khác nhau, mỗi một Site là một siêu văn bản sẽ thực hiện một chức năng hỗ trợ dạy học nào đó Với khả năng thực hiện hầu như vô hạn các liên kết giữa các Site với các dạng thông tin (multimedia) khác nhau, trên một hệ thống vô số các máy tính liên kết thành mạng, đã tạo nên một đặc trưng riêng biệt của Website
Đặc trưng nổi bật của Website là có thể hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động dạy và học
Trang 24Đặc trưng thứ hai của Website là không hạn chế năng lực sáng tạo và phong cách riêng của từng GV khi sử dụng Tập hợp được sức mạnh trí tuệ, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của nhiều tầng lớp xã hội
để nâng cao chất lượng dạy và học
Website được thiết kế với giao diện hết sức thân thiện, không yêu cầu nhiều đến kiến thức Tin học và kỹ năng thao tác, là một phần mềm thân thuộc với nhiều người, có thể cài đặt để triển khai ứng dụng dưới nhiều cách khác nhau Đây cũng là đặc trưng, thể hiện tính hơn hẳn của Website so với các chương trình ứng dụng khác đòi hỏi phải giao tiếp trên nhiều menu và các hộp thoại Về mặt kỹ thuật tin học, Website là một phần mềm duy nhất được hỗ trợ nhiều công cụ để tạo điều kiện cho các nhà lập trình phát triển được nhiều ứng dụng trên nó
Cuối cùng, có thể nói rằng Website là một môi trường siêu giao diện, siêu trình diễn các thông tin Multimedia Đặc trưng này đã làm tăng hiệu quả tác dụng hỗ trợ nhiều mặt của Website, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học là một quá trình truyền thông đa phương tiện
1.3.3 Khả năng hỗ trợ của website với hoạt động dạy học
Đối với hoạt động dạy của GV, thực nghiệm cho thấy Website là một phương tiện đã hỗ trợ rất có hiệu quả trên nhiều mặt trong hoạt động giảng dạy Sử dụng nó trong dạy học GV đã được giải phóng khỏi hầu hết những công việc chân tay bình thường Từ việc ghi chép nội dung bài học lên bảng,
vẽ hình và trình bày các tranh ảnh, biểu bảng, đồ thị; hướng dẫn các thao tác dựng hình; theo dõi và điều tiết tiến trình thực hiện bài giảng, đến việc ghi nhớ những nội dung cần phải thuyết trình và giảng giải, những công thức, những số liệu, những phép tính từ đơn giản đến phức tạp, tóm tắt nội dung bài học thậm chí cả việc trình bày bài giảng bằng lời cũng có thể được máy tính
Trang 25hỗ trợ Tập trung tất cả các khả năng hỗ trợ ấy làm cho máy vi tính trở thành
một ''trợ giảng đắc lực, có hiệu quả'' Điều đáng nói ở đây, người trợ giảng
này là hình ảnh của chính GV đang tiến hành tiết dạy, vì rằng nội dung, tính chất và cách thức hoạt động của người trợ giảng đều do chính GV đứng lớp quyết định Sự thống nhất, đồng cảm, phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động
của người trợ giảng với GV đã không thể có được trong cách tổ chức dạy học
truyền thống
Một chức năng có tính nổi bật và đặc thù riêng của Website là chức năng trình diễn thông tin Multimedia, có tương tác và gây được ấn tượng
mạnh Chính nhờ chức năng này mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh
của máy vi tính và nâng cao một cách đáng kể hiệu quả của việc sử dụng nó Hầu hết các tài liệu liên quan đến môn Toán đều được số hoá và đưa vào Website như: SGK, SGV, SBT Nhờ đó đã tạo nên được những thư viện như: thư viện sách điện tử, thư viện các Mô hình ảo, thư viện các bài tập, kiểm tra Nói chung, tập hợp các thư viện như vậy và sự liên thông giữa chúng cùng với hệ thống các bài giảng điện tử là để phục vụ tốt cho hoạt động dạy học
Khi sử dụng Website để thực hiện các tiết giảng thực nghiệm, một số chức năng hỗ trợ của Website được các GV đánh giá rất cao như chức năng tăng cường tính trực quan xử lý các kiểu dữ liệu khác nhau, năng lực đồ hoạ phong phú có thể xây dựng các mô hình ảo làm trực quan hoá các tính chất hình học đồng thời cho phép tương tác trực tiếp với mô hình ngay trên website giúp HS hiểu rõ hơn về bản chất hình học Chức năng phản hồi những sai lầm của HS có thể mắc phải rồi hướng dẫn HS tìm lại kiến thức cần thiết khi làm dạng bài tập củng cố kiến thức cơ bản vì nó vừa giúp GV trong một số hoạt động củng cố trên lớp đồng thời giúp HS xác định được
Trang 26kiến thức trọng tâm khi tự học Chức năng kiểm tra đánh giá năng lực, kỹ
năng vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua thư
viện các bài tập và đề kiểm tra
Đối với hoạt động học của HS: có thể nói rằng những gì mà Website
đã hỗ trợ được cho hoạt động dạy của GV, thì cũng có nghĩa là nó đã hỗ trợ cho hoạt động học của HS Điều này thật dễ hiểu vì các PTDH giúp cho GV nâng cao hiệu quả của quá trình truyền thụ thì cũng chính nó sẽ có tác dụng làm dễ dàng cho quá trình nhận thức của HS Website đã giải phóng cho GV thoát khỏi những công việc chân tay bình thường để tập trung chỉ đạo hoạt động nhận thức của HS, thì điều này cũng có nghĩa là Website đã có tác dụng tăng cường được hoạt động nhận thức độc lập, chủ động sáng tạo cùng với việc nâng cao một cách đáng kể chất lượng của hoạt động đó (vì GV đã
có nhiều thời gian hơn để tổ chức, điều khiển, giám sát, đánh giá và điều chỉnh hoạt động học tập của từng cá thể HS) Cũng theo cách hiểu như vậy thì Website đã có tác dụng tích cực hoá được hoạt động nhận thức của HS (kích thích được hứng thú, tạo động cơ học tập, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc học, tăng cường sự bền bỉ của trí nhớ, sự sâu sắc của tư duy ); hỗ trợ tốt cho việc tự học, tự đánh giá, ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức 1.3.4 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng website dạy học
Nhờ kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là “Siêu văn bản” (HyperText) và được xây dựng bằng ngôn ngữ có tên là HTML (HyperText Markup Language) mà Website đã trở thành một phương tiện có tính chuẩn hoá quốc tế để tìm kiếm, trao đổi thông tin và giao lưu trên mạng Internet Nếu như sự ra đời của mỗi một phần mềm ứng dụng đã mang lại cho máy tính một số khả năng mới nào đó, thì Website với chức năng Hyperlink đã
Trang 27mở rộng khả năng của máy tính nhiều hơn những gì mà người sử dụng mong đợi
Tuy vậy, để một Website dạy học phát huy được những ưu điểm trên,
và đáp ứng được những yêu cầu của QTDH, thì việc xây dựng nó cần dựa vào một số nguyên tắc cơ bản sau đây:
1.3.4.1 Đảm bảo tính khoa học sư phạm và công nghệ:
Về bản chất thì Website dạy học là một phần mềm có thể cài đặt trên máy tính để hỗ trợ cho hoạt động dạy và học của GV và HS Và vì thế nó cần đảm bảo những yêu cầu của một phần mềm hỗ trợ dạy học, nghĩa là phải hàm chứa trong đó tri thức ở mức chuyên gia của hai lĩnh vực Sư phạm và Tin học Đáp ứng được yêu cầu này cũng là đồng thời đã đề cao chất lượng (tính chuẩn tắc) của một phần mềm nói chung được gọi là “phần mềm dạy học” và tính hiệu quả của việc sử dụng nó Các “phần mềm dạy học” hiện nay chủ yếu là sản phẩm của các chuyên gia Tin học (thể hiện tốt các kỹ thuật lập trình, nhưng lại thiếu tri thức ở mức chuyên gia về dạy học) Ngược lại, cũng có một số “phần mềm dạy học” là sản phẩm của các chuyên gia về dạy học (đáp ứng tốt những yêu cầu, nguyên tắc và kịch bản của QTDH, nhưng lại yếu về kỹ thuật lập trình) Để một phần mềm thực sự là “phần mềm dạy học” thì nó phải là một sản phẩm được kết tinh trong đó tri thức ở mức chuyên gia của hai lĩnh vực Dạy học và Tin học
1.3.4.2 Đảm bảo tính hiệu quả:
Xây dựng Website dạy học trước tiên cần phải xuất phát từ những dụng ý sư phạm đã được xác định rõ từ đầu và phải lấy tính hiệu quả làm mục tiêu cho việc triển khai ứng dụng nó Vì rằng các hoạt động dạy học rất
đa dạng và phong phú bao gồm cả những hoạt động chân tay và hoạt động
Trang 28trí óc Website với tư cách là một phần mềm, cùng với máy tính phải hỗ trợ được nhiều mặt của QTDH Giải phóng người dạy thoát khỏi những lao động phổ thông để có nhiều thời gian hơn đầu tư cho việc tổ chức, thiết kế, điều khiển, giám sát và điều chỉnh hoạt động nhận thức của người học Đồng thời phải tạo được những điều kiện tốt để hoạt động nhận thức của HS được diễn ra một cách tích cực, độc lập, chủ động và sáng tạo Xuất phát từ những
ý đồ như vậy, vừa đáp ứng được yêu cầu của các lý thuyết dạy học hiện đại, vừa phát huy những thế mạnh riêng có của việc sử dụng máy tính và cũng chính là nâng cao hiệu quả sử dụng của một thiết bị dạy học hiện đại
1.3.4.3 Đảm bảo tính mở và tính phổ dụng:
Trong một Website thường có sự liên kết của nhiều Site, mỗi một Site
sẽ đảm nhận hỗ trợ một số chức năng nào đó Xây dựng cấu trúc của Website cũng tức là thực hiện việc phân nhóm các chức năng mà Website có thể hỗ trợ Về phương diện kỹ thuật lập trình, đây chính là việc mô đun hoá một chương trình để dễ dàng cho thiết kế cài đặt, bảo dưỡng, bảo trì và nâng cấp sau này Mặt khác, Website phải được viết dưới dạng một phần mềm công cụ để có thể sử dụng cho mọi môn học bất kỳ (chỉ cần thay đổi cơ sở
dữ liệu) Ví dụ Website dạy học Phương pháp tọa độ trong không gian bao gồm các thẻ site như: bài giảng điện tử, bài tập, ôn tập, kiểm tra, thư viện,
để dạy phần kiến thức Phương pháp tọa độ trong không gian, nhưng cũng có thể được sử dụng để dạy học các môn học khác khi thay đổi cơ sở dữ liệu tương ứng
1.3.4.4 Đảm bảo tính tối ưu của cấu trúc cơ sở dữ liệu:
Khi thiết kế một phần mềm nói chung, Website nói riêng thì việc xây dựng cơ sở dữ liệu là một vấn đề rất quan trọng Dữ liệu ấy phải được cập
Trang 29nhật dễ dàng và thuận lợi, yêu cầu kích thước lưu trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng khi cần, dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữa nhiều người dùng Đặc biệt với giáo dục, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành những thư viện điện tử trong tương lai, như thư viện các bài tập,
đề thi; thư viện các mô hình ảo, các phim học tập; thư viện các tài liệu giáo khoa, GV Cùng với việc xây dựng Website, cần xây dựng các công cụ nhập dữ liệu một cách thuận tiện, đơn giản để mọi người đều có thể tham gia xây dựng kho dữ liệu, làm cho nó ngày càng phong phú
1.3.4.5 Đảm bảo những nguyên tắc sư phạm của quá trình dạy học khi trình diễn thông tin:
Sự hấp dẫn người sử dụng khi truy cập các Website trên mạng là ở khả năng trình diễn các thông tin Multimedia Do được mặc nhiên xem là phương tiện giao diện chuẩn có tính quốc tế giữa các máy tính nối mạng mà Website
đã được hỗ trợ nhiều công cụ Nhờ đó Website ngày càng trở nên sinh động, hấp dẫn trong việc trình diễn thông tin Thường khi truy cập các Website ta thấy rất rõ rằng nói chung chúng là những trang thông tin Multimedia Cách thiết kế này có thể rất hấp dẫn với những người sử dụng nói chung, nhưng trong dạy học nếu thiết kế rập khuôn theo kiểu như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của QTDH, thậm chí còn phản tác dụng Trình tự xuất hiện của các thông tin, sử dụng các hiệu ứng, các hình ảnh động, phim ảnh, màu sắc đều phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng khi sử dụng và phải tuân theo những nguyên tắc sư phạm của QTDH, điều đó cũng được quy định bởi dạy học là một hoạt động nghệ thuật Như vậy, việc xây dựng Website luôn yêu cầu và đi kèm với nó là việc phải xây dựng cấu trúc và kịch bản cho quá trình trình diễn thông tin Nếu như chỉ sử dụng cách trình diễn có cấu trúc tuần tự thì ta đã vô tình hạ thấp vai trò của MVT Khả năng lưu trữ, tìm kiếm, truy
Trang 30xuất, liên kết gần như vô hạn giữa các yếu tố thông tin là một đặc trưng riêng
có của hệ thống MVT, nhờ đó mà ta có thể thực hiện được những cấu trúc và kịch bản trình diễn ở nhiều mức độ phức tạp và cấp độ nông sâu khác nhau Thực hiện nguyên tắc này cũng chính là đảm bảo tính chặt chẽ, khúc chiết, trong sáng, phong phú, đa dạng và logic của mội dung thông tin trình được diễn
1.3.4.6 Đảm bảo tính thân thiện trong sử dụng:
Xu hướng xây dựng các phần mềm hiện nay là chương trình phải có giao diện hết sức thân thiện (theo nghĩa dễ tìm hiểu, dễ tiếp cận, dễ thao tác,
dễ sử dụng, tận dụng được các thói quen ), nhất là khi lớp người dùng không
có điều kiện tiếp cận với công nghệ còn nhiều và đang ở trong những vị trí công tác khác nhau của nhiều lĩnh vực hoạt động văn hoá, XH thì điều đó càng được quan tâm hơn, và nó cũng phù hợp với mong muốn của con người
là điều kiện lao động ngày càng phải được cải thiện Việc thiết kế và xây dựng Website cũng không nằm ngoài yêu cầu đó Sử dụng quá nhiều phím chức năng, giao tiếp người máy qua nhiều menu, hộp thoại, trình bày thông tin ngược với những tư duy thông thường, sử dụng màu sắc, độ tương phản không phù hợp với tâm lý thị giác sẽ là những cản trở lớn đối với người sử dụng đến với Website Mọi sự lạm dụng quá đáng, không có chủ định, mục đích rõ ràng, đặc biệt là trong dạy học, những chức năng phong phú, đa dạng của MVT nhiều khi sẽ không đưa đến những kết quả mong muốn, thậm chí còn phản tác dụng Ví dụ: trong dạy học cần phải lựa chọn và sử dụng các Font chữ chân phương, mỗi màu sắc được dùng với những dụng ý riêng Các hình động, tranh ảnh, phim và các hiệu ứng khác khi sử dụng đều phải có một dụng ý sư phạm xác định Có thể nói rằng, nếu như việc sử dụng MVT trong
Trang 31dạy học không tuân thủ nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả làm giảm hiệu quả dạy học
1.3.4.7 Đảm bảo tính cập nhật đối với các công cụ thiết kế Website:
Việc lựa chọn các công cụ thiết kế Website vốn là công việc của người lập trình Song hiện nay, do sự phát triển có tính bùng nổ của Tin học mà trên thị trường xuất hiện nhiều loại chương trình ứng dụng và cũng theo nó là nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau Có một sự hiểu biết nhất định ở mức khái quát về chúng sẽ giúp cho nhà giáo dục biết được khả năng của công nghệ có thể giúp hỗ trợ được gì cho hoạt động dạy và học Nhờ đó mà có thể đưa ra được nhiều yêu cầu hơn, các yêu cầu sẽ thiết thực hơn, có tính khả thi hơn Vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa một bên là nhà sư phạm, một bên là nhà Tin học sẽ là điều kiện cần thiết cho sự ra đời của những sản phẩm có giá trị cao Cần lưu ý tới một sự bất cập thường xảy ra đối với các nước chậm và đang phát triển, đó là nhiều khi ta chỉ được tiếp xúc với các phần mềm, phần cứng
đã quá cũ kỹ và lạc hậu (thường là các sản phẩm miễn phí-Free) Mặc dù trên mạng Internet vẫn cho phép chúng ta tiếp cận nhanh hơn tới các phần mềm thương mại, nhưng các phương thức thanh toán trên mạng vẫn còn là quá xa
lạ
1.3.4.8 Đảm bảo tính khả dụng:
Có thể nói rằng, việc thiết kế xây dựng một chương trình (chuẩn tắc),
dù lớn hay nhỏ đều là một công trình nghiên cứu khoa học (ứng dụng), vì nó thực sự đã giải quyết được những vấn đề đặt ra của các bài toán thực tiễn Công trình ấy tất yếu cần phải được thực nghiệm đánh giá Vì nó là sự kết tinh tri thức ở mức chuyên gia của hai lĩnh vực, nên thực nghiệm đánh giá
nó cũng phải trên hai phương diện: kỹ thuật tin học (tính đúng đắn, tính tối
Trang 32ưu, tính khả thi, thân thiện ) và lĩnh vực ứng dụng (có đáp ứng được mọi yêu cầu mà bài toán của một lĩnh vực hẹp nào đó đã đặt ra hay không) Đồng thời trong bất kỳ lĩnh vực nào, việc sử dụng máy tính luôn đòi hỏi đến tính hiệu quả và nó cũng cần được kiểm chứng qua thực nghiệm
1.3.4.9 Đảm bảo tính bảo mật của thông tin và tuổi thọ của chương trình:
Cuối cùng cũng cần phải lưu ý đến vấn đề bảo mật và phát triển Website Khi nói đến thông tin người ta luôn phải quan tâm đến sự bảo toàn (bảo vệ) và bảo mật nó Xây dựng Website dạy học và việc ứng dụng nó trong giáo dục cần phải xác định rõ các loại thông tin, mức độ quan trọng để phân quyền truy cập sử dụng, bảo vệ và bảo mật Đặc điểm của Khoa học tin học là trẻ và phát triển rất nhanh chóng Sự phát triển của phần cứng luôn kéo theo nó sự phát triển của phần mềm và ngược lại Vì thế, việc kéo dài tuổi thọ của một chương trình hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng phát triển
nó trong sự thích ứng với sự phát triển của phần cứng Nâng cao hiệu quả sử dụng, kéo dài tuổi thọ của chương trình vẫn là cách nghĩ, cách làm trong hoàn cảnh của đất nước ta hiện nay
1.3.5 Các yêu cầu sư phạm và quy trình thiết kế website dạy học
1.3.5.1 Các yêu cầu về đánh giá website dạy học
Qua thực tiễn xây dựng và sử dụng Website dạy học, theo chúng tôi
các yêu cầu để đánh giá chất lượng của một Website dạy học gồm có:
- Các yêu cầu về mặt khoa học: yêu cầu này thể hiện ở tính chính xác
về nội dung khoa học chứa đựng trong Website Các nội dung trong Website phải đáp ứng tính đa dạng phong phú (tài liệu học tập và các tài liệu tra cứu), phù hợp với chương trình đào tạo, kiến thức và khả năng tiếp thu của HS
Trang 33Các thuật ngữ khoa học, các khái niệm, định nghĩa… phải chính xác và nhất quán với giáo trình hiện hành, các nội dung trong Website phải nhằm thực hiện mục đích dạy học đề ra
- Các yêu cầu về lí luận dạy học: Website dạy học phải thực hiện
được các chức năng lí luận dạy học mà phần mềm đảm nhận, phải thực hiện đầy đủ các giai đoạn của quá trình dạy học, từ khâu củng cố trình độ xuất phát, hình thành tri thức mới, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức cho đến kiểm tra đánh giá kiến thức của HS Có sự phối hợp giữa lý thuyết, các PPDH với
sự hỗ trợ của Website Tính chuẩn mực trong Website cho phép GV chủ động về kiến thức và phương pháp tổ chức lớp học Các Bài giảng điện tử trong Website phải thể hiện được tiến trình của một giờ học
- Các yêu cầu về mặt sư phạm: Website dạy học phải thể hiện được
tính ưu việt về mặt tổ chức dạy học so với hình thức lớp học truyền thống Tính ưu việt của Website dạy học so với các phần mềm dạy học khác là khai thác triệt để khả năng hỗ trợ, truyền tải thông tin đa dạng, trực quan hoá các yếu tố hình học, kích thích động cơ học tập, tính tích cực và khả năng sáng tạo của HS
- Các yêu cầu về mặt kỹ thuật: Giao diện trên màn hình phải thân
thiện, cấu trúc site rõ ràng, các đối tượng phải được sắp xếp một cách hợp lí phù hợp với tiến trình của một giờ học, có hệ thống liên kết, điều hướng và chỉ dẫn rõ ràng Khả năng tương tác, cập nhật thông tin nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và thể hiện được tính mở Việc sử dụng các tương tác, màu sắc phải khéo léo, không nên lạm dụng khả năng trình diễn thông tin dưới dạng hình ảnh của máy tính Đặc biệt Website phải dễ sử dụng, phần mềm thiết kế ổn định và có khả năng thích ứng cao với các thế hệ máy tính và các
hệ điều hành
Trang 341.3.5.2 Quy trình thiết kế website dạy học
Quy trình xây dựng Website thường phải trải qua các giai đoạn sau:
- Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu sư phạm của Website, xây dựng
tiến trình dạy học kiến thức, thu thập và phân tích thông tin, xác định nội dung và phạm vi của Website, lựa chọn cụng cụ và trình duyệt, xây dựng hoặc thu thập các hình ảnh cần thiết
- Xây dựng và phát triển Website: Mỗi một Website đều có những
thách thức riêng, nói chung quy trình phát triển Website đều qua các giai đoạn sau:
+ Định Site: Giai đoạn này là giai đoạn xác định phạm vi nội dung
Website, xác định công nghệ và tính năng tương tác cần thiết để đáp ứng được mục tiêu đề ra Đối với các Website dạy học, giai đoạn này cũng phải xác định phương pháp sư phạm áp dụng cho Website, lựa chọn phương tiện phù hợp tự động hoá quá trình dạy học Các câu hỏi phải đặt ra: Làm thế nào
để tạo tiên đề để xuất phát, gợi động cơ kích thích? Nội dung kiến thức nào cần nhấn mạnh khi xây dựng nội dung kiến thức mới; Phương thức nào giúp
ôn tập, củng cố ; Bằng cách nào để kiểm tra, đánh giá
+ Thiết kế cấu trúc Website: Cấu trúc Website là toàn bộ cấu trúc liên
kết giữa các trang Web, cách tổ chức Website, cấu trúc nội dung Website phù hợp với phương pháp đó nêu ra, lựa chọn các tương tác cần thiết giúp người sử dụng dễ dàng khai thác Website, lựa chọn các ngôn ngữ lập trình cần thiết để thể hiện các tương tác đó, phác thảo thiết kế đồ hoạ, thiết kế các trang Web, phân đoạn thông tin thành các trang riêng lẻ
+ Xây dựng Website: Giai đoạn này bắt đầu sử dụng các công cụ xây
dựng Website, các công việc bắt đầu từ thiết kế các trang riêng lẻ, thực hiện
Trang 35theo chiến lược xây dựng Website đó nêu ra, áp dụng chiến lược cho toàn bộ Site Các công cụ càng mạnh thì càng cho phếp quản lý cấu trúc của Site càng tốt hơn, việc đó sẽ rất dễ dàng cho việc tạo các siêu liên kết (hyperlink), ngoài ra khả năng sử dụng tính năng đa phương tiện của ứng dụng là điều hết sức quan tâm (mô hình ảo, âm thanh, )
- Thực nghiệm, đánh giá và ứng dụng Website: Thực nghiệm Website cho các đối tượng cụ thể, thu thập số liệu điều tra và rút ra đánh giá, rút kinh nghiệm, sửa đổi Website và triển khai ứng dụng
1.3.6 Những hạn chế và chú ý khi sử dụng website dạy học
1.3.6.1 Những hạn chế khi sử dụng website dạy học
Sử dụng Website có sẵn nhiều khi còn tùy thuộc vào sự hiểu biết của một số người Về mặt kiến thức mặc dù đã được chuẩn hóa, tuy nhiên nếu xét về góc độ sư phạm thì chưa hẳn đã có giá trị cao Vì vậy có thể phù hợp với người này nhưng lại không thể áp đặt cho người khác Đây là hạn chế lớn nhất khi sử dụng Website được thiết kế sẵn HS khi độc lập sử dụng Website để học tập có thể có hiện tượng “nhảy cóc” giữa các nội dung của bài học, HS có thể chỉ đọc những phần mình thích và bỏ qua những phần khác, hoặc chỉ tìm những thông tin có sẵn để giải quyết yêu cầu của GV Để khắc phục hạn chế này, khi xây dựng Website người thiết kế cần chú ý:
− Xác định đối tượng HS
− Website có mục đích rõ ràng
− Thiết lập các chủ đề chính của Website
− Xác định nguồn tài nguyên về nội dung, hình ảnh thông tin mà chúng ta cần đến để tạo nền Website phù hợp với mục đích được đề ra
Trang 36− Xác định các yêu cầu sư phạm và có hướng dẫn sử dụng cụ thể Các Website được đưa lên mạng và sử dụng trên MVT vì vậy có những hạn chế khi sử dụng MVT làm PTDH Ngoài ra còn có nhược điểm: bảo mật dữ liệu, các kết nối bị hỏng bất thường có thể làm mất dữ liệu Bên cạnh tốc độ MVT cũng như đường truyền Internet cũng ảnh hưởng ít nhiều nhất là việc tải các công thức toán học và các mô hình ảo Khi HS học tập độc lập với Website trên MVT sẽ hạn chế về mặt giao tiếp giữa GV và HS,
GV khó thu nhận được những kiến thức phản hồi ngay lập tức từ HS Khi sử dụng Website dạy học với nhiều nội dung phong phú dễ dẫn HS xa rời định hướng của bài giảng mà GV đang dạy Các mối liên kết là mặt mạnh của Website, những liên kết và rẽ nhánh phong phú của Website đòi hỏi GV phải
có kiến thức bao quát rộng, phải theo dõi tất cả các liên kết.Nếu GV cho phép HS liên kết đến các tài nguyên Web khác ngoài Website dạy học , GV nên nhóm các liên kết trong trang này cách biệt khỏi phần thông tin chính Trong Website dạy học việc kiểm tra , đánh giá thường bằng hình thức trắc nghiệm Ngoài những ưu thế nổi trội thì cũng có những hạn chế như kết quả kiểm tra mà GV nhận được từ HS thường là cuối cùng, những lí luận phép tính trung gian hầu như không được giới thiệu, vì vậy GV không phát hiện được sai sót trong quá trình tư duy của HS, còn HS không rèn luyện được khả năng trình bày Để khắc phục hạn chế này GV cần có sự phối hợp với hình thức kiểm tra tự luận Hiện trạng thiết bị CNTT và trình độ tin học của
GV phần lớn chưa đủ khả năng triển khai sử dụng Website dạy học đồng
bộ Để khắc phục hạn chế này các ban ngành có liên quan cần có chính sách
hỗ trợ đầu tư thích đáng, nên tổ chức các lớp tin học định kỳ về ứng dụng CNTT vào dạy học cho GV.
1.3.6.2 Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng Website dạy học
Trang 37Website dạy học thực chất là phương tiện hỗ trợ dạy học , bản thân tự
nó không có khả năng thực hiện các nhiệm vụ của quá trình dạy học (QTDH), mọi quyết định nhằm đảm bảo những yêu cầu của một QTDH, hiệu quả mà nó mang lại đều bắt nguồn từ GV
Việc sử dụng Website dạy học phải tuân thủ những yêu cầu của hoạt động học tập của HS Mỗi thao tác của GV, mỗi chức năng hỗ trợ của Website phải diễn ra theo một trình tự lôgic chặt chẽ, phù hợp với hoạt động nhận thức của HS Website dạy học có thể hỗ trợ GV nhiều mặt, điều đó không có nghĩa là sẽ phủ nhận vai trò của GV mà ngược lại, nó tạo điều kiện tốt để GV tập trung vào việc tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của
HS Đó cũng là chức năng cơ bản của mọi PTDH
Cần khai thác hết khả năng hỗ trợ dạy học của Website, đặc biệt đối với các chức năng đưa đến những hiệu quả sư phạm Luôn quan tâm đến tính hiệu quả sử dụng là nhiệm vụ quan trọng của GV khi sử dụng các PTDH hiện đại, trong hoàn cảnh chi phí đầu tư hạn chế như hiện nay Khi sử dụng các PTDH hiện đại, đặc biệt là MVT cần hết sức chú ý, tránh phô trương hay lạm dụng sức mạnh của công nghệ ở những chỗ mà QTDH không nhất thiết cần đến nó Sử dụng Website với MVT luôn đòi hỏi môi trường mà trong đó QTDH diễn ra Những lưu ý đến điều kiện ánh sáng, âm thanh, kích thước của phòng học, công tác vệ sinh môi trường dạy học là quan tâm tới hiệu quả của việc sử dụng Sử dụng MVT với Website hỗ trợ dạy học ít nhiều làm cho QTDH phụ thuộc vào các thiết bị, nên cần lưu ý và biết cách khắc phục các trở ngại kỹ thuật do hệ thống thiết bị gây nên, có khả năng làm chủ phương tiện GV cần có sự hiểu biết nhất định về lĩnh vực tin học là yếu tố quyết định cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng Website trong dạy học
Trang 381.4 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học toán ở trường DBĐHDT
Ứng dụng CNTT hỗ trợ dạy học là một xu hướng còn khá mới mẻ đối với GV và HS ở trường DBĐHDT Để có thể tìm hiểu được thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và môn Toán nói riêng, chúng tôi tiến hành điều tra về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường DBĐHDT Trong năm học 2009 - 2010, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho 70 GV trong đó có 13 GV Toán và 312 HS ở Trường DBĐHDT Sầm Sơn Kết quả như sau:
Tổng số phiếu điều tra
Tổng số phiếu trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Sử dụng CNTT trong dạy học 70 phiếu 15 44 11
2 Sử dụng bài giảng điện tử 70 phiếu 15 44 11
3 Sử dụng phần mềm trong dạy
Trang 394 Trao đổi thông tin dạy học
trên mạng Internet
5 Sử dụng website hỗ trợ dạy
Qua số liệu trên, chúng ta thấy hầu hết GV các trường DBĐHDT đều
đã tiếp cận và biết ứng dụng CNTT hỗ trợ dạy học Tuy nhiên, các hình thức dạy học có ứng dụng CNTT như trao đổi thông tin dạy học trên mạng Internet; sử dụng bài giảng điện tử; sử dụng các phầm mềm trong dạy học;
Sử dụng website hỗ trợ dạy học chưa được GV sử dụng thường xuyên, số lượng GV không sử dụng các hình thức dạy học có ứng dụng CNTT còn chiếm tỉ lệ cao như việc không sử dụng phần mềm vào dạy học còn chiếm 51,4%, đặc biệt việc tiếp cận sử dụng website hỗ trợ dạy học chưa có GV nào thực hiện Bên cạnh việc điều tra khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, chúng tôi tiếp tục khảo sát, điều tra khả năng ứng dụng CNTT trong học tập đối với HS
Bảng 1.2: Kết quả điều tra khả năng ứng dụng CNTT&TT của HS
STT Nội dung điều tra Tổng số
ý kiến trả lời
Số ý kiến trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không
1 Tra cứu tài liệu trên mạng 312 9 321 36
2 Trao đổi thông tin học tập
Trang 40Bảng 1.3: Kết quả điều tra thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị CNTT
STT Nội dung điều tra Tổng số ý
kiến trả lời
Số ý kiến trả lời Tốt Trung