1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát bộ phận tục ngữ việt có nội dung đánh giá con người

119 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một hướng nghiên cứu cần thiết để qua đó một mặt góp phần vào việc nghiên cứu cách thức tổ chức ngôn ngữ và ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ này, mặt khác thấy được vai trò giáo dục

Trang 1

TRẦN THỊ TUYẾT

KHẢO SÁT BỘ PHẬN TỤC NGỮ VIỆT

CÓ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

VINH - 2010

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN VĂN MINH

VINH - 2010

Trang 3

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo thường xuyên, tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Minh Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ - Khoa Ngữ văn và Khoa Sau đại học Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy

và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn khích lệ, động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trần Thị Tuyết

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của đề tài 7

6 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI 9

1.1 Xung quanh khái niệm tục ngữ 9

1.1.1 Định nghĩa tục ngữ 9

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ và ca dao 12

1.1.3 Nguồn gốc của tục ngữ 22

1.1.4 Nội dung của tục ngữ 25

1.2 Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người trong kho tàng tục ngữ của người Việt 27

1.2.1 Số lượng tục ngữ của dân tộc Việt 27

1.2.2 Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người 28

1.3 Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 TỔ CHỨC NGÔN NGỮ CỦA BỘ PHẬN TỤC NGỮ VIỆT CÓ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI 34

2.1 Cấu tạo ngữ pháp của các phát ngôn tục ngữ có nội dung đánh giá con người 34

2.1.1 Phát ngôn tục ngữ đánh giá con người có cấu tạo câu đơn 34

2.1.2 Phát ngôn tục ngữ đánh giá con người có cấu tạo câu ghép 39

2.2 Vần và nhịp trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người 43

Trang 5

người 46

2.3 Một số nhóm từ cơ bản trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người 51

2.3.1 Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người 52

2.3.2 Nhóm từ chỉ động vật 57

2.3.3 Nhóm từ chỉ thực vật 61

2.4 Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 NGỮ NGHĨA CỦA BỘ PHẬN TỤC NGỮ VIỆT CÓ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI 66

3.1 Vấn đề ngữ nghĩa trong tục ngữ 66

3.1.1 Vài nét về khái niệm nghĩa, ý nghĩa và ngữ nghĩa 66

3.1.2 Về ngữ nghĩa của tục ngữ Việt 67

3.2 Ngữ nghĩa của các phát ngôn tục ngữ Việt có nội dung đánh giá con người 70

3.2.1 Nghĩa trực tiếp 70

3.2.2 Nghĩa gián tiếp 76

3.3 Vai trò ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ Việt có nội dung đánh giá con người 85

3.3.1 Đề cao, ca ngợi nhiều truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc 85

3.3.3 Dấu ấn văn hóa Việt thể hiện qua bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người 98

3.4 Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tà i

1.1 Trong di sản ngôn ngữ của dân tộc, tục ngữ là những lời nói hay nên

được lưu truyền rộng rãi theo thời gian Tục ngữ là một trong những bộ phận quan trọng của văn học dân gian, lưu giữ những kinh nghiệm, tình cảm, đạo đức của dân tộc M Gorki từng nói: “Cái trí tuệ vĩ đại nhất ở trong cái thuần hậu chất phác của ngôn ngữ, tục ngữ và ca khúc nói chung ngắn gọn nhưng trong đó bao hàm cả trí tuệ và tình cảm có thể viết thành cả một quyển sách được” Tục ngữ tiêu biểu cho lối nghĩ dân tộc về các vấn đề của cuộc sống, đồng thời cũng tiêu biểu cho lời ăn tiếng nói của nhân dân Có lẽ mỗi người Việt đều có thể thuộc và vận dụng ít nhất một vài câu tục ngữ trong giao tiếp ngôn ngữ của mình, để vừa diễn đạt nội dung một cách hàm súc vừa làm cho lời nói thêm phần cân đối, vần vè, có hình ảnh Ngay trong xã hội phát triển hiện đại, tục ngữ vẫn tiếp tục được giữ gìn, khai thác sử dụng và bổ sung, bởi

lẽ tục ngữ chính là “tiếng nói âm vang đầy kinh nghiệm của dân tộc Việt” (dẫn theo [3; 91])

Kho tàng tục ngữ của người Việt còn nhiều bí ẩn và đầy sức hấp dẫn Vì thế, tục ngữ luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội - nhân văn (văn học dân gian, ngôn ngữ học, văn hóa học, dân tộc học, )

1.2 Về mặt nội dung, tục ngữ là kho tàng trí tuệ, kinh nghiệm, tình cảm,

đạo đức mang tính chất giáo huấn của các thế hệ tiền nhân đối với hậu thế Nói cách khác, tục ngữ là kết tinh văn hóa của dân tộc Tất cả những gì cha ông ta đúc kết trong tục ngữ đều có giá trị nhân văn sâu sắc

Trong kho tàng tục ngữ Việt, ngoài bộ phận rất nhỏ nói về thế giới tự nhiên thì chủ yếu tục ngữ nói về đời sống xã hội, đời sống con người Con người là trung tâm của vũ trụ, là kết tinh những tinh hoa của đất trời và cũng

là trung tâm phản ánh của mọi thể loại văn học trong đó có tục ngữ - một thể

Trang 7

loại của văn học dân gian Đời sống con người được phản ánh vào trong tục ngữ tương đối phong phú, đa diện, từ con người - đời sống vật chất như: ăn làm, công việc lao động, ăn mặc, y phục, đến con người - đời sống xã hội: anh chị em, cha mẹ - con cái, cộng đồng - cá nhân, Được chú trọng nhất trong tục ngữ là chủ đề con người - đời sống tinh thần Những quan niệm đa dạng về nhân sinh vũ trụ Trong đó nổi bật là những tiểu chủ đề có nội dung nhận xét, đánh giá con người trên nhiều phương diện: đạo đức, tính tình, tư cách, tướng mạo, Dưới hình thức khi là lời khuyên răn, là câu ngợi khen, khi là lời chê trách, mỉa mai nhưng mục đích cuối cùng của bộ phận tục ngữ này vẫn là hướng con người tới cái chân - thiện - mỹ

1.3 Tục ngữ là một trong những nội dung dạy - học môn Ngữ văn ở

trường phổ thông Trong số các câu tục ngữ được đưa vào chương trình, có không ít câu tục ngữ mang nội dung đánh giá con người Vì vậy, việc tìm hiểu

bộ phận tục ngữ Việt có nội dung đánh giá con người sẽ ít nhiều góp phần củng cố kiến thức về tục ngữ, giúp cho việc tiếp nhận và dạy - học tục ngữ hiệu quả hơn

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát bộ phận tục ngữ

Việt có nội dung đánh giá con người” Đây là đề tài góp phần vào việc đi sâu

tìm hiểu mặt tổ chức ngôn ngữ - ngữ nghĩa của tục ngữ Việt nói chung, đồng thời khẳng định giá trị giáo dục đạo đức và hướng thiện của tục ngữ Việt đối với xã hội trong mọi thời đại

2 Lịch sử vấn đề

Là một di sản quý báu trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt, tục ngữ

đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội - nhân văn Theo thống kê của nhóm biên soạn “Kho tàng tục ngữ người Việt” [67; 3.203], kể từ những năm đầu thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, ở nước ta có tới 315 công trình lớn nhỏ nghiên cứu tục ngữ Dưới đây, chúng tôi

Trang 8

sơ lược điểm qua mấy hướng nghiên cứu về tục ngữ có liên quan đến đề tài luận văn này

2.1 Về việc sưu tầm, biên soạn tục ngữ Việt, có thể chia làm hai thời kỳ

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, việc sưu tầm tục ngữ còn ở trong

tình trạng rời rạc, lẻ tẻ Công trình đáng kể nhất là “Tục ngữ phong dao”

(Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản lần đầu năm 1928) Tập I của bộ sách này giới thiệu khoảng 6.500 thành ngữ và tục ngữ

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, xuất hiện nhiều công trình vừa sưu

tầm vừa nghiên cứu về tục ngữ Việt Có thể kể ra ở đây một số trong đó: “Tục

ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” (Vũ Ngọc Phan, xuất bản lần đầu năm 1956);

“Tục ngữ Việt Nam” của nhóm Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tú (1975) với 4.151 câu tục ngữ được sắp xếp theo các chủ đề nội dung; “Tục

ngữ Việt Nam chọn lọc” của Vương Trung Hiếu (1996) gồm 9.000 câu tục

ngữ được sắp xếp theo các chủ đề Có lẽ nổi bật nhất là “Kho tàng tục ngữ

người Việt” (2002) của nhóm Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thuý Loan, Phan

Lan Hương, Nguyễn Luân (2002) với 16.098 câu tục ngữ, cũng được sắp xếp theo từng chủ đề

Các công trình sưu tầm, biên soạn tục ngữ ngày càng có dung lượng lớn

Đó là những tư liệu quý báu cho những nhà khoa học nghiên cứu về tục ngữ

2.2 Trong số các nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ thi pháp, có thể thấy

nổi lên hai chuyên luận sau

a)“Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp” (Nguyễn Thái Hòa, 1997)

Trong phần “Cấu trúc”, tác giả tìm hiểu các vấn đề: Tính cố định của tục ngữ;

Mô hình tổng quát của tục ngữ; Phân loại các khuôn hình cơ bản của tục ngữ; Những câu tục ngữ phức hợp Trong phần “Thi pháp”, có các nội dung: Tục ngữ - một tổng thể thi ca nhỏ nhất; Tục ngữ - một danh mục các “lẽ thường”;

Sự vận dụng tục ngữ

Trang 9

b) “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” (Phan Thị Đào, 2001) Trong

chuyên luận này, tác giả trình bày các vấn đề: - Kết cấu của tục ngữ (trong đó

đi sâu: * Kết cấu như là một yếu tố cấu thành thi pháp tục ngữ; * Các dạng kết cấu của tục ngữ); - Vần và nhịp trong tục ngữ; - Cách tạo nghĩa trong tục ngữ (gồm: * Nghĩa của tục ngữ; * Các thủ pháp tạo nghĩa trong tục ngữ)

2.3 Nghiên cứu tục ngữ từ góc độ văn hóa học, có một số bài viết trên

các tạp chí đáng chú ý như: “Tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Việt qua tục

ngữ” [55], “Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học” [13], v.v

2.4 Từ góc độ ngôn ngữ học, cũng đã có nhiều nghiên cứu về tục ngữ

Trong một số giáo trình về từ vựng như: Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Văn Tu - 1968), Từ vựng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp - 1976), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu - tái bản 1996), các

tác giả đã xếp thành ngữ, tục ngữ vào phần cụm từ cố định

Trong công trình Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ [22], ở phần thứ nhất

(Nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt), tác giả đề cập chủ yếu là thành ngữ; ở chương II (Nguồn gốc thành ngữ, tục ngữ) có đề cập đến tục ngữ nhưng lại đặt nó trong phần chung với thành ngữ, nên đối tượng chủ yếu của công trình này vẫn là thành ngữ

Một số bài viết trên tạp chí Ngôn ngữ đưa ra những tiêu chí để phân biệt

tục ngữ với thành ngữ Chẳng hạn: “Về việc xác định ranh giới giữa thành

ngữ và tục ngữ” (Nguyễn Văn Mệnh - Ngôn ngữ, số 3, 1972), “Góp ý kiến về

sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ” (Cù Đình Tú - Ngôn ngữ, số 1,

Trang 10

ngữ: “Bằng phương pháp biểu trưng như vậy, những chân lí, đạo lí và những kinh nghiệm truyền thống của dân tộc đã được người dân lĩnh hội thấm nhuần sâu sắc và cứ như vậy chúng đã đi vào cuộc sống của dân tộc một cách hết sức dung dị đời thường” [25; 12]

Ngoài ra, còn có một số chuyên luận khác đáng chú ý về tục ngữ Trong

số đó, hai công trình dưới đây là những hướng tiếp cận mới về tục ngữ, giúp cho việc nghiên cứu tục ngữ được sâu sắc, đa chiều hơn

1/ Trong chuyên khảo “Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam”

[7], tác giả Nguyễn Nghĩa Dân đã nghiên cứu tục ngữ trên bình diện chức năng - ngữ nghĩa Phần thứ nhất (Những đặc điểm của tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người) của chuyên luận, tác giả đã nêu ra 3 đặc điểm riêng của tục ngữ Việt Nam từ góc nhìn đạo làm người:

a) Tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người là toàn bộ kinh nghiệm xây dựng nhân cách chính trị đạo đức và nhân cách sáng tạo nhằm duy trì, phát triển dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước, thực hiện tốt đẹp và có hiệu quả mối quan hệ của con người Việt Nam với chính mình, với xã hội và với tự nhiên

b) Tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người tuy có bị ảnh hưởng tư tưởng thống trị thuộc thời đại và chế độ phong kiến bắt nguồn từ tam giáo đồng nguyên, biểu hiện trên những thể chế chính trị xã hội khắc nghiệt, thậm chí phản động, nhưng về cơ bản đã đấu tranh chống những tư tưởng và thể chế đó, tiếp thu làm phong phú văn hóa dân gian về đạo làm người bằng chính những tư tưởng nhân văn tích cực của Nho giáo và Phật giáo

c) Tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người thể hiện không chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống, trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước

Trang 11

2/ Trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa - ngữ dụng”

[35], tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã miêu tả, phân tích các quan hệ ngữ nghĩa của một số nhóm tục ngữ, khảo sát trường ngữ nghĩa của một số nhóm từ, để

đi đến rút ra những đặc trưng văn hóa của người Việt qua tục ngữ Để chỉ ra

sự đồng nhất và khác biệt, tác giả đã so sánh một số trường ngữ nghĩa trong kho tàng tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu tục ngữ dưới một góc nhìn khá mới và đã có những đóng góp nhất định vào tiến trình nghiên cứu tục ngữ

Tóm lại, đã có rất nhiều công trình sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu tục ngữ dưới nhiều góc độ khác nhau Nhưng đến nay, từ góc độ ngôn ngữ học, chúng tôi thấy chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu về bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người Đây là một hướng nghiên cứu cần thiết để qua

đó một mặt góp phần vào việc nghiên cứu cách thức tổ chức ngôn ngữ và ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ này, mặt khác thấy được vai trò giáo dục về đạo đức, lối sống mà ông cha ta đã truyền lại qua tục ngữ cho đến tận ngày nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn có mục đích xác định cách thức tổ chức ngôn ngữ của bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người Từ đó, tìm hiểu ngữ nghĩa và vai trò giáo dục về đạo đức, nhân cách, lối sống mà ông cha ta đã truyền lại qua bộ phận tục ngữ này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ phải thực hiện sau đây:

a) Xác định nội dung định nghĩa tục ngữ Phân biệt tục ngữ với những đơn vị gần gũi là thành ngữ và ca dao Giới thuyết về bộ phận tục ngữ Việt có nội dung đánh giá con người

Trang 12

b) Thống kê, phân tích, miêu tả mặt tổ chức ngôn ngữ của bộ phận tục ngữ này

c) Tìm hiểu ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người và chỉ ra vai trò sử dụng của bộ phận tục ngữ này đối với việc giáo dục đạo đức, nhân cách của người Việt thuộc mọi thời đại

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn bộ sách “Kho tàng tục ngữ người

Việt” (Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002) của nhóm Nguyễn Xuân

Kính, Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân làm đối tượng khảo sát Đến nay, đây là công trình có số lượng tục ngữ nhiều nhất (gồm 16.098 câu tục ngữ) Trong bộ sách này, chúng tôi khảo sát những câu tục ngữ có nội dung đánh giá con người (gồm 1593 câu)

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê và phân loại được dùng trong công đoạn sưu tầm và khảo sát định lượng ngữ liệu đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp phân tích miêu tả được dùng trong công đoạn khảo sát định tính đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp so sánh đối chiếu được dùng để làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa các kiểu câu hoặc kiểu ngữ nghĩa trong bộ phận tục ngữ có nội dung đáng giá con người

- Phương pháp tổng hợp quy nạp được dùng viết tiểu kết các chương và viết phần kết luận của luận văn

5 Đóng góp của đề tà i

Trang 13

Đề tài Khảo sát bộ phận tục ngữ Việt có nội dung đánh giá con người

là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống mặt tổ chức ngôn ngữ

và mặt ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ này Đề tài góp phần vào tiến trình nghiên cứu về tục ngữ Việt nói chung, và việc khẳng định giá trị giáo dục của

bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người nói riêng trong kho tàng tục ngữ người Việt

6 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của

luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số giới thuyết xung quanh đề tài

Chương 2 Tổ chức ngôn ngữ của bộ phận tục ngữ Việt có nội dung

đánh giá con người Chương 3 Ngữ nghĩa của bộ phận tục ngữ Việt có nội dung đánh giá

con người

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI

1.1 Xung quanh khái niệm tục ngữ

1.1.1 Định nghĩa tục ngữ

Tục ngữ là tài sản chung của nhân dân lao động, là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn dân tộc Nó có khả năng sản sinh lớn và thường xuyên được sử dụng như một công cụ tư duy và sự diễn đạt sắc bén Sự bí ẩn và sức hấp dẫn của tục ngữ đã lôi cuốn sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xã hội và nhân văn Tục ngữ được nghiên cứu, nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau dẫn đến việc đưa ra định nghĩa về tục ngữ cũng có nhiều ý kiến khác nhau

Nghiên cứu tục ngữ dưới góc độ văn học Có thể nói người đầu tiên đưa

ra định nghĩa tục ngữ là tác giả Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học

sử yếu Theo ông, tục ngữ “là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành

tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi ” [20; 19] Trong cuốn Tục

ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan viết: “Tục ngữ là một câu tự nó

diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán” [49; 39] Đến Cao Huy Đỉnh, tục ngữ được ông nhìn nhận

từ quan điểm lịch sử cụ thể, ông đã chỉ rõ tính chất hai mặt của tục ngữ vừa có tính chất nghệ thuật văn học vừa có tính chất phi nghệ thuật văn học Tác giả xếp tục ngữ vào loại “văn học đúc rút kinh nghiệm”, là “sản phẩm văn hóa tinh thần đặc biệt trong điều kiện tư duy của nhân dân chưa chiếm lĩnh được khoa học trừu tượng” [15; 260]

Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam cũng đưa

ra định nghĩa: “Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân

Trang 15

dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền” [63; 109]

Mã Giang Lân xem tục ngữ là “lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung súc tích Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người” [32; 5]

Tác giả Bùi Mạnh Nhị trong Văn học dân gian những công trình nghiên

cứu định nghĩa tục ngữ: “Tục ngữ (tục: thói quen có lâu đời, được mọi người

công nhận; ngữ: lời nói) là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày” [47; 254]

Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu văn học, các tác giả đã đưa ra những quan niệm rất khác nhau về tục ngữ Khái quát lại, có thể thấy các định nghĩa trên đều đề cập đến hai bình diện nội dung và hình thức của tục ngữ Về nội dung, tục ngữ nói đến toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của nhân dân ta trong trường kì lịch sử của dân tộc Về hình thức, tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, có vần điệu, giàu hình ảnh

Khi nghiên cứu tục ngữ, các nhà ngôn ngữ học cũng đã cố gắng đi tìm bản chất của tục ngữ Tác giả Nguyễn Văn Tu, Đái Xuân Ninh đều cho rằng tục ngữ liên quan đến cụm từ cố định Nguyễn Văn Tu [61] chủ trương:

“Trong tiếng Việt, những tục ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối tượng của từ vựng học mà là

đối tượng của văn học dân gian Nhưng vì chúng là đơn vị có sẵn trong ngôn

ngữ được dùng đi dùng lại để trao đổi tư tưởng cho nên chúng dính dáng đến vấn đề cụm từ cố định Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thành phần cú pháp nào cả” [61; 87] Đái

Trang 16

Xuân Ninh [48] chia sẻ với quan niệm này khi ông cho rằng: “Cụm từ cố định bao gồm lẫn tục ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ là đối tượng của văn học dân gian, vì tục ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ cũng là những đơn vị sẵn có trong tiếng nói” [48; 24] Như vậy, cả hai tác giả đều xem tục ngữ không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là của lời nói liên quan đến cụm từ cố định Tuy vậy,

Cù Đình Tú còn sử dụng thêm tiêu chí chức năng Ông cho rằng: “Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của văn học dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng Đó cũng là lý do giải thích tục ngữ có cấu tạo là kết cấu hai trung tâm” [62; 25]

Hồ Lê (trongVấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại - 1976) xem

“Tục ngữ là câu cố định mang một nội dung đúc kết kinh nghiệm sản xuất hoặc đối nhân xử thế” [34; 101]

Nguyễn Đức Dân (trong Lôgíc và tiếng Việt ) đưa ra định nghĩa: “Tục

ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội” [6; 358]

Trong công trình Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp, tác giả

Nguyễn Thái Hòa viết: “Tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa đơn vị ngữ cú và câu, giữa câu và văn bản và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học (đúc rút kinh nghiệm) và phong cách nghệ thuật (thông điệp nghệ thuật, tác phẩm thơ)” [26; 25]

Theo Hoàng Văn Hành “Tục ngữ là câu nhưng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thường ở tư cách là làm thông điệp nghệ thuật Tục ngữ là thông điệp nghệ thuật nhưng là loại thông điệp khác với mọi thông điệp nghệ

Trang 17

thuật ở chỗ hình thức nó chỉ là một câu” [23; 32] Đây là một cách nhìn khá mới đối với tục ngữ Việt Nam

Định nghĩa tục ngữ của Từ điển tiếng Việt: “Tục ngữ là những câu

ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết những tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân” [50; 1361]

Từ sự miêu tả trên có thể thấy tục ngữ là đối tượng không hề đơn giản,

đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra Mỗi định nghĩa đều có những điểm hợp lý điều đó phụ thuộc vào góc độ tiếp cận của người nghiên cứu Tổng hợp lại những ý kiến trên, chúng tôi rút ra kết luận: Tục ngữ là một thể loại của văn học dân gian, có hình thức là những câu ngắn gọn, có nhịp điệu, vần vè,

dễ nhớ, dễ vận dụng, có cấu trúc tương đối ổn định Nội dung tục ngữ thường

cô đọng, súc tích, thể hiện những kinh nghiệm được đúc rút từ thực tế cuộc sống, tư tưởng, đạo đức của nhân dân và được vận dụng linh hoạt, rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thà nh ngữ và ca dao

Thành ngữ và ca dao là những bộ phận rất dễ lẫn lộn với tục ngữ, việc xác định ranh giới giữa chúng là vấn đề đặt ra đối với những người nghiên cứu về tục ngữ Đề tài của chúng tôi là tìm hiểu về một bộ phận của tục ngữ nên không thể không phân biệt tục ngữ với những đơn vị gần gũi ít nhiều liên quan là thành ngữ và ca dao

1.1.2.1 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Từ trước đến nay, vấn đề phân định ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ được giới nghiên cứu quan tâm nhiều Một số sách đã sưu tầm (hoặc biên soạn) chung tục ngữ và thành ngữ Điều đó chứng tỏ việc phân biệt hai đơn vị này không phải lúc nào cũng dễ dàng Phần lớn các nhà nghiên cứu đã cố gắng phân định ranh giới giữa chúng Do mỗi tác giả tiếp cận đối tượng dưới

Trang 18

những góc độ khác nhau và dựa vào những tiêu chí khác nhau cho nên ý kiến đưa ra cũng khác nhau

Người đầu tiên đi tìm sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ là tác giả Dương Quảng Hàm Theo ông: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [20; 22] Ta thấy quan điểm của tác giả chủ yếu dựa vào tác dụng của thành ngữ và tục ngữ, ý kiến của ông bộc lộ phần nào xu hướng coi tục ngữ như là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ như là hiện tượng ngôn ngữ Đây là gợi ý tốt cho các nhà nghiên cứu muốn đi sâu vào phân biệt thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt Trong khi đó, Vũ Ngọc Phan lại cho rằng:

“Định nghĩa như vậy không được rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ” Ông cho rằng cần phải căn cứ vào nội dung mới có thể phân biệt câu nào là tục ngữ và câu nào là thành ngữ Theo ông: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ

là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh” [49; 39] Có thể thấy quan điểm của ông đã rõ ràng hơn Ông dựa đồng thời vào hai tiêu chí: nội dung và hình thức ngữ pháp để phân biệt ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ Những kiến giải trên được nhiều người chấp nhận nhưng vẫn còn băn khoăn lớn: Có những thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp là một câu, ngược lại có những câu gọi là tục ngữ lại chỉ có cấu tạo nhóm từ

Gần với quan điểm của Vũ Ngọc Phan, Chu Xuân Diên cùng nhóm tác

giả cuốn Tục ngữ Việt Nam cho rằng: “Cần phải xét thành ngữ và tục ngữ

Trang 19

không phải chỉ như là hai hiện tượng ngôn ngữ khác nhau, mà chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội Cho nên, tiêu chí gốc mà chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữa thành ngữ

và tục ngữ là tiêu chí về nhận thức luận Với tiêu chí đó, chúng ta xem xét tục ngữ chủ yếu như là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ thì chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ Cùng với tiêu chí đó, sự khác nhau cơ bản

về nội dung của thành ngữ và tục ngữ sẽ được phát hiện như là sự khác nhau

về nội dung của hai hình thức tư duy khác nhau, là khái niệm và phán đoán” [8; 27-28], và “Xét nội dung và cách diễn đạt của những câu mà ta vẫn gọi là thành ngữ và tục ngữ thì thấy: 1, nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm Còn nội dung của tục ngữ là nội dung của những phán đoán; 2, quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ phản ánh quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán” [8; 70] Nhìn chung những nhận định của nhóm Chu Xuân Diên không khác lắm so với nhận định của GS Vũ Ngọc Phan Họ đều dựa trên hai tiêu chí nội dung và hình thức ngữ pháp để phân biệt thành

ngữ và tục ngữ nhưng các tác giả Tục ngữ Việt Nam đã trừu tượng hóa, khái

quát hóa vấn đề hơn nữa

Hoàng Tiến Tựu trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam đã

đưa ra hai tiêu chí nội dung và hình thức để phân biệt tục ngữ và thành ngữ như sau: “Sự khác nhau căn bản là ở chỗ: tục ngữ là thành phẩm trọn vẹn của

ý thức và tư duy (có nội dung ý nghĩa rõ ràng), còn thành ngữ chỉ là “bán thành phẩm” giống như những tấm “bê tông đúc sẵn” ở trong ngôn ngữ mỗi dân tộc Xét về nội dung ý nghĩa thì mỗi câu thành ngữ chỉ diễn tả một khái niệm nhất định (chứ không phải một phán đoán như tục ngữ) nghĩa là chỉ tương đương với một từ hoặc từ tổ” [63; 110]

Hoàng Văn Hành (trong Kể chuyện thành ngữ tục ngữ) cũng đi tìm sự

khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ: “Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc

Trang 20

biệt”, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [22; 29]

Nguyễn Văn Mệnh với bài viết “Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”

đã đưa hai tiêu chí nội dung và hình thức để nhận diện tục ngữ và thành ngữ:

“Có thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu” [41; 18]

Trên tạp chí Ngôn ngữ (số 1 năm 1973), trong bài “Góp ý kiến về sự

phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú lại cho rằng: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng ” [62; 41] Ngoài việc sử dụng tiêu chí chủ yếu là chức năng để phân biệt thành ngữ và tục ngữ, tác giả đã nêu ra tiêu chí về cấu tạo ngữ pháp: thành ngữ có kết cấu một trung tâm và tục ngữ có kết cấu hai trung tâm Cách lý giải của Cù Đình

Tú là một đóng góp mới trong quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc bản chất của thành ngữ và tục ngữ

Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt (1985), Nguyễn Thiện Giáp

cho rằng: “Tục ngữ là mang chức năng thông báo, phân biệt với thành ngữ là những ngữ mang chức năng định danh” [19; 25] Ông còn viết: “Nhưng khác

Trang 21

với thành ngữ ở chỗ là nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ mà biểu thị một tổ hợp các khái niệm” [19; 87]

Trong công trình Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa - ngữ

dụng [35], GS Đỗ Thị Kim Liên đưa ra 5 tiêu chí để phân biệt tục ngữ với

thành ngữ: hình thức, cấu trúc, chức năng, ngữ nghĩa và đích tác động

- Tiêu chí hình thức biểu hiện rõ nhất ở số lượng âm tiết Tục ngữ có số lượng chủ yếu là 6 âm tiết, nhiều nhất là 23 âm tiết; thành ngữ có cả trường hợp 3 âm tiết, nhưng chủ yếu là 4 âm tiết

- Tiêu chí cấu trúc thể hiện trước hết ở tính chất quan hệ trong nội bộ các thành tố: “Trong tục ngữ, giữa các thành tố có quan hệ tự do nên có thể chuyển đổi một số thành tố, thêm thành tố, hoặc tỉnh lược các thành tố Ngược lại, trong thành ngữ các thành tố lại có quan hệ cố định chặt chẽ ” [35; 30]

- Tiêu chí chức năng thể hiện rõ nhất ở sự tham gia với tư cách là đơn

vị cấu thành trong hệ thống ngôn ngữ: “Tục ngữ khác với thành ngữ không chỉ thể hiện trên trục ngang (trục tuyến tính) mà còn thể hiện trên trục tôn ti tầng bậc (trục dọc - trục hệ thống) gắn với chức năng của mỗi đơn vị khi tham gia vào hệ thống ” [35; 30-31]

- Tiêu chí ý nghĩa: “Nghĩa của tục ngữ thường thuộc một trong ba nhóm nghĩa: nghĩa tường minh (còn gọi là nghĩa đen), nghĩa gián tiếp và đa nghĩa”, “còn thành ngữ, thoạt đầu, được hình thành do cụm từ tự do, lâu dần thành cố định nên mang nghĩa bóng, nghĩa khái quát, toát lên từ toàn khối chứ không phải nghĩa của từng thành tố riêng lẻ Chính vì vậy, nghĩa của thành ngữ là nghĩa từ điển, nghĩa định danh” [35; 31]

- Tiêu chí đích tác động thể hiện ở chỗ: tục ngữ được chia thành hai nhóm: a) Nhóm có đích tác động trực tiếp; b) Nhóm có chức năng tác động gián tiếp Còn thành ngữ lại tác động đến người nghe một khi nó đi vào lời

Trang 22

nói, được vận dụng trong lời nói, là bộ phận cấu thành lời nói tương đương từ

Vì vậy ở khía cạnh này có thể xem thành ngữ tác động đến người nghe là trực tiếp hay gián tiếp [35; 32]

Khi nghiên cứu tục ngữ, mỗi tác giả đưa ra những tiêu chí nhất định để phân biệt tục ngữ với thành ngữ Tuy thế, không phải lúc nào cũng phân biệt được chúng một cách rạch ròi Tham khảo ý kiến của các tác giả trên, chúng tôi chọn ra 3 tiêu chí để phân biệt tục ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt: hình thức, nội dung và chức năng

a) Về hình thức

Tục ngữ có cấu tạo ngữ pháp của một câu, còn thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp của một cụm từ cố định Về cấp độ đơn vị, tục ngữ thuộc cấp độ cao hơn cấp độ của thành ngữ (tục ngữ có thể bao chứa thành ngữ mà không có trường hợp ngược lại) Ví dụ:

* Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung

* Đẹp như tiên lo phiền cũng xấu

b) Về nội dung

Nội dung của tục ngữ là nội dung của phán đoán Tục ngữ nêu lên một kinh nghiệm sâu sắc, một nhận định cụ thể, một phương châm xử thế, một quan niệm, một kết luận Vì vậy, ý nghĩa của tục ngữ có thể suy ra từ ý nghĩa của các thành tố Ví dụ:

* Gieo gió, gặt bão (Gây ra điều ác sẽ phải chịu hậu quả nặng nề,

nghiêm trọng do điều đó mang lại);

* Sấm kêu, rêu mọc (Kinh nghiệm về quy luật của tự nhiên: sấm kêu

 trời mưa  đất ẩm ướt  rêu sẽ mọc);

* Muốn ăn cá, phải thả câu (Muốn việc có kết quả phải bỏ công sức,

tìm cách làm đúng với yêu cầu của việc)

Trang 23

Nội dung của thành ngữ là nội dung của khái niệm Nghĩa của thành ngữ biểu thị là nghĩa bóng toát ra từ toàn bộ kết cấu chứ không phải suy ra từ từng thành tố riêng lẻ Ví dụ:

* Chuột sa chĩnh gạo (Rất may mắn, gặp được nơi sung sướng, đầy đủ,

Tục ngữ có chức năng thông báo (diễn trọn vẹn một ý) Ví dụ:

* Ác giả, ác báo (Làm điều ác sẽ gặp điều ác)

* Có chí thì nên (Có hoài bão lớn, nhẫn nại, kiên trì thì sẽ thành công)

* Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống (Nêu lên kinh nghiệm sản

xuất cây nông nghiệp)

Còn thành ngữ có chức năng định danh (gọi tên một sự vật, khái niệm, hình ảnh, thuộc tính ) và chỉ là một bộ phận cấu tạo nên câu Ví dụ:

* Hai sương một nắng (Diễn tả “sự vất vả, lam lũ, cần cù”) Thành ngữ

này chỉ là một bộ phận của câu, ta phải thêm vào những thành phần khác mới

thành câu: “Người nông dân phải hai sương một nắng mới có miếng ăn”

1.1.2.2 Phân biệt tục ngữ với ca dao

Ngoài thành ngữ, ca dao cũng là đơn vị gần gũi và ít nhiều liên quan đến tục ngữ Ca dao và tục ngữ đều có chức năng thông báo Cả hai đều hướng tới những chủ đề về đời sống xã hội như: lao động, hôn nhân, vợ

chồng Giữa chúng có những đơn vị mang tính chất “lưỡng tính” (nửa tục

ngữ, nửa ca dao) khó phân định rạch ròi Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã dày công tìm hiểu đưa ra những tiêu chí phân biệt giữa hai thể loại tục ngữ và ca

dao

Trang 24

Hoàng Tiến Tựu nhận xét: “Sự khác nhau giữa tục ngữ và ca dao nhìn chung dễ thấy hơn, vì một bên thiên về lí trí nhằm đúc kết kinh nghiệm một cách khách quan, một bên thiên về tình cảm, nhằm phô diễn tâm tình một cách chủ quan” [63; 110]

Trần Đức Các trong công trình Tục ngữ và một số thể loại văn học đã

đưa ra sự phân biệt như sau: “Tục ngữ là vốn tri thức thực tiễn về mọi mặt của cuộc sống mà nhân dân đã đúc kết trong một hình thức ngắn gọn linh hoạt tiện cho việc diễn đạt cảm nghĩ của con người và được xã hội chấp nhận Còn ca dao là tiếng hát phô diễn tâm tình của nhân dân được sử dụng trong lao động và giải trí, trong nghi lễ và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân” [3; 12]

Dựa vào tiêu chí nội dung, Mã Giang Lân khẳng định: “Nếu như tục ngữ thiên về lí trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lại thiên về tình cảm (nội dung trữ tình)” [32; 7] Ông cho rằng: “Thực ra giữa hai thể loại tục ngữ và ca dao không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức ca dao, còn nội dung là tục ngữ”[32; 9]

Theo tiêu chí nội dung còn có các nhà nghiên cứu văn học dân gian khác như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế Các tác giả này đã xếp tục ngữ vào bộ phận “lời ăn tiếng nói của nhân dân”; còn ca dao, dân ca thì được xếp vào “các thể loại trữ tình dân gian”

Trong Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp, Nguyễn Thái Hòa nhận

xét: “Tục ngữ hình thành trong lời thoại hằng ngày, trong tình huống giao tiếp

cụ thể (không gian, thời gian, người đối thoại) nhằm mục đích giao tiếp, ca dao lại thuộc một loại khác (có thể ngâm, hát có nhạc kèn, theo làn điệu ) Vì vậy tuy rằng là hình thức truyền miệng, nhưng ca dao là những văn bản thực sự” [26; 46]

Trang 25

Từ những ý kiến trên, chúng tôi khái quát thành hai tiêu chí để phân biệt tục ngữ và ca dao: tiêu chí hình thức và tiêu chí nội dung

a) Về hình thức: Tục ngữ thường có số lượng âm tiết ít hơn ca dao

Số lượng âm tiết ít nhất của tục ngữ là 4 âm tiết (như: * Ở hiền, gặp

lành; * Bút sa, gà chết; * Năng nhặt, chặt bị; )

Có câu tục ngữ 21 âm tiết: * Chớp Gành Gà ở nhà mà ngủ, chớp Phủ

Cũ không rủ cũng đi, chớp Đề Ghi hễ đi dễ chết

Thậm chí có câu đến 24 âm tiết: * Muốn ăn cơm ngon, lấy con mụ Mót,

muốn ăn canh ngọt lấy chú đi câu, muốn ăn canh bầu lấy chồng Don Thượng

Tuy nhiên, không có nhiều những câu tục ngữ dài như vậy

Trong khi đó, một bài ca dao thường có tối thiểu là hai dòng 6 / 8 (gồm

14 âm tiết) trở lên Ca dao sử dụng thể lục bát là chủ yếu, ngoài ra còn có thể ngũ ngôn, thất ngôn, Ví dụ, lời ca dao ngắn nhất là hai dòng lục bát:

- Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Những câu tục ngữ ngắn gọn, súc tích, thể hiện trong một dòng thì không nhầm với ca dao Chỗ khó là có những cặp lục bát mà chúng ta băn khoăn không biết nên xếp chúng vào tục ngữ hay ca dao Ví dụ:

- Hoa sen hoa khéo giữ màu Nắng nồng không nhạt, mưa dầm không phai

- Hoa sen mọc bãi cát lầm Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

- Nuôi lợn thì phải vớt bèo Lấy chồng thì phải nộp cheo cho làng

- Phải duyên thì dính như keo Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh

Trang 26

Những trường hợp này nếu chỉ dựa vào tiêu chí hình thức thì rất khó phân biệt tục ngữ với ca dao Vì vậy cần phải dựa thêm vào tiêu chí nội dung

b) Về nội dung: Nội dung của tục ngữ thiên về lí trí (những tri thức, kinh nghiệm về tự nhiên, xã hội) Tục ngữ gắn với lời nói hằng ngày Còn ca dao thường đề cập đến tâm trạng, cảm xúc cá nhân; nói cách khác ca dao thiên về tình cảm (tình cảm nam nữ, gia đình, quê hương, ) Ca dao gắn với diễn xướng Ví dụ:

(1) Ai ơi chớ vội cười nhau

Cười người hôm trước, hôm sau người cười

(2) Ai ơi gương bể khó hàn

Chỉ đứt khó nối, người ngoan khó tìm

(3) Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

Bay cao thì nắng bay vừa thì râm

(4) Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

Câu (1) khuyên không nên chê cười người khác một cách vội vàng, bởi mình cũng khó tránh khỏi cái lỗi lầm mà người mình cười mắc phải, câu này

là tục ngữ

Câu (2) nêu nhận xét: gương vỡ khó hàn, chỉ đứt khó nối, người ngoan khó tìm - tuy ba cái “khó” nhưng chúng khác hẳn nhau, thậm chí không ăn nhập vào nhau (chỉ nhằm nhấn mạnh việc tìm “người ngoan”) nên câu này là

Trang 27

Có những trường hợp tục ngữ và ca dao xâm nhập lẫn nhau Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì tục ngữ tiếp cận với ca dao; ngược lại nhiều câu ca dao có nội dung cô đọng, hàm xúc (nhận định về con người, việc đời) thì chúng được dùng như tục ngữ Vì thế đôi khi còn phải dựa vào hoàn cảnh sử dụng cụ thể để xác định đó là tục ngữ hay ca dao

Nếu đồng thời dựa vào những tiêu chí hợp lý, chúng ta phân biệt được tục ngữ với thành ngữ và ca dao trong hầu hết các trường hợp Tuy vậy sự phân định này chỉ có tính chất tương đối, vì “trong tự nhiên không hề có đường ranh giới nào tuyệt đối” Việc phân biệt tục ngữ với thành ngữ và ca dao chỉ để thấy rằng: tục ngữ có một phạm vi độc lập, nó là một đối tượng nghiên cứu riêng “Đó là những phát ngôn được cấu tạo rất đặc biệt, định hình trong lời nói và trong kí ức cộng đồng, dùng để giao tiếp hàng ngày, mặt khác lại được tổ chức chặt chẽ như một văn bản thơ nhỏ nhất” [26, tr.46]

1.1.3 Nguồn gốc của tục ngữ

Tục ngữ là sản phẩm trí tuệ của tập thể nhân dân được đúc kết qua hàng ngàn năm Do tục ngữ lưu truyền và phát triển chủ yếu bằng hình thức truyền miệng nên việc xác định thời điểm ra đời cụ thể của chúng rất khó khăn Nhiều nhà nghiên cứu đã dày công lật lại những sử liệu cũ để truy tìm nguồn gốc của các câu tục ngữ

Trong Việt Nam văn học sử yếu, khi xem xét nguồn gốc của tục ngữ,

Dương Quảng Hàm đã chia tục ngữ làm hai loại: “1) Những câu vốn là tục ngữ, tức là những câu nói thường, lúc ban đầu chắc cũng do một người phát

ra trước tiên, rồi vì ý nó xác đáng, lời nó gọn ghẽ, người nghe đến nhớ ngay, sau cứ thế nhắc lại mà truyền tới bây giờ, đến nay ta không biết tác giả là ai nữa Những câu về loại này chiếm phần nhiều nhất; 2) Những câu vốn là thơ

ca mà sau biến thành tục ngữ Những câu nguyên ở trong một bài thơ hoặc một bài ca của một tác giả nào, nhưng vì ý đúng, lời hay, nên người ta

Trang 28

truyền tụng đi mà làm thành một câu tục ngữ Thí dụ câu tục ngữ * Thương

người như thể thương thân vốn là một câu trong tập “Gia huấn ca” của

Nguyễn Trãi” [20; 19]

Theo GS Vũ Ngọc Phan (trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam),

tục ngữ, ca dao “xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết” [49; 21] Ban đầu nó mang hình thức thô sơ, dần dần được sửa đổi qua các thế hệ của loài người

Hoàng Tiến Tựu cũng khẳng định: “Ở nước ta, những câu như “Trời là

cha, Đất là mẹ”, “Con cóc là cậu Ông Trời / Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho”, “Con dại cái mang”, chắc chắn là đã ra đời rất sớm Vì nội dung

của chúng đều ít nhiều liên quan với những truyện thần thoại và những quan niệm của con người trong thời kì công xã nguyên thủy xa xưa” [63; 112]

Văn học phản ánh đời sống xã hội, văn học dân gian cũng vậy, trong nội dung của nó vẫn lưu lại những tư tưởng, tình cảm của nhân dân ta, lưu lại dấu ấn lịch sử của một thời đại nhất định Các nhà nghiên cứu đã căn cứ vào nội dung và cách dùng từ ngữ của những câu tục ngữ để xác định đó là những câu thuộc dạng cổ nhất

Theo các nhà ngôn ngữ học, thứ tiếng nói tối cổ của dân tộc ta, do sự tiếp xúc giữa các dân tộc, đã chịu ảnh hưởng các tiếng Ấn Độ, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Trung Quốc Đến cuối thế kỉ VIII, sau khi Phùng Hưng chết, nhân dân lập đền thờ ông và suy tôn là “Bố Cái đại vương” người ta căn cứ vào các tiếng “Bố Cái” để khẳng định: tiếng Việt ta vào thời Phùng Hưng chưa phát triển mấy, nhưng cũng giống với thứ tiếng chúng ta nói ngày nay

Đến nay, ta vẫn còn những câu tục ngữ như:

(1) Con dại, cái mang hay

(2) Con sống, mống mang

Trang 29

Câu (1) nói đến thời kì mẫu hệ: những hành động của con, người mẹ

chịu hoàn toàn trách nhiệm (cái = mẹ) Chúng ta không xác định được câu

này xuất hiện vào thời kì nào mà chỉ biết nó là một câu cổ cả về nội dung lẫn hình thức

Câu (2) lại nói đến thời phụ hệ: con làm việc gì cha phải chịu trách

nhiệm (sống = cha) Gia trưởng có quyền hành trong gia đình, nên khi trong

gia đình xảy ra việc gì thì thống trị tróc vào đầu gia trưởng

Việc xác định tục ngữ ra đời vào thời kì lịch sử nào chúng ta chưa làm được, vì tục ngữ ít nói đến tên người, tên đất; ít nói đến những chuyển biến lớn trong xã hội Tục ngữ của ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến gia đình, đến tình duyên, Tục ngữ có nhiều câu, nhiều bài qua nhiều thế hệ và tùy theo từng địa phương đã bị sửa chữa cả về hình thức và nội dung cho nên câu sẽ không còn nguyên vẹn nữa

Vũ Ngọc Phan đã xếp tục ngữ vào ba thời kì: cổ đại (những câu ra đời trước thời Pháp thống trị); cận đại (những câu đã ra đời trong Pháp Nhật thuộc); hiện đại (những câu xuất hiện từ cách mạng tháng Tám 1945 trở lại đây)

Tác giả Hoàng Tiến Tựu quy tục ngữ vào ba nguồn chính:

1- Những câu tục ngữ sinh ra từ cuộc sống của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác Đây là nguồn chủ yếu đồng thời là nguồn sớm nhất và thường xuyên liên tục nhất

2- Những câu tục ngữ được tách ra từ các sáng tác dân gian khác (ca dao, vè, truyện dân gian, ) Ví dụ:

* Trạng chết chúa cũng băng hà / Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn

* Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho

3- Những câu có lời đẹp, ý hay trong các tác phẩm văn học viết được nhân dân lưu truyền, dần dần hóa thành tục ngữ Ví dụ:

Trang 30

* Thương người như thể thương thân

* Chữ tài liền với chữ tai một vần

Tác giả Chu Xuân Diên trong Tiểu luận về tục ngữ cũng đặt ra câu hỏi

“Vốn tục ngữ của dân tộc Việt đã được hình thành như thế nào?” Theo tác giả: “Xét về nguồn gốc thì có thể thấy một số câu vốn là của các nhà tư tưởng, các nhà văn, các nhà hoạt động xã hội nổi tiếng thuộc các thời đại, do những nguyên nhân nhất định, đã được truyền bá trong một số tầng lớp nhân dân ta với những mức độ phổ biến khác nhau Trong các nguồn hình thành nên vốn tục ngữ dân gian của người Việt, như vậy là có một nguồn vay mượn” [9; 125-126] Tác giả kết luận: “Vốn tục ngữ của mỗi dân tộc bao giờ cũng được hình thành từ một nguồn chính: Đó là những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của bản thân nhân dân dân tộc ấy” [9; 129]

Như vậy, có thể thấy vốn tục ngữ của dân tộc Việt có nguồn gốc từ thời

cổ đại Đó là sự đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên, về đời sống xã hội của ông cha ta từ bao đời truyền lại Tục ngữ đã được kinh qua sự sàng lọc của thời gian lưu truyền cho đến ngày nay Bên cạnh những yếu tố bất biến nó còn có những yếu tố khả biến, tục ngữ không phải ở dạng tĩnh mà nó luôn vận động, được nhân dân vận dụng một cách linh hoạt trong giao tiếp hàng ngày Không chỉ dừng lại ở đó, tục ngữ luôn được cũng cố, phát triển và sáng tạo không ngừng trong dân gian

1.1.4 Nội dung của tục ngữ

Tục ngữ là toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của nhân dân ta trong trường kì lịch sử dân tộc đúc kết lại “Tục ngữ là kết quả kinh nghiệm của mọi dân tộc đúc kết lại, là lương tâm của mọi thế kỉ kết thành công thức” (Rivarol) Nội dung của tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng phản ánh mọi mặt của cuộc sống, từ những kinh nghiệm về tự nhiên đến sự hình thành những thói quen, tập quán, phong tục của người Việt

Trang 31

Kinh nghiệm là “điều hiểu biết có được do tiếp xúc với thực tế, do từng trải” [50; 679] Kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức Nhận thức bằng kinh nghiệm là nhận thức cần thiết cho cuộc sống, không có kinh nghiệm con người khó mà tồn tại được trong xã hội Tục ngữ là sản phẩm kết tinh trong lời nói do nhu cầu truyền đạt và lưu giữ kinh nghiệm Do đó, tục ngữ là kho tàng chứa đựng các kinh nghiệm Có thể khái quát nội dung tục ngữ thành hai kinh nghiệm cơ bản: kinh nghiệm về tự nhiên và kinh nghiệm về đời sống xã hội

Tự nhiên là cái đương nhiên tồn tại, không phải do ý muốn, hiểu biết và sáng tạo của con người Người phương Đông trong đó có Việt Nam luôn sống trong mối quan hệ hòa hợp với thiên nhiên Con người ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước, phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên như nắng, mưa, gió, sấm, chớp, Bằng sự quan sát tỉ mỉ thế giới tự nhiên, ông cha ta đã tích lũy kho kinh nghiệm hết sức quý báu về tự nhiên và các quy luật của nó để truyền lại cho đời sau Những kinh nghiệm ấy không phải ngày một ngày hai mà phải trải qua sự kiểm chứng và bổ sung của nhiều đời người Ví dụ:

Về thời tiết:

* Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa

* Đá đổ mồ hôi, mưa trôi đầy đồng

Về lao động sản xuất:

* Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

* Khoai đất lạ, mạ đất quen

Những kinh nghiệm này có nhiều điểm phù hợp với tri thức khoa học

và có tác dụng nhất định trong lao động sản xuất và phòng chống thiên tai Đó

là sự nhận thức, triết lí về tự nhiên hết sức tinh tế và sâu sắc của nhân dân ta

Trang 32

Kho kinh nghiệm về tự nhiên là sản phẩm văn hóa tinh thần đặc biệt trong điều kiện tư duy của nhân dân chưa chiếm lĩnh được khoa học trừu tượng

Kinh nghiệm về đời sống xã hội là kinh nghiệm chủ yếu trong kho tàng tục ngữ của người Việt Hầu như tất cả mọi lĩnh vực của đời sống con người đều được phản ánh vào trong tục ngữ: tinh thần, vật chất, đấu tranh xã hội, sự sống chết, quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè, Con người sống trong xã hội có mối quan hệ với xã hội, thông qua mối quan hệ với người khác mà mỗi người nhận thức về mình một cách toàn diện hơn Tục ngữ là ý kiến của tập thể cộng đồng được chung đúc lại từ thực tiễn cuộc sống nên đầy

lí trí Những câu tục ngữ này thường có tính chất nhận xét, giải thích, khuyên răn, theo một luân lí và một thế giới quan nhất định Thái độ biểu hiện trong tục ngữ về đời sống xã hội rất đanh thép và sắc bén Ví dụ:

Về cuộc sống gia đình:

* Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

* Uốn cây từ thuở còn non / Dạy con từ thuở con còn ngây thơ

Về lối sống:

* Giấy rách phải giữ lấy lề

* Đói cho sạch, rách cho thơm

Trong nội dung này, ta thấy nhân dân lao động chú trọng đến đời sống tinh thần hơn đời sống vật chất Một nét văn hóa nổi bật trong lối sống của người Việt là trọng tình cảm Những nhận xét, những kinh nghiệm về đời sống xã hội, về tự nhiên không phải một ngày mà có, nó đã được sàng lọc qua

“chiếc rây thần thời gian” trở thành những kinh nghiệm sống quý báu cho nhiều thế hệ người Việt

1.2 Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người trong kho tà ng tục ngữ của người Việt

1.2.1 Số lượng tục ngữ của dân tộc Việt

Trang 33

Tục ngữ là “kho báu trí tuệ” của dân tộc Việt, vốn tục ngữ Việt được

hình thành từ nhiều nguồn khác nhau với số lượng hết sức phong phú, đa dạng Công việc sưu tầm và biên soạn tục ngữ của các nhà nghiên cứu bắt đầu

từ những năm đầu thế kỉ XX nhưng phải từ sau cách mạng tháng Tám mới xuất hiện những công trình có quy mô lớn dần Phần Văn học dân gian (trong

bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Nxb Văn học; 1972) đã giới thiệu 365 câu tục ngữ Tập sách Tục ngữ Việt Nam (Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang;

1975) có 4.151 câu tục ngữ được sắp xếp theo các chủ đề nội dung Trong

Tục ngữ Việt Nam chon lọc (Vương Trung Hiếu; 1996) có 9.000 câu tục ngữ

và cũng được xếp theo chủ đề Năm 2002, trong công trình Kho tàng tục ngữ

người Việt, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan

Hương, Nguyễn Luân đã giới thiệu 16.098 câu tục ngữ Những câu tục ngữ này được sưu tập từ 52 đầu sách (gồm 63 tập) Đây là công trình giới thiệu số lượng câu tục ngữ nhiều nhất, có ghi xuất xứ và các dị bản (trong trường hợp một câu có nhiều bản), cũng là công trình chú giải được nhiều câu tục ngữ nhất Đây cũng là công trình đầu tiên giới thiệu kho tàng tục ngữ Việt theo nhiều hệ thống: “Tục ngữ người Việt sắp xếp theo trật tự chữ cái của tiếng đầu”, “Tra cứu tục ngữ theo chủ đề” Ngoài ra, trong sách này còn có “Bảng tra tên đất; Bảng tra tên người; Thư mục về tục ngữ”

Như vậy, cho đến nay số lượng tục ngữ được các nhà nghiên cứu sưu tầm và biên soạn là 16.098 câu tục ngữ Đây là một số lượng tương đối lớn và

là tư liệu khảo sát đáng tin cậy cho những người nghiên cứu về tục ngữ Nhưng tục ngữ không phải là hệ thống đóng kín mà nó là một hệ thống mở Trong hiện tại và tương lai, tục ngữ vẫn tồn tại và còn phát triển với số lượng phong phú và đa dạng hơn nữa

1.2.2 Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người

Trang 34

Vốn tục ngữ của dân tộc Việt gồm một hệ thống đề tài bao trùm hầu như toàn bộ những tri thức quan trọng nhất của nhân dân lao động thời xưa

Đó là những tri thức về giới tự nhiên, về mối quan hệ của con người với giới

tự nhiên; là những tri thức về con người và đời sống con người, trên cả ba lĩnh vực: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần Trong đó lĩnh vực

đời sống tinh thần có vai trò quan trọng nhất Trong Lôgíc và tiếng Việt, khi

tìm hiểu “Lôgíc của thành ngữ và tục ngữ”, Nguyễn Đức Dân đã rút ra kết luận: trong tục ngữ, người Việt đề cao những phạm trù biểu hiện giá trị tinh

thần hơn giá trị vật chất Trong Kho tàng tục ngữ người Việt [67], nhóm tác

giả Nguyễn Xuân Kính phân loại tục ngữ thành 75 tiểu chủ đề Trong đó có

43 tiểu chủ đề về con người - đời sống tinh thần Những quan niệm đa dạng

về nhân sinh vũ trụ, 32 tiểu chủ đề thuộc các chủ đề còn lại ( Giới tự nhiên Quan hệ của con người với giới tự nhiên: 4 tiểu chủ đề; Con người - đời sống vật chất: 9 tiểu chủ đề; Con người - đời sống xã hội: 19 tiểu chủ đề) Có thể thấy, đời sống tinh thần của con người rất được chú trọng và sự phản ánh đời sống đó vào tục ngữ cũng hết sức phong phú Tinh thần là “tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người” [50; 1279] Sự khác nhau giữa con người và động vật không phải thể hiện trong đời sống vật chất, mà trong đời sống tinh thần Những giá trị tinh thần chính là một bộ phận kết tinh của văn hóa Chính văn hóa tinh thần đã sản sinh ra con người theo đúng nghĩa của nó

Con người là kết tinh của vũ trụ, là trung tâm phản ánh của tục ngữ Đời sống con người được phản ánh trong tục ngữ rất phong phú Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người ở một số phương diện cơ bản nhất, nổi bật nhất thuộc về tư tưởng, đạo đức, lối sống của người Việt Trong đó đạo đức là

Trang 35

yếu tố cốt lõi của một nền văn hóa, là yếu tố quan trọng thuộc về lẽ sống của con người trong xã hội

Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người (gồm 1.593 câu) là một bộ phận cấu thành cơ bản của kho tàng tục ngữ Việt Bộ phận này thuộc đời sống tinh thần, phản ánh những quan niệm, những kinh nghiệm hết sức phong phú và đa dạng của người Việt về nhân sinh Để xác định rõ phạm vi của bộ phận tục ngữ này, trước hết cần hiểu: đánh giá là nhận định giá trị Đó

là những nhận xét, bình phẩm về giá trị con người trong xã hội Bộ phận tục ngữ này chứa đựng những kinh nghiệm trong việc nhìn nhận, đánh giá con người về ngoại hình, tướng mạo, phẩm chất đạo đức Được đúc rút từ sự trải nghiệm thực tế cuộc sống của nhiều thế hệ người Việt “bởi nó chính vì đời mà

có, vì lẽ sống mà phát sinh” [37; 522] Bộ phận tục ngữ này phản ánh khá đầy

đủ những đức tính của nhân dân lao động Không chỉ đề cập đến những đức tính tốt đẹp như ân nghĩa, thật thà, ngay thẳng, thiện, siêng năng, mà còn đề cập đến cả những thói xấu như bội bạc, gian dối, ác, lười biếng, Hai mặt tốt

- xấu được thể hiện như một quy luật sống, đó là sự “kết hợp giữa xây và chống, giữa nêu gương và phê phán, nêu cả những kinh nghiệm tốt và kinh nghiệm xấu bao quát mọi lĩnh vực có liên quan đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của người Việt Nam xuất phát từ sinh hoạt thực tiễn cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân” [7; 35]

Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người thể hiện lối sống thời đại, lối tư duy của dân tộc Trong giao tiếp, người Việt ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá Từ đó hình thành nên kho kinh nghiệm trong việc nhìn nhận đánh giá con người về ngoại hình, tướng mạo Theo quan niệm của dân gian, tướng mạo cũng thể hiện một phần tính cách, số phận của con người Giá trị của con người được xét đoán qua thái độ lao động, những nhận xét, ví von, so sánh về con người mang đậm dấu ấn của lối tư duy tổng hợp và biện chứng của người

Trang 36

nông nghiệp lúa nước Trong lao động và trong đời sống cộng đồng những đức tính tốt đẹp của nhân dân ta được hình thành Cũng trong đời sống thực tiễn ấy xuất hiện những thói cào bằng, đố kị, lười biếng, gian dối, Những mặt tốt - xấu này bắt nguồn từ hai đặc trưng gốc trái ngược nhau là tính cộng đồng và tính tự trị của làng xã Việt Nam

Khảo sát bộ phận tục ngữ này, chúng tôi nhận thấy những thói xấu, những hành vi vô đạo đức được người Việt phản ánh trong tục ngữ nhiều hơn hẳn so với những đức tính tốt đẹp Sở dĩ có hiện tượng này là do yếu tố thời đại, phần lớn những câu tục ngữ này xuất hiện trong thời đại phong kiến “là thời đại thống trị của nền sản xuất nhỏ, phân tán, của chế độ tư hữu, của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp” [9; 142] Xã hội ấy tồn tại đầy rẫy những bất công, những tệ nạn Nhân dân ta nói nhiều đến cái xấu đồng thời thể hiện thái độ phê phán, châm biếm, mỉa mai từ đó rút ra những bài học xử thế, giáo dục đạo đức, nhân cách cho hậu thế

Chúng tôi đã chọn bộ sách “Kho tàng tục ngữ người Việt” (Nxb Văn

hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002) do nhóm Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân biên soạn (gồm 16.098 câu) làm nguồn thống kê ngữ liệu Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người gồm 1.593 câu (chiếm 9,9 % tổng số câu tục ngữ trong bộ sách này) Trong bộ phận tục ngữ này, chúng tôi thấy có 33 nội dung đánh giá con người Đây là những nội dung cơ bản nhất thuộc về tư tưởng, lối sống, tâm lí, đạo đức của người Việt Số câu và tỉ lệ % thuộc mỗi nội dung đánh giá được thể hiện trong bảng 1.1 dưới đây (theo thứ tự giảm dần)

Trang 37

Bảng 1.1 Các nội dung đánh giá con người trong tục ngữ Việt

TT Nội dung đánh giá Số câu TT Nội dung đánh giá Số câu

1 Tướng mạo bề ngoài 156 (9,8%) 18 Ích kỷ 33 (2,1%)

2 Khôn ngoan 123 (7,7%) 19 Hà tiện 30 (1,8%)

4 Gian dối 92 (5,8 %) 21 Khéo léo 23 (1,4%)

5 Lười biếng 87 (5,5, %) 22 Lẳng lơ 23 (1,4%)

7 Cá nhân 76 (4,8 %) 24 Tiết kiệm 20 (1,3%)

8 Ân nghĩa 69 (4,3 %) 25 Nết người 18 (1,1%)

10 Dại 65 (4,1 %) 27 Giá trị con người 15 (0,9%)

11 Bất lực 62 (3,9 %) 28 Nhân cách 15 (0,9%)

12 Siêng năng 61 (3,8,%) 29 Chậm chạp 14 (0,9%)

13 Thương yêu đùm bọc 59 (3,7 %) 30 Hoang phí 14 (0,9%)

15 Thật thà ngay thẳng 52 (3,3 %) 32 Khoe khoang 10 (0,6%)

16 Luật nhân - quả 46 (2,9 %) 33 Xu nịnh, cơ hội 3 (0,2 %)

17 Tự kiêu, hợm hĩnh 41 (2,6 %) Tổng số tục ngữ 1.593 câu

Qua bảng 1.1, chúng ta thấy người Việt đã đúc kết qua tục ngữ một kho kinh nghiệm về nhận xét, đánh giá con người, từ ngoại hình, tướng mạo cho đến phẩm chất, đạo đức Nội dung đánh giá về ngoại hình, tướng mạo chiếm đến 9,8 % (156 câu) Do người Việt có lối sống cộng đồng, thích giao tiếp, ưa sự tìm hiểu, đánh giá cho nên người Việt đã đúc kết được một kho kinh nghiệm về xem xét tướng mạo con người để có thể ứng xử phù hợp với đối tượng giao tiếp của mình Những nội dung đánh giá tiếp theo thuộc về

Trang 38

phạm trù đạo đức: “khôn ngoan”, “bội bạc”, “gian dối”, “lười biếng”, “tham lam”, “cá nhân”, “ân nghĩa”, “ác”, “siêng năng”, “thật thà”, “tự kiêu”, “hà tiện”, “ba hoa”, v.v

Theo số liệu khảo sát cụ thể, chúng tôi thấy những thói xấu của người Việt được dân gian đề cập đến nhiều hơn so với những đức tính tốt Nhưng dân gian nói nhiều đến cái xấu là để khẳng định giá trị của cái tốt Thái độ của nhân dân là đề cao, phát huy những đức tính tốt; còn với những thói xấu thì nhân dân tỏ thái độ phê phán, châm biếm để các thế hệ sau rút ra những bài học, tránh xa những thói xấu, trau dồi rèn luyện những đức tính tốt đẹp phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc

1.3 Tiểu kết chương 1

Ở chương này, từ việc giới thiệu những quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu về định nghĩa tục ngữ, về việc phân biệt tục ngữ với thành ngữ và ca dao, về nguồn gốc và nội dung của tục ngữ, chúng tôi rút ra những tiêu chí để nhận diện tục ngữ Kho tàng tục ngữ người Việt có số lượng lớn, với nhiều chủ đề nội dung đã góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ dân tộc Tục ngữ là kho tàng kinh nghiệm quý báu về hiện tượng tự nhiên, về đời sống xã hội, về đời sống con người Bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người là một bộ phận cơ bản cấu thành vốn tục ngữ của người Việt Nó

có vai trò quan trọng đối với việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho hậu thế

Trang 39

Chương 2

TỔ CHỨC NGÔN NGỮ CỦA BỘ PHẬN TỤC NGỮ VIỆT

CÓ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát tổ chức ngôn ngữ của bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con người trên 3 phương diện: 1) Kiểu loại cấu tạo ngữ pháp của các câu tục ngữ; 2) Vần và nhịp trong các câu tục ngữ; 3) Một

số nhóm từ cơ bản trong các câu thuộc bộ phận tục ngữ này

2.1 Cấu tạo ngữ pháp của các phát ngôn tục ngữ có nội dung đánh giá con người

Tục ngữ hình thành và được sử dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng tồn tại như một đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ Tuy hình thức biểu hiện của tục ngữ vô cùng phong phú nhưng qua nghiên cứu vẫn có thể khái quát thành những mô hình kiểu câu tiêu biểu của chúng Những mô hình này

là cơ sở cho việc lưu giữ, tái hiện và tiếp tục sản sinh những đơn vị tục ngữ mới Xét cấu tạo ngữ pháp của tục ngữ tức là tiếp cận với cái biểu đạt để từ đó thấu hiểu cái được biểu đạt (nội dung ngữ nghĩa) của câu tục ngữ Chúng ta

có thể dựa vào các quan hệ giữa phần nêu và phần báo để phân loại các mô hình kiểu câu của tục ngữ Phương pháp phân tích là xuất phát từ kết cấu bề sâu và thống nhất ở biểu đạt bề mặt và kiểm tra bằng từ quan hệ

Khảo sát bộ phận tục ngữ Việt có nội dung đánh giá con người, chúng tôi thấy chúng thuộc hai loại cấu tạo ngữ pháp: 1) Loại có cấu tạo là một câu đơn; 2) Loại có cấu tạo là một câu ghép

2.1.1 Phát ngôn tục ngữ đánh giá con người có cấu tạo câu đơn

Loại này gồm 3 kiểu, trong mỗi kiểu lại có thể chia ra thành một số dạng

2.1.1.1 Kiểu câu đơn có quan hệ hạn định trực tiếp

Trang 40

Kiểu câu có quan hệ hạn định trực tiếp là kiểu câu được hạn định bằng những mối quan hệ cú pháp trực tiếp chi phối cả bề mặt lẫn bề sâu, trong đó các thành tố được hiện thực hóa trọn vẹn về hình thức Kiểu câu này có kết cấu trùng với kết cấu chuẩn (kết cấu C-V) làm nòng cốt thông báo Dấu hiệu

dễ thấy nhất là có một động từ (hay cụm động từ) hoặc một tính từ (hay cụm tính từ) làm vị ngữ Kiểu câu này không có yếu tố hàm ẩn hay các từ quan hệ, thường không có vần Chúng rất gần với những câu bình thường Ví dụ:

* Chim khôn tìm chỗ đậu

* Trâu chậm uống nước đục

Kiểu câu đơn có quan hệ hạn định trực tiếp gồm 4 dạng sau:

1/ [N không thể B ] (N là phần nêu, B là phần báo) Ví dụ:

* Sứa đâu có nhảy khỏi đăng

* Chó nào ăn được cứt thuyền chài

* Mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn

2/ [N phải B ] Đây là những trường hợp phần nêu được suy ra từ phần

báo, phần báo như là yếu tố bắt buộc phải có của phần nêu Ví dụ:

* Muốn ăn cá, phải thả câu

* Muốn ăn oản, phải giữ lấy chùa

* Muốn ăn xôi, phải ngồi gần bếp

3/ [N tác động lên B] Đây là những trường hợp phần nêu tác động lên phần báo Ví dụ:

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (2003), Cuộc sống của tục ngữ, thành ngữ trong kho tàng ca dao người Việt, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống của tục ngữ, thành ngữ trong kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
2. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
3. Trần Đức Các (1995), Tục ngữ và một số thể loại văn học, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ và một số thể loại văn học
Tác giả: Trần Đức Các
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1995
4. Đoàn Văn Chúc (1993), Những bài giảng về văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1993
5. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
6. Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgíc và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgíc và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Nghĩa Dân (2001), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
8. Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1993), Tục ngữ Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993
9. Chu Xuân Diên (2001),Văn hóa dân gian - Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian - Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
10. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000) (in lần thứ năm), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Nguyễn Đức Dương (2008), “Nhận diện tục ngữ”, TC Ngôn ngữ và Đời sống, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện tục ngữ”, TC "Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Nguyễn Đức Dương
Năm: 2008
12. Phan Thị Đào (1999), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Đào
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1999
13. Hoàng Minh Đạo (2006), “Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học”, TC Văn hóa dân gian, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học”, TC "Văn hóa dân gian
Tác giả: Hoàng Minh Đạo
Năm: 2006
14. Nguyễn Thị Vân Đông (2008), “Một số biểu hiện của văn hóa qua các thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh và tiếng Việt”, TC Ngôn ngữ và Đời sống, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện của văn hóa qua các thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh và tiếng Việt”, TC" Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Đông
Năm: 2008
15. Cao Huy Đỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1976
16. Nguyễn Xuân Đức (2000), “Về nghĩa của tục ngữ”, TC Văn hóa dân gian, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghĩa của tục ngữ”, TC" Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2000
17. Nguyễn Xuân Đức (2002), “Về tính nhiều nghĩa của tục ngữ”, TC Văn hóa dân gian, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính nhiều nghĩa của tục ngữ”, TC" Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2002
18. Nguyễn Xuân Đức (2003), “Trở lại với vấn đề tính một nghĩa trong phát ngôn tục ngữ”, TC Văn hóa dân gian, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại với vấn đề tính một nghĩa trong phát ngôn tục ngữ”, TC" Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2003
19. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Dương Quảng Hàm (1993), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các nội dung đánh giá con ngƣời trong tục ngữ Việt - Khảo sát bộ phận tục ngữ việt có nội dung đánh giá con người
Bảng 1.1. Các nội dung đánh giá con ngƣời trong tục ngữ Việt (Trang 37)
Bảng 2.1. Số lƣợt dùng các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con ngƣời  - Khảo sát bộ phận tục ngữ việt có nội dung đánh giá con người
Bảng 2.1. Số lƣợt dùng các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con ngƣời (Trang 57)
Bảng 2.2. Số lƣợt dùng các từ chỉ động vật trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con ngƣời  - Khảo sát bộ phận tục ngữ việt có nội dung đánh giá con người
Bảng 2.2. Số lƣợt dùng các từ chỉ động vật trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con ngƣời (Trang 62)
Bảng 2.3. Số lƣợt dùng các từ chỉ thực vật trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con ngƣời  - Khảo sát bộ phận tục ngữ việt có nội dung đánh giá con người
Bảng 2.3. Số lƣợt dùng các từ chỉ thực vật trong bộ phận tục ngữ có nội dung đánh giá con ngƣời (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w