- Sách: Lịch sử Thành Phố Thanh Hóa từ 1804 - 1945 của tác giả Đinh Xuân Lâm - Lê Đức Nghi đã nêu lên một số hoạt động của nhân dân Thành phố và một số nho sĩ hưởng ứng phong trào Đông
Trang 1ph¹m thÞ quy
Trang 2Tôi xin cảm ơn Khoa Sau đại học, Khoa Lịch sử trường Đại học Vinh, trường Đại học Hồng Đức, Sở Văn hóa Thông tin và Du lịch, Ban nghiên cứu
và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa, đã tạo điều kiện thuận lợi và quan tâm đến tôi trong quá trình học tập và làm luận văn
Tôi xin cảm ơn Thư viện trường Đại học Vinh, Thư viện khoa học Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Uỷ ban nhân dân xã Hoằng Phong huyện Hoằng Hóa, xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, xã Thiệu Minh huyện Thiệu Hóa xã Hải Bình huyện Tĩnh Gia Dòng họ Lê Sĩ ở Cổ Định, dòng họ Lương ở Hội Triều, dòng
họ Hoàng Văn ở Ngô Xá, dòng họ Nguyễn ở Khả La đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm và sử lí tư liệu
Tôi xin cảm ơn TS Trần Văn Thức đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và Biên soạn luận văn
Tôi xin cảm ơn PGS TS Nguyễn Trọng Văn, PGS TS Phạm Xanh đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình lựa chọn và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn PGS TS Nguyễn Quang Hồng, TS Lê Ngọc Tạo,
TS Vũ Quý Thu, TS Trần Vũ Tài đã đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục luận văn 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THANH HOÁ TRƯỚC NĂM 1930 8
1.1 Vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên và dân cư 8
1.1.1 Vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên 8
1.1.2 Dân cư 10
1.2 Phong trào yêu nước của nhân dân Thanh Hóa trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 10
1.3 Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế 14
1.3.1 Tình hình chính trị và tổ chức bộ máy 14
1.3.2 Tình hình kinh tế 19
1.3.3 Tình hình văn hóa, giáo dục, y tế 24
1.4 Sự phân hoá giai cấp trong xã hội 27
Chương 2 TRÁCH NHIỆM LỊCH SỬ VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG CỨU NƯỚC THEO KHUYNH HƯỚNG MỚI CỦA NHO SĨ THANH HOÁ TỪ 1904 - 1915 31
2.1 Sự lựa chọn con đường cứu nước của Nho sĩ Thanh Hoá đầu thế kỷ XX 31
2.2 Đội ngũ Nho sĩ Thanh Hóa đầu thế kỷ XX 35
2.3 Nho sĩ Thanh Hoá với cuộc vận động cải cách từ 1904 - 1915 48
Trang 43.1 Những tiền đề để canh tân làng xã 65 3.2 Nho sĩ Thanh Hoá với công cuộc canh tân làng xã từ 1915 - 1930 71 3.2.1 Lương Tái Tạo với cuộc canh tân ở làng Hội Triều xã Hoằng
Phong, huyện Hoằng Hóa 71 3.2.2 Lê Trọng Nhị với công cuộc canh tân làng Cổ Định xã Tân Ninh,
huyện Triệu Sơn 80 3.2.3 Hoàng Văn Khải với công cuộc canh tân ở làng Ngô Xá xã
Thiệu Minh, huyện Thiệu Hóa 88 3.2.4 Cuộc vận động cải cách ở làng Khả La, xã Hải Bình, huyện
Tĩnh Gia 94
KẾT LUẬN 101 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC 110
Trang 5Lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc cải cách đổi mới, đỉnh cao nhất là công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, năm
1986 “Cải cách”, “đổi mới” cũng như “Cách mạng” đều xuất phát từ yêu cầu giải quyết các cuộc khủng hoảng xã hội Khi khủng hoảng đã trở nên toàn diện và sâu sắc thường phải tiến hành cách mạng và thường phải dùng đến bạo lực vũ trang, còn “cải cách”, “đổi mới” chủ yếu thực hiện bằng biện pháp hoà bình
Tuy nhiên, khi tình thế Cách mạng chưa chín muồi vẫn có thể tiến hành cải cách, đổi mới để chuẩn bị những tiền đề cho cuộc cách mạng diễn ra Lịch
sử Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX là một minh chứng cho điều đó Trong hoàn cảnh sự biến chuyển của xã hội chưa triệt để, những tầng lớp, giai cấp đại diện cho hệ tư tưởng mới chưa thực sự hình thành, nhưng trước sự ảnh hưởng của khu vực và yêu cầu của lịch sử dân tộc, bộ phận sĩ phu yêu nước tiến bộ
đã vượt qua ý thức hệ phong kiến để tiếp cận với xu hướng dân chủ tư sản với tất cả hào quang của nó Từ đó họ đi đến kết luận là muốn giành được độc lập thì phải phát triển Muốn phát triển thì phải tiếp thu văn minh khoa học kỹ thuật phương Tây, phải canh tân đất nước Mục đích chính là “khai dân trí,
Trang 6chấn dân khí”, làm cho dân giàu nước mạnh để đi tới tự lực tự cường Chính
vì thế, đầu thế kỉ XX tại Việt Nam đã ra đời một trào lưu dân tộc chủ nghĩa (trào lưu dân chủ tư sản) được coi là tiên tiến và cần thiết Hệ tư tưởng dân chủ tư sản đã nhanh chóng thổi một luồng sinh khí mới vào phong trào giải phóng dân tộc vốn đang bế tắc ở Việt Nam Các nhà Nho yêu nước là những người tiên phong hưởng ứng phong trào này Cùng với đội ngũ nho sĩ cả nước, nho sĩ Thanh Hóa sẵn sàng đứng ra gánh vác nhiệm vụ lịch sử mà cha ông giao lại Họ bắt nhập ngay với xu hướng mà Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng
Qua nghiên cứu về các phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, chúng ta không chỉ tìm hiểu sự phát triển của tư tưởng Việt Nam mà còn thấy được quá trình Việt Nam xích lại gần với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Trên thực tế, công cuộc Duy Tân ở Thanh Hóa đầu thế kỉ XX đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích mang tính thực tiễn Nhiều công trình canh tân ở Thanh Hóa đã trở thành những công trình trọng điểm để phát triển kinh
tế, văn hóa làng xã trên 80 năm qua
Để có thêm tư liệu bổ sung vào việc nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa giai đoạn này và để góp thêm cách nhìn cho các nhà quản lí trong công cuộc đổi mới Với trách nhiệm của người làm công tác nghiên cứu biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hoá, với tinh thần trân trọng lịch sử, trân trọng danh nhân Với mong muốn được đóng góp thêm một số tư liệu mới về công cuộc canh tân
làng xã Thanh Hoá Tôi chọn đề tài: “Đóng góp của Nho sĩ Thanh Hóa trong cuộc vận động Cải cách từ 1904 - 1930”, làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phong trào yêu nước theo xu hướng mới ở Thanh Hóa đầu thế kỉ XX cho tới những năm gần mới được giới nghiên cứu quan tâm, còn trước kia do
Trang 7hạn chế về cách nhìn nhận, đánh giá tầng lớp sĩ phu Nho học, cùng với việc
bổ sung tài liệu còn gặp nhiều khó khăn, nên lịch sử giai đoạn này, còn nhiều vấn đề chưa được tổng kết đánh giá, như các giai đoạn khác không gây được
sự chú ý của công luận
Những năm gần đây Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử đã xuất bản một số công trình nghiên cứu đề cập đến phong trào yêu nước ở Thanh Hóa đầu thế kỉ XX Song, chưa sâu sắc, chưa thấy được những đóng góp to lớn của đội ngũ Nho sĩ Thanh Hóa cũng như tác dụng của những công trình canh tân đầu thế kỷ
- Sách Lịch sử Thanh Hóa tập VI (1802 - 1930) của Ban Nghiên cứu
và Biên soạn lịch sử Thanh Hoá, xuất bản năm 2008 Trong chương III, tác giả Phạm Thị Quy đã đề cập đến phong trào Đông Du, Duy Tân, phong trào chống sưu thuế ở Thanh Hoá, đề cập đến một số nho sĩ Thanh Hóa tham gia phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, chống sưu thuế
- Sách: Lịch sử Thành Phố Thanh Hóa từ 1804 - 1945 của tác giả
Đinh Xuân Lâm - Lê Đức Nghi đã nêu lên một số hoạt động của nhân dân Thành phố và một số nho sĩ hưởng ứng phong trào Đông Du, Duy Tân, chống sưu thuế, đi xâu…
- Sách Làng cổ Hội Triều của Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử
Thanh Hóa xuất bản năm 2006 do tác giả Phạm Thị Quy biên soạn đã đề cập đến nho sĩ Lương Tái Tạo với công cuộc canh tân ở làng Hội Triều từ
Trang 8Khải sau khi được thực dân Pháp trả lại tự do trở về quê nhà đã khởi xướng và
tổ chức canh tân ở làng Cổ Định và Ngô Xá
- Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh
Hóa 30 năm đầu thế kỷ XX của Dương Thanh Hải Đại học Vinh năm 2002 đã
đề cập đến: Cuộc vận động cải cách ở Thanh Hoá, khẳng định phong trào Duy Tân ở Thanh Hóa là một bộ phận của phong trào Duy Tân trong cả nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, cả hai xu thế cải cách và xu thế bạo động không tách rời nhau, xu thế cải cách phát triển hơn xu thế bạo động, luận văn cũng nêu lên những đóng góp của một số Nho sĩ tham gia phong trào Đông
Du, Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, chống sưu thuế
- Luận văn Thạc sĩ lịch sử, Thành phố Thanh Hóa - Quá trình hình
thành và phát triển từ năm 1804 đến trước Cách mạng tháng 8 - 1945 của
Nguyễn Thu Hà, Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2003 đã đưa ra một số chi tiết nhỏ về vấn đề tiếp thu văn minh phương Tây và phong trào Đông Du, Duy Tân ở Thành phố Thanh Hóa đầu thế kỷ XX
Đó là những công trình đáng trân trọng, góp phần vào việc nghiên cứu đặc điểm phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu Chúng tôi tiếp tục điều tra, sưu tầm, tập hợp tài liệu để giải quyết những nhiệm vụ mà luận văn đề ra
3 Nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ
Luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau:
- Làm nổi bật vai trò của các Nho sĩ trong cuộc vận động cải cách từ
1900 -1930
- Khôi phục lại bức tranh lịch sử của phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản ở Thanh Hóa đầu thế kỷ XX
Trang 9- Đặc biệt là dựng lại bức tranh về công cuộc Canh tân ở làng xã Thanh Hóa (thông qua một số làng xã tiêu biểu, hiện nay còn di tích mang dấu ấn của công cuộc Canh tân)
- Khẳng định sức sống của những công trình Canh tân đối với sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội của địa phương qua các thời kỳ lịch sử cũng như trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
- Đội ngũ nho sĩ có tư tưởng duy tân ở Thanh Hóa đầu thế kỉ XX
- Một số làng xã khoa bảng và một số làng thực hiện Canh tân
* Phạm vi
- Giới hạn không gian trong tỉnh Thanh Hóa
- Giới hạn Thời gian từ năm 1904 đến hết năm 1930
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Bao gồm: Các văn kiện của Đảng, các công trình nghiên cứu về các nhân vật có tư tưởng Canh tân đất nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được lưu trữ tại: Thư viện trường Đại học Vinh, Thư viện Khoa học Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hóa…
- Các công trình của giới sử học viết về công cuộc Duy Tân, cải cách đổi
mới đăng trên các Tạp chí: Nghiên cứu Lịch sử, Văn hóa nghệ thuật xưa nay
- Các công trình lịch sử Đảng bộ, Điạ chí của tỉnh Thanh Hóa và các huyện Thiệu Hóa, Yên Định, Triệu Sơn, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Hà Trung, Thành phố Thanh Hóa…
- Các công trình lịch sử tỉnh, lịch sử làng, gia phả dòng họ, kỷ yếu hội thảo khoa học do Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa xuất bản
Trang 10- Tư liệu ghi chép qua các cuộc điều tra khảo sát ở một số xã: Hải Bình, Thiệu Minh, Hoằng Phong, Tân Ninh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để công trình bảo đảm tính khách quan, khoa học chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic khi nghiên cứu biên soạn Đồng thời sử dụng phương pháp đối chứng, so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp các tư liệu khác nhau để xem xét đánh giá mức độ đóng góp của nho sĩ Thanh Hóa cũng như nội dung, quy mô, tính chất phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX và kết quả của cuộc Canh tân ở một số làng xã tiêu biểu
Tiến hành điều tra, khảo sát, ghi chép, sưu tầm tư liệu tại các làng xã thực hiện canh tân
Căn cứ vào lời kể của nhân dân ở một số làng Khả La, Hội Triều, Cổ Định, Ngô Xá, qua gia phả của các dòng họ, hồ sơ di tích, lịch sử làng, giai thoại, truyền thuyết
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp vào việc:
- Cung cấp một số tư liệu mới về diện mạo đội ngũ Nho sĩ Thanh Hóa cũng như đóng góp của các nho sĩ trong phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, chống sưu thuế và công cuộc cải cách làng xã trước năm 1930
- Giới thiệu một số Nho sĩ tiêu biểu ở Thanh Hóa, làng xã tiêu biểu tiến hành canh tân thắng lợi
- Góp thêm cách nhìn nhận đánh giá lại vai trò tầng lớp sĩ phu Nho học Thanh Hóa trong cuộc vận động cải cách từ đầu thế kỉ XX đến trước năm 1930
- Có thêm căn cứ khoa học để vinh danh những nhân vật có nhiều đóng góp cho việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước của nhân dân Thanh Hóa trong
Trang 11cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Làm cơ sở để các cấp, các ngành có thẩm quyền đề xuất xếp hạng, bảo tồn, tu bổ, tôn tạo một số di tích thời kì Canh tân để tiếp tục phát huy giá trị di tích phục vụ công cuộc đổi mới hiện nay Đồng thời, góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử điạ phương thời kỳ 1904 - 1930
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục Nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1 Khái quát về tình hình Thanh Hóa trước năm 1930
Chương 2 Trách nhiệm lịch sử và cuộc vận động cứu nước theo
khuynh hướng mới của nho sĩ Thanh Hóa từ 1904 - 1915 Chương 3 Nho sĩ Thanh Hóa với công cuộc canh tân làng xã từ
năm 1915 đến năm 1930
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THANH HÓA
TRƯỚC NĂM 1930
Thanh Hóa là vùng đất thống nhất, hầu như không có sự tách nhập dù lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm đã trải qua nhiều triều đại và chính thể khác nhau Một vùng đất hội tụ đủ các yếu tố tự nhiên của rừng núi, đồng bằng, biển cả, lại là vùng đất cổ cả về địa lý, địa chất, cả về mặt lịch văn hóa đã tạo cho Thanh Hóa có một vị thế đặc biệt về địa - chính trị (geopolitie) mà theo cách nói của người xưa đây là xứ địa linh đã sinh ra không ít các bậc hiền tài
“nhân kiệt”
1.1 Vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên và dân cư
1.1.1 Vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên
Trong suốt thời kỳ cận đại (1858 - 1945), Thanh Hóa cùng hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, luôn là một tỉnh thuộc Trung Kỳ, nhiều khi được coi là vùng Bắc Trung Kỳ
Là cầu nối giữa Bắc Bộ và Trung Bộ nằm trên trục đường Thiên lý (nay
là Quốc lộ 1A)
Tên gọi tỉnh Thanh Hóa có từ năm 1841 và cho đến ngày nay
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, địa giới của tỉnh như sau:
Phía Đông đến biển Đông
Phía Tây giáp Ai Lao
Phía Nam giáp địa giới huyện Quỳnh Lưu
Phía Bắc giáp phủ Nho Quan tỉnh Ninh Bình
Đông Tây cách nhau 174 dặm, Nam Bắc cách nhau 285 dặm Đường bờ biển và đường biên giới (Việt - Lào) đã được định hình gần giống như hiện nay
Trang 13Đầu thế kỷ XX địa giới lỵ sở không có sự xê dịch Thành Thanh Hóa đóng tại địa phận xã Thọ Hạc (huyện Đông Sơn) là trung tâm chính trị kinh tế của Tỉnh
Thanh Hóa có nhiều núi non, sông suối Tuy nhiên núi ở đây không qúa cao, sông không quá sâu và chảy xiết như các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Phần đất liền của Thanh Hóa chạy dài theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Địa hình Thanh Hóa tương đối đa dạng và phức tạp, nghiêng dốc và kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng đồi, núi, trung du chiếm ba phần
tư diện tích của Tỉnh Vùng đồng bằng và vùng biển chiếm một phần ba diện tích Có thể nói, Thanh Hóa có đủ các dạng địa hình từ núi tương đối cao đến đồi ở vùng trung du, đồng bằng cao thấp bậc thang, đồng chiêm trũng, đến bãi bồi cồn cát, ruộng bùn ven biển lại thêm các đảo ven bờ và ngoài khơi
Thanh Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa (có 2 mùa nóng - lạnh rõ rệt và thời tiết rất phức tạp Tỉnh có hơn 20 con sông lớn nhỏ, trong đó sông Mã, sông Chu được coi là “huyết mạch” của Tỉnh Ngoài ra còn có các cửa biển lớn có giá trị về mặt kinh tế và quốc phòng như cửa Lạch Trường, Hội Triều, Lạch Bạng, cửa Hới Đất đai Thanh Hóa màu mỡ lòng đất chứa nhiều khoáng sản quý như sắt, Inmenít, Cromit, Chì, Antimoan, Niken - Coban, Thiếc - Thiếc, Vonfram, Thuỷ ngân, Vàng Quặng, Đá, Sành, Sứ, Thuỷ tinh, Nước khoáng
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều cảnh quan văn hóa và di tích lịch sử quý báu Hầu hết các di tích lịch sử văn hóa đã được các triều đại sắc phong
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên xứ Thanh thuận lợi cho việc phát triển một nền kinh tế toàn diện về Nông - Lâm - Ngư nghiệp và kinh tế Du lịch Thanh Hóa cũng là vùng đất chiến lược trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc
Trang 141.1.2 Dân cư
Sự phát hiện một số di chỉ Khảo cổ học ở Núi Đọ, Hoa Lộc, Đa Bút, Đông Sơn (Thanh Hóa) đã cho phép chúng ta hình dung về sự tồn tại của người Việt cổ ở xứ Thanh
Đầu thế kỷ XX, Thanh Hóa có 7 dân tộc anh em nhau cùng sinh sống,
đó là: người Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ mú Ngoài ra tỉnh còn
có thêm người Pháp, người Hoa, Ấn Kiều, Minh Hương…
Dân số của tỉnh Thanh vào đầu thế kỷ XX đã có sự tăng trưởng so với trước Trong các năm 1903, 1904, 1909, 1910, 1911 bão lụt xảy ra nhiều nơi Thanh Hóa trở thành địa bàn định cư của cư dân nơi khác đến Sự tăng trưởng dân số kéo theo các cuộc di dân trên khắp địa bàn của tỉnh, đặc biệt ở các tộc người Thái, Mường, Dao phát triển mạnh về phía Tây Nam tỉnh Năm 1908 có 556896, năm 1915 có 69,912 người [3,159], năm 1921 có 758.000 người [3, 227]
Theo thống kê của người Pháp, năm 1930 dân số toàn tỉnh Thanh Hóa
có 900.000 người, trong đó có 50.000 người Mường, 30.000 người Thái, 400 người Hoa Kiều, 243 người Âu, còn lại là người Kinh Trong tổng số 900.000 người của tỉnh Thanh Hóa, Thành phố Thanh Hóa có 10.820 người, trong đó người Pháp ở Thành phố là 193 người, người Hoa là 321 người [20, 98]
1.2 Phong trào yêu nước của nhân dân Thanh Hóa trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Thanh Hóa là đất phát tích của “Tam Vương Nhị Chúa”, vùng đất có truyền thống học hành khoa cử Đây cũng là vùng đất có truyền thống yêu nước và cách mạng Vùng đất luôn được coi là “vùng phên dậu phía Nam của đất nước” Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, Thanh Hóa đã làm nên những chiến công vang dội trong lịch sử dân tộc Đó là các cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248, Khởi nghĩa của Lý Nam Đế (542 - 602), Dương
Trang 15Đình Nghệ năm 931, Ngô Quyền năm 938, Lê Hoàn năm 981, Lê Lợi năm
1428 Thanh Hóa đã từng là căn cứ kháng chiến của nhà Trần, đại bản doanh của quân Tây Sơn Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân tỉnh Thanh hăng hái tham gia phong trào Cần Vương cứu nước (1885) dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu văn thân, như Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tú Phương
Đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của các nước Nhật Bản, Trung Quốc khi phong trào dân tộc, dân chủ trong cả nước nổi lên mạnh mẽ, nhân dân Thanh Hóa cũng kịp thời bước vào cuộc vận động Cách mạng theo khuynh hướng mới hoà vào dòng chảy của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Đội ngũ Nho sĩ, trí thức ở Thanh Hóa đã đứng ra tổ chức nhiều hoạt động yêu nước khác nhau, lôi cuốn đông đảo nhân dân, làng xã tham gia
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, luồng gió Cách mạng mới tràn vào Việt Nam Tháng 6-1925 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và bắt đầu tiến hành công tác truyền bá của nghĩa Mác - Lênin vào trong nước
Từ năm 1925, phong trào yêu nước của nhân dân Thanh Hóa đã được nâng lên một bước phát triển mới Khi Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và
xử tù chung thân, nhân dân Thanh Hóa, nhất là tầng lớp thanh niên, học sinh,
đã đấu tranh lấy chữ ký yêu cầu thực dân Pháp trả lại tự do cho Ông Các nhân sĩ, giáo viên và học sinh các huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Nông Cống
tổ chức đón tiếp Phan Bội Châu tại Phà Ghép Tháng 12-1925, được tin thực dân Pháp sẽ giải Phan Bội Châu vào Huế, giáo viên và học sinh thuộc các huyện Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Yên Định… đã có mặt tại thị xã Thanh Hóa mong được đón tiếp Ông Tuy cuộc đón tiếp không thành, song đã tỏ rõ thái
độ trân trọng của nhân dân Thanh Hóa đối với nhà chí sĩ kính mến Tháng 3 năm 1926, nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh từ trần Các huyện, thị, làng
Trang 16xã trong tỉnh đã tổ chức lễ truy điệu Tiêu biểu là 150 giáo viên và học sinh trường tiểu học Pháp - Việt tổng Bái Trạch (huyện Hoằng Hóa) tổ chức lễ truy điệu tại thôn Hội Triều Tháng 3-1927, các thân sĩ yêu nước Thị xã Thanh Hóa đã gửi kiến nghị lên công sứ Pháp ở Thanh Hóa yêu cầu được tổ chức kỉ niệm ngày giỗ đầu của Phan Chu Trinh… Sôi nổi nhất là những hoạt động yêu nước của học sinh các trường tiểu học ở Đông Sơn và Thị xã Thanh Hóa, đấu tranh đòi bỏ lệ cấm nói tiếng Việt trong trường, đòi kỷ niệm ngày mất của Phan Chu Trinh Nổi bật là những hoạt động nhằm truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản ở Thanh Hóa thời điểm này là hoạt động của Đinh Chương Dương Một hội viên của tổ chức Tâm tâm xã do Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu tổ chức lãnh đạo, Đinh Chương Dương đã tuyển lựa được một số thanh niên học sinh giàu nhiệt tình yêu nước của Thanh Hóa sang huấn luyện ở Quảng Châu (Trung Quốc), trong đó có đồng chí Lê Hữu Lập, người cộng sản đầu tiên của nhân dân Thanh Hóa Sau đó, tháng 5-1926 Hội “Đọc sách báo cách mạng” đã ra đời tại thị xã Thanh Hóa nhằm giúp cho quần chúng hiểu biết về Cách mạng tháng Mười, Chủ nghĩa Mác - Lênin và những bài báo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc… Từ Hội “Đọc sách báo cách mạng” ở Thị xã đã nhanh chóng nhân ra nhiều cơ sở khác, như ở làng Mao Xá, trường tiểu học Pháp - Việt tổng Kim Khê (huyện Đông Sơn) và một số nơi thuộc huyện Thiệu Hóa Những cơ sở này của Hội đã đặt nền móng ban đầu cho tổ chức Hội Cách mạng Việt Nam Thanh niên gây dựng ở Thanh Hóa
Đồng chí Lê Hữu Lập đã tổ chức được ba chuyến xuất dương, đưa một số trí thức Thanh Hóa sang dự huấn luyện Cách mạng ở Trung Quốc Chuyến đầu tiên gồm các đồng chí Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Khang Chuyến thứ hai gồm các đồng chí Hoàng Khắc Trung, Hoàng Trọng Phựu
và Nguyễn Đạt Chuyến thứ ba gồm các đồng chí Nguyễn Mậu Sung và Võ Danh Thùy
Trang 17Sau quá trình vận động, lựa chọn con đường cứu nước của các Nho sĩ, trí thức, phong trào cách mạng ở Thanh Hóa bước vào thời kỳ lịch sử mới Vào đầu năm 1927, tại Thanh Hóa đã xuất hiện hai tổ chức Cách mạng, đó là
tổ chức Tân Việt, Cách mạng Đảng và Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng tuy là hai tổ chức chính trị khác nhau, nhưng đều có xu hướng và mục tiêu chính trị giống nhau, có mối quan hệ với nhau Cả hai tổ chức đều hoạt động
bí mật Thành phần chủ yếu là học sinh, trí thức và tầng lớp tiểu tư sản Cả hai đều có chung mục đích là tuyên truyền những tư tưởng cách mạng theo xu hướng cách mạng vô sản Đó là tiền đề quan trọng cho sự hình thành và ra đời của một số tổ chức cộng sản Việt Nam trên đất Thanh Hóa
Ngày 3-2-1930 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức Hội nghị thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất ở Việt Nam Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Xứ uỷ Bắc Kỳ rất quan tâm tới việc thành lập tổ chức Cộng sản ở Thanh Hóa Đồng chí Lê Công Thanh (xứ uỷ viên) được cử về Thanh Hóa liên lạc với các hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên để truyền đạt chủ trương của Xứ uỷ Ngày 16-6-1930, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp về Đông Sơn bắt mối với cơ sở Hàm Hạ
Ngày 25-6-1930 dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, Hội nghị thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hàm Hạ được tiến hành Đồng chí Lê Thế Long được cử làm Bí thư Đó là chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa
Tháng 7-1930, hai chi bộ Đảng được thành lập ở làng Phúc Lợi Thiệu Hóa và Yên Trường huyện Thọ Xuân
Như vậy, đến cuối tháng 7-1930, tại Thanh Hóa đã có 3 chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hội đủ điều kiện để tiến tới thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa
Trang 18Ngày 29-7-1930, tại làng Yên Trường, huyện Thọ Xuân, dưới dự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, Hội nghị đại biểu của ba chi bộ trên được tổ chức Hội nghị đã tuyên bố thành lập Đảng bộ tỉnh, bầu ban chấp hành gồm ba đồng chí Đồng chí Lê Thế Long được bầu làm Bí thư Việc thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa là sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn của phong trào cộng sản tỉnh nhà
1.3 Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế
1.3.1 Tình hình chính trị và tổ chức bộ máy
Bắt đầu từ tháng 11 năm 1885 Thực dân Pháp đổ bộ vào Thanh Hóa Tổng đốc Nguyễn Thiện Thuật và Án sát Vương Duy Trinh bỏ cửa thành Mặc dù Bố chánh Nguyễn Khoa Luận và một bộ phận quan lại tiêu biểu hưởng ứng phong trào Cần Vương cùng nhân dân chống Pháp, nhưng đã bị đàn áp đẫm máu Từ năm 1887 thực dân Pháp cơ bản đặt xong ách thống trị đối với nhân dân Thanh Hóa nói chung và tỉnh lị Thanh Hóa nói riêng
Ngày 17 tháng 10 năm 1887 Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh lập Liên Bang Đông Dương gồm ba Xứ Việt Nam và Campuchia sau thêm Lào và Quảng Châu Loan Trong đó Việt Nam chia làm 3 kỳ Bắc, Trung, Nam với 3 chế độ chính trị khác nhau Bắc Kỳ là xứ bảo hộ trực tiếp, Trung Kỳ là xứ bảo
hộ gián tiếp (vẫn còn giữ lại chế độ phong kiến về hình thức) Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do người Pháp quản lý Đứng đầu Liên bang Đông Dương là một viên chức cao cấp người Pháp mang chức danh là Toàn Quyền Đông Dương
Đầu thế kỷ XX, Thanh Hóa thuộc xứ Trung Kỳ, bộ máy chính quyền cấp Tỉnh tồn tại song song hai thể chế chính trị:
Bộ máy chính quyền Pháp: Đứng đầu Tỉnh là Viên công sứ người Pháp (Hoặc Phó sứ) giúp việc cho công sứ có Toà công sứ, Hội đồng hàng tỉnh
Trang 19Bộ máy chính quyền của Triều đình Nhà Nguyễn: Đứng đầu là viên Tổng đốc hoặc Tuần phủ, phụ tá cho Tổng đốc hoặc Tuần phủ là Bố chánh đặc trách về thuế khoá và Án sát đặc trách về tư pháp, một đốc học, một bang biện
Dưới chính quyền cấp tỉnh là chính quyền phủ, huyện, châu (miền núi) đứng đầu có tri phủ, tri huyện, tri châu Thay mặt Công sứ và Tổng đốc, Tuần phủ cai quản từng phủ hoặc từng huyện Có một số nha thuộc giúp việc như:
Đề lại, Lục sự, Thừa phái Ngoài ra còn có các đội phủ, đội huyện vừa làm nhiệm vụ phục dịch các quan vừa đựơc sai phái xuống làng xã mỗi khi có công việc
Đơn vị trung gian giữa phủ và huyện với các làng và xã là Tổng, mỗi một Phủ hay một Huyện có nhiều Tổng (thường là dưới 10 Tổng) do chánh, phó Tổng là người Việt cai quản Mỗi tổng quản lý một số làng xã (thường là trên dưới 10 làng xã)
Phần đông số quan lại ở Thanh Hóa không chỉ là người trong tỉnh mà còn từ các nơi khác được bổ nhiệm về, bắt buộc phải được thông qua chính quyền Pháp
Bộ máy hành chính ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa đứng đầu là Tri châu Tuy nhiên, các tộc người Thái, người Mường, Dao thường sống thành từng Mường Mỗi tộc người có Thổ ty hoặc Quan lang cai trị, mỗi Châu, Huyện có thể có nhiều Mường hoặc vài ba Mường Trên thực tế đơn vị làng xã ở miền núi là do chính quyền người Việt đặt ra từ năm 1900, ít phù hợp với điều kiện tự nhiên địa bàn cư trú của tộc người Các ông mường và hệ thống thổ ty lang đạo giữ vị trí đặc biệt quan trọng quyết định sự vận hành của thiết chế bản mường
Bộ máy thống trị tỉnh lỵ Thanh Hóa đứng đầu là viên Đốc lý (do Công
sứ chủ tỉnh kiêm nhiệm) và một Hội đồng tư vấn Thành phố gồm Công sứ,
Trang 20Tổng đốc, hai đại biểu người Pháp, hai đại biểu người Việt (thuộc quan lại địa chủ tư sản)
Bộ máy đàn áp ở cấp tỉnh có viên Đề đốc trông coi việc binh, sau đó có
Sở Giám binh, Toà Nam án, Ty Cảnh sát, nhà tù (nhà tù Thanh Hóa đặt ngay trong thành Thanh Hoá, sau dinh Tổng đốc và bố chánh) Việc tuyển quân, mộ lính, xét xử giam giữ ở cấp phủ huyện, làng xã do Tri Phủ, Tri Huyện định đoạt Tuy nhiên, những vụ trọng án (chính trị) phải đưa về Tỉnh
Ngoài ra chính quyền Pháp còn thiết lập hai Sở đại lý đặt tại Hồi Xuân Quan Hóa (cửa ngõ tiếp giáp với Lào); và đặt ở Bái thượng thuộc vùng đất (Thọ Xuân, Thường Xuân) do người Pháp cai quản có quyền thay mặt Công
sứ Thanh Hóa giải quyết những công việc cần thiết trong khu vực Đồng thời, chính quyền Pháp còn xây dựng các căn cứ quân sự chốt giữ các khu vực trọng yếu của tỉnh ở Bỉm Sơn, Sầm Sơn, Yên Lược, Thị xã Thanh Hóa, mỗi huyện có một đồn lính khố xanh do người Pháp chỉ huy
Bằng các Nghị định ngày 13tháng 1 năm1919, Quy ước ngày 1 tháng 6 năm 1925, thực dân Pháp đã thâu tóm toàn bộ quyền lực vào bộ máy thống trị Trên thực tế không có sự song hành hai thể chế chính trị: thực dân và phong kiến mà chỉ tồn tại một chính quyền duy nhất do người Pháp quản lý
Bộ máy Nam triều trở thành công cụ đắc lực, phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Thanh Hóa cũng như trên phạm vi cả nước
Cuối thế kỷ XIX, tỉnh có 5 phủ, gồm 16 huyện, 3 châu, 3 huyện ky mi, tất cả gồm 128 Tổng, 2008 Xã, Thôn, Trang, Trại, Xã, Giáp, Vạn, Phường,
Ấp, Động, Man, Mường và 15 Thuỷ cơ [3,156]
Từ năm 1918 đến 1925, Thanh Hóa gồm có 5 Phủ (mỗi Phủ chia thành nhiều huyện), 9 Huyện, 5 Châu với tổng số 135 Tổng trực thuộc các Phủ, Huyện, Châu và 1983 Làng trực thuộc các tổng [3,225]
Trang 21Đến năm 1925 Pháp đặt thêm Châu Tân Hoá Tỉnh Thanh Hóa lúc này gồm có 7 Phủ: Hà Trung, Hoằng Hóa, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Tĩnh Gia, Nông Cống; 7 huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Yên Định, Quảng Xương; 6 châu: Quan Hóa, Thường Xuân, Lang
Chánh, Ngọc Lặc, Như xuân, Tân Hóa [3,226] Dưới đây là Sơ đồ hệ thống
đơn vị hành chính Thanh Hóa (1919 - 1930)
(Nguồn: Lịch sử Thanh Hóa, tập IV, 1802 - 1930, Nhà xuất bản Khoa
học Xã hội - Hà Nội, 2008, trang 227)
Nhằm trực tiếp nắm toàn quyền cai trị tỉnh lỵ, thực dân Pháp buộc vua Thành Thái (1889-1907) kí Đạo dụ ngày 12 tháng 7 năm 1899 thành lập Thị
Tỉnh Tổng đốc
Phủ
Tri phủ
Hà Trung,
Hoằng Hóa, Thọ
Xuân, Thiệu Hóa,
Đông Sơn, Tĩnh Gia,
Nông Cống
Huyện Tri huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Yên Định, Quảng Xương
Châu Tri châu Quan Hóa, Thường Xuân, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Như Xuân, Tân Hóa
Tổng Chánh tổng
Trang 22xã Thanh Hóa Từ đây quan lại, Chính Phủ Nam Triều không còn quyền hành quản lý thị xã Viên bang tá ăn lương theo ngạch Nam triều chỉ có nhiệm vụ giữ gìn trật tự công cộng trong thị xã Tiếp đó, ngày 31 tháng 5 năm 1929, Toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định nâng cấp Thị xã Thanh Hóa lên Thành phố Thanh Hóa là Trung tâm chính trị kinh tế - xã hội của Tỉnh Theo Nghị định trên, đơn vị hành chính cơ sở trực thuộc Thành phố Thanh Hóa cũng được điều chỉnh từ ngày 01 tháng 1 năm 1930 gồm 6 phường: Đệ Nhất,
Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ, Đệ Lục, dưới phường là phố trực thuộc
Sự ra đời Trấn lỵ Thị xã Thanh Hóa mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới của Xứ Thanh và bắt đầu cho truyền thống mới của đô thị Thanh Hóa Với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp thì phần “Thị”: của tỉnh lỵ Thanh Hóa có bước phát triển mới Trong thực tế, Đô thị Thanh Hóa đã trở thành một thị trường lao động làm thuê và tiêu thụ hàng hóa cho người Pháp
Như vậy kể từ năm 1884 trở đi, toàn bộ xã hội Việt Nam nói chung trong đó có Thanh Hóa nói riêng bị đặt dưới sự quản lý điều hành của chính quyền thuộc địa Đặc biệt từ năm 1901, khi thực dân Pháp truất bỏ quyền của Nam triều, đặt Thanh Hóa dưới quyền bảo hộ của chính quyền thực dân, thành lập toà Khâm sứ thì chính quyền Thanh Hóa là một bộ phận của chính quyền thực dân Vai trò của Nam triều chỉ còn là hình thức, rất mờ nhạt Bên cạnh hệ thống Tổng đốc, Bố chính, Án sát các chức Phủ, Châu, Huyện còn có
bộ máy quản lí làng xã Song về cơ bản, tổ chức bộ máy cơ sở của Thanh Hóa
từ năm 1985 đến năm 1930 chưa có thay đổi đáng kể Nhìn dưới góc độ chính quyền xã hội Việt Nam, trong đó có Thanh Hóa thời cận đại đã mang tính chất thuộc địa nửa phong kiến
Trang 231.3.2 Tình hình kinh tế
* Nông nghiệp
Thanh Hóa là một tỉnh rộng lớn cũng là một trong những vựa lúa lớn nhất Bắc Trung Kỳ Thanh Hóa cũng là địa phương có những sản vật đặc biệt như “Trịnh Vạn Ngọc Quế” [3,168] Và là vùng đất giàu tiềm năng về khoáng sản Chính vì lẽ đó, sau khi đặt xong bộ máy cai trị ở Thanh Hóa thực dân Pháp dùng mọi biện pháp tiến hành chính sách khai thác triệt để nguồn tài nguyên, đất đai khoáng sản, sản vật [3, 168], nguồn nhân công của xứ Thanh
Trong khai thác nông nghiệp, tư bản Pháp tập trung vào việc chiếm đoạt ruộng đất, lập đồn điền và xây dựng các công trình quân sự Tính đến tháng 12 năm 1929 tư bản Pháp (và người Âu) đã có 6865 ha diện tích đất đai
ở Thanh Hóa trở thành đồn điền chính thức và 10.529 ha đất thuộc quyền sử dụng của các đồn điền tạm thời Toàn bộ số ruộng đất của Thanh Hóa bị thực dân Pháp chiếm đoạt là 24700 ha (toàn xứ Trung Kỳ là 168000 ha) [3,240] Năm 1928, tư bản Pháp đã thiết lập 23 đồn điền tại Thanh Hóa, trong đó có 5 đồn điền được thành lập trước chiến tranh thế giới thứ nhất
Dưới đây là danh sách các điền chủ ở Thanh Hóa giai đoạn trước và sau
chiến tranh thế giới thứ nhất:
Trang 24Giai
Tên đồn điền
Năm thành lập
Diện tích (ha)
Ghi chú
1
+ Chăn nuôi
Trồng trọt + Chăn nuôi
Hương
Ngọc Bờ Thạch Thành
ngoại quốc
người nước ngoài
(Nguồn: Lịch sử Thanh Hóa, Tập IV, 1802 - 1930, Nhà xuất bản Khoa
học Xã hội - Hà Nội, 2008, tr 241)
Trang 25Ngoài ra, một số địa chủ ở Thanh Hóa dựa vào sự bảo trợ của Triều đình và chính quyền thực dân cũng tìm mọi cách chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, điển hình như đồn điền của Nguyễn Hữu Ngọc (ở Đông Sơn, Nông Cống, Quảng Xương), Bát Soạn (ở Yên Định, Mỹ Hoá), Hà Văn Ngoạn (lập trại Mả Hùm, Phúc Địa); Nguyễn Thị Từ (lập ấp Xa Thư), Ưng (Dinh lập ấp Tiền thôn)
Vào những năm 20 của thế kỷ này, Thanh Hóa có khoảng 14500 ha ruộng đất tập trung ở vùng tam giác châu thổ sông Mã, sông Chu như các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, Yên Định, Ngoài ra, còn có 4200 ha ruộng công và 10670 ha ruộng công bỏ hoang hóa Số ruộng công này dần dần tập trung vào tay bọn địa chủ mà chủ yếu là bọn chức dịch, kì hào, tay sai của chính quyền thực dân [8,10]
Phần lớn người nông dân Thanh Hóa rơi vào tình trạng mất đất canh tác, một số phải đi làm thuê nơi khác để kiếm sống hay nhận ruộng phát canh thu tô Đời sống người nông dân làng xã ngày càng trở nên bần cùng
* Công nghiệp
Công nghiệp khai thác mỏ được tư bản Pháp chú trọng hơn cả Từ năm
1900, thực dân Pháp đã cho các kĩ sư địa chất của trường Viễn Đông Bác Cổ tiến hành tìm kiếm điều tra địa chất Đến năm 1911, đã xác định được 65 khu
mỏ trong toàn tỉnh và bắt đầu khai thác mỏ đồng ở Lương Sơn (Thường Xuân), mỏ chì pha bạc ở Điền Lư (Bá Thước), mỏ crôm ở Cổ Định (Triệu Sơn), mỏ Phôtphat ở Đông Sơn, Tĩnh Gia, Quan Hóa, mỏ chì ở Quảng Dạ (Như Xuân), mỏ kẽm ở Quang Sơn (Tĩnh Gia) Tuy nhiên, việc khai thác mỏ
ồ ạt nhất bắt đầu từ năm 1915 - 1930 [3,173]
Việc khai thác tài nguyên lâm sản cũng được đẩy mạnh do yêu cầu của việc bắc cầu phà, đường sắt, đường điện, và nguyên liệu cho nhà máy diêm, củi và nhu cầu sản xuất, tiêu dùng Từ năm 1925 - 1927 trung
Trang 26bình mỗi năm thực dân Pháp đã khai thác 4700 tấn gỗ lim của Thanh Hóa để đưa đi xuất khẩu [3, 248]
Đặc biệt, chính quyền Pháp chú ý khuyến khích việc khai thác trầm hương, cao su, quế, cánh kiến Trước tốc độ khai thác một cách ồ ạt của tư bản người Pháp khiến cho nguồn tài nguyên ở phía Tây Thanh Hóa trở nên cạn kiệt nhanh chóng [3,174]
Năm 1905, tư bản Pháp đã gọi cổ phần thành lập Nhà máy cưa xẻ và chế biến diêm Hàm Rồng (một chi nhánh của công ty vải sợi Nam Định) Nhằm hai mục đích, vừa triệt để khai thác nguồn nguyên liệu ở trong Tỉnh để xuất khẩu, vừa thu lợi nhuận kinh doanh từ nguồn nhân công rẻ mạt Ngoài ra,
tư bản Pháp còn xây dựng một Nhà kho và Nhà đóng chai rượu thuộc Công ty độc quyền Phôngten (Fontaine) tại làng Nam Ngạn, Hàm Rồng Tư bản Pháp độc quyền sản xuất rượu và mua bán thuốc phiện, mở các tiệm hút, tiệm rượu, sòng bạc vừa đầu độc nhân dân vừa tăng thu lợi nhuận tối đa Những ruộng muối ven biển xưa kia người dân có thể tự do khai thác, nay bị cấm, người Pháp đứng ra cai quản lập công ty muối và bán giá rất cao [3,174]
Để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, giải trí của người Pháp và một số quan chức người Việt, năm 1927, một tư sản người Việt là Hoàng Văn Ngọc đã đứng ra đầu tư vốn xây dựng Nhà máy nhiệt điện Hàm Rồng
Các nghề thủ công truyền thống ở Thanh Hóa giai đoạn này không phát triển và cạnh tranh được với hàng hoá phương Tây Tình hình sản xuất hàng hóa tiểu thủ công nghiệp Thanh Hóa vẫn ở phạm vi nhỏ lẻ, manh mún, chưa
có tính quy mô và chuyên môn hoá Sản phẩm chưa có giá trị kinh tế cao Chủ yếu phục vụ trong tỉnh và chỉ đủ nuôi sống trong gia đình Tuy nhiên, cũng có một số nghề thủ công truyền thống (điển hình như gốm, sứ) bước đầu tiếp xúc
và gia nhập vào kỹ nghệ, kỹ thuật đương đại tuy nhiên ở mức độ hạn hẹp Có
lẽ chính vì thế mà quá trình đô thị hoá ở Thanh Hóa diễn ra khá chậm chạp so
Trang 27với nhiều tỉnh khác Nhưng cũng chính vì vậy mà tỉnh Thanh lại là nơi bảo tồn và lưu giữ nhiều nhất những nét cổ truyền của nền văn hoá dân tộc
Thực dân Pháp độc quyền nắm giữ hoạt động thương nghiệp, không khuyến khích sản xuất nhưng lại đánh thuế rất cao mọi sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp, thủ công mỹ nghệ
Để can thiệp sâu thêm vào đời sống nông dân nước ta, trong những năm 1925-1930 Ngân hàng Đông Dương đã phối hợp với các cơ quan chính quyền thực dân xây dựng 10 Nông phố ngân hàng tại các tỉnh Bắc, Trung, Nam nhằm cho vay nặng lãi Nông phố Ngân hàng được thành lập tháng 6 năm 1928 tại Thanh Hóa (là Quỹ tín dụng nông nghiệp Tương tế) trực thuộc ngân hàng Đông Dương Đây là một chuyển biến của quy luật kinh tế của ngành kinh doanh tiền tệ Thế nhưng với cách thức cho vay của Nông phố ngân hàng chỉ có lợi cho ngưòi giàu có, chức sắc, vì chỉ có họ mới đủ điều kiện đứng vay rồi cho nông dân vay lại để thu lãi cao
Để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, đầu thế kỷ XX các công trình giao thông đường bộ, đường sắt, cầu phà được chính quyền Pháp chú ý
tu bổ, mở mang Trong đó đáng kể nhất là con đường kiểm soát vùng Bắc Thanh Hóa Đặc biệt là công trình làm đường xe lửa Hà Nội - Vinh, bắt đầu
từ cuối năm 1899 Với sự nỗ lực của chính quyền Pháp ngày ngày 09 tháng 1 năm 1903, đầu tàu hoả từ Hà Nội về tới Ninh Bình, ngày 20 tháng 12 năm
1903 đến bờ Sông Mã (địa phận xã Hoàng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) Ngày 01 tháng 1 năm 1905 khánh thành Cầu Hàm Rồng vượt qua sông
Mã Ngày 17 tháng 3 năm 1905 tuyến đường sắt Hà Nội - Thanh Hóa - Vinh dài 105 km với 10 ga dừng được thiết lập trong tỉnh từ Bắc đến Nam Đường sắt chiếm ưu thế trong việc vận chuyển hàng hóa Tư bản Pháp đã sử dụng hệ thống đường sắt và các ga Thanh Hóa, Hàm Rồng, Đò Lèn, Yên Thái làm nơi tập kết và vận chuyển tài nguyên vơ vét được ở Thanh Hóa Nền ngoại
Trang 28thương đã lợi dụng tối đa tuyến đường sắt để buôn bán, vì giá vận chuyển thấp và cũng do việc vận chuyển bằng đường sông chậm chạp và khó khăn
Nhìn chung, hệ thống giao thông ở Thanh Hóa đầu thế kỷ XX đã có nhiều thay đổi đáng kể Nhiều tuyến đường mới ra đời nối trung tâm huyện lỵ,
và tới các chợ lớn trong tỉnh như chợ Bản, chợ Vườn Hoa (chợ tỉnh), chợ Bái Thượng thuận lợi cho việc đi lại giao lưu buôn bán Tuy vậy, các tuyến đường sắt và tuyến đưòng ô tô, đường thuỷ phần lớn phục vụ cho người Pháp vận chuyển hàng hóa và hành khách Tuyến đường sông vẫn được sử dụng song không được cải tạo
Nhìn chung, nền kinh tế Thanh Hóa, trước năm 1930 vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp Mặc dù đã có một vài chuyển biến theo hướng công nghiệp, song còn rất yếu kém Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nông nghiệp với cơ cấu kinh tế xã hội cổ truyền Mặc dù có những yếu tố kinh tế tư bản do tác động từ quá trình khai thác và thống trị của thực dân Pháp nhưng điều đó vô cùng mờ nhạt, chưa định hình thành những yếu tố cụ thể
1.3.3 Tình hình văn hóa, giáo dục, y tế
Ngay từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam Quá trình xâm lựơc đó đồng thời là quá trình xâm nhập của văn hóa phương Tây, cùng với những phương tiện kỹ thuật thông tin vàoổtng nước nói chung
và Thanh Hóa nói riêng
Bên cạnh việc xây dựng các cơ quan hành chính quân sự, trung tâm kinh tế ở Thành phố Thanh Hóa và ở một số phủ, huyện trong tỉnh, thực dân Pháp đã chú trọng tới việc tuyên truyền những tệ nạn xã hội như: mại dâm, cờ bạc, uống rượu cồn, hút thuốc phiện, bói toán đồng bóng Hòng thực hiện chính sách mỵ dân và ru ngủ tinh thần yêu nước chống xâm lược của nhân dân Tuy vậy, thông qua một số tác phẩm văn hóa, sách báo phương Tây được
Trang 29du nhập vào Thanh Hóa, hệ tư tưởng dân chủ của các nước trong khu vực đã đựơc một số trí thức tiến bộ ở Thanh Hóa tiếp cận và đón nhận
Tu sửa xây dựng hàng chục nhà thờ Thiên chúa giáo để truyền đạo Năm
1679, Thanh Hóa thuộc địa phận Tây Đàng Ngoài cho đến năm 1901 là thành phần của Địa phận Thanh Bắc kỳ Duyên Hải gồm Thanh Hóa nội và Thanh Hóa ngoại (Ninh Bình) Giáo phận Thanh Hóa có 18 giáo xứ trong số 56 giáo
xứ của Địa phận cũ Phát Diệm (Thanh Hóa, cửa Bạng, Liên Nghĩa, Nhân Lộ,Tam Tổng, Phong Ý, Phúc Long, Mỹ Điện, Thái Yên, Điền Hộ, Mục Sơn, Dương Giao, Kẻ bền, Ngọc Cao, Kẻ Dừa, Tân Hải, Vân Lung, Kẻ Lăng Với 440.000 người Công giáo trong đó 7.000 người dân tộc Thái, Mường
Khuyến khích xuất bản sách, báo tuyên truyền về nền “văn minh” của nước Pháp Đầu thế kỷ XX Thanh Hóa còn bảo lưu khá đậm nét các hoạt động văn hóa truyền thống của người Việt cổ như: Tục thờ thần Trống đồng, các trò diễn dân gian trò Xuân Phả, Chèo Chải, Múa Đèn, Bình Ngô Phá Trận, Chư Hầu Lai Triều, Lễ Hội Pôồn Pôông (của người Mường), Kin Chiêng boọc mạy (của người Thái), cấp Sắc (của người Dao) Thời kỳ này, loại hình văn hóa phi vật thể làng xã phát triển mạnh góp phần bảo lưu nét đẹp truyền thống của xứ Thanh
Các sách viết về Thanh Hóa thời kỳ này gồm có sách “Thanh Hóa quan
phong” của Vương Duy Trinh, sách Di tích thắng cảnh Thanh Hóa (La
Provincede Thanh Hóa) của học giả người Pháp Le Breton, sách Tỉnh Thanh
Hóa (Le Thanh Hoa) của học giả người Pháp Ch.Robequain
Thời kỳ này, nghệ thuật kiến trúc Thanh Hóa vừa kế thừa truyền thống dân tộc vừa tiếp thu văn hoá Hán và văn hóa Phương Tây Trên đất Thanh Hóa đã xuất hiện kiến trúc nhà phương Tây nhưng chủ yếu là công sở, nhà ở cho người Pháp và một số nhà giàu Tiêu biểu cho kiến trúc quân sự phương Tây là thành Thanh Hóa, được xây dựng theo kiểu vô - băng (Vauban) kiểu
Trang 30thành quân sự của Pháp có nhiều điểm nổi bật trong việc bố trí pháo đài, góc nhãn, đường chân ngoài, đường ngoài hào phù hợp với điều kiện quân đội trang bị vũ khí bắn đạn bằng thuốc súng
Mỹ thuật Thanh Hóa cũng bắt đầu xuất hiện dòng hội họa phương Tây hiện đại
Đội ngũ thợ thủ công Thanh Hóa đã tạo nên những tác phẩm mỹ thuật làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần nhân dân Đó là những nghệ nhân tạc bia, tạc tượng, chạm khắc đá, thợ mộc, đúc đồng, tô tượng đúc chuông thợ gốm, thợ làm tranh Tết, tranh giấy hồng điều
Việc học hành thi cử trong tỉnh thời kì này do quan Đốc học cai quản, ở các phủ huyện do Giáo thụ, Huấn đạo Từ thời Tự Đức đến những năm đầu thế kỉ XX, Thanh Hóa có 11 trường dạy chữ Nho
Năm 1913, theo Chỉ dụ của Nam Triều và Chỉ dụ của Khâm sứ Trung
Kỳ, Thanh Hóa có một trường Trung học ở Tỉnh có cả thầy giáo dạy chữ Nho,
cả thầy giáo dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, với số học sinh gồm 142 người
Số trường Tiểu học ở Phủ, Huyện do Giáo thụ và Huấn đạo quản lý, có 904 học sinh Năm 1915, số giáo viên của tỉnh dạy loại trường “hỗn hợp” này là
29 thầy, cô và 808 học sinh [3,201]
Đến năm 1927, toàn tỉnh có 257 Trường Sơ học trong đó có 4 Trường cho con gái, 11 trường miền núi Tổng số 7000 học sinh trong đó có 400 học sinh người Mường và người Thái [3,273] Ngoài ra, trong các làng còn tồn tại nhiều trường dạy chữ Hán và một vài trường của Hội truyền giáo Tất cả các trường này thường xuyên chịu sự thanh tra của Ban thanh tra giáo dục do một viên thanh tra người Pháp phụ trách đóng trụ sở tại tỉnh lỵ
Cho đến năm 1930, Thanh Hóa chưa có bậc Cao đẳng tiểu học Học sinh học hết bậc tiểu học muốn học tiếp (cấp hai) phải vào trường Quốc học Huế, trường Bưởi (Hà Nội) hoặc trường Quốc học Vinh Nền giáo dục thực
Trang 31dân đã gây nhiều khó khăn cho việc học hành đối với con em ở các làng xã Việc mở trường thời kỳ này cũng rất hạn chế, điều kiện nhập học và thi cử rất khó khăn, tuổi học giới hạn nghiêm ngặt chia theo từng lớp, từng cấp, bởi vậy
số đông trẻ em bị thất học, tới 90% dân số trong tỉnh mù chữ Tuy vậy, nhiều học sinh ở Thanh Hóa phát huy truyền thống hiếu học cảu địa phương vượt khó để theo học trường Pháp - Việt ở Vinh, Huế, Hà Nội Sau này trở thành những tri thức tiến bộ tham gia phong trào cách mạng ở địa phương
Đầu thập kỷ XX, thực dân Pháp đã xây dựng một số nhà thương ở phủ huyện Từ năm 1899, Bệnh viện Thanh Hóa được thành lập, giám đốc bệnh viện là người Pháp Bệnh viện này là bệnh viện đứng đầu các tỉnh miền Trung Năm 1904 -1910, bệnh viện Thanh Hóa được tu bổ, xây bằng nhà gạch cấp II trên diện tích rộng 5 héc ta ở phía Đông Nam thành Thanh Hóa Hệ thống y tế này thực chất chỉ là nơi phục vụ bộ máy cai trị và tầng lớp giàu có, khu vực khám chữa bệnh cho dân nghèo không đảm bảo, do đó hầu hết nhân
dân phải chữa bệnh bằng y học cổ truyền
1.4 Sự phân hoá giai cấp trong xã hội
Chính sách cai trị của thực dân Pháp và công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai làm biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội ở Việt Nam trong đó có Thanh Hóa Từ xã hội phong kiến trở thành xã hội khai thác bóc lột của tư bản Pháp Trong xã hội có sự phân hóa về giai tầng như sau:
Giai cấp công nhân Thanh Hóa: ra đời muộn, phát triển chậm gắn liền
với sự ra đời của các nhà máy hầm mỏ, đồn điền
Đến năm 1930, cả tỉnh Thanh Hóa cũng chỉ có gần 4000 công nhân các ngành trong đó phần đông là công nhân bán chuyên nghiệp bao gồm phụ nữ
và trẻ em chủ yếu xuất thân từ nông dân lao động, có mối liên hệ mật thiết với nông dân, là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam
Trang 32Giai cấp nông dân Thanh Hóa, chiếm tuyệt đại bộ phận dân số trong
tỉnh, là lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội, nhưng là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất do bị địa chủ cấu kết với thực dân Pháp chiếm đoạt ruộng đất đẩy họ vào cảnh bần cùng hoá Một bộ phận của giai cấp nông dân trở thành công nhân trong đồn điền, nhà máy
Từ cuộc sống cơ cực và nỗi nhục mất nước, nông dân Thanh Hóa cùng với nông dân cả nước đều có chung một nguyện vọng: “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng”
Tầng lớp tiểu tư sản ở Thanh Hóa gồm tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ
công, dân nghèo thành thị, các công chức làm việc tại các công sở, tư sở, giáo viên và học sinh Đời sống của tiểu tư sản Thanh Hóa hết sức bấp bênh, luôn
bị nạn thất nghiệp đe doạ Đặc biệt, bộ phận tiểu tư sản trí thức luôn bị người Pháp chèn ép, khinh rẻ và đời sống bị lệ thuộc Song do có học vấn, họ rất nhạy bén với thời cuộc nhanh chóng tiếp thu những trào lưu tư tưởng tiến bộ
Giai cấp tư sản dân tộc chiếm một phần nhỏ bé trong dân số cả tỉnh và
tập trung chủ yếu ở Thành phố Thanh Hóa Họ xuất thân chủ yếu yếu từ thành phần đại lý, thầu khoán, cung ứng vật tư cho thực dân Pháp rồi trở nên giàu
có, họ cũng bị thực dân Pháp chèn ép về kinh tế Trước quyền lợi riêng họ thường dao động và dễ dàng thoả hiệp với đế quốc
Giai cấp địa chủ ở Thanh Hóa là thế lực mạnh làm chỗ dựa quan trọng
cho nền thống trị của thực dân Pháp Được thực dân Pháp che đỡ giai cấp này nắm giữ các vị trí chủ yếu ở làng xã, như: tổng lý, kỳ hào Địa chủ Thanh Hóa cấu kết với thực dân Pháp tước đoạt ruộng đất của nông dân, có trên 80% ruộng đất làng xã tập trung vào giai cấp địa chủ Tuy nhiên trong quá trình thống trị của thực dân Pháp, giai cấp này đã có sự phân hoá Một bộ phận trong giai cấp địa chủ vừa và nhỏ bị phá sản bởi sự chèn ép của địa chủ lớn và thực dân do đó họ ít nhiều có mâu thuẫn với đế quốc và đại địa chủ
Trang 33Ngoài ra trong các làng xã cũng hình thành tầng lớp lý trưởng chánh tổng có thế lực lớn Ở miền núi cũng hình thành tầng lớp thổ ty lang đạo cai quản các bản mường Đội ngũ Nho sĩ cũng chiếm số đông trong các làng xã
và là lực lượng đi đầu trong việc cải cách làng xã
Sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới nói trên là tiền đề vật chất cần thiết cho sự tiếp thu quan điểm, tư tưởng mới làm cơ sở dẫn đến cách mạng dân tộc và cách mạng xã hội, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng trong tỉnh chuyển sang hướng mới
Như vậy, Thanh Hóa là vùng đất có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi tạo nên mối quan hệ sâu sắc với các tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ Thanh Hóa cũng
là tỉnh được thực dân Pháp sớm chú ý bởi có tiềm năng lớn về tự nhiên và con người nhưng tư bản Pháp lại đặt quyền cai trị ở Thanh Hóa muộn hơn so với một số tỉnh khác Chế độ cai trị từ Trung ương đến địa phương cùng một hệ thống tay sai đắc lực của thực dân Pháp khiến cho nhân dân trong tỉnh bị áp bức nặng nề, đời sống gặp nhiều khó khăn Đây là điều kiện tạo nên sức mạnh liên kết của nhân dân Thanh Hóa trong các phong trào yêu nước Chính sách khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp ở Thanh Hóa đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nơi đây Từ một xã hội phong kiến trước lúc Pháp xâm lược, trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến mà thực chất là xã hội khai thác bóc lột của tư bản Pháp sau công cuộc khai thái thuộc địa lần thứ hai Trong xã hội có sự phân hoá giai cấp sâu sắc, với sự ra đời của một số giai cấp mới Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giữa nhân dân (mà chủ yếu là nông dân) với phong kiến tay sai ngày càng trở nên gay gắt Đây cũng là lúc trào lưu tư tưởng tiến bộ, thông qua những nhà Nho yêu nước cách mạng đã từng bước ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, làm cho phong trào đấu tranh của nhân dân trong tỉnh chuyển sang hướng mới
Trang 34Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, một mặt nó phá vỡ nền kinh tế cũ kĩ, lạc hậu, du nhập nền kinh tế mới làm cho nền kinh tế trong tỉnh có sự chuyển biến Nhưng mặt khác, nó lại làm cho đời sống nhân dân cực khổ hơn trước Sự phá vỡ thuần phong mỹ tục trong văn hóa làng xã tạo nên sự kháng cự trong các tầng lớp nhân dân Điều đáng chú ý là với sự du nhập văn minh phương Tây và văn minh tư bản Pháp, tri thức nho học Thanh Hóa có điều kiện tiếp thu trào lưu tư tưởng tiến bộ của thời đại, đó là trào lưu
tư tưởng dân chủ tư sản
Trang 35Chương 2 TRÁCH NHIỆM LỊCH SỬ VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG CỨU NƯỚC THEO KHUYNH HƯỚNG MỚI CỦA NHO SĨ THANH HÓA
TỪ 1904 - 1915
2.1 Sự lựa chọn con đường cứu nước của Nho sĩ Thanh Hóa đầu thế kỷ XX
Sĩ phu Việt Nam, thấm nhuần tư tưởng Nho gia, đã gánh vác nhiệm vụ Lịch sử qua bao thế kỷ xây dựng đất nước, trở thành giường cột cho chế độ quân chủ để mở mang bờ cõi và duy trì nền độc lập của đất nước Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, trước những âm mưu xâm lược của thực dân phương Tây, những nguyên lý của Khổng giáo đã tỏ ra lung lay, người sĩ phu bị đặt trước
sự lựa chọn mới, phải tìm con đường mới để đưa đất nước ra khỏi nguy cơ bị xâm lược
Sự lựa chọn đó đã thúc đẩy một số sĩ phu yêu nước đưa ra những đề nghị cải cách, thể hiện bằng những bản Điều trần dâng lên vua Tự Đức Nhưng tầng lớp sĩ phu Nho học thời đó đã không hoàn thành được trách nhiệm lịch sử của mình, mặc dầu nhiều người có tâm huyết, nhưng vẫn không vượt khỏi được hạn chế của ý thức hệ, nên họ không thể trở thành động lực cho công cuộc Canh tân Nhiều người giữ trọng trách trong triều đình vẫn phụ họa với nhà vua để gạt bỏ những đề nghị cải cách Có thể nói tầng lớp sĩ phu thời đó đã thất bại trước thách thức lịch sử để đưa dân tộc ra khỏi thảm hoạ mất nước
Nhưng sau khi quân Pháp mở rộng cuộc xâm lăng, tiến đến thiết lập nền đô hộ trên khắp đất nước, thì một bộ phận sĩ phu yêu nước đã chọn con đường kháng chiến, dù có lúc cuộc chiến đấu đó đang trở thành vô vọng Nhưng với ý thức “sát thân thành nhân”, giới sĩ phu đã anh dũng đứng lên kêu gọi nhân dân chống giặc dưới lá cờ Cần Vương Trong phong trào đó, sĩ
Trang 36phu Thanh Hóa đã nêu được nhiều tấm gương oanh liệt, mà cuộc khởi nghĩa
Ba Đình là một minh chứng, khiến quân Pháp phải mất nhiều năm mới bình định được
Bước sang đầu thế kỷ XX, các nước tư bản phương Tây chuyển mình sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì ở các nước phương Đông tư tưởng dân chủ tư sản mới bắt đầu phát triển Cuộc cải cách của một số nước đã có kết quả như: Cải cách, Minh Trị, Duy Tân của Nhật Bản (1868) Cuộc vận động Cách mạng ở Trung Quốc với Tôn Trung Sơn mà đỉnh cao là Cách mạng Tân Hợi (1911) đã tác động mạnh mẽ đến các nước thuộc địa và phụ thuộc, góp phần làm cho “Châu Á thức tỉnh”
Ở Việt Nam, trào lưu dân chủ tư sản phương Tây như một luồng gió
mới dội vào qua các sách Tân Thư, Tân Văn ở Trung Quốc Đáng kể nhất như: Ẩm băng thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến, Tân Dân tùng
báo, của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi Đồng thời, các học thuyết về
nhân đạo, dân quyền của những người thuộc giai cấp tư sản Pháp (khi chủ nghĩa tư bản pháp đang lên) như: Rutxô (Rousseau) Môngtetxkiơ (Montesquieu), Vonte (Voltaire) cũng được truyền vào Việt Nam Chiến thắng của nước Nhật trong Chiến tranh Nga - Nhật, gương tự cường của Nhật Bản theo chủ nghĩa dân chủ tư sản có sức hấp dẫn làm “tỉnh ngộ” các sĩ phu tiến bộ ở Việt Nam lúc bấy giờ
Sau khi phong trào Cần Vương thất bại, một số văn thân sĩ phu yêu nước đã thấy rõ thảm nạn mất nước và ý thức về trách nhiệm của mình trước lịch sử dân tộc Họ đã vượt qua ý thức hệ phong kiến “trung quân ái quốc” mà chuyển sang lập trường mới, đó là: “Yêu nước là yêu dân”, “đòi quyền dân chủ cho dân”, “nước với dân gắn chặt vào nhau” Tầng lớp Nho học đã hướng
về nước Nhật hùng cường với thuyết “Đồng văn đồng chủng”, “Đại Đông Á thịnh vượng” và những tư tưởng của Tôn Trung Sơn theo chủ nghĩa “Tam
Trang 37dân” ở Trung Quốc, mong tìm ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
Sự xuất hiện lớp người công thương mới ở đầu thế kỷ và tác động của các luồng tư tưởng mới làm chuyển biến xã hội Việt Nam, làm nảy sinh các phong trào yêu nước cách mạng mang màu sắc mới, do các sĩ phu phong kiến
tư sản hóa trong nước lãnh đạo Chính các sĩ phu đã nhìn thấy con đường Canh Tân, tích cực tham gia các phong trào cải cách đầu thế kỷ XX đặt cơ sở đầu tiên cho những cuộc vận động lớn hơn sau này
Sĩ phu Thanh Hóa tham gia phong trào là những người Nho học, đã trải qua trường lớp, nếu không phải Cử nhân thì cũng là Tú tài, những người có
đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm quan trong chính quyền Nam Triều Hơn nữa, phần lớn đó là những người có tư điền sản vào loại khá giả, khác với người nông dân bần cùng, cuộc xâm lược của thực dân Pháp không làm đảo lộn nhiều lắm đời sống vật chất của họ Vậy không phải vì bị đẩy vào con đường cùng mà những người đó phải đứng lên phản kháng, mà chỉ vì được thôi thúc bởi lòng yêu nước, mặc dù trong cuộc đấu tranh đó họ biết rằng tài sản của mình có thể bị nhà cầm quyền tịch thu nếu công việc bại lộ
Cũng có những người đã từng thi cử đỗ đạt, hoặc đã làm quan trong triều nhưng thấy rõ sự bất lực của vua quan phong kiến Việt Nam, cảnh khốn cùng của nhân dân trước sự bóc lột của thực dân phong kiến, họ trở về quê hương tham gia cuộc đấu tranh chống Pháp và cũng là bộ phận chủ lực của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản của dân tộc
Giai đoạn Cần Vương đi qua, thế hệ tiếp theo vẫn là những nghĩa sĩ đi tiên phong trong phong trào Đông Du, Duy Tân Họ nhận nhiệm vụ của cha ông giao lại, họ bắt nhập ngay với xu hướng mà Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng Họ sẵn sàng ra nhập Đông Kinh nghĩa thục, ra nhập phong trào Duy Tân, Đông Du để rồi bị đàn áp, bắt bớ tù đầy Họ vẫn là những nghĩa
Trang 38sĩ chứ không phải là nhà văn nhưng lần nay đa số họ đã sử dụng văn thơ Nôm, tất nhiên không quên lợi khí Hán văn mà họ vẫn sở trường để tuyên truyền chủ thuyết Duy Tân
Một loạt tiếng nói Duy Tân được vang lên ở Thanh Hóa Đó là hình ảnh những con người trăn trở trước thời thế và sẵn sàng một thái độ nhập cuộc
“Hỏi ông cao nhất đứng trên ngàn Ông có tình chi với thế gian
Sớm tối chỉ trông mây với gió Non sông nào biết mất hay còn
… Toan có lẽ nào toan mãi mãi Toan thời phải quyết mới là toan
… Hạnh phúc quyết mưu người khổ cực Tai ương quyết đuổi lũ hung tàn
Quyết rằng Cách mạng mầm gieo khắp Quyết để phong trào sớm dậy ran Thử hỏi ông nay đã quyết chưa?
Quyết thời xuống núi bước vô hàng” [3, 200]
Những con người không ngủ, mong tìm được người tâm sự về con đường cứu nước:
“Sao chẳng cho mình giấc ngủ phè Năm canh thức suốt những ngồi nghe
… Bốn bên rành những người mê cả Biết ngỏ cùng ai chuyện nhỏ nhe”[3, 200]
Những con người náo nức lắng nghe làn sóng từ Nhật Bản lan tới Họ thể hiện chí Duy Tân khi bắt gặp cái gương soi kiểu mới của nước Nhật:
“Mày từ phía mặt trời mà đến
Kẻ già dù thấy vẫn thờ ơ
Trang 39Nhưng kẻ trẻ trung thì rất muốn gần gũi Thỉnh thoảng ta lau chùi
số ít cũng xứng đáng là nhà thơ, nhà văn, đáng giành một vị trí trong văn học
sử nước nhà, trong hàng ngũ tác giả của địa phương Nhưng thực tế, họ không quan tâm đến việc trở thành nhà thơ hay nhà văn Ở họ toát lên một tấm lòng thiết tha với nước, với dân, chính vì vậy họ đã viết nên được những lời cáo trạng, những câu bi tráng hoặc những thương cảm, ngậm ngùi Đó là những nét mới của tầng lớp Nho sĩ đầu thế kỷ XX
2.2 Đội ngũ Nho sĩ Thanh Hóa đầu thế kỷ XX
Ngay từ cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hóa đã xuất hiện một số nhà Nho có
tư tưởng Duy Tân nhưng phải đến đầu thế kỷ XX họ mới trở thành một lực lượng đông đảo và có ảnh hưởng đáng kể trong xã hội Đi đầu trong phong trào Đông Du, Duy Tân, phong trào chống sưu thuế ở Thanh Hóa là những Nho sĩ tiêu biểu sau:
Lê Xuân Mai (1874 - 1943) [3, 200]
Ông có tên chữ là Thức Lâm, quê làng Nhụê, tổng Phùng Cầu, xã Thiệu Thịnh, Thiệu Yên, Thiệu Hóa, Thanh Hóa Ông đậu Á nguyên, kỳ thi hương năm Quý Mão (1903) sau Giải Nguyên Trịnh Bưu Ông được các nhà
Trang 40yêu nước Thanh Hóa chọn cùng em ruột là Lê Xuân Phủ để xuất dương với Phan Bội Châu nhưng vì có kẻ phản bội tố giác, việc không thành hai anh em
bị Pháp bắt giam, giả điên mới được tha Thời kỳ làm quan Huấn đạo Quảng Xương vì chống lại hai vợ chồng người Pháp nên bị cách chức Ông nói:
“Chức việc của Pháp trả cho Pháp, cử nhân của tôi vẫn của tôi” Ông về quê
mở trường dạy học
Lê Xuân Phủ (1880 - 1936) [3, 200]
Hiệu là Đông Thăng, người làng Nhụê, tổng Phùng Cầu, huyện Thiệu Hóa, cháu nội Đốc học Lê Văn Thạc, em ruột Huấn đạo Lê Xuân Mai Học giỏi nhưng thi không đậu Lúc trẻ, văn thân trong tỉnh bố trí cho xuất dương với Phan Bội Châu nhưng việc không thành, ông lại tham gia phong trào văn thân chống Pháp, bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà giam tỉnh thành Thanh Hóa, ông cắn lưỡi định tự tử, vì thế Pháp phải tha về ông tiếp tục mở trường dạy học cho đến cuối đời
Lê Mạnh Trinh (1896 - ?) [21]
Ông người xã Hoằng Đức huyện Hoằng Hóa, sớm tiếp thu tinh thần yêu nước của phong trào Duy Tân và giác ngộ Cách mạng Vô sản 1926 Hoạt động ở Thái Lan đến năm 1948 về nước Từng là Giám đốc trường Nguyễn
Ái Quốc và Phó Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương