Bên cạnh hướng tiếp cận những hành động nói trong hoạt động giao tiếp hàng ngày thì hành động thể hiện qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm văn chương, đặc biệt trong thể loại tiểu thuy
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
==== ====
Nguyễn Khánh Chi
KHảO SáT CặP HàNH Động t-ơng tác than vãn và hồi đáp
trong lời thoại nhân vật (qua tiểu thuyết Việt Nam sau 1975)
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 9
Chương 2: Hành động than vãn trong lời thoại nhân vật 35
2.3 Cấu trúc khái quát và các thành tố của biểu thức ngữ vi thể hiện hành động than vãn trong lời thoại nhân vật
Chương 3: Hành động hồi đáp lời than vãn trong lời thoại nhân vật 62
3.1 Hành động hồi đáp lời than vãn - biểu hiện sự tương tác trong sự
3.3 Một số nhận xét về sự khác biệt của hành động than vãn – hồi đáp qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm giai đoạn 1930 -1945 và giai đoạn sau 1975
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Dưới ánh sáng của lý thuyết ngữ dụng học, nhiều hành động lời nói được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu Bên cạnh hướng tiếp cận những hành động nói trong hoạt động giao tiếp hàng ngày thì hành động thể hiện qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm văn chương, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết, cũng được chú trọng tìm hiểu Qua thống kê bước đầu, chúng tôi thấy các hành động nói biểu hiện trong lời thoại nhân vật xuất hiện với tần số cao
là cảm ơn, trần thuật, cầu khiến, hỏi, cam kết, than vãn Mỗi dạng hành động
cụ thể trên có những đặc điểm riêng về cách sử dụng, cách cấu tạo, đích ngôn trung Do giới hạn của phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ đi vào phân tích, miêu tả
nhóm hành động than vãn Hành động than vãn thể hiện thái độ, trạng thái
bức xúc của nhân vật Đặc biệt là khi xã hội ngày càng phát triển thì nhiều vấn
đề phức tạp trong đời sống nảy sinh tác động đến tâm lý con người Hành
động than vãn cũng là đầu mối để tiếp diễn những hành động ngôn ngữ khác như hành động trần thuật, hành động hỏi, hành động cầu khiến v.v… Vì vậy, tìm hiểu hành động than vãn trong sự gắn kết với các hành động ngôn từ khác
góp phần làm rõ sự phong phú, đa dạng của hoạt động giao tiếp của nhân vật, của đời sống tinh thần con người
1.2 Khi phân loại các hành động ngôn ngữ, các tác giả trong và ngoài
nước đều thừa nhận sự tồn tại của hành động ngôn ngữ than vãn Tuy vậy
chưa có tác giả nào đi vào nghiên cứu toàn diện về hành vi này trong vai trò là hành vi cốt lõi của một sự kiện lời nói Đó cũng là một lý do nữa để chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát cặp hành động tương tác than vãn và hồi
đáp trong lời thoại nhân vật (qua tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Kết quả thu
được sẽ góp phần làm rõ cấu trúc của một trong của những hành động ngôn
Trang 4ngữ thuộc hoạt động giao tiếp của người Việt, bổ sung cho lý thuyết hành động ngôn từ
2 Lịch sử nghiên cứu
Hành động than vãn được nghiên cứu gắn với việc nghiên cứu lý thuyết
hội thoại, lý thuyết hành động ngôn từ Các tác giả khi phân loại các hành
động ngôn từ đều khẳng định sự tồn tại tất yếu của hành động than vãn
J L Austin khi chia các loại hành động ngôn ngữ thành 5 phạm trù:
phán xử (verditives, verditifs), hành xử (exercitives, exercitifs), cam kết
(commissives, commissifs), trình bày (expositives, expositifs) và ứng xử (behabitives, comportementaux đã xếp hành động than vãn được vào nhóm
hành xử Theo J L Austin, đặc điểm của nhóm này là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, đặt hàng, giới thiệu, van xin, khuyến cáo và các hành vi ngôn ngữ như bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố khai mạc, bế mạc, cảnh cáo, tuyên ngôn [Dẫn theo 6, tr.121]
Wierzbicka với phương pháp dùng ngôn ngữ ngữ nghĩa (một thứ siêu ngôn ngữ mà tác giả xây dựng nên để giải nghĩa 270 động từ nói năng tiếng
Anh, sau khi quy chúng về 37 nhóm đã xếp hành động than vãn vào nhóm
than phiền (complain) Wierzbicka đã chỉ ra những đặc trưng riêng của nhóm than phiền để phân biệt với các nhóm khác như: nhóm ra lệnh (order), nhóm hỏi (ask), nhóm cấm (forbid), nhóm tranh cãi (argue), nhóm giễu (mock),
nhóm buộc tội (accuse), nhóm xác tín (assert), nhóm khen ngợi, nhóm cảm
thán (exclaim), nhóm tuyên bố (declare v.v…
J R Searle đã lập nên 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn ngữ: đích ở lời, hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến, trạng thái tâm lý được thể hiện, sức mạnh mà đích được trình bày ra, tính quan yếu, định hướng, câu hỏi và câu trả lời là hai thành phần của cặp kế cận, nội dung mệnh đề… Sử dụng những tiêu chí trên, Searle phân lập được 5 loại hành động ở
Trang 5lời: tái hiện (representatives), điều khiển (directives, directifs), cam kết (commissives, commissifs), biểu cảm (expressive, expressifs) và tuyên bố (declarations, declaratifs) Hành động than vãn được xếp vào loại hành vi tái
hiện Hành vi này trước đó được Searle gọi tên là xác tín (assertives Đích ở
lời là miêu tả lại một sự tình đang được nói đến Hướng khớp ghép là lời – hiện thực, trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh
đề là một mệnh đề có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai logic Tuy nhiên, tác giả đặc biệt nhấn mạnh có một số động từ biểu thị hành vi ở lời mà nội dung mệnh đề có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai nhưng không
quy về các xác tín bình thường Thí dụ: khoe, than thở cũng nói lên các nội
quy mệnh đề nhưng hiệu lực ở lời của chúng khác với hiệu lực của các phát ngôn miêu tả, khẳng định, tường thuật thông thường ở chỗ SP1 (người nói) thực hiện chúng là vì lợi ích của mình [Dẫn theo 6, tr.125-126]
G Yule phân loại hành động nói dựa vào năm kiểu chức năng tổng quát
được thực hiện bằng các hành động nói: tuyên bố, biểu hiện, bộc lộ, cầu khiến
và ước kết Theo quan điểm của ông, hành động than vãn thuộc nhóm bộc lộ (expressives) là những thứ hành động trình bày cái mà người nói cảm nhận
Chúng bộc lộ những trạng thái tâm lí và có thể trình bày sự hoài lòng, nỗi đau khổ, sự ưa thích, sự không ưa thích, niềm hoan hỉ, hoặc nỗi buồn… những hành động này có thể do cái mà người nói hoặc người nghe gây ra, nhưng chúng đều nói lên kinh nghiệm của người nói [41, tr.106-107]
Như vậy, khi nghiên cứu và phân loại các hành vi ngôn ngữ, các nhà
ngôn ngữ đã chỉ ra sự tồn tại của hành động than vãn, tồn tại độc lập bên cạnh
Trang 6Lê Thị Thu Hoa (1996) với đề tài Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói
năng: nhóm khen, chê; Đinh Thị Hà (1996) với Cấu trúc nghĩa của động từ nói năng: nhóm bàn, tranh luận, cãi đã góp phần chỉ ra được cấu trúc ngữ
nghĩa của một số động từ nói năng cụ thể và đề cập đến những kiến thức cơ bản của hành động ngôn từ
Luận án Một số khác biệt giao tiếp lời nói Việt – Mỹ trong cách khen và
tiếp nhận lời khen (1999) của tác giả Nguyễn Quang đã đưa ra một cách tiếp
cận hành vi khen trong sự đối sánh với lời nói Mỹ, từ đó khẳng định sự khác
biệt khi sử dụng hành động ngôn từ này giữa người Việt và người Mỹ
Năm 2004, tác giả Trần Thị Tuyết Nhung trong đề tài Khảo sát
phong cách ngôn ngữ nữ tính qua hành vi cầu khiến đã xác lập được cấu
trúc của hành động cầu khiến và khẳng định đặc trưng riêng của nữ giới
qua hành vi này
Năm 2005 với Luận án Phương tiện biểu hiện hành vi cầu khiến
trong tiếng Anh liên hệ với tiếng Việt, Trần Chi Mai đã chỉ ra các phương
tiện biểu hiện của hành động từ chối cầu khiến Đặt trong sự đối sánh với tiếng Anh, tác giả đã tìm ra sự khác biệt của hành vi từ chối cầu khiến
giữa hai thứ tiếng và đưa ra được các tiêu chí để phân biệt hành vi này với các hành vi ngôn từ khác
Năm 2009, Nguyễn Thị Thủy, Trần Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Khánh
Chi, Văn Thị Nga, Lê Thị Nguyệt với các đề tài Biểu thức ngữ vi thể hiện
hành động khen, cảm ơn, xin lỗi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam; Hành động nhận xét qua lời thoại nhân vật nam và nữ trong truyện ngắn Chu Lai; Biểu thức ngữ vi rào đón trong lời thoại nhân vật; Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 và Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động khuyên và hứa đã xác lập được cấu trúc,
ngữ nghĩa và vai trò của các hành động khen, cảm ơn, xin lỗi, nhận xét, rào
đón, hỏi, khuyên Các công trình đã chỉ ra được đặc trưng riêng biệt để phân
Trang 7biệt các hành động ngôn từ khi gắn với các tiêu chí nhận diện của biểu thức ngữ vi tương ứng
Điểm qua các công trình trên, chúng tôi thấy Hành vi cảm thán, các
biểu thức cảm thán và tiếp nhận cảm thán của tác giả Hà Thị Hải Yến
(2000) có nhiều đóng góp khi đưa ra cách hiểu về hành động cảm thán, tìm hiểu biểu thức cảm thán trong sự tương tác với tham thoại hồi đáp Đây là một đề tài gợi cho chúng tôi một số nội dung khi tìm hiểu hành động than vãn- hồi đáp lời than vãn
Tuy vậy, chưa có công trình nào đi vào xác lập biểu thức ngữ vi thể
hiện hành động than vãn qu lời thoại nhân vật cũng như xét nó trong sự tương
tác với hành động hồi đáp thì chưa có đề tài nào quan tâm tìm hiểu Đây là lý
do để chúng tôi chọn đề tài Khảo sát cặp hành động tương tác than vãn và hồi
đáp trong lời thoại nhân vật cho luận văn của mình
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cặp hành động tương tác
than vãn và hồi đáp được thể hiện qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết
Việt Nam sau 1975 Những cuốn tiểu thuyết mà chúng tôi chọn để khảo sát là:
I Tạ Duy Anh, Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Nxb Hội Nhà văn, Hà
Nội, 2004
II Hoàng Ngọc Hà, Tia nắng mong manh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội,
2006
III Chu Lai, Phố, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001
IV Chu Lai, Nắng đồng bằng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003
V Chu Lai, Tiểu thuyết, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009
VI Lê Lựu, Thời xa vắng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003
Trang 8VII Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi
mới, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2003
4 Nhiệm vụ
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Thống kê, phân loại các cặp hành động than vãn và hồi đáp lời than
vãn trong lời nhân vật (trên tư liệu tiểu thuyết Việt Nam sau 1975)
- Đi sâu phân tích cấu trúc của hành động than vãn và hành động hồi
đáp lời than vãn qua lời thoại nhân vật
- Rút ra một số nhận xét về sự khác biệt về hành động than vãn – hồi
đáp qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm giai đoạn 1930 – 1945 và tác phẩm
sau 1975
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được vận dụng trong việc thu thập và xử lý ngữ liệu Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các lời thoại nhân vật có chứa hành
động than vãn và hồi đáp trên tư liệu tiểu thuyết Việt Nam (chủ yếu sáng tác
sau 1975 Sau đó, trên cơ sở các ngữ liệu đó, chúng tôi thực hiện việc phân loại chúng thành các nhóm riêng tùy thuộc theo từng nội dung nghiên cứu Những nhận định, đánh giá được triển khai trong luận văn đều xuất phát từ
các ngữ liệu này
5.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình miêu tả cấu trúc và biểu
hiện nội dung trong hành động than vãn, cũng như khi miêu tả các thang độ hồi đáp đối với hành động than vãn
5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Phương pháp này được vận dụng để phân tích nội dung ngữ nghĩa lời than vãn cũng như nội dung hồi đáp của nhân vật trước nỗi đau khổ mất mát của người nói
Trang 95.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được vận dụng để so sánh nội dung hành động than vãn và hồi đáp lời than vãn của nhân vật trước 1945 và sau 1975 để thấy sự khác biệt về biểu hiện của nhóm hành động này trong lời nhân vật ở hai thời
kì khác nhau
6 Đóng góp của luận văn
Đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu cấu trúc, ngữ nghĩa của cặp
hành động tương tác than vãn- hồi đáp biểu hiện qua lời thoại nhân vật
trong tiểu thuyết
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Hành động than vãn qua lời thoại nhân vật
Chương 3: Hành động hồi đáp lời than vãn trong lời thoại nhân vật
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lý thuyết hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại tồn tại dưới hai dạng: Dạng một là lời ăn tiếng nói thể hiện trong sinh hoạt của con người nói chung và dạng hai là lời trao đáp của các nhân vật hội thoại đã được chủ thể nhà văn tái tạo lại và thể hiện trong tác phẩm văn học Tất nhiên, ở dạng hai, hình thức hội thoại ít nhiều đã được trau chuốt theo mô hình sách vở và chịu tác động chủ quan của chủ thể nhà văn Mặc dù vậy, nó vẫn phản ánh tính chất sinh động, đa dạng của những lời nói
cá nhân
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu hình thức hội thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm văn học (giới hạn ở những tiểu thuyết Việt Nam sau 1975)
Về khái niệm hội thoại, Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Hội thoại là sử
dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau [37, tr.444] Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa: Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời
ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra [34, tr.122]
Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn
bản thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt động bản căn này
[4, tr.276]
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên đưa ra quan niệm về hội thoại như sau: Hội
thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác
Trang 11qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định [20, tr.18]
Qua các định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy, tuy có nhiều ý kiến, nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất với nhau ở một số điểm cơ bản: Hội thoại là sự giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa hai hay nhiều nhân vật, trong một ngữ cảnh nhất định, giữa các nhân vật có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay nhận thức hướng đến một nội dung cụ thể Từ đó, các tác giả cũng tìm được điểm chung về các nhân tố cần có của hội thoại, đó là:
- Nhân vật giao tiếp (ít nhất là hai nhân vật)
- Nội dung giao tiếp (thể hiện qua nội dung các phát ngôn)
- Mục đích giao tiếp (trực tiếp hay gián tiếp)
- Ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm bối cảnh không gian, thời gian, cảnh huống và ngôn cảnh)
- Thái độ (tình thái của phát ngôn)
a Nhân vật giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp, nhân vật giao tiếp đóng vai trò không thể thiếu được vì không có nhân vật giao tiếp thì không thể có sự giao tiếp Nhân vật giao tiếp bao gồm người nói và người nghe, trong đó người nói và người nghe liên tục đổi vai cho nhau trong một cuộc thoại đối mặt Theo Đỗ Hữu
Châu: Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp
bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn, qua đó
mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ giao tiếp và quan hệ liên cá nhân [Dẫn theo
19, tr.15]
Đỗ Thị Kim Liên quan niệm: Tham gia vào quá trình hội thoại, nhân
vật đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi vì, nhân vật hội thoại bao giờ cũng mang lại hai tư cách: tư cách là chủ thể đánh giá chủ quan những hành vi
Trang 12giao tiếp cụ thể, từ đó lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ tương ứng và tư cách là chủ thể chủ động gây nên hoặc tiếp nhận những hành vi giao tiếp với những thái độ khác nhau [20, tr.31]
b Nội dung giao tiếp
Nội dung trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng Tất cả những vấn đề rộng lớn về tự nhiên, con người, xã hội… đều có thể là nội dung của giao tiếp Nội dung là cái chủ đích mà người nói, người nghe cùng đề cập đến trong toàn bộ cuộc thoại Đó có thể là những nội dung hướng tới những chủ đề nghiêm túc, có tính nghi thức như Hội nghị cấp cao giữa lãnh đạo các nước ASEAN, Đại lễ ngàn năm Thăng Long, hợp tác song phương, đa phương; các chủ đề trong các văn bản nghệ thuật (tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện nôm… ; các văn bản nghị luận chính trị, xã luận Nhưng cũng có những nội dung về cuộc sống hàng ngày như các cuộc mua bán ở chợ, cuộc bàn luận nơi công sở, trường học… , chúng không mang tính nghi thức mà diễn ra rất tự nhiên, không cần có sự chuẩn bị
c Mục đích giao tiếp
Có thể khẳng định mục đích giao tiếp là nhân tố không thể thiếu được khi giao tiếp Bất cứ một hành động nào của con người cũng có mục đích và hành động giao tiếp cũng vậy Người nói đưa ra nội dung hướng đến người nghe nhằm mục đích gì: mệnh lệnh, đề nghị, mời mọc, than vãn, phản bác,
khẳng định, phủ định…
d Ngữ cảnh giao tiếp
Khi phân tích hội thoại không thể tách rời ngữ cảnh bởi hội thoại bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định Tuy nhiên, khái niệm ngữ cảnh
được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy quan niệm của mỗi tác giả
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Ngữ cảnh là tổng thể nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói Căn cứ vào ngữ cảnh giải thích
Trang 13nghĩa của từ [37, tr.894] Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định
nghĩa: Bối cảnh ngôn ngữ học gồm một đoạn trích của văn bản trong đó có
mặt đơn vị được chọn để phân tích, cần và đủ để xác định ý nghĩa của đơn vị này, còn gọi là ngữ cảnh Nói cách khác, ngữ cảnh là một trích đoạn văn bản
có chứa đơn vị được xác định để phân tích, là điều kiện, đặc điểm sử dụng của một đơn vị ngôn ngữ trong lời nói [34, tr.178]
Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cảnh gồm:
- Ngữ cảnh chính là thời gian, không gian, cảnh huống bên ngoài cho phép một câu nói trở thành hiện thực, nói được hay không nói được, đồng thời
giúp ta xác định tính đơn nghĩa của phát ngôn
- Ngữ cảnh gắn chặt với quá trình hội thoại Đây là ngữ cảnh hiểu theo nghĩa hẹp, còn được gọi là ngôn cảnh Ngôn cảnh chính là điều kiện trước và sau phát ngôn để cho phép hiểu đúng nghĩa của từ hay phát
ngôn cụ thể [20, tr.28]
Từ những định nghĩa trên, chúng ta tìm được điểm chung trong cách hiểu về ngữ cảnh, đó là coi ngữ cảnh giao tiếp là một trong những nhân tố chi phối đến nội dung lời thoại của nhân vật trong cuộc thoại J.Lyons cho rằng: Ngữ cảnh quy định nghĩa của phát ngôn ở ba mức độ phân biệt với nhau Thứ nhất, thường sẽ cho biết câu nào đã được nói ra Thứ hai, nó thường sẽ làm rõ mệnh đề nào đã được thể hiện, nếu có một mệnh đề được thể hiện Thứ ba, nó thường được cho biết rõ mệnh đề đang xét ấy là được thể hiện với kiểu lực
ngôn trung này chứ không phải kiểu lực ngôn trung khác [22, tr.276]
Muốn cuộc thoại đạt đến sự thành công như mong muốn, người tham gia giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định về hoàn cảnh giao tiếp diễn ra cuộc thoại Nếu không có những hiểu biết cần và đủ trong những trường hợp
cụ thể, người nói có thể không đạt được những mục tiêu giao tiếp mà mình
đặt ra
Trang 14
đ Thái độ (tình thái của phát ngôn)
Khi nhân vật đưa ra lời hội thoại, họ không chỉ sử dụng các từ mang nghĩa từ vựng (nghĩa miêu tả) mà còn cả những từ mang nghĩa tình thái thể hiện thái độ khác nhau của người nói đối với hiện thực Vì vậy, khi miêu tả hội thoại cần chú ý đến loại ý nghĩa này Nó là cơ sở phân biệt các nhân vật với nhau Nhân vật đó thuộc địa phương nào, trình độ văn hóa, thái độ của người đó chân thành, thân mật hay chỉ đưa đẩy nghi thức có tính xã giao, có
thái độ khẳng định hay phủ định, đồng tình hưởng ứng hay phản đối
(1) - Thế thủ trưởng tưởng em sung sướng với cái công việc lúc nào cũng tiếp xúc với tội phạm của em lắm à? Chán ngấy, lắm lúc chỉ muốn về hưu hay chuyển nghề
- Kệ cậu [III, tr.275]
Thái độ chán chường của người nói được thể hiện qua yếu tố tình thái
là ngữ điệu (ngữ điệu cao thể hiện tình thái nghi vấn nhưng để thể hiện sự bất
lực, buồn phiền) và tình thái từ à đứng cuối câu, cùng việc đưa từ chán ngấy
lên đầu câu, tạo ra một trật tự từ khác biệt nhấn mạnh rõ hơn thái độ chủ quan của người nói
Vì vậy, khi nghiên cứu hội thoại không thể bỏ qua yếu tố tình thái của phát ngôn Các nhân tố trên được gọi là các nhân tố giao tiếp – được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về mặt hình thức cũng như nội dung
1.1.2 Cấu trúc hội thoại
Về cấu trúc hội thoại, có rất nhiều quan niệm khác nhau Tuy nhiên, có thể phân chia thành ba trường phái tiêu biểu: Trường phái phân tích hội thoại
ở Mỹ (conversation analysis , Trường phái phân tích diễn ngôn (discourse analysis) ở Anh, Trường phái lý thuyết ở Thụy Sỹ (Genève) và Pháp
Chúng tôi lựa chọn và tiếp nhận quan điểm về cấu trúc hội thoại của trường phái phân tích diễn ngôn, lý thuyết hội thoại Thụy Sỹ - Pháp cho rằng
Trang 15hội thoại là một tổ chức tôn ti, như tổ chức một đơn vị cú pháp Quan niệm này tạo ra được sự gần gũi, phù hợp với sự tiếp nhận của người Việt Cấu trúc của hội thoại bao gồm các đơn vị:
1.1.2.1 Cuộc thoại (cuộc tương tác – conversation, interaction)
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất, tính từ khi các nhân vật tham gia hội thoại bắt đầu hội thoại cho đến khi kết thúc Một cuộc thoại được xác định bởi các nhân tố:
- Nhân vật hội thoại: Một cuộc thoại được xác lập bởi sự đương sự liên tục của hai hay nhiều người tham gia
- Tính thống nhất về thời gian và vị trí diễn ra hội thoại: Thời gian
có thể ban ngày, ban đêm, chiều tối, hôm qua Không gian có thể là một góc sân, một cuộc họp, một góc chợ hay ở nhà riêng, quán trà… Tiêu chí này chỉ có tính tương đối vì thời gian và không gian có thể thay đổi trong quá trình hội thoại
- Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: Một cuộc thoại có độ dài ngắn khác nhau song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài – tức các nhân vật
tham gia cuộc thoại phải cùng hướng đến một vấn đề, một cái đích chung Đề
tài là cái phạm vi hiện thực mà người nói đề cập đến [21, tr.189] Tuy nhiên
trên thực tế lại tồn tại rất nhiều cuộc thoại mà đề tài liên tục được thay đổi Vì
vậy để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm
nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian – không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng [6, tr.313]
1.1.2.2 Đoạn thoại (sequence)
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng, có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác làm thành cuộc thoại Cấu
Trang 16trúc tổng thể của một đoạn thoại có thể là: Đoạn mở thoại, đoạn thân thoại
và đoạn kết thoại
- Đoạn mở thoại: là đoạn thoại mang tính chất đưa đẩy, có chức năng
mở ra cuộc thoại và nêu đề tài diễn ngôn
- Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính của cuộc thoại
- Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về chủ
Ba đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại và cặp trao đáp có tính chất lưỡng
thoại (dialogal - có nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật
hội thoại Còn hai đơn vị tham thoại và hành động ngôn ngữ có tính chất đơn
thoại (có nghĩa là do một người nói ra)
1.1.2.4 Tham thoại (participants)
Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Đây cũng chính là đơn vị nghiên cứu cơ bản của đề tài nên chúng tôi sẽ đi sâu làm rõ đơn vị này trong sự phân biệt tham thoại với lượt lời và làm rõ cấu trúc của nó
a Phân biệt tham thoại và lượt lời
Ở Việt Nam, một trong những người chủ trương phân tích tham thoại
và lượt lời là Đỗ Hữu Châu Theo ông tham thoại là phần đóng góp của từng
Trang 17nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định và một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại [8, tr.629]
Điều này có nghĩa sự nhận diện lượt lời hoàn toàn mang tính trực giác còn nhận diện tham thoại phải căn cứ vào yếu tố nội dung Lượt lời
là chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt
đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình [6] Mỗi sự kiện lời nói hay đoạn thoại, cuộc thoại bao gồm các lượt
lời kế tiếp nhau của những người tham gia Vì vậy cần phải bảo đảm nguyên tắc luân phiên lượt lời bởi đó là điều kiện để cuộc thoại có thể phát triển một cách bình thường
Tham thoại không hoàn toàn trùng khớp với lượt lời, nó có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng lượt lời
a1) Tham thoại trùng với lượt lời:
(2) - Anh đóng hộ em cái cửa nhé!
- Ừ, để đó anh đóng cho
Ở (2 , lượt lời của người nói chỉ có một tham thoại cầu khiến do hành động có hiệu lực cầu khiến thực hiện và lượt lời của người nghe cũng chỉ có một tham thoại hồi đáp cho hành động cầu khiến
a2 Tham thoại lớn hơn lượt lời
(3) - Cháu làm sao hả anh? Để em xem nào! Anh tránh ra tí tẹo đi!
- Ấy… Không, không có gì! [III, tr.95]
Lời trao trong (3) gồm các tham thoại: một tham thoại hỏi, một tham thoại đề nghị, một tham thoại mệnh lệnh
a3 Tham thoại nhỏ hơn lượt lời (tức một tham thoại gồm nhiều lượt lời)
(4) - Thế… thế còn cái chuyện…
- Chuyện chị Thảo chứ gì? [III, tr.179]
Trang 18Ở (4 , lượt lời của người nói chưa làm thành một tham thoại hoàn chỉnh
do bị người nghe cắt ngang
b Cấu trúc tham thoại
Trong thực tế giao tiếp, một tham thoại không đơn giản chỉ tương ứng với một hành vi ngôn ngữ như đã nêu trên trong các ví dụ Theo trường phái Genève, một tham thoại có hành vi chủ hướng (directeur viết tắt là CH) và có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc (sobordonnés viết tắt là PT) Cấu trúc của tham thoại có thể là:
Theo quan điểm của trường phái này, hành vi chủ hướng có chức năng
trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi thích hợp của người đối thoại [8, tr.317-318]
Đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc của tham thoại, tác giả Dương Tuyết Hạnh đã miêu tả sơ đồ cấu trúc một tham thoại với thành tố cốt lõi và thành tố như sau:
(PT) - CH- (PT) Thành tố mở rộng + ………
(MR) Thành tố cốt lõi của tham thoại
Trong đó, hành vi chủ hướng là những hành vi đóng góp vào nội dung
miêu tả, nội dung mệnh đề đang được nói đến trong cuộc thoại, tức là những nội dung thỏa mãn các phương châm về lượng, về chất, về quan hệ trong
Trang 19nguyên tắc cộng tác của Grice là thuộc cấu trúc của tham thoại [8, tr.18] còn
hành vi phụ thuộc là hành vi không tham gia vào nội dung mệnh đề của tham
thoại, mà chỉ thực hiện chức năng tạo lập quan hệ đối tác, tức thực hiện chức
năng chuẩn bị, duy trì và kiểm tra quá trình đối thoại giữa chủ thể phát và
chủ thể nhận nhằm đạt được mục đích nhất định do nhân vật giao tiếp đặt ra
[8, tr.35]
1.1.3 Các nguyên tắc hội thoại
Các nguyên tắc hội thoại thường gặp là: nguyên tắc thương lượng,
nguyên tắc luân phiên lượt lời, nguyên tắc liên kết, nguyên tắc lịch sự,
nguyên tắc cộng tác… Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày hai nguyên tắc hội
thoại có liên quan trực tiếp đến đề tài, đó là nguyên tắc cộng hội thoại và
nguyên tắc lịch sự
1.1.3.1 Nguyên tắc cộng hội thoại
Theo P Grice, nguyên tắc cộng tác trong hội thoại làm cho cuộc thoại
đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc hội thoại đòi hỏi [12, tr.130]
Nguyên tắc cộng tác có hiệu quả đặc biệt đối với cả người nói và người nghe
Khi nói cả người nói và người nghe phải quan sát và thực hiện nguyên tắc
cộng tác theo phương châm nhất định Hai bên tham gia giao tiếp cùng cố
gắng để đối tác của mình hưởng ứng, phát triển cuộc thoại
Nguyên tắc này gồm bốn phương châm:
- Phương châm lượng:
+ Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có chứa thông tin như nó được
đòi hỏi (đối với mục đích hiện hữu của lần trao đổi đó
+ Không làm cho phần đóng góp của bạn có chứa nhiều tin hơn đang
Trang 20+ Không nói điều mà bạn không chứng minh thỏa đáng được
- Phương châm quan hệ: phải là trọng yếu (quan hệ một cách cần thiết với việc dùng, không chệch ra ngoài đề tài đang nói, hay chỉ nói những gì là trọng yếu, quan yếu)
- Phương châm cách thức: phải rõ ràng
+ Tránh diễn đạt tối nghĩa
1.1.3.2 Nguyên tắc lịch sự
Giao tiếp là hành vi mang tính xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của nhân tố lịch sự và văn hóa Vì thế đây là vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Chúng tôi sử dụng quan điểm và kết quả nghiên cứu của G.Leech, P.Brown và S.Levinson
- G.Leech cho rằng có 6 phương châm lịch sự như sau:
+ Phương châm khéo léo (trong phát ngôn cầu khiến và cam kết): giảm tối thiểu những điều bất lợi, tăng tối đa những điều có lợi cho người nghe
+ Phương châm rộng rãi (trong phát ngôn cầu khiến hay cam kết): hãy giảm tối thiểu lợi ích của mình và tăng tối đa tổn thất của mình
+ Phương châm tán thưởng (trong phát ngôn biểu cảm và xác tín): giảm thiểu sự chê bai đối với người khác, tăng tối đa khen ngợi người khác
+ Phương châm khiêm tốn (trong phát ngôn xác tín): giảm tối thiểu tự khen mình, tăng tối đã sự chê bai mình
Trang 21+ Phương châm tán đồng (trong phát ngôn xác tín): giảm tối thiểu sự bất đồng, tăng tối đa sự tán đồng giữa mình và người khác
+ Phương châm thiện cảm (trong phát ngôn xác tín): giảm tối thiểu ác cảm, tăng tối đa thiện cảm giữa mình và người khác [6, tr.262]
Tuy nhiên G Leech cũng nhận thấy: có những hành vi tại lời mang bản
chất cố hữu là không lịch sự, chẳng hạn hành vi ra lệnh, và có những hành vi tại lời mà bản chất cố hữu lại là lịch sự như khen, tặng [12, tr.143]
- P.Brown và S.Levinson với quan niệm lịch sự gắn liền với thể diện của người nói và người nghe
Theo quan niệm của hai tác giả thì mỗi người đều có hai thể diện: âm tính và dương tính Trong diễn tiến của cuộc thoại, các hành vi ngôn ngữ tiềm
ẩn sự đe dọa thể diện của cả người nói và người nghe được gọi là hành vi đe dọa thể diện Các hành vi đe dọa thể diện (Face Threatering Acts – viết tắt FTA) bao gồm 4 phạm trù:
+ Hành vi đe dọa thể hiện âm tính của người nói: tặng, biếu, hứa hẹn… + Hành vi đe dọa thể hiện dương tính của người nói: xin lỗi, thanh
minh, cảm ơn…
+ Hành vi đe dọa thể hiện âm tính của người nghe: ra lệnh, khuyên bảo,
ngăn cấm…
+ Hành vi đe dọa thể hiện dương tính của người nghe: chê bai, chửi
bới, phê phán, từ chối… [6, tr.267]
Hai tác giả cũng cho rằng để đảm bảo nguyên tắc lịch sự, khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ có tính chất đe dọa thể diện (FTA) thì phải sử dụng kèm theo những hành vi có tính chất tôn vinh thể diện (Face Flattering Acts -
viết tắt FFA như: khen, cảm ơn… Tập hợp các hành vi ngôn ngữ được chia
thành hai nhóm lớn: nhóm có hiệu quả căn bản tiêu cực và nhóm có hiệu quả tích cực Tương ứng với chúng sẽ là phép lịch sự âm tính và phép lịch sự dương tính
Trang 22Từ việc tìm hiểu quan niệm về phép lịch sự của các tác giả G Leech, P Brown và S.Levinson, chúng tôi nhận thấy quan niệm và việc chỉ ra các phương thức để bảo đảm lịch sự trong giao tiếp nói chung và hội thoại nói riêng của hai tác giả P Brown và S.Levinson là những cơ sở lý thuyết đáng
tin cậy đối với việc triển khai nghiên cứu hành vi than vãn – một hành vi
thuộc nhóm đe dọa thể diện tích cực của người nói Bên cạnh đó, các phương châm lịch sự của G Leech cũng là những gợi ý rất quan trọng để xây dựng
một chiến lược giao tiếp khi tổ chức một sự kiện lời nói than vãn nhằm đạt
hiệu quả cao, tạo ra được sự đồng cảm, sẻ chia từ phía người nghe
Tóm lại, để đạt được hiệu quả giao tiếp như mong muốn, người tham gia phải tôn trọng những quy tắc chung của hội thoại cũng như những quy tắc riêng của từng cuộc thoại (quy tắc sử dụng các hành động ngôn từ) Thực hiện những nguyên tắc này không chỉ là nội dung lời nói, cấu trúc phát ngôn mà còn cả thái độ, cử chỉ, ánh mắt… nhằm thể hiện sự thân thiện, lịch sự Tuy nhiên, không phải với mọi cuộc thoại, các nguyên tắc đó đều được đảm bảo
Sự phá vỡ các nguyên tắc đó là nguyên nhân phá vỡ cuộc thoại
1.2 Lý thuyết hành động ngôn từ
1.2.1 Khái niệm hành động ngôn từ
Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm vô số các đơn vị vừa đồng loại vừa không đồng loại có quan hệ quy định nhau Nhưng hệ thống ngôn ngữ hình thành và tồn tại không phải với tư cách là một hệ thống tĩnh mà luôn vận động
và phát triển theo thời gian cùng với sự phát triển của xã hội loài người Chức năng quan trọng nhất của hệ thống ngôn ngữ là chức năng làm công cụ giao tiếp Khi ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp thì ta nói ngôn ngữ đang hành chức, hay ngôn ngữ hành chức khi con người nói năng bằng một ngôn ngữ nhất định Vậy nói năng là một hành động đặc biệt của con người – hành động bằng ngôn ngữ
Trang 23Trong hoạt động bằng ngôn ngữ đó, người nói có thể trao đổi các vấn
đề thông tin, bày tỏ cảm xúc, muốn ai thực hiện điều gì đó… Ví dụ:
a Chiếc áo mẹ mua cho tôi rất đẹp
b Hôm nay, trên đường về nhà, tôi gặp Hương – người bạn thời thơ ấu với rất nhiều kỷ niệm khó quên
c Đây là đáp số đúng của bài toán
d Người như bạn ấy mà đáng tin ư?
e Ra ngoài đóng hộ cửa cho em nhé!
f Bạn nên nghe lời của bố mẹ
g Giọng nói của bạn diễn cảm quá!
h Trời ơi là trời! Sao tôi bị đầy đọa khổ nhục thế này?
Ứng với mỗi ví dụ trên, ta có hành vi miêu tả (a); kể (b), khẳng định (c); nghi vấn (d), cầu khiến (e), khen ngợi (g , than vãn (h … Các nhóm hành động a, b, c, d, e, f, g, h… là những hành động bộ phận trong hành động giao tiếp nói chung Khi miêu tả, nhận xét, kể, cầu khiến, than vãn… là chúng ta đang hành động – hành động bằng ngôn ngữ Ta có thể sử dụng thuật ngữ hành động ngôn ngữ (hay hành vi ngôn ngữ để chỉ những hành động bộ phận
bằng ngôn ngữ của con người Hành động ngôn ngữ là hành động khi thực
hiện, khi tạo ra một phát ngôn trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là đích như mọi hành động khác của con người có ý thức [7, tr.43]
J.L Austin cho rằng: tất cả các phát ngôn khi được sử dụng một cách nghiêm túc trong giao tiếp hội thoại đều biểu thị những hành vi ngôn ngữ, những hành động ngôn ngữ
1.2.2 Các hành động ngôn ngữ (speech acts)
Người có công đầu trong việc đưa lý thuyết hành vi ngôn ngữ (theory
of speech act) vào ngữ dụng học nói riêng và ngôn ngữ học nói chung là J.L
Austin How to do thing with words xuất bản năm 1962 là sự tập hợp lại 12
Trang 24chuyên đề ông đã trình bày tại Đại học Harvard – Mỹ Ông chia hành động ngôn ngữ thành ba nhóm: hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời
a Hành vi tạo lời (locutionary acts)
Hành động tạo lời theo J.L Austin là nói một cái gì đó, là hành động sử
dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về mặt hình thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được [21, tr.70]
(5) - Mẹ ơi! Con đã làm xong việc nhà rồi
Đây là phát ngôn được cấu tạo dựa trên trật tự cú pháp C – V
b Hành động mượn lời (perlocutionary act)
Hành vi mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, hay nói cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau
Ví dụ: Khi đài truyền hình Việt Nam đưa tin về trận lũ lịch sử ở miền Trung gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của Tin này gây ra tác động đối với người nghe không nhất quán, phân tán và không có tính quy ước Có người thì tỏ ra xót xa, thương cảm nhưng cũng có người bàng quan, thờ ơ
Vì sự không nhất quán, không thể tính trước được ở những đối tượng khác nhau nên ngữ dụng học không đi sâu nghiên cứu hành vi mượn lời này
Nó là đối tượng của bộ môn xã hội học, tâm lý học
c Hành động ở lời
Hành vi ở lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng gây ra những tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng đối với người nghe Hành vi ở lời là những hành vi mà người nói thực hiện ngay khi nói năng bằng phương tiện ngôn từ
Trang 25Khác với hành động mượn lời, hành động ở lời có tính quy ước mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác Người nghe khi nhận được phát ngôn ở lời thì tự phát ngôn đó đã đặt người nói và người nghe vào trong những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng trước khi có câu nói trên bề mặt Đây là đối tượng đi sâu nghiên cứu của ngữ dụng học
Các hành vi ở lời thường do các động từ ngữ vi thể hiện như: hứa,
khuyên, cảm ơn, mời, xin lỗi, khen, yêu cầu, ra lệnh…
Ví dụ:
(6) - Anh xin lỗi vì đã đến muộn
Khi người nói phát ngôn ra : Anh xin lỗi vì đã đến muộn thì người nói cũng đã thực hiện luôn hành động xin lỗi
Phân biệt sự khác nhau giữa các hành động ngôn ngữ, tác giả Đỗ Thị
Kim Liên viết: Sự phân biệt hành động tạo lời và hành động ở lời cho ta thấy
sự phân biệt một bên là nội dung mệnh đề (P) và một bên là hiệu lực ở lời (IF – Illocutionary force) của một phát ngôn ngữ vi Nội dung mệnh đề là sản phẩm của hành động tạo lời còn hiệu lực ở lời là hiệu quả của hành động ở lời Tác giả cũng khẳng định: Sự phân biệt hành động mượn lời và hành động
ở lời là ở chỗ, hành động mượn lời gây hiệu quả phân tán, không có tính quy ước Còn hành động ở lời có đặc tính: có ý định và có đích của người nói; có tính quy ước (gắn với một cộng đồng người nhất định); có thể chế nhất định
mà cách thức thực hiện chúng được xã hội chấp nhận [21, tr.73]
1.2.3 Điều kiện sử dụng hành động ngôn ngữ
Hành động ngôn ngữ cũng như bất kỳ hành động nào của con người được tiến hành đều phải có những điều kiện cần và đủ nhất định Điều kiện sử dụng hành động ở lời là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một hành
động ở lời nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
Trang 26Chúng tôi đi vào trình bày điều kiện sử dụng hành vi ở lời của hai tác giả: J Austin và J.R Searle làm cơ sở lý thuyết cho việc áp dụng nghiên cứu
hành động ngôn từ cụ thể: hành động than vãn
a Điều kiện sử dụng hành động ở lời của J.L Austin
J.L Austin gọi điều kiện tiên quyết đem lại thành công cho việc vận
dụng hành vi ở lời là điều kiện may mắn (felicity conditions) bởi nhờ sự bảo đảm của chúng mà hành động mới thành công
A a) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả có tính quy ước; b)Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với
những điều kiện quy định trong thủ tục
B Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
C Thông thường thì những người thực hiện hành động ở lời phải có ý nghĩ tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hành động
diễn ra thì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã nói (dẫn theo 6, tr.112)
Ví dụ:
(7) - Tôi hứa sẽ giúp cậu hoàn thành công việc này
Hành động hứa sẽ được thực hiện với các điều kiện:
a) Phải có thủ tục cần thiết (A có lời hứa với B thật, A có khả năng hoàn thành được công việc đã hứa b Trước đó, B đã có một lời đề nghị, một yêu cầu nhờ A giúp đỡ
- Thủ tục tiến hành đúng đắn và nghiêm túc
- Người nói và người nghe có ý nghĩ và hành động như đã định - người nghe chờ đợi, người nói thì có trách nhiệm bắt tay vào thực hiện lời hứa của mình
b Điều kiện sử dụng hành động ở lời của J.R Searle
J.Searle đã đưa ra 4 điều kiện cơ bản để sử dụng hành động ngôn ngữ:
- Nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung hành động
Trang 27- Điều kiện chuẩn bị gồm các hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe
- Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các mối quan hệ giữa người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói
- Điều kiện căn bản là điều kiện đưa ra trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời đó được phát ra
(11) - Việc làm hôm nay của con rất tốt!
Điều kiện để thực hiện hành động khen gồm:
- Sự trải nghiệm của người nói: người nói vừa chứng kiến một biểu hiện gì đó của người nghe mà theo đánh giá của người nói là khác thường, thiên về cảm phục
- Nội dung và hiệu lực đối với người nghe: Người nói đưa ra nội dung của lời khen, hiệu lực là nhằm thừa nhận một sự thực hoặc củng cố, xác lập mối quan hệ giữa người nói và người nghe
- Thái độ và sự phản ứng của người nghe: người nghe cảm thấy đẹp lòng
Theo J.Searle, hành động khen có các điều kiện sau (xem 6, tr.120)
Trang 28Khen ngợi
Điều kiện nội dung mệnh đề
Điều kiện chuẩn bị
Điều kiện chân thành
Điều kiện căn bản
Sự kiện, hành động E liên quan đến H
1.2.4 Động từ ngữ vi và biểu thức ngữ vi
1.2.4.1 Động từ ngữ vi
Động từ ngữ vi là động từ mà khi nói ra, người ta thực hiện ngay tức khắc cái hành động ở lời do chính động từ biểu thị Động từ ngữ vi vì thế khác với động từ miêu tả (là những động từ thuật lại một hành động còn chính những hành động đó phải được thực hiện bằng những hành
động ngoài ngôn ngữ)
Để xem một động từ là động từ ngữ vi cần có đủ ba điều kiện sau:
- Vai đưa ra phát ngôn phải ở ngôi thứ nhất, số ít (có thể sử dụng ngôi thứ nhất số nhiều nhưng được hiểu là ngôi thứ nhất, số ít và người tiếp nhận
hành vi ở lời phải là ngôi thứ hai
- Động từ luôn ở thời hiện tại bởi vì động từ đó được thực hiện ngay
khi nói ra
- Trước động từ không có các phụ từ tình thái như: không, chưa, chẳng,
chả, đã, sẽ, vừa, mới, chỉ, có… Nếu có mặt các phụ từ tình thái thì phát ngôn
không còn là phát ngôn chứa động từ ngữ vi mà là phát ngôn miêu tả
(8) - Mẹ đã luôn mong rằng mọi điều tốt đẹp, may mắn nhất sẽ đến với
con gái yêu của mẹ
Phát ngôn này là phát ngôn miêu tả, nó thuật lại hành động cầu, nguyện
của người mẹ đối với người con gái
Còn xét phát ngôn:
Trang 29(9) - Mẹ mong rằng mọi điều tốt đẹp, may mắn nhất sẽ đến với con gái
yêu của mẹ
Có thể thấy được khi nhân vật phát ngôn điều đó thì chính nhân vật đã
thực hiện luôn cái hành động do chính động từ mong biểu thị (hành động cầu, nguyện) Vì thế động từ mong trong phát ngôn là động từ ngữ vi và phát ngôn
này là phát ngôn ngữ vi
1.2.4.2 Biểu thức ngữ vi
a Khái niệm
Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn gây hiệu lực ở lời nhất định Phát ngôn ngữ vi mang một hiệu lực ở lời nào thì chúng có cấu trúc hình thức ấy, hay còn gọi là cấu trúc đặc trưng Chúng ta gọi một kiểu cấu trúc đặc trưng tương ứng với một phát ngôn ngữ vi là biểu thức ngữ vi Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưngcho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó được gọi là
biểu thức ngữ vi [6, tr.91]
b Phương tiện chỉ dẫn biểu thức ngữ vi
Mỗi biểu thức ngữ vi được đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn, nhờ những dấu hiệu này mà các biểu thức ngữ vi phân biệt được với nhau J
Searle gọi đó là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (Illocutionary Force
Indicating Devices, viết tắt IFIDs)
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu có các nhóm đóng vai trò IFIDs là:
- Các kiểu kết cấu
- Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi
- Ngữ điệu
- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nội
dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh
- Các động từ ngữ vi
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên chỉ ra phương tiện chỉ dẫn biểu thức ngữ vi
bao gồm:
Trang 30- Ngữ điệu
- Cấu trúc đặc thù có từ tình thái cuối phát ngôn
- Cấu trúc đặc thù có phụ từ tình thái đi trước vị từ của phát ngôn
- Cấu trúc đặc thù có từ, tổ hợp từ tình thái đứng đầu phát ngôn
- Các động từ ngữ vi
Chẳng hạn, để tạo ra biểu thức ngữ vi khen, các nhóm thực hiện IFIDs
có thể được sử dụng là dùng động từ khen: Bà Ba đi ngang qua khen: “Cháu
dệt có nghề lắm”; phương tiện từ vựng kèm theo ngữ điệu cảm thán khen
ngợi: Tuyệt vời!; phụ từ rất đứng trước các tính từ chỉ nội dung khen: Anh thấy em mặc bộ đầm rất tuyệt!; Hoặc dùng các phụ từ tình thái chỉ mức độ đứng ở cuối câu sau tình từ miêu tả: Anh nói khéo lắm! v.v
Các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời của hành vi than vãn sẽ được
chúng tôi trình bày trong các phần tiếp theo của đề tài
c Biểu thức ngữ vi nguyên cấp và biểu thức ngữ vi tường minh
Về mặt cấu tạo, biểu thức ngữ vi tồn tại dưới hai dạng: Biểu thức ngữ
vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp
Biểu thức ngữ vi tường minh là biểu thức ngữ vi có chứa động từ ngữ
vi trên bề mặt phát ngôn
(10) - Cháu cảm ơn bác đã nhận cháu vào làm việc
(11) - Tôi xin lỗi anh vì những chuyện đã qua
(12) - Em khuyên anh nên làm lành với chị nhà đi
(13) - Tôi khẳng định những điều nêu trên là hoàn toàn đúng sự thật Các ví dụ trên là biểu thức ngữ vi tường minh, chứa các động từ ngữ vi
trên bề mặt phát ngôn: cảm ơn, xin lỗi, khuyên, khẳng định…
Biểu thức ngữ vi hàm ẩn là những biểu thức ngữ vi không chứa động từ ngữ vi trên bề mặt phát ngôn
(14) - Anh không nên hút thuốc lá nơi công sở (hành động khuyên)
Trang 31(15) - Cô mà không nghe lời tôi thì phải nhận lấy hậu quả (hành vi
đe dọa)
(16) - Đóng hộ tôi cái cửa! (hành động cầu khiến)
1.3 Một vài nét về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Sau 1975, hiện thực đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ từ
chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đời sống bất bình thường của ngày có
giặc (chữ dùng của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường Có những
chuyện hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập, còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập, để nhìn lại… Những điều này đòi hỏi văn xuôi phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực mới
Tìm hiểu văn xuôi sau 1975 nói chung, tiểu thuyết sau 1975 nói riêng, chúng ta thấy có hai thời kỳ: thời kỳ đầu là từ 1975 cho đến đầu năm 80 và thời kỳ thứ hai là từ những năm 80 trở về sau
Tiểu thuyết thời kỳ từ 1975 cho đến đầu năm 80, tuy có một số biến đổi như mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn… nhưng về cơ bản vẫn gần với đặc điểm của văn xuôi giai đoạn trước Nghĩa là ở những sáng tác này, cảm hứng sử thi vẫn giữ một vai trò quan trọng trong tư duy nghệ thuật
Chúng ta nhớ đến những sáng tác văn xuôi ở thời kỳ này như Tháng ba ở Tây
Nguyên của Nguyễn Khải, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu…
Phải từ những năm 80 văn xuôi mới thật sự có những bước chuyển đáng kể Trước hết là sự tự đổi mới của các nhà văn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trước Người ta thấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lệ Lựu… đã bắt đầu có những đổi mới Ở đây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, vấn đề mà còn là ở tư duy nghệ thuật, cảm hứng,
cách viết… Nếu trước đây Lê Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ
Trang 32là Thời xa vắng Nếu Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ thì bây giờ là Mùa
lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú Nếu Nguyễn Quang
Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Chị Nhung… thì bây giờ
là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ ràng trước một hiện thực mới, một công
chúng mới không cho phép nhà văn viết như cũ Sự đổi mới của các nhà văn
do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ Trong số những nhà văn này không thể không kể đến một tên tuổi đã mang đến sự đổi mới rất sớm trong những trang viết của mình, và cũng bằng những trang viết đầy suy tư của mình đã dự cảm rất sớm những biến đổi của xã hội Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu Ngay từ sau 1975 và nhất là những năm đầu thập niên 80
với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Bến quê, Mẹ con chị
Hằng… rồi Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Cỏ lau…
nghệ thuật khác trước Và chính ở đó, nhà văn đã nêu lên được, phân tích, lý giải nhiều vấn đề có tầm bao quát rộng lớn
Đặc biệt với sự xuất hiện của một loại cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn
bộ mặt và diện mạo của văn xuôi Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh… đã mang lại cho tiểu thuyết Việt Nam những sắc thái mới mẻ, những đổi mới đáng ghi nhận Nguyễn Huy Thiệp với giọng văn sắc lạnh, gai góc đến tàn nhẫn đã đào bới tung lên những mảng tối, những góc khuất của cuộc đời, của thời đại, của xã hội Đóng góp lớn của ông
là đã làm thay đổi hẳn cách viết, cách tư duy trong tiểu thuyết Việt Nam nói riêng và văn xuôi nói chung Đó là lối tư duy tiểu thuyết đã có ở Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu… được ông phát triển đến cao độ
Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 mà đặc biệt là từ những năm 1980 về tư duy nghệ thuật dẫn đến hệ quả tất yếu là sự thay đổi các yếu
tố như bút pháp, nhân vật trung tâm, cốt truyện, đề tài, lời văn…
Về bút pháp văn xuôi trầm tĩnh hơn, tỉnh táo hơn, bớt đi vẻ say sưa,
nồng nhiệt so với những sáng tác trước đây về cách mạng và kháng chiến, tạo
Trang 33một khoảng cách nhất định với đối tượng miêu tả, do đó bình thản hơn, trí tuệ hơn, thấm đậm hơn giọng điệu phê phán, bình giá, trên cơ sở một cái nhìn thiên về bề sâu tâm tưởng, ý nghĩa nhân sinh, tuy nhiên không vì thế mà lạnh lùng khô héo, trái lại nữa, qua giọng điệu lời văn ta vẫn thấy cái hơi ấm nhân tình (Dẫn ý kiến của nhà văn Bùi Hiển Đó thực chất là kết quả của tư duy
tiểu thuyết, của cách tiếp cận tiểu thuyết đối với hiện thực
Về thể tài, khác với giai đoạn trước (1945 - 1975 , giai đoạn sau 1975, thể tài đạo đức – thế sự phát triển mạnh mẽ, và dần dần trở thành đề tài chính yếu Sự thay đổi này đã tạo ra cho tiểu thuyết một khả năng trong việc đi sâu vào những ngõ ngách, những phần thầm kín, ẩn sâu nhất của xã hội và con người Việt Nam sau khi trải qua ba mươi năm chiến tranh bước sang đời sống hòa bình Con người được nhìn nhận đa chiều với những mặt đời thường vốn
có, với cả những bất hạnh và bi kịch cuộc đời Đấy là bi kịch của con người một thời hy sinh hạnh phúc cá nhân để sống với khuôn mẫu do gia đình và tập
thể đòi hỏi, để rồi cuối cùng xót xa nhận ra: Nửa đời người phải yêu cái người
khác yêu, nửa còn lại đi yêu cái mình không có (Thời xa vắng) Đấy là bi kịch
của gia đình khi bị lối sống Âu Mỹ và những ảo vọng giàu sang… và do sự kém thích ứng với cuộc sống của người lính bước ra từ cuộc chiến đã khiến hạnh phúc tan vỡ (Phố … Tiểu thuyết thế sự đầy sự nếm trải, suy tư và trăn trở, đi đến tận cùng của hiện thực
Những phát triển về tư duy nghệ thuật, thể tài, bút pháp, giọng điệu, lời văn… của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 suy cho cùng đều bắt nguồn từ sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nghệ thuật trong đó
Sau 1975, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã hướng
Trang 34vào thế giới nội cảm, khám phá chiều sâu tâm hồn, nhìn nhận con người ở nhiều chiều kích Con người luôn phải tự đấu tranh, trăn trở, tự dò dẫm trong
muôn mặt phức tạp và đa dạng của đời sống hiện đại Con người sử thi trong văn học trước 1975 được thay thế bằng con người nếm trải Hình tượng con
người tự thú, con người thức tỉnh, con người sám hối, con người bản năng, con người tính dục được đề cập nhiều trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh…
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 thực sự đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phân tích, lý giải suy tư về con người, xã hội của một xã hội đầy biến động Đó là một bước phát triển quan trọng của tiểu thuyết để phù hợp với yêu cầu của hiện thực, của đối tượng tiếp nhận
1.4 Tiểu kết chương 1
Để giải quyết những nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi đã lựa chọn
và trình bày một số vấn đề giới thuyết cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu, bao gồm:
- Về lý thuyết hội thoại:
+ Khái niệm hội thoại: Hội thoại là sự giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa hai hay nhiều nhân vật, trong một ngữ cảnh nhất định, giữa các nhân vật
có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay nhận thức hướng đến một nội dung cụ thể Tuy có nhiều ý kiến, nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả cũng thống nhất về các nhân tố cần có của hội thoại là nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp và tình thái của phát ngôn
+ Cấu trúc hội thoại : chúng tôi lựa chọn và tiếp nhận quan điểm về cấu trúc hội thoại của trường phái phân tích diễn ngôn, lý thuyết hội thoại Thụy sỹ
- Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chức tôn ti, như tổ chức một đơn vị cú pháp Cấu trúc của hội thoại gồm các đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại
Trang 35+ Các nguyên tắc hội thoại thường gặp là nguyên tắc thương lượng, nguyên tắc luân phiên lượt lời, nguyên tắc liên kết, nguyên tắc lịch sự, nguyên tác cộng tác Các quy tắc cơ bản mà chúng tôi trình bày là nguyên tắc lịch sự
và nguyên tắc cộng hội thoại
- Về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Sau 1975, hiện thực đời sống hòa bình đòi hỏi sự tiếp cận phù hợp Điều đó đòi hỏi sự đổi mới tư duy nghệ thuật Tư duy nghệ thuật chuyển sang
tư duy tiểu thuyết Sự đổi mới này tất yếu dẫn đến hệ quả tất yếu là sự thay đổi bút pháp, nhân vật trung tâm, cốt truyện, thể tài, lời văn Và xét cho đến cùng chỉ có sự thay đổi về quan niệm nghệ thuật về con người mới tạo ra được sự biến đổi toàn diện của tiểu thuyết cũng như cả nền văn học
Đó là những cơ sở lý thuyết để chúng tôi đi vào phân tích, mô tả, làm
rõ hành động ngôn từ than vãn trong lời thoại nhân vật ở chương 2
Trang 36Chương 2 HÀNH ĐỘNG THAN VÃN TRONG LỜI THOẠI NHÂN VẬT
2.1 Hành động than vãn trong lời thoại nhân vật
2.1.1 Khái niệm hành động than vãn
Cần phân biệt ba thuật ngữ: than vãn, than phiền và than thở Từ điển
tiếng Việt cho rằng: Than vãn là than thở và kể lể, mong có sự đồng cảm, xót
thương [37, tr.912]; Than phiền là phàn nàn, kêu ca về điều phiền muộn nào đó; Than thở là kêu ca, thổ lộ nỗi buồn rầu, đau khổ của mình [37, tr.911]
Việc xem xét ý nghĩa của cả ba từ: than vãn, than phiền, than thở dễ
đưa đến một nhận xét mang tính trực quan là nội hàm khái niệm của các từ
nêu trên có mối quan hệ bao hàm Cụ thể ở trường hợp này khái niệm than
vãn bao hàm khái niệm than thở và than phiền và ngược lại, khái niệm than thở và than phiền nằm trong khái niệm than vãn Tuy nhiên, trong ngữ dụng
học, ba từ này đều được xếp vào môt nhóm chung: hành động than vãn
Xuất phát từ cách quan niệm trên, chúng tôi quan niệm hành động than
vãn như sau: Than vãn là ở những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, người nói
đưa ra một phát ngôn thể hiện sự phàn nàn, kêu ca về nỗi buồn phiền, đau khổ… của bản thân và mong nhận được sự thấu hiểu, chia sẻ từ phía người nghe mà người nói tin rằng người nghe có quan tâm và chờ đợi
Theo lý thuyết hành động ngôn ngữ, hành động than vãn được J.Searle xếp vào nhóm hành động tái hiện (representaties) Còn George Yule lại xếp hành động than vãn vào nhóm hành động bộc lộ (expressives Chúng có đặc điểm chung là những thứ hành động trình bày cái mà người nói cảm nhận
Chúng bộc lộ những trạng thái tâm lý và có thể trình bày sự hài lòng, nỗi đau khổ, sự ưa thích, sự không ưa thích, niềm hoan hỉ hoặc nỗi buồn… những
Trang 37hành động này có thể do cái mà người nói hoặc người nghe gây ra, nhưng chúng đều nói lên kinh nghiệm của người nói [41, tr.107]
Chúng tôi sử dụng quan điểm của J Searle khi triển khai nghiên cứu
hành động than vãn Ý kiến của J.Searle xếp than thở vào nhóm hành động tái
hiện vì theo ông tái hiện ở đây mang mục đích hướng tới sự kể lể của người
nói đến người nghe Trong một hành động than vãn không thể thiếu phần thông tin mang nội dung khái quát là tái hiện (với đích hướng tới là than vãn)
Trong thực tế giao tiếp, không phải bao giờ một hành vi ngôn ngữ
cũng có một (hoặc một số động từ ngữ vi tương ứng Hành động than vãn
cũng là một trường hợp như thế Người ta không thể nói Tôi than thở hay Tôi
than vãn để thực hiện hành vi than thở, than vãn mà chỉ có thể nói theo một số
cách sau:
(17) - Trời ơi là trời! Sao tôi bị đầy đọa khổ nhục thế này? [II, tr.15]
(18) - Em khổ lắm! [IV, tr.342]
Ở ví dụ (17) và (18), trên bề mặt phát ngôn không hề xuất hiện các từ
than thở, than vãn, mặc dù vậy, người nghe vẫn nhận ra người nói đang thực
hiện hành động than vãn Điều đó cho phép chúng tôi rút ra kết luận khi miêu
tả, nhận diện hành vi ngôn ngữ nói chung và hành động than vãn nói riêng, ta
phải đi vào chính bản chất ngữ nghĩa, đích tác động của hành động cụ thể chứ không chỉ dựa vào động từ ngữ vi trên bề mặt phát ngôn
Vì thế, khi nghiên cứu hành vi than vãn, chúng ta phải dựa vào một số
dấu hiệu nhận biết đặc thù của hành vi này
Trang 382.1.3 Nhận diện hành động than vãn
Dựa vào các điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ của J.Searle, chúng tôi áp dụng chúng để xem xét hành động ngôn ngữ cụ thể: hành
động than vãn
Điều kiện để có hành động than vãn:
a Điều kiện nội dung mệnh đề: Phải có mệnh đề mang nội dung khái
quát là tái hiện, hoặc chỉ có phần tình thái
b Điều kiện chuẩn bị: Vai nói ở ngôi thứ nhất, vai nghe ở ngôi thứ hai
Giữa người nói và người nghe có quan hệ nào đó
c Điều kiện chân thành: Người nói hoàn toàn chân thành và có nhu cầu được giãi bày, chia sẻ khi thực hiện hành động than vãn và mong muốn người
nghe cùng đồng cảm
d Điều kiện căn bản: Khi hành động than vãn được nói ra đã tạo ràng
buộc giữa người nói và người nghe Nếu người nghe không đồng cảm, chia sẻ với người nói sẽ bị qui là người vô cảm, vô tình trước nỗi đau khổ của người khác
2.1.4 Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động than vãn
Biểu thức ngữ vi (BTNV) thể hiện hành động than vãn không chứa
động từ ngữ vi trên bề mặt phát ngôn nên theo căn cứ phân biệt như trên nó là biểu thức ngữ vi nguyên cấp (hay hàm ẩn)
Vì không có sự xuất hiện của động từ ngữ vi trên bề mặt nên chúng ta phải dựa vào các phương tiện chỉ dẫn biểu thức ngữ vi để nhận diện một
BTNV thể hiện hành động than vãn Đó là tiêu chuẩn nhận diện về mặt hình
thức và tiêu chuẩn nhận diện về mặt nội dung
Trang 39a Tiêu chuẩn hình thức
a1 Dựa vào các từ tình thái, tổ hợp từ tình thái đứng đầu phát ngôn
Phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời đặc trưng nhất của hành động than
vãn là các cụm từ tình thái như: Hỡi trời, chao, chao ôi, cha trời, trời ạ, trời
đất, trời ơi, trời đất quỷ thần ơi, trời ơi là trời, khốn nạn rồi, chết mất thôi,
khốn khổ, mẹ kiếp, bỏ mẹ…
(19) - Trời đất! Hơn bốn chục tuổi đầu mới được cái quân hàm thiếu tá,
cũng giống như bà già bảy mươi tuổi mới lấy chồng thì hứng khoái nỗi gì mà
ăn khao nữa? [III, tr.124]
(20) - Trời ơi, sao lại oái oăm đến mức này [VI, tr.103] (21) - Khốn nạn rồi! Gần đây, vẫn chủ yếu là sau buổi tối ấy, thơ anh
không chịu đùn ra nữa [V, tr.231]
a2 Dùng ngữ điệu (đi kèm từ, ngữ tình thái)
Ngữ điệu là sự thống nhất của một tập hợp phức tạp của các thành tố
có quan hệ tương tác lẫn nhau, bao gồm các yếu tố như âm điệu, tiết tấu,
cường độ, tốc độ nói, âm sắc, trọng âm logíc được sử dụng ở cấp độ câu làm
phương tiện biểu thị ý nghĩa và phạm trù cú pháp, cũng như các sắc thái cảm
xúc biểu cảm [34, tr.179-180]
Ngữ điệu có thể phân ra nhiều loại khác nhau như ngữ điệu cầu khiến,
ngữ điệu hỏi, ngữ điệu kết thúc, ngữ điệu liệt kê, ngữ điệu mệnh lệnh… Gắn
với hành động than vãn là ngữ điệu than (còn gọi là ngữ điệu cảm thán , được
đánh dấu bằng dấu chấm than (!), với đặc trưng là từ được tách ra phát âm
cao giọng hơn so với câu tường thuật, nhưng lại thấp giọng hơn so với câu
hỏi [34, tr.180]
(22) - Chán! Chán chớ chị Chán nên tôi đã đập phá gần cả chục năm
nay rồi [V, tr.131]
Trang 40(23) - Thế ra đời mình chỉ toàn bỏ đi Mẹ kiếp! Mẹ kiếp! Đã thế ông
đếch thèm sống nữa [I, tr.7]
a.3 Dùng các phụ từ, tình thái từ đứng cuối phát ngôn
Các phụ từ đi, lắm, thôi, đã, nào…đứng cuối phát ngôn, xuất hiện với tần số cao trong lời thoại có chứa hành động than vãn nhằm bổ sung ý nghĩa
cho tính từ, động từ:
(24) - Thực ra từ lâu tôi cũng đã ngấy chán cuộc đời bụi bặm phập phù
Không còn cách nào khác, tôi cứ tự mỹ hóa nó lên như vậy cho đỡ rầu
Có lẽ tôi đang chạy trốn trước sự thật Tôi cũng muốn sử dụng con người tôi, cuộc sống tôi đúng chỗ như chị nói nhưng tôi ngại Ngại thay đổi Tôi mệt
mỏi lắm! [V, tr.133]
Các từ, tổ hợp từ tình thái, ngữ điệu (đi kèm từ, ngữ tình thái), các phụ
từ là dấu hiệu hình thức để nhận diện BTNV có chứa hành động than vãn
b Tiêu chí nội dung
Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động than vãn được nhận diện bởi chính nội dung của nó Tuy không có sự xuất hiện các động từ ngữ vi: than vãn,
than thở, than phiền trên bề mặt câu chữ nhưng chúng ta có thể nhận ra
BTNV thể hiện hành động than vãn bởi các nội dung hướng đến chức năng
than vãn Đó là những phát ngôn thể hiện nỗi bức xúc, nỗi đau khổ, bất mãn
trước hiện thực cuộc sống, đời sống tinh thần Có sự xuất hiện với tần số khá
lớn các từ: khổ, khốn khổ, khốn nạn, chán, nản, buồn, mệt… gắn với các phát
ngôn hướng tới mục đích than thở, kể lể:
(25) – Em mệt quá rồi! [II, tr.175]
(26) - Chúng cháu khổ lắm chú ạ! [II, tr.71]
BTNV thể hiện hành động than vãn là biểu thức ngữ vi nguyên cấp,
không xuất hiện động từ ngữ vi trên bề mặt phát ngôn nên những phương tiện