1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ tiếng việt ở miền tây nghệ an

155 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

8 và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An, đối chiếu so sánh với ngôn ngữ văn hoá và các thổ ngữ, phương ngữ khác, luận văn có thể tìm ra sự khác biệt khô

Trang 1

TỪ CHỈ NÔNG CỤ VÀ HOẠT ĐỘNG NGHỀ NÔNG

TRONG CÁC THỔ NGỮ TIẾNG VIỆT

Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ

VINH, 2011

Trang 2

2

LỜI CẢM ƠN

Mở đầu luận văn, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Trọng Canh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, khích

lệ tôi hoàn thành đề tài thú vị nhưng đầy khó khăn này!

Tôi cũng xin được chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cá nhân, phòng Nông nghiệp 10 huyện miền Tây Nghệ An và các em học sinh trường CĐSP Nghệ An, các em học sinh trường đại học Vinh…đã cung cấp nhiều tư liệu quí giá trong quá trình thực hiện luận văn

Xin được cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh cùng tất cả các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Xin được cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Tự nhiên cùng các đồng nghiệp của tôi tại trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập tại trường Đại học Vinh

Xin được cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè - những người ủng

hộ tôi về mặt tinh thần trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày 05 tháng 01 năm 2011

Người thực hiện

Nguyễn Thị Phước Mỹ

Trang 3

3

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu 7

5 Ph-ơng pháp và thủ pháp nghiên cứu 8

6 Đúng gúp của đề tài 9

7 Cấu trúc luận văn 9

Ch-ơng 1: Cơ sở lớ luận và thực tiễn liờn quan đến đề tài 11

1.1 Ngụn ngữ toàn dõn và phương ngữ 11

1.1.1 Ngụn ngữ toàn dõn với sự hỡnh thành phương ngữ 11

1.1.2 Mối quan hệ giữa ngụn ngữ toàn dõn và phương ngữ 13

1.2 Vốn từ toàn dõn và vốn từ phương ngữ 13

1.3 Từ chỉ nghề và từ nghề nghiệp trong phương ngữ và trong vốn từ toàn dõn 15

1.3.1.Từ nghề nghiệp và vốn từ nghề nghiệp 16

1.3.2 Từ chỉ nghề và mối quan hệ giữa vốn từ nghề nghiệp với phương ngữ, thổ ngữ và vốn từ toàn dõn 19

1.4 Sơ lược một số đặc điểm về ngụn ngữ, cư dõn và nghề nụng của cỏc huyện miền Tõy Nghệ An 24

1.4.1 Điều kiện tự nhiờn - xó hội và nghề nụng cỏc huyện miền Tõy Nghệ An 24

Trang 4

4

1.4.2 Các thổ ngữ ở miền Tây Nghệ An và cơ sở của việc khảo sát

lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông 28

Tiểu kết chương 1 31

Ch-¬ng 2 Độ phong phú của vốn từ ngữ gọi tên nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An 33

2.1 Vốn từ ngữ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ ở miền Tây Nghệ An 33

2.1.1 Kết quả thống kê 33

2.1.2 Phân loại 34

2.2 Nhận xét về tên nông cụ và hoạt động nghề nông ở các huyện miền núi phía Tây Nghệ An 89

2.1.2 Về các nông cụ 89

2.2.1.1 Những bộ phận có tên gọi thống nhất 91

2.2.1.2 Những bộ phận nông cụ có tên gọi không thống nhất 94

2.2.1.3 Những bộ phận nông cụ có nhiều tên gọi khác nhau nhất 96

2.2.2 Về các từ ngữ chỉ hoạt động 97

Tiểu kết chương 2 100

Chương 3 Đặc điểm cấu tạo và định danh của từ ngữ nghề nông trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An 3.1 Đặc điểm cấu tạo của từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An 103

3.1.1 Sơ lược về cấu tạo từ 103

3.1.2 Lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An xét về cấu tạo 105

Trang 5

5

3.1.2.1 Từ đơn 105 3.1.2.2 Từ ghép 108 3.1.2.3 Từ láy 116 3.2 Đặc điểm định danh của lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động

nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An 117 3.2.1 Ngôn ngữ và sự tri nhận qua phản ánh (định danh) của từ 117 3.2.2 Đặc điểm định danh từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông

qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An 121 3.2.3 Dấu ấn tư duy - văn hóa của người địa phương qua tên gọi

và cách gọi tên của từ chỉ nghề nông ở miền Tây Nghệ An 134 Tiểu kết chương 3 139

KÕt luËn 141 Tµi liÖu tham kh¶o

Phô lôc

Trang 6

Cùng với sự ra đời và phát triển của dân tộc, tiếng Việt đã trải qua một chặng đường lịch sử lâu dài Tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất, làm công cụ tư duy và là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng người Việt Vốn từ vựng tiếng Việt hiện nay có tới hàng vạn từ và đơn vị từ tương đương, làm thành một chỉnh thể với nhiều hệ thống, có quan hệ chặt chẽ với nhau Các hệ thống từ vựng này đã góp phần phản ánh sự đa dạng, phong phú và ngày càng hoàn thiện của từ tiếng Việt, đồng thời cũng thể hiện được năng lực, trí tuệ, khả năng sáng tạo vượt bậc của con người Việt Nam trong quá trình sử dụng, giữ gìn, bổ sung và phát triển tiếng nói của dân tộc

Xét theo bình diện khu vực dân cư cũng như tính chất xã hội của người dùng, tiếng Việt có nhiều phương ngữ khác nhau Trên các vùng phương ngữ, các tầng lớp người làm các nghề khác nhau sử dụng tiếng Việt có sự khác nhau

về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ chung Vì thế mà tạo nên sự đa dạng của bức tranh tiếng Việt Ngôn ngữ ở các phương ngữ, trong các nghề nếu không được thu thập thì nó sẽ đi vào quên lãng Do đó, thu thập và nghiên cứu lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông là cần thiết

Trang 7

7

1.2 Vốn từ chỉ nghề nghiệp là lớp từ được dùng hạn chế về mặt xã hội, chỉ được sử dụng trong một phạm vi ngành nghề nhất định Mỗi lớp từ đều có một đặc trưng và phạm vi ảnh hưởng riêng nhưng vốn từ chỉ nghề nghiệp có chỗ đứng khiêm tốn hơn cả Lâu nay, các công trình nghiên cứu về phương ngữ xã hội còn rất ít, đặc biệt là mảng nghiên cứu từ nghề nghiệp hãy còn thưa thớt Tìm hiểu vốn từ nghề nghiệp trong các thổ ngữ hay ở một phương ngữ là góp phần tìm hiểu phương ngữ vùng và cũng là để thấy được sự phong phú của tiếng Việt,

là sự cần thiết để khẳng định từ vựng chỉ nghề nghiệp có một vị thế tương xứng với chức năng và vai trò của nó trong xã hội

1.3 Việt Nam là một nước nông nghiệp, đây là nghề truyền thống phổ biến và lâu đời, chính vì thế mà lớp từ chỉ nghề nông có vai trò quan trọng đối với vốn từ tiếng Việt

Nghệ An là một tỉnh thuộc Nghệ Tĩnh cũ, là một vùng đất cổ, cư dân làm nghề nông nghiệp trải rộng khắp địa bàn, nhưng do vị trí địa lí, khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau nên nghề nông ở Nghệ An cũng có đặc điểm khác so với các vùng miền khác và ngay trong tỉnh việc sản xuất nông nghiệp ở miền núi và miền xuôi cũng có sự khác nhau Tiếng Nghệ An thuộc phương ngữ Nghệ Tĩnh - một phương ngữ điển hình của vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Chính điều đó đã thúc đẩy chúng tôi khảo sát thu thập vốn từ chỉ nghề nông nói chung, tên gọi các nông cụ và hoạt động nghề nông nói riêng trên địa bàn các huyện miền núi phía Tây Nghệ An

1.4 Ngôn ngữ là một thành tố văn hoá, vì thế có thể nói phương ngữ Nghệ Tĩnh là một yếu tố làm nên bản sắc văn hoá của vùng quê xứ Nghệ Hơn nữa, phương ngữ Nghệ Tĩnh như nhiều tác giả khẳng định đó là phưong ngữ đại diện

tiêu biểu cho vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ Nên việc khảo sát Từ chỉ nông cụ

Trang 8

8

và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An, đối

chiếu so sánh với ngôn ngữ văn hoá và các thổ ngữ, phương ngữ khác, luận văn

có thể tìm ra sự khác biệt không chỉ về ngôn ngữ mà cả những nét sắc thái văn hóa riêng của vùng

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn "Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt" [12]

đã viết: "Từ nghề nghiệp nó chẳng những cần thiết cho sự giao tiếp của từng ngành nghề mà còn cần thiết cho mọi người khi cần diễn đạt một cách chính xác, sinh động, ngắn gọn về những sản phẩm, sự kiện và hoạt động của xã hội" và "từ nghề nghiệp là một sáng tạo về ngôn ngữ của đại đa số nhân dân lao động " nên việc nghiên cứu vốn từ nghề nghiệp là một thực tế cần thiết và cấp bách

Trong Việt ngữ học hiện nay, vốn từ nghề nghiệp hầu như chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu Hạn chế của việc có ít người nghiên cứu từ nghề nghiệp có thể do một số nguyên nhân như: thứ nhất nghiên cứu từ nghề nghiệp yêu cầu người thực hiện phải đầu tư sức lực, thời gian một cách công phu để có thể đi điền dã đến một số vùng chuyên về nghề nghiệp để ghi chép, lấy tư liệu; thứ hai do một số làng nghề thủ công truyền thống ngày nay đã

bị mai một đi rất nhiều Vì thế các công trình nghiên cứu về từ nghề nghiệp chưa có nhiều cả về mặt lí luận cũng như những nghiên cứu cụ thể Có thể khái quát thành mấy xu hướng nghiên cứu chính như sau:

2.1 Một số giáo trình, thuật ngữ nghiên cứu đề cập đến khái niệm và đặc điểm từ nghề nghiệp nhưng chủ yếu mới đưa ra các quan niệm, định nghĩa một cách khái quát và quan niệm cũng khác nhau

Quan niệm của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp về từ nghề nghiệp tương đối rộng Các tác giả cho rằng từ nghề nghiệp bao gồm các từ chỉ công cụ,

Trang 9

9

hoạt động, sản phẩm của nghề Trong giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt,

Đỗ Hữu Châu viết : “từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được

sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất

tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc” [12]; Trong Từ

vựng học tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp cũng phát biểu: “Từ ngữ nghề nghiệp là

những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội”[19] Gần gũi với quan niệm các tác giả trên còn có ý kiến của của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [16], Hoàng Thị Châu [11] Một số tác giả khác, như Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ quan niệm về từ nghề nghiệp có phạm vi hẹp hơn Những tác giả này cho rằng, “từ nghề nghiệp là những từ ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một

lĩnh vực hoạt động nào đó” [65] Nguyễn Văn Tu trong giáo trình Từ và vốn từ

tiếng Việt hiện đại, cũng cho rằng : “Những từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ

được chuyên dùng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết" [59]

2.2 Xu hướng thứ hai là đi vào nghiên cứu cụ thể từ nghề nghiệp trong một số nghề trong một vài phương ngữ Ngoài một số bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, đi theo hướng nghiên cứu này còn có một số khoá

luận, luận văn thạc sỹ Có thể điểm một số công trình như: Về từ ngữ nghề gốm, Phạm Hùng Việt [62]; Từ ngữ nghề nghiệp gốm Bát Tràng, Nguyễn Văn Khang [30]; Nhóm từ liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ, Trần Thị Ngọc Lang [32]; Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thanh

Hoá, Võ Chí Quế [44]; Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thừa Thiên Huế, Triều Nguyên [36]; vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và

Trang 10

Tĩnh như khai thác đặc điểm từ ngữ của một số nghề truyền thống, như: "Văn

hoá người Nghệ qua vốn từ vựng nghề cá", Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng

Canh [5]; "Phương thức định danh một số nhóm từ chỉ nghề cá và trồng lúa

trong phương ngữ Nghệ Tĩnh" [8]; "Thực tế nghề cá được "phân cắt", "chọn lựa" qua tên gọi và cách gọi trong phương ngữ Nghệ Tĩnh" [7]; "Từ ngữ gọi tên các nông cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh"[9] và "Từ địa phương Nghệ Tĩnh: về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá" [10] của Hoàng Trọng Canh; "Vốn từ chỉ nghề trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh" Nguyễn Viết Nhị [38]; "Thế giới thực tại trong con mắt người Nghệ Tĩnh qua tên gọi và cách gọi tên xét trên mọi số nhóm từ cụ thể", Phan Thị Mai Hoa [26]; "Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phương ngữ Nghệ Tĩnh", Nguyễn Thị Quỳnh Trang [57]; "Đặc điểm lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh", Nguyễn Thị Như Quỳnh [45];

"Tên gọi các công cụ sản xuất nông nghiệp qua các thổ ngữ thuộc phương ngữ

Nghệ Tĩnh", Bùi Thị Lệ Thu [56]; "Vốn từ chỉ nghề nước mắm Vạn Phần - Diễn Châu - Nghệ An", Trần Thị Phương Thảo [49]; "Vốn từ chỉ nghề Bánh Vĩnh Hoà

- Yên Thành - Nghệ An, Nguyễn Đăng Ngọc [34]; "Vốn từ vựng chỉ nghề Mộc ở làng Thái Yên - Đức Thọ - Hà Tĩnh", Trần Thị Ngọc Hoa [27]; "Khảo sát các từ chỉ nghề cá ở vùng Bãi Ngang (Quỳnh Lưu - Nghệ An)", Mai Thị Nhuỵ [39];

"Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu" Bùi Thị Thu Dung [17]

Trang 11

11

Nhìn chung các bài viết, các luận văn đã đi vào khảo sát cấu tạo, ngữ nghĩa, sự phản ánh thực tại của các từ, chỉ ra nét độc đáo của các lớp từ chỉ nghề nghiệp trên từng địa phương cụ thể ở Nghệ Tĩnh Qua những công trình đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu từ nghề nghiệp ngày càng được quan tâm, chú ý và nghiên cứu mở rộng, đi sâu một cách cụ thể hơn Đó là dấu hiệu khởi sắc đáng mừng cho việc nghiên cứu phương ngữ học nói chung và phương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng cả từ góc độ phương ngữ học địa lí và phương ngữ xã hội

2.4 Tuy nhiên từ nghề nghiệp ở Nghệ Tĩnh lâu nay mới tập trung nghiên

cứu vùng đồng bằng ven biển cho nên mảng đề tài "Từ chỉ nông cụ và hoạt động

nghề nông trong một số thổ ngữ tiếng Việt ở Miền Tây Nghệ An" là vấn đề mới

mẻ, chưa được quan tâm, nghiên cứu Nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này là nhằm chỉ ra nét đồng nhất và khác biệt trong cách gọi tên các nông cụ, hoạt động nghề nông giữa các thổ ngữ miền núi phía Tây Nghệ An với các từ chỉ nông cụ, hoạt động nghề nông ở miền xuôi Nghệ An nói riêng và trong phương ngữ Nghệ Tĩnh nói chung, qua đó nhằm hiểu sâu hơn phương ngữ Nghệ Tĩnh ở một phương diện cụ thể

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tài về từ ngữ chỉ nông cụ sản xuất nông nghiệp trong một số thổ ngữ ở Miền Tây Nghệ An nên trong quá trình tiến hành đề tài chúng tôi đã điền

dã qua các huyện miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An, gồm các huyện: Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, kết hợp với nguồn tư liệu là từ trong cuốn "Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh" của nhóm các tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999) để thu thập từ chỉ nông cụ sản xuất nông nghiệp theo tên gọi của từng vùng Trên cơ sở

Trang 12

12

tư liệu thu thập được, qua phân tích chúng tôi so sánh sự khác biệt trong cách gọi tên của các thổ ngữ ở phía Tây Nghệ An với các thổ ngữ ở miền xuôi nói chung và với từ toàn dân nói riêng (Đối chiếu với cuốn "Từ điển tiếng Việt" do Hoàng Phê chủ biên) Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp so sánh với các nguồn tư liệu trong các bài viết của các tác giả khác về từ chỉ nông cụ ở Thanh Hoá, Thừa Thiên Huế, Nghệ Tĩnh

Nói cách khác, khảo sát lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An là đi vào các nhóm từ cụ thể chỉ nông cụ và hoạt động sử dụng nông cụ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Điều mà đề tài muốn hướng tới là chỉ ra được vốn từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An và nêu ra được những đặc điểm riêng của lớp từ này về mặt nguồn gốc, cấu tạo, định danh cũng như phương diện phản ánh, qua đó làm rõ mối quan hệ giữa lớp từ này với các từ khác góp phần làm cho bức tranh về từ chỉ nghề nghiệp ở Nghệ An hiện lên rõ nét

Qua sự so sánh đối chiếu với các thổ ngữ thuộc phương ngữ khác, luận văn sẽ cho thấy đặc điểm chung về sự phong phú của vốn từ nghề nghiệp, cách liên tưởng, cách phân cắt hiện thực trong phản ánh qua tên gọi của từ trong các thổ ngữ và những đặc điểm riêng của lớp từ này trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An và dấu ấn văn hoá ẩn chìm trong đó

Luận văn còn hướng đến cung cấp thêm một số cứ liệu cụ thể về từ nghề nghiệp cho những ai quan tâm đến phương ngữ xã hội nói riêng vốn từ tiếng Việt nói chung

Trang 13

13

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Như vậy, xuất phát từ mục đích của đề tài, nhiệm vụ của luận văn là:

- Khảo sát, thu thập và phân loại các từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An

- Phân tích rút ra đặc điểm về cấu tạo, định danh của từ chỉ nông cụ và hoạt nghề nông miền Tây Nghệ An

- Trong một chừng mực nhất định, luận văn chỉ ra các sắc thái văn hoá địa phương được phản ánh qua tên gọi của từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông miền Tây Nghệ An

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu từ chỉ nông cụ và hoạt động sử dụng nông cụ trong các thổ ngữ ở Miền Tây Nghệ

An, ngoài các phương pháp chung mang tính phổ biến chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp, thủ pháp sau:

5.1 Phương pháp điền dã

Để có được vốn từ làm tư liệu, chúng tôi chú trọng phương pháp điền dã các huyện miền Tây của tỉnh Nghệ An gồm: Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn , chọn một số xã tiêu biểu về nghề nông kết hợp phát phiếu điều tra với phỏng vấn những người chuyên làm nông, người cao tuổi có kinh nghiệm trong nghề để tìm hiểu về tên gọi nông cụ và hoạt động nghề nông, lí do đặt tên, cách thực hiện thao tác hoạt động,… từ đó lập thành bảng từ

5.2 Thủ pháp thống kê, phân loại

Qua thực tế điều tra, ghi chép, chúng tôi tập hợp vốn từ chỉ nông cụ về tên gọi của các bộ phận trong từng nông cụ và hoạt động nghề nông Toàn bộ vốn từ

Trang 14

5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Mục đích của đề tài là không chỉ thống kê thu thập tên gọi các nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An mà còn đi đến nghiên cứu nhằm chỉ ra được những nét đặc điểm riêng của lớp từ này trong thổ ngữ, phương ngữ và dấu ấn tư duy - văn hoá tiềm ẩn trong đó Nên luận văn còn tiến hành đối chiếu, so sánh từ chỉ nông cụ, tên gọi các bộ phận qua các thổ ngữ và hoạt động nghề nông ở miền Tây Nghệ An trước hết với các thổ ngữ thuộc phương ngữ Nghệ Tĩnh và một số thổ ngữ khác trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ

6 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu khảo sát vốn từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông trong một

số thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An là một đề tài mới, từ trước đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể

Với đề tài này vốn từ và đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, định danh của từ ngữ gọi tên nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An lần đầu tiên được miêu tả

7 Cấu trúc luận văn

Trang 15

15

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

- Chương 2: Độ phong phú củavốn từ gọi tên nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An

- Chương 3: Đặc điểm cấu tạo và định danh của từ nghề nông trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An

Trang 16

16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ

1.1.1 Ngôn ngữ toàn dân với sự hình thành phương ngữ

Lịch sử xã hội và ngôn ngữ đã xác nhận rằng ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội, là phương tiện giao tiếp giữa người với người trong xã hội Xã hội không thể

tồn tại nếu thiếu ngôn ngữ Vì thế khi nói tới ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ

quốc gia đảm trách chức năng ngôn ngữ quốc gia là nói tới những "phạm trù xã

hội ngôn ngữ học lịch sử phát triển" [53, 30] Quá trình hình thành một dân tộc

đã đưa đến sự hình thành một ngôn ngữ dân tộc thống nhất Mỗi ngôn ngữ dân tộc đều có sự thống nhất nội bộ Tuy nhiên sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc không có nghĩa là sự đồng nhất của tất cả các biểu hiện ngôn ngữ trong thực tế Tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc được thừa nhận như là một thuộc tính bản chất, đồng thời tình trạng tồn tại trong lòng nó - ngôn ngữ dân tộc - những phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội là sự thực hiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn có thể quan sát được trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ khác

Nội dung khái niệm ngôn ngữ dân tộc (National Language) thường được

hiểu là: "Ngôn ngữ chung của cả một dân tộc Đó là một phạm trù lịch sử - xã hội, biểu thị ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của một dân tộc và được thể hiện dưới hai hình thức: nói và viết Ngôn ngữ dân tộc hình thành cùng với sự hình thành dân tộc, mặt khác ngôn ngữ dân tộc là kết quả và sản phẩm của quá trình hình thành, tồn tại của dân tộc" [65, 156] Tuy gọi bằng hai tên khác nhau nhưng

Trang 17

17

thuật ngữ ngôn ngữ dân tộc gần gũi với thuật ngữ ngôn ngữ toàn dân bởi "ngôn

ngữ dân tộc là hình thức thống nhất của ngôn ngữ toàn dân" [64, 367] và ngôn ngữ toàn dân là "ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, không bị hạn chế ở phong cách và phạm vi sử dụng, ngôn ngữ được mọi người trong quốc gia biết, chấp nhận và sử dụng" [65,171] Vì vậy ở những phương diện nhất định, sự đối lập phương ngữ với ngôn ngữ dân tộc cũng hàm nghĩa như

là sự đối lập ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ

Như vậy, con đường hình thành của ngôn ngữ dân tộc gắn chặt với sự phát triển xã hội Ngôn ngữ là sản phẩm của một thời đại nhất định, thời đại hình thành thống nhất dân tộc Quá trình hình thành thống nhất dân tộc cũng là quá trình thống nhất ngôn ngữ dân tộc Song không phải khi ngôn ngữ dân tộc đã được hình thành thì không còn phương ngữ Trái lại, trong lòng ngôn ngữ dân tộc, ở các mặt biểu hiện, trên các vùng địa lí dân cư khác nhau, trong các tầng lớp xã hội khác nhau, phương ngữ vẫn tồn tại

Nếu không có sự phân bố, tách biệt nhau về mặt địa lí, dân cư thì không có phương ngữ bởi sự ngăn cách về không gian địa lí làm cho giao tiếp giữa các vùng khó khăn, không thường xuyên vì thế tạo nên những thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau Nhưng nguyên nhân sâu xa tạo nên phương ngữ chính là do qui luật phát triển, biến đổi của ngôn ngữ Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt giữa các vùng dân cư, nơi thì sử dụng dạng mới của ngôn ngữ, nơi thì duy trì thói quen sử dụng như cũ vì thế mà tạo nên sự khác nhau ít nhiều về ngôn ngữ các vùng Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ dân tộc trên một vùng địa lí, dân cư (phương ngư địa lí) hay tầng lớp xã hội (phương ngữ xã hội) nào đấy, những biến thể hay là những khác biệt ấy được người địa phương hay tầng lớp xã hội nào đó quen dùng Cho nên tập hợp những từ ngữ có sự khác

Trang 18

18

biệt ít nhiều so với ngôn ngữ toàn dân (về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa) được người địa phương hay tầng lớp người nào đó quen dùng thì gọi là phương ngữ

1.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ

"Ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, không bị hạn chế ở phong cách và phạm vi sử dụng, ngôn ngữ được mọi người trong một quốc gia biết, chấp nhận và sử dụng" [65,171]

Phương ngữ ra đời trong lòng ngôn ngữ toàn dân Sự khác biệt giữa các ngôn ngữ dù có lớn đến đâu cũng cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân Bởi các phương ngữ đều căn bản giống nhau về hệ thống cấu trúc với ngôn ngữ toàn dân; ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ thống nhất của các phương ngữ trong cả nước Các phương ngữ dù khác nhau thì vẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất đó chính là ngôn ngữ toàn dân

Ngôn ngữ toàn dân và các biến thể địa phương vừa có tính thống nhất vừa

có sự khác biệt, trong đó tính thống nhất đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở tạo nên tính thống nhất của ngôn ngữ quốc gia, tính khác biệt tạo nên chất riêng, nét độc đáo của từng phương ngữ đồng thời là yếu tố tạo nên sự đa dạng cho ngôn ngữ quốc gia Vì vậy mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bất biến thể và cái biến thể, giữa cái trừu tượng và cái cụ thể

1.2 Vốn từ toàn dân và vốn từ phương ngữ

Chúng ta biết rằng, khi nói đến ngôn ngữ dân tộc hay một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ nào đó cái quan trọng nhất là xem xét vốn từ Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhất toàn bộ từ và ngữ cố định của một ngôn ngữ, được tổ chức theo một qui luật nhất định, nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau Vốn từ của một ngôn ngữ bao hàm trong nó nhiều lớp từ vựng

Trang 19

19

khác nhau Hay nói cách khác, nếu ta xem vốn từ là một hệ thống thì trong vốn

từ của ngôn ngữ dân tộc lại có nhiều tiểu hệ thống Khi tìm hiểu vốn từ toàn dân

và vốn từ phương ngữ là ta đang xem xét vốn từ của một ngôn ngữ theo phạm vi

sử dụng về mặt ranh giới, địa lí

Vốn từ toàn dân thường được hiểu là: toàn bộ những từ chung của ngôn ngữ dân tộc được toàn dân hiểu và sử dụng Như vậy, ngược lại vốn từ phương ngữ lại là những từ ngữ được người địa phương quen dùng trong một phạm vi địa lí hẹp như một tỉnh hoặc một vài tỉnh Tuy nhiên vốn từ phương ngữ tuy có

sự khác biệt so với vốn từ toàn dân nhưng sự khác biệt ấy lại nằm trong cái mã chung thống nhất, có quan hệ khăng khít với ngôn ngữ chung, không tách rời và biệt lập với ngôn ngữ toàn dân

Việc nghiên cứu vốn từ toàn dân và vốn từ phương ngữ không phải là công việc đơn giản, hệ thống tù vựng có nhiều lớp từ, giữa chúng lại có mối quan hệ chằng chéo, đan xen nhau Xét một từ nào đó ta có thể gặp nó nằm trong vốn từ toàn dân lại có thể gặp nó trong vốn từ phương ngữ, có thể xếp nó vào vốn từ này hoặc vốn từ kia Vì vậy khi phân loại, nghiên cứu nghĩa của từ trong hai hệ thống khó có được sự rạch ròi

Mặt khác ta thấy sự tương ứng về nghĩa giữa vốn từ toàn dân và vốn từ phương ngữ theo từng cặp một là ít có sự sánh đôi toàn vẹn, mức độ đồng nhất

và phân li về nghĩa giữa chúng khá phức tạp Vì vậy khi nghiên cứu gặp không ít khó khăn bởi vốn từ nghề nghiệp trong phương ngữ không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể mà còn là biến thể của từ trong chính phương ngữ đó

Việc nghiên cứu để chỉ ra mối quan hệ giữa vốn từ toàn dân và vốn từ phương ngữ giúp chúng ta hình dung được phần nào lịch sử phát triển và biến

Trang 20

20

đổi của ngôn ngữ, qua đó thấy rõ bản sắc văn hoá của từng địa phương Vốn từ phương ngữ nói chung và vốn từ chỉ nghề nói riêng đã góp phần vun đắp, xây dựng nên một bức tranh ngôn ngữ văn hoá ngày càng phát triển

1.3 Từ chỉ nghề và từ nghề nghiệp trong phương ngữ và trong vốn từ toàn dân

Ngôn ngữ là công cụ tư duy và giao tiếp chung, quan trọng bậc nhất của xã hội loài người Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất, được sử dụng chung cho tất cả các dân tộc anh em trên mọi miền tổ quốc Tính thống nhất này nằm trong bản chất của ngôn ngữ Cùng với quá trình xây dựng và phát triển đất nước thì ngôn ngữ cũng được hình thành và phát triển mạnh mẽ Trải qua bao thế kỷ, qua bao thế hệ sử dụng, người Việt đã không ngừng mài dũa, sáng tạo khiến cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng trở nên trong sáng, phong phú hơn Bên cạnh tính thống nhất, tiếng Việt còn rất phong phú, đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ biểu hiện trên bình diện khu vực dân cư và theo tính chất xã hội, theo các chức

năng,…

Ở Việt Nam, giữa các vùng lãnh thổ có đặc điểm riêng về địa lý, sự phát triển dân cư, kinh tế, văn hóa xã hội,…không đồng đều nên về tiếng nói dần dần hình thành ba vùng phương ngữ lớn tương đương với ba vùng địa lý dân cư Đó

là vùng phương ngữ Bắc Bộ, vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ và vùng phương ngữ Nam Trung Bộ - Nam Bộ

Trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ có phương ngữ Nghệ Tĩnh - là một trong những phương ngữ lâu đời, đa dạng và phong phú nhất về vốn từ Về ngôn ngữ, tiếng Nghệ Tĩnh là nơi lưu giữ nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Vì vậy đây cũng là vùng ngôn ngữ được các nhà nghiên cứu ngôn đặc biệt chú ý, quan tâm

Trang 21

21

Xét ngôn ngữ theo tính chất xã hội của người dùng, ta thấy giữa các nghề nghiệp khác nhau, các tầng lớp người sử dụng khác nhau có sự khác nhau ít nhiều về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ chung Phái nam dùng từ khác phái nữ, người già dùng từ khác người trẻ, trí thức dùng từ khác với nông dân,… Đặc biệt sự khác nhau đó thể hiện rõ giữa giữa các nghành nghề và ngay

cả trong một ngành nghề cụ thể Vì thế tạo nên tính đa dạng của bức tranh tiếng Việt

Nguyên nhân sâu xa tạo nên sự đa dạng trong ngôn ngữ là do quy luật phát triển biến đổi của ngôn ngữ gắn với sự phát triển về kinh tế, xã hội của từng vùng Sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng địa lý dân cư, giữa các tầng lớp người sử dụng, giữa các nghề nghiệp Cùng một lúc vẫn duy trì cả dạng thức mới của ngôn ngữ cả dạng thức cũ của ngôn ngữ cùng với những thói quen theo vùng, theo nghề nên đã tạo nên sự khác nhau hay độ chênh về ngôn ngữ giữa các vùng, các tầng lớp người trong xã hội

Trong luận văn này chúng tôi muốn phân biệt hai khái niệm có liên quan nhau là từ chỉ nghề và từ nghề nghiệp Toàn bộ các từ ngữ mà một nghề nào đó trong xã hội dùng để chỉ các công cụ, hoạt động, sản phẩm,… của nghề đó có thể xem là từ chỉ nghề Nếu đối lập từ chỉ nghề với lớp từ toàn dân chúng tôi thấy có một bộ phận từ vựng chỉ nghề có sự khác biệt về ngữ âm, ngữ nghĩa so với vốn

từ chung đó, những từ ngữ này có thể xem là từ nghề nghiệp

1.3.1 Từ nghề nghiệp và vốn từ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng nhằm biểu thị các tên gọi, các sự vật hiện tượng, công cụ sản phẩm, quá trình hoạt động sản xuất trong phạm vi của những người cùng làm nghề nào đó trong

Trang 22

22

xã hội Chính vì vậy từ nghề nghiệp là một sáng tạo về ngôn ngữ của nhân dân lao dộng, nó là bước tập duyệt của những người làm chủ chân chính của một ngôn ngữ để tiến lên xây dựng một hệ thống thuật ngữ cho mình

Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị

từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư)"[12, 249]

Như vậy, từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất của

nghề Từ nghề nghiệp chỉ có ý nghĩa trong môi trường của nó Trong cuốn Dẫn

luận ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), từ nghề nghiệp được nhận

định: “là những từ ngữ biểu thị các công cụ, sản phẩm và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng chứ không phải là từ toàn dân” [20,117-118] Từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất của nghề Trong quá trình hoạt động, từ nghề nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề qui định Như vậy từ nghề nghiệp sinh ra do yêu cầu của nghề và nó sẽ mất đi khi nghề không còn tồn tại Chính vì thế từ nghề nghiệp chỉ

có tính chất lâm thời

Từ nghề nghiệp cũng là một lớp từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội,

thí dụ: Những từ ngữ thuộc nghề nông: cày ụi, cày đảo, cấy su bùn, bừa thục

rọng, nếp hin, ló cả chắm…

Những từ ngữ thuộc nghề dệt: xa, ống, suốt, thoi, go, trục, cửi, hồ sợi, lấy

go, đánh ống, đánh suốt, sợi mộc,…

Những từ ngữ thuộc nghề làm nón: lá, móc, vanh, guột, riệp, nức, khuôn,

là lá, bắt vanh, nức nón, chằng nón,

Trang 23

23

Như vậy từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất của nghề đó mà thôi Nguyễn Văn Tu trong giáo trình “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” viết rằng: "Từ nghề nghiệp là các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó" Ông so sánh “Những từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyên dùng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghề nghiệp còn khác với thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa”[59,126]

Do tính chất của nghề tồn tại trong phạm vi hẹp nên tính chất xã hội của từ nghề nghiệp bị hạn chế, khả năng hoạt động của từ nghề nghiệp cũng bị hạn chế, chỉ tồn tại trong phạm vi hoạt động của nghề, có tính chất biệt lập

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt lại định

nghĩa: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ sản xuất lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng” [19, 303]

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến,

trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt định nghĩa: “Từ nghề nghiệp là một

lớp từ bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó" [16]

Về mặt ngôn ngữ học, từ ngữ nghề nghiệp không có vốn ngôn ngữ riêng

Sẽ có một số từ ngữ song song ra đời khi một sự vật, hiện tượng nào đó xuất hiện

để gọi tên cho sự vật, hiện tượng đó Vốn từ đó người ta lấy trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương để gọi tên cho các đối tượng trong nghề nghiệp tồn tại trong bối cảnh mà thôi Những từ này ít được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày mà chỉ được dùng khi có vấn đề liên quan hay trong chuyên ngành

Trang 24

24

của họ Nghĩa là chỉ những người trong nghề đó mới hiểu được những từ đó còn những người thuộc nghề khác thì không hiểu được hoặc ít hiểu Tuy nhiên đối với ngành nghề truyền thống có phạm vi hoạt động rộng rãi như nghề cá, nghề mộc, nghề trồng lúa,… thì mức độ tính biệt lập của từ nghề nông rất khác các lớp từ nghề khác Nhiều từ ngữ của ngành nghề này quá quen thuộc với mọi người và trở thành từ toàn dân một cách rất tự nhiên, ví dụ nghề trồng lúa có các

từ: cày, bừa, lúa, ruộng, đi cấy, bón phân,

Khi nói đến ngôn ngữ, vấn đề được quan tâm nhiều và đóng vai trò hết sức quan trọng là hệ thống vốn từ Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhất toàn bộ từ, ngữ cố định của một ngôn ngữ, được tổ chức theo một qui luật nhất định, nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau

Vốn từ của một ngôn ngữ bao chứa trong nó nhiều lớp từ vựng khác nhau theo các tiêu chí, các quan niệm nhất định Chẳng hạn nếu xét về phạm vi sử dụng, ranh giới địa lý thì chúng ta có vốn từ toàn dân, vốn từ địa phương Nếu xét theo tính chất xã hội, nghề nghiệp ta lại có vốn từ nghề nghiệp, vốn từ thuật ngữ khoa học,

Vậy nên có thể quan niệm: vốn từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ, ngữ

cố định của người làm nghề nào đấy trong xã hội bao gồm các đơn vị từ vựng chỉ công cụ, hoạt động, sản phẩm của nghề, dùng phục vụ cho hoạt động sản xuất, hành nghề của nghề đó

1.3.2 Từ chỉ nghề và mối quan hệ giữa vốn từ nghề nghiệp với phương ngữ, thổ ngữ và vốn từ toàn dân

1.3.2.1 Khái niệm từ địa phương và thổ ngữ

Về khái niệm từ địa phương, hiện nay các nhà nghiên cứu định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung có hai điểm thống nhất:

Trang 25

25

Từ địa phương là lớp từ được dùng quen thuộc ở một địa phương

Từ địa phương có sự khác biệt (về âm, nghĩa hay ngữ pháp) so với ngôn ngữ chung

Ta có thể lấy định nghĩa của Nguyễn Quang Hồng đại diện cho quan niệm đó: “Từ địa phương là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của một ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phương nhất định” [28] Bàn về từ địa phương Giáo sư Nguyễn Quang Hồng đã nhấn mạnh đến chức năng, đặc điểm biến thể và phạm vi sử dụng quen thuộc của từ địa phương

Về khái niệm thổ ngữ, trong cuốn từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên) định nghĩa: “Phương ngữ được sử dụng phổ biến

ở một vùng lãnh thổ nhất định.“ Những tiếng địa phương còn có thể gồm nhiều chi nhánh nhỏ nữa, gọi là thổ ngữ ”[65, 276] Có người cho rằng: “thổ ngữ là phương ngữ bị thoái hóa, đã bị thu hẹp lại trong một làng, một xã, một địa phương nhỏ, dân cư ít” [31, 26]

Như vậy, thổ ngữ cũng là phương ngữ nhưng có phạm vi sử dụng hẹp hơn Hoàng Thị Châu đã đưa ra khái niệm rõ hơn về thổ ngữ là: “dùng thuật ngữ phương ngữ để chỉ tiếng địa phương trong một vùng lớn như tỉnh, thành phố, bao gồm nhiều thổ ngữ ở các xã, thôn”[11]

“Thổ ngữ hay phương ngữ là biến thể địa phương của ngôn ngữ gồm một chùm những nét khu biệt phương ngữ, thổ ngữ này với các phương ngữ, thổ ngữ khác, cũng như so với ngôn ngữ toàn dân Những người cùng thổ ngữ dù có thể nói tiếng toàn dân thông thạo nhưng gặp nhau thì ngay lập tức trở về thổ ngữ của

họ vì trong thâm tâm, họ thấy thân thiết với họ hơn mọi cách diễn đạt khác” [11]

“Thổ ngữ hay “giọng địa phương”chỉ nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm hoặc giọng

Trang 26

26

nói địa phương Nét khu biệt đầu tiên của một thổ ngữ là ở ngữ điệu người ta chú ý đến nó đầu tiên mặc dù nó không có tác dụng khu biệt nghĩa, bởi vì nó liên quan đến mọi âm tiết căn cứ vào đó người ta nói tiêng làng này nặng, tiếng làng kia nhẹ,…v.v…

Ở miền Tây Nghệ An, do địa hình chủ yếu là vùng núi, dân cư lại có sự đan xen giữa các dân tộc nên dẫn đến có nhiều xã cách biệt nhau với nhiều thổ

ngữ riêng, ví dụ: có một số xã phát âm có một số nét dị biệt như vần -ăt phát âm thành vần -ât, -ưt: gặt - gật, ngắt - ngứt,… vần -ông phát âm thành vần -ưng:

vồng vùng, giống giúng, gióng giúng,…,vần anh phát âm thành vần inh, ênh: gánh - ghính, gánh - ghếnh… những thổ ngữ này phản ánh trung thực tính

-chất biệt lập tương đối của làng xã, là biến thể địa phương của ngôn ngữ chung tạo nên sự mới lạ về ngữ âm giữa các vùng thổ ngữ

1.3.2.2 Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp, từ địa phương và từ toàn dân

Vốn từ của một ngôn ngữ bao chứa trong nó nhiều lớp từ vựng khác nhau Nói cách khác, nếu vốn từ là một hệ thống thì trong vốn từ của ngôn ngữ có nhiều tiểu hệ thống Ngoài vốn từ toàn dân còn có từ nghề nghệp, từ địa phương, phương ngữ,… Các lớp từ đó có quan hệ khăng khít với nhau

Sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ, giữa các vùng địa lý dân cư Nơi thì sử dụng dạng thức mới của ngôn ngữ, nơi thì vẫn duy trì cách sử dụng cũ, vì thế mà tạo nên sự khác nhau ít nhiều

về ngôn ngữ giữa các vùng Như vậy, từ địa phương là biến thể của ngôn ngữ dân tộc, trên một vùng địa lý dân cư hay một tầng lớp xã hội nào đấy Những biến thể hay sự khác biệt ấy, lại được người địa phương đó quen dùng Cho nên tập hợp những từ ngữ có ít nhiều khác biệt với ngôn ngữ toàn dân, trên các

Trang 27

có thể nói, nếu từ địa phương được khoác, mang giá trị xã hội (nghề nghiệp) thì xem chúng là từ nghề nghiệp Ngược lại, các từ chỉ nghề đó nếu được xét theo phạm vi sử dụng về địa lý mang tính chất khác biệt với ngôn ngữ chung thì gọi là

từ địa phương Như vậy từ địa phương và từ nghề nghiệp được xác định theo hai tiêu chí khác nhau nhưng có quan hệ khăng khít với nhau

Ngôn ngữ toàn dân và từ địa phương (phương ngữ) vừa có tính thống nhất, vừa có tính khác biệt Trong đó tính thống nhất đóng vai trò chủ đạo làm cơ sở cho sự thống nhất của ngôn ngữ quốc gia, tính khác biệt tạo nên “chất riêng”, nét độc đáo, của từng phương ngữ, đồng thời là yếu tố tạo nên sự đa dạng cho ngôn ngữ quốc gia

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ, từ nghề nghiệp là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bất biến và cái biến thể, giữa cái trừu tượng và cái cụ thể Từ nghề nghiệp không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể mà còn là biến thể của từ trong phương ngữ

đó Từ nghề nghiệp nói riêng, phương ngữ nói chung, ngoài những cái chung, cơ bản mang tính thống nhất với ngôn ngữ toàn dân vẫn có những nét dị biệt Bởi vì bất cứ nghề nghiệp nào cũng nằm trong một khu vực địa lí nhất định, nên từ nghề nghiệp gắn liền với phương ngữ, thổ ngữ khu vực đó Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp và phương ngữ, thổ ngữ diễn ra tự nhiên trong đời sống hàng ngày

Trang 28

28

Quan hệ giữa chúng là quan hệ qua lại tác động, đan xen phức tạp Có những từ nghề nghiệp trong một thổ ngữ trùng với từ phương ngữ, cũng có những từ nghề nghiệp chỉ chịu ảnh hưởng của cách cấu tạo từ phương ngữ Mỗi địa phương có thể có những từ riêng để gọi tên sự vật, hiện tượng, đặc điểm riêng của nghề Chẳng hạn trong nghề trồng lúa có từ chung là “cày” thì trong cái cày lại có rất nhiều bộ phận, các bộ phận này lại được gọi bằng nhiều cách khác nhau: bộ phận để điều chỉnh cày sâu, nông có nơi gọi là “náp”, có nơi gọi

là “chêm”, lại có nơi gọi là “cự cày", nơi thì gọi là “con cá”… Bộ phận “thân cày”: có nơi gọi là “bắp cày”, có nơi gọi là “theo cày”, “đầu cày”… Hay chỉ bộ

phận dưới của cây lúa đã thu hoạch có địa phương gọi là gốc rạ, có nơi gọi cây

rạ, có nơi gọi là toóc, cơn toóc… Hay những từ đặc hữu của nghề nông như: lốc lếch, thang lang, trốc trối, lủng liễng, cày vè, cày vể, bừa thục rọng Đó là

những từ nghề nghiệp phạm vi sử dụng của chúng hẹp trong một vùng, một xã, một làng nào đó mà chỉ những người trong ngành nghề đó mới hiểu Những từ này mang đặc điểm phương ngữ về âm và nghĩa Chính điều đó đã làm nên sự phong phú, dấu ấn riêng ngôn ngữ của từng nghề riêng Cũng chính những khác biệt, không trùng khớp ấy giúp chúng ta tìm hiểu kỹ hơn mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương Khi đối sánh ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ, trong đó có lớp từ nghề nghiệp, ta thấy có sự khác biệt

về ngữ âm, ngữ nghĩa hay ngữ pháp Sự khác biệt này là kết quả của quy luật biến đổi và tồn tại theo thời gian của ngôn ngữ Việt Những nét khác biệt đó đã

in đậm thói quen, dấu ấn tư duy tư tưởng của con người ở từng vùng địa lí dân

cư cụ thể, thể hiện rõ bản sắc văn hoá cư dân vùng phương ngữ Vì vậy vốn từ phương ngữ nói chung từ chỉ nghề nói riêng góp phần vun đắp, xây dựng ngôn ngữ văn hoá ngày càng phát triển giàu đẹp

Trang 29

29

Có thể khẳng định rằng: phương ngữ nói chung, từ địa phương và từ nghề nghiệp nói riêng có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ toàn dân Chúng vừa có nét dị biệt, vừa có sự đồng nhất với ngôn ngữ toàn dân và từ toàn dân Phương ngữ là một trong những biểu hiện của tính thống nhất trong sự đa dạng của ngôn ngữ dân tộc Từ nghề nghiệp, từ địa phương là nơi cung cấp từ cho vốn từ toàn dân

Như vậy đặt trong mối quan hệ với từ địa phương và từ toàn dân, từ nghề nghiệp vừa có đặc điểm riêng, vừa mang đặc điểm chung của lớp từ toàn dân và

từ địa phương Đi vào “khảo sát từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông trong

các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An”, chúng tôi luôn chú ý miêu tả và đặt

nó trong mối quan hệ với từ địa phương và từ toàn dân để tìm độ phong phú từ vựng của từ nghề nghiệp nói riêng và từ địa phương nói chung, cũng như sắc thái văn hoá, con người nơi đây

1.4 Sơ lược một số đặc điểm về ngôn ngữ, cư dân và nghề nông của các huyện miền Tây Nghệ An

1.4.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội và nghề nông các huyện miền Tây

Nghệ An

1.4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố nông nghiệp Mỗi loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu

là đất, nước và khí hậu Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây trồng, vật nuôi cụ thể trên từng lãnh thổ, khả năng áp dụng các quy trình sản xuất

nông nghiệp, đồng thời có ảnh hưởng lớn đền năng suất cây trồng, vật nuôi

a Vị trí địa lý 10 huyện miền Tây của tỉnh Nghệ An:

Trang 30

30

Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá Phía Đông giáp các huyện Quỳnh Lưu,

Yên Thành, Đô Lương, Nam Đàn Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh Phía Tây giáp

nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Vùng núi miền Tây Nghệ An có vị trí

tiếp giáp với nhiều huyện trong và ngoài tỉnh, với nước bạn Lào, có nhiều thuận

lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội

Miền Tây Nghệ An gồm 10 huyện miền núi, diện tích tự nhiên là 13.755

km2, chiếm 83,42 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh Có 216 xã, thị trấn trong đó: có

27 xã giáp biên giới Việt - Lào, 80 xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135,

địa hình phức tạp, hiểm trở, cơ sở hạ tầng còn thấp kém nhưng lại có vị trí chiến

lược trọng yếu về phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia

b Địa hình: là vùng có địa hình phức tạp, đa dạng Theo đặc điểm địa

hình, khả năng canh tác có thể chia miền Tây Nghệ An thành hai vùng:

- Địa hình vùng núi cao có độ cao trung bình 600 - 700 m, có những dãy

núi cao trên 2000 m, độ dốc bình quân 250 - 350, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi

cao và khe suối, có nhiều dãy núi đá vôi, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít,

chủ yếu là đồi núi dốc vì vậy có ảnh hưởng rất lớn đến việc bố trí sắp xếp dân

- Địa hình vùng núi thấp gồm các huyện Anh Sơn, Thanh Chương, Tân

Kỳ, nghĩa Đàn, Quỳ Hợp là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao và đồng bằng,

địa hình ít phức tạp hơn, có nhiều đồi núi thấp xen kẽ nhiều thung lũng tạo nên

những vùng đất rộng lớn, có nhiều sông suối hồ đập nên có khả năng phát triển

sản xuất nông nghiệp và thuận lợi cho việc bố trí sắp xếp dân cư tập trung

c Đất đai: Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng

trọt, chăn nuôi Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy

Trang 31

31

mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi Đất nào, cây ấy Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp

Nhìn chung, đất của tiểu vùng Tây Nam thuộc hệ đất Feralit đồi núi, bao gồm các nhóm đất: đất Feralit nâu đỏ trên đá mắc ma trung tính và bazơ với độ phì khá Thứ hai là đất Bazan phân bố thuộc các huyện Con Cuông, Tương Dương… Mặc dù chiếm diện tích nhỏ nhưng tầng đất dày, độ phì cao rất thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày (cây chè, cây mía) và cây ăn quả Ngoài

ra trên các thung lũng giữa núi thuộc các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông còn có đất phù sa tương đối màu mỡ giúp cho việc phát triển cây lương thực tại chỗ

Quỹ đất của vùng trung du miền núi Tây Bắc tương đối tốt, đặc biệt ở vùng này có khoảng 1,3 vạn ha đất đỏ bazan, phân bố chủ yếu ở vùng phủ quỳ

có tầng đất dày, độ phì cao, trên địa hình thoải rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả

d Khí hậu: Khí hậu vùng trung du miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An là đới

khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới có mùa đông lạnh, có mùa hè nắng ấm và mùa đông lạnh ẩm Nhìn chung khí hậu của vùng thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi phát triển như: cây lương thực (lúa, ngô…), cây hoa màu và các loại cây công nghiệp (chè, mía…)… Khí hậu có sự phân hoá theo độ cao địa hình Nhiệt

độ trung bình hàng năm vùng núi là 25,50

C và phân hoá theo hai mùa rõ rệt Mùa lạnh đến muộn hơn các tỉnh khác và chấm dứt sớm hơn Vùng miền núi phía Tây Nghệ An nằm sâu trong đât liền nên ít bị ảnh hưởng của bão Nhưng do địa hình

có nhiều đồi núi cao, tạo thành nhiều thung lũng nhỏ nên trong vùng thường có

Trang 32

32

gió lốc, sương muối, giá rét, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

e Thuỷ văn: Mạng lưới sông ngòi của vùng trung du miền núi phía Tây

chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam phù hợp với độ nghiêng của địa hình Miền Tây Nghệ An có mạng lưói sông ngòi dày đặc, nhìn chung là ngắn và dốc: sông Hiếu, sông Con, sông Cả (sông Lam) Các sông suối lớn nhỏ đều có nguồn nước dồi dào, phân bố ở hầu hết khắp các huyện trong toàn vùng tạo thành hệ thống cấp nước tự nhiên cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân, nhất

là đối với các làng bản vùng sâu, vùng xa, ngoài ra còn có giá trị thuỷ điện lớn…

Tuy nhiên cùng với các yếu tố khí hậu, thuỷ chế cũng không đồng đều theo mùa nên vẫn xảy ra tình trạng lũ lụt, hạn hán ảnh hưởng tới đời sống nhân dân

1.4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

a Tình hình sử dụng đất trong vùng

Theo số liệu điều tra dân số tháng 1/2009, Dân số 10 huyện miền Tây Nghệ An có 1.127.008 người 637.357 lao động, chiếm 36,2% dân số toàn tỉnh, phân bố không đều, với mật độ dân số trung bình 81,93 người/ Km2 thấp hơn mật độ dân số trung bình của tỉnh 177 người/ Km2 (2009) Lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm 89%

Tổng diện tích tự nhiên 10 huyện: 1.374.502,99 ha chiếm 83,38% diện tích toàn tỉnh Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp: 144.190,37 ha chiếm 57,76% Đất lâm nghiệp: 864.942,55 ha chiếm 95,4% Đất phi nông nghiệp: 50.394,29 ha chiếm 44,4% Đất chưa sử dụng: 314.975,78 ha chiếm 84,6%

Trang 33

33

b Phát triển sản xuất: Miền Tây Nghệ An chủ yếu là sản xuất nông

nghiệp theo hình thức tự cung tự cấp; sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ đang trên đà phát triển nhưng tốc độ phát triển còn chậm, chưa phát huy được lợi thế về điều kiện tự nhiên trong vùng

1.4.2 Các thổ ngữ ở miền Tây Nghệ An và cơ sở của việc khảo sát lớp

từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông

Miền núi Nghệ An rộng lớn, có núi cao, sông sâu, hiểm trở Nghệ An là một tỉnh đa dân tộc Tuy nhiên khảo sát đề tài này chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông ở các thổ ngữ của dân tộc Kinh nói tiếng Việt trên địa bàn miền Tây xứ Nghệ

Trong tổng số cư dân đang sinh sống ở miền núi Nghệ An người Kinh chiếm tỷ lệ 49,8% dân số toàn vùng Họ sinh sống ở hầu hết các huyện miền núi

và trung du của tỉnh bao gồm Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn… Nơi ở của họ tập trung ở các thị trấn, các huyện lỵ, dọc các trục đường giao thông lớn trong vùng như đường 7, đường 48, dọc các con sông lớn như sông Dinh, sông Hiếu và dọc sông Lam, các vùng đất đồi thoải đất bazan như vùng Phủ Quỳ cũ (bao gồm đất Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp và Quỳ Châu), trong các công - nông - lâm trường quốc doanh và ở một số vùng người Kinh sống đan xen với địa bàn người Thổ, người Thái Nhiều vùng dân cư người Kinh tập trung đông đúc ở miền núi được hình thành như: thị trấn Thái Hoà, thị trấn Anh Sơn, thị trấn Lạt (Tân Kỳ), điểm tụ cư Cây Chanh (Anh Sơn), thị trấn Hoà Bình

Người Kinh ở đồng bằng Nghệ An chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa nước nhưng có một bộ phận khá lớn dân cư Kinh cư trú vùng bán sơn địa lại là nơi thường có gió Lào, thành thạo cách thức làm lúa khô gieo vãi chờ mưa Trong điều kiện thiên nhiên ở đồng bằng vốn đã khắc nghiệt, cư dân đông, đất

Trang 34

34

đai ít không sống nổi phải di cư lên miền núi sống dựa vào rừng núi, con người ở đây phải đương đầu với những khó khăn mới gian nan, nhưng khả năng thích ứng với tự nhiên có phần thuận lợi hơn Phần lớn cư dân người Kinh lên miền núi vẫn tiếp tục làm ruộng nước Đặc biệt cư dân Kinh ở miền núi Nghệ An rất thành thạo làm rẫy, coi thu hoạch nương rẫy là một nguồn thu quan trọng với lúa khô, ngô, sắn, đỗ, lạc v.v…

Chúng ta thấy rằng, do phần lớn người Kinh sống ở miền Tây Nghệ An là dân di cư từ các vùng của miền xuôi lên làm kinh tế mới như: Diễn Châu, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên… nên khi lên sinh sống ở đây họ đã mang theo cả ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, phương thức sản xuất canh tác của quê hương mình " hòa nhập" vào vùng đất mới Từ đó tạo nên sự "giao thoa" giữa ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, phương thức sản xuất canh tác của hai vùng để làm nên bản sắc riêng cho miền Tây xứ Nghệ (như người dân ở Nghi Lộc, Thanh Chương, Diễn Châu - là những vùng có thổ ngữ rất đặc trưng)… Vì thế, qua quá trình khảo sát chúng tôi thấy rằng ở các huyện miền Tây xứ Nghệ các vùng có thổ ngữ mang dấu ấn khác biệt nhất là Anh Sơn, Tân Kỳ, Kỳ Sơn, Quế Phong… Sở dĩ có điều này vì Anh Sơn, Tân Kỳ

là những vùng có nhiều người Kinh ở các huyện miền xuôi di cư lên nhiều nhất cho nên người dân nơi đây mặc dù tiếng nói đã có sự biến đổi nhưng sự biến đổi này là không đáng kể Tiếng nói của cư dân các thổ ngữ miền Tây vẫn ít nhiều giữ được tiếng nói vùng quê gốc của các vùng miền xuôi nhưng đồng thời có sự khác biệt do sống đan xen với cư dân nhiều vùng đến và do tiếp xúc với tiếng dân tộc Còn thổ ngữ ở Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương, Con Cuông … thì do địa bàn là vùng núi cao có nhiều dân tộc anh em sinh sống như: Ơ đu, H'

Mông, Thái, Thổ, Kinh nên có sự giao thoa giữa tiếng nói, các hoạt động sản xuất…

Trang 35

âm như: người dân tộc thiểu số khi nói tiếng Việt thường có hiện tượng “mất dấu” hay còn gọi là hiện tuợng “biến đổi dấu” như họ gọi là “lưới liềm”, “lưởi liềm”, “ lưới lìa” thay cho “luỡi liềm”…

Bên cạnh ngôn ngữ, văn hóa ta thấy rằng khi lên đây làm "kinh tế mới" người Kinh mang theo những nông cụ, kinh nghiệm lao động sản xuất đã được tích lũy bao đời của mình để áp dụng trên mảnh đất mới nhằm đảm bảo cuộc sống cho gia đình đủ ăn, đủ mặc Khi trực tiếp tham gia lao động sản xuất có thể

họ sẽ phải cải tiến nông cụ (bằng cách thêm hoặc bớt các bộ phận), cải tiến cách thức sản xuất, qui trình trồng trọt… để cho phù hợp với địa hình, đất đai, khí hậu của từng vùng, miền vì thế tạo nên những nét khác biệt giữa miền núi và miền xuôi Ai cũng hiểu rằng trong cùng một hoàn cảnh tự nhiên, sản phẩm do con người làm ra thường mang những yếu tố chung về mọi mặt Sự khác biệt trong văn hóa của các cư dân trong vùng chủ yếu là do làn sóng di dân đem lại Các cư dân nơi đây có thể là cư dân bản địa hoặc là những người dân mới di cư đến vùng đất này trong vòng một vài trăm năm nay đều coi miền núi Nghệ An là quê hương yêu dấu của mình

Do điều kiện tự nhiên rất phong phú dẫn đến đặc điểm nông nghiệp của vùng cũng rất đa dạng, nông vụ chủ yếu dựa vào hai mùa chính là mùa nắng và mùa lạnh, chia thành vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu Mặc dù trồng lúa là nghề chính của sản xuất nông nghiệp nơi đây nhưng bên cạnh trồng lúa người dân còn

Trang 36

36

trồng các loại cây hoa màu như ngô, khoai, lạc, đậu, sắn và các loại cây công nghiệp như chè, mía… trong một mùa có thể trồng xen kẽ nhiều loại cây nông nghiệp, cây hoa màu tùy vào điều kiện địa hình đồng ruộng và đặc điểm đất đai như có thể trồng các ruộng ngô, lạc, vừng, khoai xen kẽ các ruộng lúa hay hoa màu, rau củ, quả trên cùng một cánh đồng, một mùa vụ Miền Tây Nghệ An chủ yếu là địa hình đồi núi, diện tích đất bằng rất ít, có một số ít diện tích đất phù sa ven sông là màu mỡ như ven sông Lam, sông Hiếu, sông Con… nên dân cư có thể vừa phát triển nông nghiệp (nghề trồng lúa lúa nước, lúa rẫy và hoa màu) vừa phát triển nghề trồng rừng, chăn nuôi và bên cạnh đó còn có nghề săn bắt thú rừng Cư dân nơi đây đã biết trồng lúa và các loại cây lương thực, hoa màu phục

vụ cho cuộc sống của mình từ lâu đời Ở mỗi vùng, mỗi xã do điều kiện canh tác, đất đai, khí hậu khác nhau nên lại có các cách thức, thói quen tiến hành khác nhau, vì vậy mà từ các cách gọi tên các loại giống cho đến các cách thức làm việc cũng không địa phương nào giống địa phương nào

Tiểu kết chương 1

Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trong sự đa dạng về mặt biểu hiện trên các phương ngữ Việc nghiên cứu ngôn ngữ dù dưới góc độ nào cũng liên quan đến nghiên cứu từ vựng Việc tìm hiểu từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phương ngữ, lớp từ chỉ nghề nghiệp nói chung và lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động sản xuất nông nghiệp ở miền Tây xứ Nghệ nói riêng, đồng thời qua đó có thể khái quát lên rõ nét con người, ngôn ngữ, văn hóa, hoạt động lao động sản xuất của người dân nơi đây - một mảnh đất chưa có đề tài nào khai phá

Những lớp từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An không chỉ là những kí hiệu ngôn ngữ, cấu trúc ngôn

Trang 37

37

ngữ đơn thuần nữa mà chúng chính là một thành tố để biểu hiện văn hóa của con người miền Tây xứ Nghệ - một vùng đất rất rộng lớn của Nghệ An nhưng không phải ai ai cũng hiểu hết nó Nó cũng chính là nơi lưu giữ những yếu tố đặc trưng nhất của văn hóa, ngôn ngữ…

Từ việc khái quát chung về vốn từ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông qua các thổ ngữ tiếng Việt ở miền Tây Nghệ An chúng ta có thể có cái nhìn khái quát hơn về vốn từ vựng chỉ nghề nghiệp trong từ vựng văn hóa, trong phương ngữ Nghệ Tĩnh nói chung và trong các thổ ngữ miền Tây Nghệ An nói riêng qua

đó thấy rõ mối quan hệ giữa chúng

Trang 38

38

CHƯƠNG 2

ĐỘ PHONG PHÚ CỦA VỐN TỪ NGỮ GỌI TÊN NÔNG CỤ

VÀ HOẠT ĐỘNG NGHỀ NÔNG TRONG CÁC THỔ NGỮ

MIỀN TÂY NGHỆ AN

Như đã nói, ngữ liệu chúng tôi miêu tả trong chương 2 và chương 3 là kết quả điều tra từ 10 địa bàn sau:

1 Thanh Chương 6 Tân Kỳ

4 Tương Dương 9 Quỳ Châu

Trong các miêu tả từ đây về sau khi thuyết minh từ ngữ, tên gọi của các nông cụ và hoạt động nghề nông có mặt ở điểm điều tra trên, chúng tôi xin lấy số

thứ tự trong danh sách trên thay cho địa danh điều tra Ví dụ: mê khau (4) có

nghĩa là từ này được người Tương Dương dùng

2.1 Vốn từ ngữ chỉ nông cụ và hoạt động nghề nông trong các thổ ngữ

ở miền Tây Nghệ An

2.1.1 Kết quả thống kê

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát vốn từ chỉ nghề nông ở 10 huyện miền núi phía Tây Nghệ An trên các phương diện chính liên quan đến nghề nông là: Tên các nông cụ sản xuất và các bộ phận của một số nông cụ chính, tên các hoạt động

sử dụng nông cụ Chúng tôi đã trực tiếp điều tra 10 huyện miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An ở các địa bàn có nghề trồng lúa nước tiêu biểu, bước đầu thu được kết quả:

Trang 39

2.1.2.1 Từ chỉ nông cụ và các bộ phận của một số nông cụ cơ bản

Trước và nay, công cụ lao động của nghề nông rất đơn giản và thô sơ, nhất

là ở các huyện miền núi kinh tế chưa phát triển Việc sử dụng máy móc làm công

cụ sản xuất ở những vùng này rất ít, thậm chí là không có Vì vậy những công cụ

từ trước đến nay nhà nông hay dùng là: cày, bừa, liềm, cuốc, vét, thuổng

(xuổng)… Do địa hình vùng núi, đất và ruộng có đặc điểm khác nhau nên mỗi

vùng có những loại dụng cụ thích hợp của mình Vì thế những loại nông cụ này

ở mỗi địa phương lại có cách gọi khác nhau

Khi khảo sát đề tài này ở miền Tây Nghệ An, đối với nông cụ sản xuất nông nghiệp, chúng tôi đã tiến hành khảo sát hầu hết các nông cụ và đi vào khảo sát chi tiết các bộ phận của 12 nông cụ cơ bản nhất mà địa phương hay sử dụng, mỗi nông cụ, mỗi bộ phận của nông cụ đó lại có thể có nhiều tên gọi tuỳ theo từng địa phương cụ thể, cho nên thực tế tên gọi về nông cụ rất phong phú Tên gọi của các bộ phận nông cụ cơ bản được đánh theo số như trong hình vẽ, số trong ngoặc đơn là chỉ những địa phương gọi tên như vậy, (số được nêu thay cho tên huyện điều tra) tương ứng với số thứ tự theo danh sách trên mà chúng tôi đã nêu ở phần đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ví dụ: (1): có nghĩa là Thanh Chương, (5) có nghĩa là Kỳ Sơn Chúng tôi đã thống kê được kết quả như sau:

Trang 40

40

Tổng số từ chỉ bộ phận của cái cày: 352 đơn vị từ ngữ cho 14 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái cuốc: 53 đơn vị từ ngữ cho 3 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái bừa: 289 đơn vị từ ngữ cho 10 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái cào sắt: 66 đơn vị từ ngữ cho 3 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái vét: 61 đơn vị từ ngữ cho 3 bộ phận

Tổng số từ chỉ bộ phận của cái thuổng: 31 đơn vị từ ngữ cho 2 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái xẻng: 23 đơn vị từ ngữ cho 2 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái gàu dai: 92 đơn vị từ ngữ cho 4 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái gàu sòng: 90 đơn vị từ ngữ cho 4 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái liềm: 31 đơn vị từ ngữ cho 3 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái hái: 101 đơn vị từ ngữ cho 5 bộ phận Tổng số từ chỉ bộ phận của cái chang thóc: 50 đơn vị từ ngữ cho 2 bộ phận

Khảo sát cụ thể tên gọi đối với các nông cụ, chúng tôi thu được kết quả như sau:

CÀY

Cày: nông cụ có lưỡi bằng sắt, dùng sức kéo để lật đất, xới đất và làm vỡ đất trồng trọt

Có nhiều loại cày nên loại nông cụ này cũng có nhiều tên gọi:

- Cày gang: cày lưỡi gang, không có diệp, cày đất bổ về hai bên.

- Cày hóa: là loại cày lưỡi to, lưỡi cày bằng sắt, cày lật đất lên về một

phía, thường dùng để cày đất hoang hoá, khai hoang vỡ hoá

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Vĩnh An (1998), Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Ngữ Văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Lương Vĩnh An
Năm: 1998
2. Nguyễn Nhã Bản (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb BVHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb BVHTT
Năm: 1999
3. Nguyễn Nhã Bản (2001), Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ)
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
4. Nguyễn Nhã Bản (2004), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
5. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh (1996), "Văn hoá người Nghệ qua vốn từ vựng nghề cá", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá người Nghệ qua vốn từ vựng nghề cá
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh
Năm: 1996
6. Hoàng Trọng Canh (2001), Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh, Luận án Tiến sỹ Ngữ văn, ĐHKHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2001
7. Hoàng Trọng Canh (2004), "Thực tế nghề cá đƣợc " phân cắt", " chọn lựa" qua tên gọi và cách gọi trong phương ngữ Nghệ Tĩnh", Tạp chí khoa học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tế nghề cá đƣợc " phân cắt, chọn lựa" qua tên gọi và cách gọi trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2004
8. Hoàng Trọng Canh (2004), "Phương thức định danh của một số nhóm từ chỉ nghề cá và trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh", Ngữ học trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức định danh của một số nhóm từ chỉ nghề cá và trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2004
9. Hoàng Trọng Canh (2008), "Từ ngữ gọi tên các nông cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh", Ngôn ngữ và đời sống, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ gọi tên các nông cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2008
10. Hoàng Trọng Canh (2009), Từ địa phương Nghệ Tĩnh: về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương Nghệ Tĩnh: về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2009
11. Hoàng Thị Châu (2009), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2009
12. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1981
13. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb. GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 1998
14. Nguyễn Đổng Chi (1995), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1995
15. Nguyễn Phương Chi - Hoàng Tử Quân (1984), "Tên gọi và cách gọi tên", Ngôn ngữ (số phụ 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên gọi và cách gọi tên
Tác giả: Nguyễn Phương Chi - Hoàng Tử Quân
Năm: 1984
16. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (tái bản lần thứ 9 - 2008), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt , Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
17. Bùi Thị Thu Dung (2009), Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu
Tác giả: Bùi Thị Thu Dung
Năm: 2009
18. Phạm Đức Dương (1998), 25 năm tiếp nhận Đông Nam Á học, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm tiếp nhận Đông Nam Á học
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
19. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ừ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
20. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w