Sức sống của các tác phẩm của Nguyễn Tuân - trong đó có các tiểu luận phê bình văn học - không chỉ “vang bóng một thời” mà là nhiều thời, để lại không ít ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG THẢO
TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC
CỦA NGUYỄN TUÂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 21.1 Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là một hiện tượng độc đáo và
phức tạp, một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông đã từng nói: “Tôi quan niệm đã viết văn phải cố viết cho hay và viết đúng cái tạng riêng của mình Văn chương cần có sự độc đáo hơn trong bất kỳ lĩnh vực nào khác” Ông nói, và đã làm được như thế Sức sống của các tác phẩm của Nguyễn Tuân - trong đó có các tiểu luận phê bình văn học
- không chỉ “vang bóng một thời” mà là nhiều thời, để lại không ít ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ người đọc Tìm hiểu và nghiên cứu Nguyễn Tuân còn là nhu cầu lâu dài
1.2 Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân, tiểu luận phê bình
là một mảng sáng tác quan trọng Xưa nay người ta biết đến Nguyễn Tuân với tư cách một nhà văn đặc biệt sành sỏi về các thể loại tuỳ bút, truyện, tiểu thuyết… Giờ đây, các áng tiểu luận lại hé lộ thêm một phương diện khác của tài năng Nguyễn Tuân Thế nhưng cho đến nay, mảng văn học rất có ý nghĩa này của ông vẫn chưa được nghiên cứu một cách thật đầy đủ và hệ thống Đi vào nghiên cứu vấn đề này không chỉ có
ý nghĩa đối với riêng việc tìm hiểu Nguyễn Tuân mà còn có ý nghĩa đối với công tác nghiên cứu phê bình văn học nói chung Cũng từ đây, chúng
ta có thể tìm ra những bài học bổ ích cho việc tìm hiểu nghiên cứu phê bình văn học
Là những người sáng tác mà viết tiểu luận phê bình (Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân là những trường hợp tiêu biểu), họ đều
có được lợi thế riêng mà những cây bút khác không dễ gì có được Nguyễn Tuân cũng đã chứng tỏ được điều này trong các trang viết của ông Ở vị thế là một nhà phê bình, Nguyễn Tuân có cơ sở lý luận của ông song cái đặc biệt, sắc nét ở đây là Nguyễn Tuân đã đưa ra những nhận xét độc đáo, bất ngờ mà nghệ sĩ bậc thầy mới làm được (bình về thơ Tú
Xương, Truyện Sêkhốp, Truyện Kiều) Ông có khả năng cảm nhận văn
chương một cách rất cụ thể, sinh động, tạo nên sức hấp dẫn riêng Khó
Trang 3có thể tìm thấy những ý kiến sâu sắc, đầy tri âm tri kỷ - hiểu người, hiểu mình và với một lối viết phóng túng tài hoa nhưng xác thực, chân thành như các bài viết về Tú Xương, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Bùi Xuân Phái… của Nguyễn Tuân
1.3 Nguyễn Tuân không chỉ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn
học dân tộc mà còn có vị trí quan trọng trong chương trình văn học ở các nhà trường, từ phổ thông đến đại học Nghiên cứu tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân không chỉ để hiểu hơn về nhà văn (Nguyễn Tuân) mà còn
để hiểu hơn về những hiện tượng văn học được nhà văn quan tâm, phân tích, luận giải, từ đây có thể vận dụng, tham khảo, giúp cho việc giảng dạy, học tập thơ văn Nguyễn Tuân cũng như nhiều hiện tượng văn học khác (những hiện tượng văn học mà Nguyễn Tuân từng bỏ công khảo sát, nghiên cứu, phê bình nghiêm túc) trong nhà trường được tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Tuân nói chung
Nguyễn Tuân xuất hiện trong lịch sử văn học dân tộc trước hết với
tư cách một nhà văn - một nhà văn tài hoa với những cạnh sắc riêng độc đáo không giống ai
Con người và sáng tác của ông có một sức hút kỳ lạ không chỉ đối với các nhà văn mà còn đối với giới nghiên cứu phê bình Chính vì vậy,
đã có rất nhiều bài của các nhà nghiên cứu, các nhà văn bàn về nội dung
tư tưởng, giá trị nghệ thuật trong các sáng tác của Nguyễn Tuân Các nhà nghiên cứu, nhất là những nhà nghiên cứu có uy tín dường như không muốn trống vắng tên mình trong bảng danh mục nghiên cứu về Nguyễn Tuân, từ Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Phan Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê, Đặng Tiến, Thuỵ Khuê, Văn Tâm… đến Vương Trí Nhàn, Lê Quang Trang, Hà Bình Trị, Hà Văn Đức,… Nhiều ý kiến về sáng tác của Nguyễn Tuân, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ lược nhanh một số ý kiến tiêu biểu
Trang 4Có thể nói Nguyễn Đăng Mạnh là người dành nhiều tâm huyết cho công việc nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Tuân Thực ra, Nguyễn Đăng Mạnh không phải là người đầu tiên và mở lối cho việc nghiên cứu Nguyễn Tuân nhưng lại là người có những công trình nghiên cứu sâu sắc
và khá toàn diện Các bài viết như: Nguyễn Tuân, con người và sự nghiệp; Cảnh sắc và hương vị đất nước qua văn Nguyễn Tuân; Con người Nguyễn Tuân đi đến bút kí chống Mỹ; Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân; Thể tài tùy bút của Nguyễn Tuân; Đọc lại chùa Đàn của Nguyễn Tuân; Tản mạn về Nguyễn Tuân; Lại đọc chữ người tử tù của Nguyễn Tuân; Tờ hoa, một bài văn đẹp… của Nguyễn Đăng Mạnh cung
cấp cho người đọc một cái nhìn bao quát về tác gia Nguyễn Tuân từ thân thế, sự nghiệp, đến quan điểm, tư tưởng nghệ thuật, nghệ thuật ngôn từ khả năng bao quát và làm chủ một số thể loại (nhất là ký - tuỳ bút) của tác giả… Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: “Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ đến một nhà văn của quan điểm duy mỹ, chỉ trọng cái đẹp hình thức không cần nội dung, chủ trương viết văn không khuynh hướng, nghĩa là muốn đặt nghệ thuật lên trên mọi thứ thiện, ác ở đời Quan điểm
ấy thể hiện ngay ở những nhân vật ưa thích nhất của ông trước Cách mạng: những con người tài hoa tài tử, dù tĩnh tại hay xê dịch, đối với cuộc sống, đối với quê hương, đều chỉ như là kẻ ăn tạm, ở nhờ, những con người sinh ra dường như chỉ để ngắm đời, ngoạn cảnh cho giác quan được nô nê thanh sắc, và để trổ tài khoe chữ, chứ không chịu gánh lấy một trách nhiệm xã hội nào Gắn liền với sinh hoạt và tâm tư của những nhân vật ấy, nội dung tác phẩm Nguyễn Tuân nhiều khi thật lông bông, phù phiếm, không có ý nghĩa xã hội gì đáng kể Điều ấy chẳng những thể hiện ở những tác phẩm của Nguyễn Tuân thời cũ, mà còn "rơi rớt"
cả ở một số sáng tác của ông sau này, khi nhà văn đã đi theo cách mạng" [43, 91]
Trang 5Phan Ngọc, Đặng Tiến, Thuỵ Khuê, Vương Trí Nhàn, Phong Lê…, mỗi người từ một góc độ tiếp cận khác nhau, có thể nói là những người có ý kiến sâu sắc về Nguyễn Tuân Nhìn chung các ý kiến đều
đánh giá cao cá tính sáng tạo, bản sắc của cái tôi và tài hoa hơn người
(đặc biệt trong văn tuỳ bút) của Nguyễn Tuân: “Trước sau Nguyễn Tuân sống chết với thể tuỳ bút Một người đọc bình thường cũng dễ dàng cảm thấy rằng những tuỳ bút của ông có một “khí hậu” riêng, ở đó có một giọng điệu bao trùm Trong sự hình thành và cái cách tồn tại riêng của
nó, tuỳ bút in dấu con người Nguyễn Tuân - Nó không phải chỉ là một thứ hình thức thuần tuý mà trở nên một bộ phận của nội dung, tức là đã một phần những thông điệp mà ông gửi tới bạn đọc” [36, 146] Nhiều ý kiến cũng chỉ rõ ảnh hưởng của trào lưu lãng mạn trong văn học lúc bấy giờ (1930 - 1945) đối với con người Nguyễn Tuân, và chính Nguyễn Tuân “một mình một cõi” (chữ dùng của Thụy Khuê) tạo nên một kiểu thức riêng cho văn học lãng mạn 1930 - 1945
Tuy nhiên, trong sáng tác của Nguyễn Tuân giai đoạn này, nhiều
người đều nhận thấy biểu hiện của cái tôi cá nhân cực đoan, thận thấy sự
thất vọng của Nguyễn Tuân trước thực tại… Nguyễn Tuân tìm về quá khứ “vang bóng một thời”, tìm về với những thú chơi tao nhã ngày xưa
mà có khi là cả với những ham muốn điên loạn… Ý thức “đào bới mãi trong cái tôi cô đơn, ích kỷ, mặc kệ cuộc đời, đi mãi vào chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc” (theo cách nói của Phong Lê) [43, 75] đã khiến cho thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân hoàn toàn tách biệt ra ngoài so với cuộc sống của nhân dân Nguyễn trở nên lạc lõng, thế nhưng, đó cũng là
“sự bế tắc nằm trong sự bế tắc chung của nền văn học công khai, dưới ách thống trị của thực dân trong xã hội cũ” [43,75] Sự chuyển biến trong tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân từ sau Cách mạng tháng Tám là điều mà nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy Nguyễn Tuân đã thực sự làm một cuộc “lột xác” Nhãn quan của ông có
Trang 6sự thay đổi, các sáng tác của Nguyễn Tuân mà cụ thể ở đây là thể tuỳ bút
đã có những xúc cảm khác, những cảnh sắc mới lạ
Phan Cự Đệ trong bài viết Nguyễn Tuân - một phong cách nghệ thuật độc đáo và Đọc lại vang bóng một thời của Nguyễn Tuân tập trung
nêu bật phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân thông qua việc phân tích
cái tôi của tác giả qua các thời kỳ Vương Trí Nhàn với những bài viết: Nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân và thể tùy bút… nghiêng về việc đề
cao thể loại tùy bút đối với sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân Các tác
giả Vũ Đức Phúc (Nghệ thuật Nguyễn Tuân), các nhà nghiên cứu Nam Mộc (Nguyễn Tuân và Sông Đà), Văn Tâm (Về truyện ngắn Chữ người
tử tù của Nguyễn Tuân), Ngọc Trai (Nguyễn Tuân với Huế)… cùng với
việc phác họa chân dung nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh tới phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa của ông
Nhiều tác giả khác chú ý Nguyễn Tuân với tư cách là một nghệ sĩ
tài hoa Nguyễn Đình Thi xem Nguyễn Tuân là người đi tìm cái đẹp, cái thật [43, 541], Hà Văn Đức muốn xác định Nguyễn Tuân và cái đẹp [43, 179] Nguyễn Thị Thanh Minh cũng muốn xác định Nguyễn Tuân và cái đẹp [43, 219], Nguyễn Thành cũng với cái nhìn ấy: Nguyễn Tuân, người săn tìm cái đẹp [43, 192]…
Nhìn chung, các bài viết đều đã đề cập một cách khá đầy đủ và sâu sắc những nét tiêu biểu trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân
2.2 Về tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân
Riêng về tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân - một mảng rất quan trọng trong sự nghiệp sáng tác văn học của ông còn rất ít được các nhà phê bình, nghiên cứu văn học đề cập đến Vì sao vậy? Người đọc có quyền đặt ra câu hỏi này Thực ra không phải mảng văn học này của Nguyễn Tuân không có giá trị mà vì sức hút của mảng sáng tác của ông quá lớn
Trang 7Tuy vậy, cũng đã có một số công trình bước đầu đề cập đến vấn đề
này Đó là các bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh: Nguyễn Tuân đọc sách, bình văn, dựng chân dung văn học [38, 99] và đặc biệt là Nguyễn Tuân viết phê bình văn học (Bình giảng trích đoạn bài Thời và thơ Tú Xương
của Nguyễn Tuân) [38, 147] Với bày viết này, Nguyễn Đăng Mạnh đã chỉ ra những phát hiện của Nguyễn Tuân về Tú Xương, bên dưới cái tiếng cười ngông nghênh, kiêu bạc, phá phách, bên dưới những tiếng cười tả thực của thơ Tú Xương là chất trữ tình lãng mạn đằm thắm thiết tha,“những lời trào lộng kiêu bạc chỉ là những hiện tượng da thịt bên ngoài phủ bên một tuỷ cốt chung tình” Nguyễn Tuân đã chứng minh nhận xét của mình bằng những đoạn bình thơ đầy tâm huyết và tài hoa
(đặc biệt là những đoạn bình hai bài Đi hát mất ô và Sông lấp)
Nguyễn Đăng Mạnh tỏ ra rất sắc sảo khi phê bình sự phê bình
cũng rất sắc sảo của Nguyễn Tuân trong Thời và thơ Tú Xương
Tuy nhiên, tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Tuân ngoài
Thời và thơ Tú Xương còn nhiều tiểu luận khác mà chưa được ai bàn
đến
2.3 Năm 2008, chúng tôi đã từng quan tâm đến tiểu luận phê bình
văn học của Nguyễn Tuân, lấy đó làm đối tượng nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp đại học của mình [55] Nhưng do mức độ của một khóa luận tốt nghiệp đại học, không ít vấn đề về tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Tuân, chúng tôi chưa có dịp đi sâu khảo sát Luận văn này của chúng tôi là công trình tiếp theo mang tính chuyên sâu hơn, tập trung tìm hiểu tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Tuân với một cái nhìn
hệ thống và toàn diện hơn
3 Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bài tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Tuân
3.2 Giới hạn của đề tài
Trang 8Đề tài chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các bài tiểu luận, nghiên cứu phê bình về văn học của Nguyễn Tuân Những thể loại khác trong sáng tác của Nguyễn Tuân, chúng tôi chỉ chú ý tham khảo để đối chiếu, từ đó
có cái nhìn đầy đủ hơn về tác gia Nguyễn Tuân chứ không phải là đối tượng để khảo sát
Văn bản tài liệu dùng để khảo sát: văn bản các bài tiểu luận phê
bình văn học của Nguyễn Tuân, chúng tôi dựa vào Tuyển tập Nguyễn Tuân, Nxb Văn học, Hà Nội (2004)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Đưa ra một cái nhìn tổng quát về tiểu luận phê bình trong sự
nghiệp văn học của Nguyễn Tuân, xác định vai trò, vị trí, ý nghĩa của bộ phận này trong văn nghiệp của ông
4.2 Khảo sát, phân tích, xác định những nội dung được bàn đến
trong các bài tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân
4.3 Khảo sát, phân tích, xác định nghệ thuật viết tiểu luận phê
bình của Nguyễn Tuân
Cuối cùng rút ra một số kết luận về tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Tuân
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có các phương pháp chính: phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, cấu trúc -
Trang 9Kết quả của Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc tìm hiểu và dạy - học về tác gia Nguyễn Tuân trong học đường
6.2 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận
văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Tiểu luận phê bình trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân Chương 2: Các hiện tượng văn học qua tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân Chương 3: Nghệ thuật viết tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Tuân
Trang 10Chương 1 TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH TRONG SỰ NGHIỆP VĂN HỌC CỦA NGUYỄN TUÂN
1.1 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân
1.1.1 Nguyễn Tuân - một cá tính, một nhân cách văn hÚA LỚN
Về Nguyễn Tuân, có không ít ý kiến từng xác định rằng, ông là một hiện tượng độc đáo và phức tạp trong văn học Việt Nam Để thấy được điều này, xin nhắc lại VàI NỘT VỀ LAI LỊCH “PHỨC TẠP” CỦA ỤNG NGUYỄN TUÕN QUỜ Ở XÓ NHÕN MỤC, THỤN THượng ĐỠNH, NAY THUỘC PHường Nhân Chính, quận THANH XUÕN, Hà NỘI Ông sinh trưởng trong một gia đỠNH NHà NHO KHI HỎN HỌC đÓ TàN HỌC đến cuối bậc Thành chung, Nguyễn Tuân bị đuổi học vỠ THAM GIA MỘT CUỘC BÓI KHÚA PHẢN đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt NAM (1929) Sau đó ít lâu ông lại bị tù vỠ "XỜ DỊCH" QUA BIỜN GIỚI KHỤNG CÚ GIẤY PHỘP RA TỰ (1929), ông bắt đầu viết báo, viết văn Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 VỚI CỎC TỎC PHẨM TỰY BỲT,
BỲT KÝ CÚ PHONG CỎCH độc đáo như VANG BÚNG MỘT THỜI, Một chuyến đi Năm 1941, NGUYỄN TUÕN LẠI BỊ BẮT
GIAM MỘT LẦN NỮA VỠ GẶP GỠ, TIẾP XỲc với những người hoạt động chính trị Năm 1945, CỎCH MẠNG THỎNG TỎM THàNH CỤNG, NGUYỄN TUÕN NHIỆT TỠNH THAM GIA CỎCH MẠNG Và KHỎNG CHIẾN, TRỞ THàNH MỘT CÕY BỲT TIỜU BIỂU CỦA NỀN Văn học mới Từ 1948 đến 1958, ỤNG GIỮ Chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam Các tác phẩm chính sau
cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút kÝ Sông Đà (1960), MỘT
Trang 11SỐ TẬP KÝ CHỐNG MỸ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm
1987, để lại một sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo và tài hoa Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I)
Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến một cá tính độc đáo, cá tính trong lối sống, cá tính trong tính cách, cá tính trong cách viết, THẬM CHỚ CỎ TỚNH CẢ TRONG ẨM THỰC Ông từng muốn rằng sau khi ông mất, không để lại một bản sao nào ở đời , nghĩa là không muốn giống ai, và cũng không cho phép ai giống mỠNH Í THỨC
CỎ NHÕN, cá tính của con người này quả là hết sức đặc biệt Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng, “NGUYỄN TUÕN viết văn trước hết
để khẳng định cá tính độc đáo của mỠNH, TỰ GỎN CHO MỠNH MỘT CHỨNG BỆNH GỌI Là "CHỦ NGHĨA XỜ DỊCH", THỚCH LỐI SỐNG TỰ DO PHÚNG TỲNG là rất có cơ sở LỐI SỐNG CỦA ỤNG DĨ NHIỜN Là không phù hợp với chế độ thuộc địa (ông
đÓ HAI LẦN BỊ TỰ VỠ CỎI VỤ LÝ CỦA CHẾ độ thuộc địa)
Cá tính ấy là độc đáo, có Ý NGHĨA, NHẤT Là CỎ TỚNH CỦA MỘT CON NGười RẤT MỰC TàI HOA ỄNG AM hiểu nhiều môn nghệ thuật khác (văn học, hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, lịch sử, địa lý ) NGUYỄN TUÕN TỪNG là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương
Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quÝ TRỌNG THẬT SỰ NGHỀ NGHIỆP CỦA MỠNH Đối với ông, nghệ thuật là một hỠNH THỎI LAO động nghiêm túc, thậm chí "khổ hạnh" và ông đÓ LẤY CHỚNH CUỘC đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mỠNH để chứng minh cho quan niệm ấy
Trang 12NGUYỄN TUÕN là người có lŨNG TỰ TỤN DÕN TỘC SÕU SẮC, LŨNG YỜU Nước thiết tha, yêu nước theo kiểu Nguyễn Tuân (yêu những giá trị văN HÚA CỔ TRUYỀN CỦA DÕN TỘC, YỜU THA THIẾT TIẾNG VIỆT, YỜU THA THIẾT những kiệt tác văn chương của NGUYỄN DU, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Tản
Đà, NGỤ TẤT TỐ, THẠCH LAM ; YỜU THA THIẾT những nhạc điệu DÕN TỘC (LỐI HỎT CA TRỰ, GIỌNG HŨ QUẢNG TRỊ, DÕN CA QUAN HỌ BẮC NINH, ); YỜU THA THIẾT TỪNG TẤC đất của tổ quốc, từng con đường, từng hàng cây khắp mọi miền đất nước Nguyễn Tuân thực sự là một nhân cách văn hóa lớn
1.1.2 NGUYỄn Tuân - nhà văn TàI HOA VỚI MỘT SỰ NGHIỆP SỎNG TỎC PHONG PHỲ
Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ Trước hết, với tư cách nhà văn, ông đã sáng tác bằng khá nhiều thể loại khác nhau: Truyện, tiểu thuyết và đặc biệt là ký với nhiều thể: phóng sự, tuỳ bút… Ở thể loại nào ông cũng có những tác phẩm nổi tiếng
Về truyện, có thể kể đến các tác phẩm: Một vụ bắt rượu lậu (Đông Dương tạp chí, số 29 ngày 27/11/1937); Vang bóng một thời (đăng báo từ 1939, Tân Dân, Hà Nội, xuất bản 1940); Xác ngọc lam (đăng tạp chí Thanh Nghị, 1943); Vô đề (sau đổi lại là Lột xác, Tạp chí Văn mới 1945); Nguyễn (Thời đại, Hà Nội, 1945); Chùa Đàn (Quốc Văn, Hà Nội, 1946); Thắng càn (Văn nghệ, 1953); Truyện một cái thuyền đất (sách Kim Đồng, 1958)
Về tiểu thuyết, Nguyễn Tuân có: Thiếu quê hương (đăng báo từ
1940; Anh Hoa, Hà Nội xuất bản 1943) Cuốn tiểu thuyết cho thấy cái nhìn rất hiện đại của Nguyễn Tuân về con người hiện đại qua nhân vật Bạch - sự hoá thân của cái tôi tác giả
Đặc biệt là về ký với thể tuỳ bút Thể loại mà Nguyễn Tuân đã lựa chọn ngay từ lúc khởi đầu sự nghiệp sáng tác cho đến cuối cuộc
Trang 13đời đã khẳng định một hướng lựa chọn đúng đắn của ông Có thể gọi
Nguyễn Tuân là nhà tuỳ bút với nhiều tập tuỳ bút đặc sắc: Một chuyến đi (du ký, đăng báo từ 1938, Tân Dân, Hà Nội, xuất bản 1941); Chiếc lư đồng mắt cua (Hàn Thuyên, Hà Nội, 1941); Tóc chị Hoài (Lượm lúa vàng, Hà Nội, 1943); Tùy bút I (Cộng lực, Hà Nội 1941); Tùy bút II (Lượm lúa vàng, Hà Nội, 1943); Đường vui (Hội văn nghệ Việt Nam, 1949); Tình chiến dịch (Hội văn nghệ Việt Nam, 1950); Bút ký đi thăm Trung Hoa (Văn nghệ, Hà Nội 1955); Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I, Văn nghệ, Hà Nội, 1955); Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập II, Văn nghệ, Hà Nội, 1956); Sông Đà (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1960); Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (Ký, Hội văn nghệ, Hà Nội 1972); Ký (Nhà xuất bản văn học, Hà Nội 1976); Chuyện nghề (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội 1986); Cảnh sắc và hương vị đất nước (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội
1988)
Nói đến Nguyễn Tuân thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, không ít người cho rằng Nguyễn Tuân là con người ngông nghênh, kiêu bạc, con người của chủ nghĩa duy mỹ , “chỉ trọng cái đẹp hình thức không cần nội dung, chủ trương viết văn không khuynh hướng, nghĩa là muốn đặt nghệ thuật lên trên mọi thứ thiện, ác ở đời Quan điểm ấy thể hiện ngay ở nhân vật ưa thích nhất của ông trước Cách mạng: những con người tài hoa tài tử, dù tĩnh tại hay xê dịch, đối với cuộc sống, đối với quê hương đều chỉ như là những kẻ tạm bợ, ở nhờ, những con người sinh ra dường như chỉ để ngắm đời, ngoạn cảnh cho cảm giác được no nê thanh sắc, và để trổ tài khoe chữ, chứ không chịu gánh lấy một trách nhiệm xã hội nào Gắn liền với sinh hoạt và tâm tư của những nhân vật ấy, nội dung tác phẩm Nguyễn Tuân nhiều khi có vẻ lông bông, phù phiếm, không có ý nghĩa xã hội gì đáng kể”
Trang 14[38, 14] Ý kiến này là có sơ sở Nhưng có lẽ cần khảo sát và xác định kỹ hơn cái gọi là duy mỹ của Nguyễn Tuân
Tác phẩm của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ
yếu xoay quanh ba đề tài: “Chủ nghĩa giang hồ xê dịch”, vẻ đẹp
“Vang bóng một thời” và đời sống trụy lạc
Nguyễn Tuân nhiều lần tuyên bố về sự đi (xê dịch) của mỡnh ễng xỏc định: ''Đi để viết Chỉ có đời sống rộng rói mới dạy cho người ta viết được những câu rộng rói'', ''Viết văn để yêu cuộc sống, để tỡm nhõn loại,
để tỡm mỡnh trong nhõn loại, để thấy được nhõn loại trong mỡnh, cỏi
phũng làm việc của người ấy nằm ngay giữa cuộc đời'' (Tuỳ bỳt II) Việc
đi hay xê dịch đối với Nguyễn Tuân có thể nói đó được đẩy lên thành
một thứ chủ nghĩa "Chủ nghĩa xê dịch" vốn là một lí thuyết vay mượn
của phương Tây, chủ trương đi không mục đích, đi để thay đổi chỗ ở, để tỡm cảm giỏc mới lạ và thoỏt li mọi trỏch nhiệm với gia đỡnh và xó hội Nguyễn Tuõn đó tỡm đến lí thuyết này trong tâm trạng bất món và bất lực trước thời cuộc Luôn luôn thèm khát những cảm giác mới lạ Đấy là
"một nguồn sống bồng bột tắc lối thoát" Là người ham mê thanh sắc, thích đi tỡm những cảm giỏc lạ, khao khỏt cỏi đẹp, nhiều lúc Nguyễn Tuân bị cuốn hút vào và xem nó như là một lý tưởng thẩm mỹ của mỡnh, một lý tưởng thẩm mỹ được xây dựng trên “nghệ thuật vị nghệ thuật” Viết về “chủ nghĩa giang hồ xê dịch” Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và hương vị của đất nước
mà ông đã ghi lại được bằng ngòi bút tài hoa
Những bài viết của Nguyễn Tuân về đề tài “xê dịch” như Cửa Đại, Chiếc va ly mới, Thèm đi, Lại đi nữa, Những ngày Thanh Hóa… thậm chí ông đã viết riêng một cuốn tiểu thuyết về đề tài này (Thiếu quê hương) chứng tỏ khả năng, sự hiểu biết phong phú của ông
Thiếu quê hương viết về một nhân vật mắc bệnh xê dịch, luôn
luôn thèm khát được đi Cái đặc biệt ở đây là đi không mục đích hay
Trang 15nói cách khác mục đích chính là cái sự đi, đi để “thay thực đơn cho giác quan”, để thoát khỏi mọi trách nhiệm đối với gia đình, xã hội, đất nước, quê hương…
Trong Thiếu quê hương chúng ta thấy ở anh chàng Bạch - nhân
vật chính của truyện chứa đựng sự mâu thuẫn Anh chàng có cái thú
đi đây đi đó nhưng nhiều lúc anh lại gào lên “đi để mà đau khổ cả lúc
đi lẫn lúc nghỉ…” Tâm trạng bế tắc của Bạch chính là sự phản ánh những mâu thuẫn, bế tắc trong tư tưởng của Nguyễn Tuân thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945 Một con người yêu quê hương tha thiết, muốn gắn bó với quê hương lại luôn luôn cảm thấy thiếu quê hương bởi phải chứng kiến sự tù túng, nghẹt thở của nó dưới chế độ thực dân phong kiến mà bản thân ông cảm thấy bất lực không khả
năng chống trả Thiếu quê hương mang tính hiện đại sâu sắc, có sức
lôi cuốn đặc biệt đối với những tâm hồn phiêu lưu Tuy vậy, như Nguyễn Đăng Mạnh đã xác định, “do tác giả đã xê dịch thực sự trước khi viết về xê dịch, và trên đường giang hồ lãng tử từ Nam ra Bắc, đã sống thật sự, sống kỹ lưỡng với từng phong cảnh mình đã đi qua, nên
Thiếu quê hương (cũng như những du ký khác của Nguyễn Tuân) đã
ghi lại nhiều bức tranh chân thực, sinh động về quê hương, đất nước mình Nguyễn Tuân không chỉ cảm hứng trước những gì nhẹ nhàng thi vị Ngòi bút ấy thường bị kích động dữ dội trước những cảnh vật
gây cảm giác mãnh liệt Bởi vậy, Thiếu quê hương đã để lại những
bức họa có giá trị hiện thực về vùng mỏ Vàng Danh, Uông Bí, Điền Công, những “thành phố đen”, những “cảnh tang tóc kéo dài bất phân
mộ dạ”, ở đó thực dân Pháp đã đày đoạ bao kiếp thợ mỏ vào cuộc sống lao động khổ sai, vào những túp lều giống như “những cái mồ sống, những ngôi mả nghèo xấu tẻ ngắt không có bia” để rút hết xương tuỷ họ [38, 33]
Trang 16Không tin tưởng ở hiện tại, vô vọng trước tương lai, Nguyễn
Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn Vang bóng một thời Ấy là thời
phong kiến đã qua nhưng dư âm còn vang vọng lại mãi Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới
sự toàn thiện, toàn mỹ đó là tập Vang bóng một thời”, cũng theo ông
“Đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân có cảm tưởng gần giống như những cảm tưởng trong khi ngắm một bức họa cổ” Bởi vì Nguyễn Tuân đã làm công việc của một người đi khơi lại đống tro tàn của dĩ vãng Cái dĩ vãng đầy “những nét rầu rầu, những màu xám xám đã gợi lên trong lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc
về một “thời vàng son” đã qua, hướng người ta muốn quay về quá khứ” Mười hai truyện trong tập truyện Vang bóng một thời là mười
hai cảnh sống khác nhau nhưng đều nói về vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ của lớp quan lại, nhà nho đã thất thế lúc bấy giờ Đó là những ông Phủ, ông Nghè, ông Thượng, ông Ấm… không còn hám danh lợi mà chỉ ưa cuộc sống nhàn hạ, thích hưởng thụ những lạc thú ở đời Một cụ Ấm thích uống trà trong sương sớm và pha trà với thứ nước đậu trên lá sen Một “cụ Kép nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý” [33, 76] Một gia đình cụ Án sa sút, cô Tú, cậu Chiêu phải vất vả nuôi nhau trong cảnh túng thiếu Một viên tướng Cờ Đen “oai phong lẫm liệt” một thời, nay thất thế trở về làm thầy địa lý Bên cạnh đó còn có một loại nhân vật lãng tử giang hồ cũng được tác giả gửi gắm vào đó nhiều nỗi niềm tiếc nuối
Đó là ông Phó sứ Lăng và cô Mộng Liên, một đôi vợ chồng tài tử mà
“mỗi tuần trăng cặp tài tử này ở một tỉnh” và đôi này “đã để dấu giầy trên mọi chốn và tha bê đi khắp nơi cái túi thơ”, để rồi cuối cùng người chồng đã chết ở chân Đèo Ngang trên con đường giang hồ, xê
Trang 17dịch của mình Ông Cử Hai cũng là người có tâm hồn lãng tử, ông
“sống cuộc đời mình như người ta chơi chơi vậy thôi Người ấy thật
là một con người không có lấy một giây phút trịnh trọng đối với nhân sinh Ông sinh ra để mà đùa với cuộc sống…” [33, 109] Ông Phó sứ, Ông Cử Hai ở đây phải chăng là hiện thân của anh chàng Nguyễn đang bất mãn trước thời cuộc nên đã tìm lối thoát trong cái thú giang
hồ, xê dịch?
Là một nhà văn luôn “đi tìm cái đẹp, cái thật” trong cuộc đời nên đôi lúc Nguyễn Tuân dường như quên đi phần nào đó của cái hiện thực mang ý nghĩa xã hội ở trong đó mà ông chỉ quan tâm đến cái đẹp mang tính hình thức Ông ca ngợi cái đẹp của nghệ thuật
“chém treo nghành” (Bữa rượu máu), cái đẹp của nghệ thuật “ném bút chì” (Một đám bất đắc chí) hay cái đẹp của những dòng chữ của một người tử tù (Chữ người tử tù)…
Tất nhiên ẩn đằng sau những cái đẹp lạnh lùng, tàn bạo đó ta vẫn thấy được chút hiện thực và ý nghĩa tích cực của việc phản ánh
những hình tượng đó (Chữ người tử tù, Bữa rượu máu) Có thể nói Vang bóng một thời và Chiếc lư đồng mắt cua là hai tác phẩm đã đạt
đến độ chín về nghệ thuật trong những sáng tác ra đời trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân
Nếu như Vang bóng một thời gợi lên trong lòng người đọc một niềm tiếc nuối về dĩ vãng thì Chiếc lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc, Tàn đèn dầu lạc lại đưa người đọc trở về với đời sống hiện tại
trong khung cảnh của những nhà chứa, xóm hút, tiệm hút, tiệm rượu
Thực ra, không phải chỉ có Nguyễn Tuân viết đề tài truỵ lạc
nhưng ngòi bút của ông luôn có những nét riêng Chiếc lư đồng mắt cua chính là “lời tự thú”, là “thiên sám hối” của một thanh niên khinh
bạc và sa ngã vì đã sống không lý tưởng” (Vũ Ngọc Phan)
Trang 18Chiếc lư đồng mắt cua chính là tâm trạng khủng hoảng đến cực
độ của một thanh niên trí thức bất mãn với xã hội, muốn thoát ra khỏi cái không khí ngột ngạt đó nhưng không thể Đó là lý do anh ta lao vào hành lạc để tiêu sầu
Bên cạnh đó, người đọc lại bắt gặp những trang viết rất sắc nét của Nguyễn Tuân khi ông dùng ngòi bút của mình để trả thù xã hội Giọng khinh bạc của Nguyễn Tuân nay lại có dịp để ném vào cuộc đời đen bạc, một cuộc đời đã làm cho ông luôn cảm thấy “hiu quạnh”, “cô đơn” Thông qua những nhân vật tiêu biểu - những con người tài hoa tài tử như ông Thông Nhu và cô Đào Tâm, tác giả muốn nói đến cái ngông ngênh kiêu ngạo của họ, dù cho cuộc sống trụy lạc,
bê tha của họ đã bị xã hội khinh bỉ
“Chiếc lư đồng mắt cua được viết nhiều giọng điệu khác nhau
mà bao giờ cũng thoải mái tự do Giọng kiêu bạc ngạo đời hoặc mỉa mai chua chát ném vào thế thái nhân tình, giọng buồn thảm thê lương như hạm sâu vào chỗ sâu kín nhất của tâm hồn cô độc, giọng tự trào
ẫm ờ, nửa trịnh trọng, nửa đùa cợt, giọng trữ tình cổ kính như đưa người đọc vào thế giới cổ thi, cổ tích,… Nghệ thuật tả tình, tả cảnh,
vẽ chân dung, dựng đối thoại… nói chung đều già dặn
Tóm lại, về mặt hình thức nghệ thuật, Chiếc lư đồng mắt cua, Vang bóng một thời có thể xem như độ chín của ngòi bút Nguyễn
Tuân trước Cách mạng tháng Tám” [38, 39]
Trước khi đến với cách mạng, một chân dung khá toàn diện về
con người Nguyễn Tuân được bộc lộ rõ bởi những tác phẩm: Tóc chị Hoài, Yêu ngân, Xác ngọc lam…
Là người thích đi tìm những cảm giác mới lạ, Nguyễn Tuân ca ngợi cái đẹp lãng mạn của mái tóc một người đàn bà và cho rằng “Cái người nào trong suốt một đời người mà không được ngắm một mớ tóc cho tử tế thì cái thẩm mỹ quan của người ấy còn lung lay lắm”…
Trang 19Trước Cách mạng tháng Tám, các sáng tác của Nguyễn Tuân bên cạnh cái tài hoa của phong cách nghệ thuật thì cũng còn có những hạn chế ở phần nội dung tư tưởng Nguyễn Tuân đã để cho cái
tôi cá nhân cực đoan chi phối đến sáng tác của mình Đó là hạn chế
lớn nhất của ông Vì muốn thỏa mãn cảm giác mà nhiều lúc Nguyễn Tuân đã coi việc đi tìm cái đẹp hình thức là mục đích và lý tưởng sống Bên cạnh đó, bản chất tiểu tư sản yếu đuối khiến cho ông không dám công khai chống lại chế độ thực dân phong kiến Phần lớn sáng tác của Nguyễn Tuân thời kỳ này đã bộc lộ những phản ứng tiêu cực của ông đối với xã hội, hoặc là đi tìm lại những vẻ đẹp trong quá vãng để rồi lại ngậm ngùi, nuối tiếc hoặc là buông thả mình trong cuộc sống bê tha trụy lạc… “Cái tôi Nguyễn Tuân về căn bản là cái tôi cá nhân chủ nghĩa đối lập với xã hội Hồi ấy, sống hay viết, đối với ông nhiều khi chỉ là để tìm mình, để thực hiện cái cá nhân mình cho đến kỳ cùng Thế giới khách quan không đáng kể, giá trị của ngòi bút là ở bản ngã người nghệ sĩ có độc đáo hay không Nguyễn Tuân từng tự vẽ mình như một con người cô độc mà kiêu ngạo: “Rồi tôi vẫn vênh váo đi giữa cuộc đời như một viên khách không có quê hương nhất định, cái gì cũng ngờ hết, duy chỉ có tin chắc ở cái kho
cái vốn tình cảm và cảm giác của mình” (Tóc chị Hoài) Quan điểm
nghệ thuật ấy dĩ nhiên đã tác động tiêu cực đến sáng tác của Nguyễn Tuân Nó hạ thấp giá trị nhận thức của nhiều tác phẩm của ông về thế giới khách quan Vả lại cái tôi tách rời hiện thực, cứ rút sâu mãi vào bên trong đến lúc nào đấy sẽ trở nên trống rỗng, vô nghĩa Chính con người kiêu ngạo ấy nhiều khi tự mình lại chán mình là vì thế [38, 17-18]
Cách mạng tháng Tám đã đổi đời Nguyễn Tuân Ông thấy “cái
có thật bây giờ đẹp, và cái đẹp bây giờ có thật trong cuộc đời”
Trang 20(Nguyễn Đình Thi) Cách mạng đã giúp cho Nguyễn Tuân thoát khỏi
bế tắc trong cuộc sống cũng như trong sáng tác văn học nghệ thuật
Những ngày đầu đến với Cách mạng, Nguyễn Tuân “mê say với ánh sáng trắng vừa được giải phóng, tôi đã là một dạ lữ khách không mỏi, quên ngủ của một đêm phong hội mới… Lòng khỏe, chưa
đủ Thân hình cũng phải khỏe nữa Tôi liền đi cạo râu Tình cờ gặp lại anh bạn cũng vừa đi cạo phẳng bộ râu quai nón xanh rậm mọi ngày Chúng tôi đã ôm lấy nhau mà mừng ra nước mắt như hai con bệnh già mới uống liều thuốc cải lão hoàn đồng” [34, 38-39]
Lột xác gần như là một tuyên ngôn của Nguyễn Tuân trước
cuộc đổi đời lớn lao của đất nước và của chính bản thân ông Trước
đây, Nguyễn chỉ quan tâm đến cái tôi cá nhân của mình, còn bây giờ
thì “nội tâm ở chàng không chú trọng bằng ngoại cảnh ở quanh chàng” Nguyễn thấy lạc quan, yêu cuộc đời, yêu tất cả những gì giản
dị nhất trong đời sống này: Đám khói, đống rác, bóng là in nhoè ở hồi tường “Nguyễn đã vứt hết lòng kiêu căng cố hữu của mình Đối với
sự sống, Nguyễn trở nên khiêm tốn và muốn có ngay một thái độ khuất phục để nêu rõ sự phục thiện của mình” “Bây giờ Nguyễn thuộc giá lên xuống của hạt gạo và để ý đến quanh chàng nhiều lắm Ngày trước chỉ chuyên đọc thơ, giờ chàng nghiện nhật trình, thiết tha đến những con đê, lo cho đê, lo cho ruộng bên đê, lo cho mùa màng Mực nước sông Nhị Hà, chàng thuộc như một nhân viên ứng thủy” [44, 320]
Cách mạng đã làm sống dậy ở Nguyễn Tuân niềm tin yêu đối với cuộc sống, đối với con người, “một tiếng chó sủa khách, một câu
ru con láng giềng, một tiếng coong coong xe ngựa đài tải trong sương chiều Đời sống thật là muôn vẻ… Nguyễn thấy cái gì cũng là thú vị
cả, miễn là nó ở quanh mình, nó ở trong cuộc đời mà ta nhìn được, nghe được, sờ mó được” [44, 321] Tư tưởng muốn thoát ly hiện
Trang 21thực, xa rời cuộc sống không còn tồn tại trong quan niệm của Nguyễn Tuân Quyết tâm đoạn tuyệt với quá khứ, Nguyễn Tuân cảm thấy mình được “lột xác” và “đang lúng túng vỗ đôi cánh non vào một bản đàn mới của thời đại”
Cũng như Lột xác, Chùa Đàn nằm trong mạch văn “hồi sinh tư
tưởng” của nhà văn Nguyễn Tuân ở những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám
Hoàng Như Mai cho rằng: “Chùa Đàn ấy là tất cả nhà văn
Nguyễn Tuân, một Nguyễn Tuân toàn vẹn, tinh hoa, tư tưởng, tài hoa văn chương” “Tác phẩm kể chuyện một con bệnh nặng của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hưởng lạc, đã tự cải tạo để trở thành một nhà cách mạng Người đọc cảm thấy có một sự vá víu khiên cưỡng Tác giả lấy những trang “yêu ngôn” thật sự đem chắp đầu, chắp đuôi với những lý thuyết ồn ào về văn nghệ phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân Điều đó nói rằng, ở một nghệ sĩ bước đầu đi theo cách mạng, sự chuyển biến ít nhiều về nhận thức chính trị, sự giác ngộ ít nhiều về lý thuyết cách mạng, chưa nói gì đáng kể về sự thay đổi của tư duy nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ” [38, 45]
Có thể xem Chùa Đàn là tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân về
phần “tài hoa văn chương” Chỉ có một tâm hồn nghệ sĩ đầy tài năng như Nguyễn Tuân mới có thể viết nên những áng văn hay đến vậy
Đoạn văn hay nhất từng được biết đến trong Chùa Đàn là đoạn tả Bá
Nhỡ đánh đàn, cô Tơ hát và Lãnh út cầm chầu Nguyễn Tuân bằng ngòi bút tài hoa của mình đã đưa người đọc vào thế giới linh thiêng của nghệ thuật, vào một cái đẹp vĩnh hằng không thể thiếu được trong cuộc đời
Nguyễn Tuân là một nhà văn đến với Cách mạng khá sớm, có
thể nói là ngay từ ngững ngày đầu tiên, nhưng từ Lột xác đến Chùa Đàn, sự quyết tâm từ bỏ con người cũ, cuộc sống cũ dường như đều
Trang 22chỉ mới được thể hiện ở mặt lý thuyết Trên thực tế Nguyễn Tuân chưa hẳn đoạn tuyệt với nó
Ở Đường vui, một thiên tùy bút được coi là sự chuyển biến thật
sự của ngòi bút Nguyễn Tuân sau Cách mạng thì người đọc vẫn thấy một Nguyễn Tuân ham “xê dịch”: “Đi bao giờ cũng vui, chỉ những lúc ngừng nói mới là hết thú” “Vui biết bao nhiêu khi mình dừng bước vào một buổi sớm phiên chợ Người, hơi người, tiếng người, cứ đông người là đủ thích rồi No mắt, no tai, no ngón tay…” Âm hưởng chung, hơi văn, mạch văn chung của các bài viết thật cảm động Người đọc thấy được niềm vui, niềm tin phơi phới, một tình cảm thắm thiết, chân thành đối với đất nước, quê hương, với không khí náo nức của cách mạng và kháng chiến Không như trước Cách mạng, Nguyễn Tuân chỉ đi một mình lang thang cô độc Giờ đây, Nguyễn đi cùng với nhân dân, với bộ đội, và Nguyễn đã nhận ra “sức
mạnh của đất nước luôn luôn hiện hình trên từng tấc gang đường xa” Đường vui là bài ca của một con người mang tâm trạng tươi vui, tin
tưởng đi vào cuộc kháng chiến: “Bạn ơi ta lên dốc cho chắc bước cho đều bước, ta xuống bước cho ròn cho dẻo Rừng mai, rừng trúc chậm lại
mà thấm lấy phong quang của cảnh sắc quê hương Chỗ nào là núi đất rừng nứa, ta nhanh bước lên muỗi vắt nhiều lắm đấy Suối trong mời ta tắm và giặt phơi luôn quần áo trên những tảng đá của tranh thủy mặc Tàu Rồi vừa đi vừa phơi luôn quần áo trên lưng mình, trên đầu mình, ta hãy dừng một phút mà mặc niệm người thợ giặt cũ…” [44, 385 - 386]
“Cần nhớ rằng, Đường vui được viết trong thời kỳ mà nhiều
nghệ sĩ lớp cũ, tuy vác ba lô đi theo kháng chiến mà tâm hồn vẫn muốn nghoảnh lại với thứ nghệ thuật “thuần tuý”, “cao siêu” ngày trước Họ còn phân vân không hiểu có cần và có thể thống nhất con người nghệ sĩ với con người công dân, con người sáng tác với con
người công tác được không? Vì thế, Đường vui của Nguyễn Tuân nếu
Trang 23như còn có những “rơi rớt” của chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa duy
mỹ thì cũng là một hiện tượng rất dễ hiểu Hồi ấy, người đọc thường nói đến những hình ảnh “nổi tiếng” của ông về trái tim anh dân quân
bị giết giống như củ thuỷ tiên nẫu, và vết máu trên thi thể một cô gái
bị hãm hại giống như là bông hồng” [38, 47]
Tiếp nối âm hưởng sục sôi của cuộc kháng chiến được bắt đầu
từ Đường vui là tùy bút Tình chiến dịch Ở Tình chiến dịch ta bắt gặp
một Nguyễn Tuân thực sự tâm huyết và có sự đồng cảm với nhân dân
và bộ đội trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ chống thực dân Pháp
Khác với Đường vui chỉ là đi thăm bộ đội ở các mặt trận, đi
thăm đồng bào vùng địch chiếm, hoặc đi xem thử súng Ba - dô - ca…
Tình chiến dịch là hành quân thực sự với bộ đội: cùng ăn cơm từ ba,
bốn giờ sáng không cần súc miệng, cùng trèo đèo vượt núi, bám theo hơi thở người đi trước mà bước; cùng làm công tác chính trị, dân vận, đốt đuốc, lội suối đi khai hội với đồng bào, hát đồng ca với học sinh; cũng theo bộ đội đi công đồn, nằm sát đồn giặc chờ phút khai hoả
“gối đầu ngủ ngay bên một đàn kiến càng”, cũng theo các chiến sĩ vào đồn giặc vừa san phẳng, chào cờ ngay giữa trại giặc còn hầm hập lửa đạn…
Ngòi bút của ông mang đầy trách nhiệm và tình người, chứng
tỏ sự thay đổi về sự nhận thức rất quan trọng trong tư tưởng của Nguyễn Tuân Nhà văn đã thực sự sống trong lòng quần chúng, cảm nhận và chia sẻ được niềm vui cũng như nỗi đau, sự mất mát của họ
để rồi: “nhiều đồng bào đã nhớ tên tôi và cả người tôi đã thấm sâu vào cảnh và người mộc mạc đáng yêu nhất vùng này”
Sông Đà là kết quả của cuộc đấu tranh tư tưởng và chuyến đi
Tây Bắc của Nguyễn Tuân Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, thiên nhiên và con người Tây Bắc hiện lên với vẻ đẹp rực rỡ muôn sắc màu, rất nên thơ mà cũng đầy gợi cảm: “Con sông Đà tuôn dài tuôn
Trang 24dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” [44, 596] Dòng sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả bằng những đoạn văn giàu nhạc điệu và thấm đẫm chất trữ tình: “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lý, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm… Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” [44, 597]
Còn rất nhiều những trang viết đầy âm sắc được Nguyễn Tuân khắc họa nên khi nói về vẻ đẹp của con sông Đà cái tạo nên phong cách mới trong con người Nguyễn Tuân chính là vẻ đẹp thiên nhiên
ấy đã được gắn kết với vẻ đẹp trong tâm hồn con người Nguyễn Tuân gọi đó là chất vàng mười của tâm hồn con người Việt Bắc Tác giả ngược dòng lịch sử tìm kiếm nó ở những người chiến sĩ cách mạng kiên cường… Ông trở về hiện tại, tìm đến những người đi mở đường suốt ngày suốt đêm, nắng cũng như mưa không bao giờ để kỷ lục nằm quá 24 tiếng”, những chiến sĩ biên phòng Tây Trang sống heo hút trong nắng thiêu, trong gió Lào, những người dân công Tây Bắc dũng cảm vượt thác sông Đà để vận tải hàng mậu dịch, những đồng chí bộ đội từng chiến đấu để giải phóng Điện Biên, nay lại tự nguyện đem cả gia đình lên Điện Biên lập nghiệp, những cán bộ địa chất đi tìm quặng mỏ…
Lòng yêu say mê cuộc sống mới là nguồn động lực giúp cho Nguyễn Tuân đi nhiều và viết nhiều Không chỉ dừng lại ở vùng Tây Bắc, Nguyễn Tuân đến tận Hoàng Liên Sơn, lên “Mỏm Lũng Cú tột Bắc”, ra thăm đảo “Cô Tô”, về bãi biển Cửa Tùng, về thăm đất lửa Quảng Trị, Huế, Sài Gòn…
Trang 25Trong những ngày Hà Nội đánh Mỹ, Nguyễn Tuân cũng đã viết
tập ký Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi nói về ý chí, lòng quả cảm của bộ đội,
nhân dân thủ đô đồng thời vạch trần bộ mặt bỉ ổi, đê tiện của bọn Đế
quốc Qua Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, Nguyễn Tuân mang đến cho
người đọc một lượng thông tin đầy đủ chi tiết sống động không chỉ
về lịch sử, truyền thống, cảnh quan của đất Hà Nội, và nếp sống, tâm hồn tính cách, phong thái… người Hà Nội, mà còn cho người đọc hiểu thêm về "tính cách Mỹ" Ở đây tất cả những nét "yêng hùng", "sĩ diện Hoa Kỳ" và "ngu Mỹ", "ác Mỹ" đều hiện nguyên hình dưới ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Tuân
Phải là một con người có sự hiểu biết thấu đáo và mang một tấm lòng yêu tha thiết Hà Nội, Nguyễn Tuân mới có được những trang viết đặc sắc như vậy về người Hà Nội đánh Mỹ Người Hà Nội mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu song vẫn giữ được nét hào hoa,
"tài tử" của mình Trong bom rơi, đạn nổ, phong thái người Hà Nội vẫn ung dung, tự tại, đầy lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của chính nghĩa
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân - có thể nói như Nguyễn Đăng Mạnh - luôn thể hiện mình là một nghệ sĩ ngông nghênh, kiêu bạc với đời Thể hiện phong cách này mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa và uyên bác, mỗi nhân vật
dù thuộc loại người nào cũng đều phải là những nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hóa mỹ thuật
Sau cách mạng, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng Ông vẫn tiếp cận thế giới thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, tiếp cận con người thiên về phương diện tài hoa nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông không đối lập xưa với nay mà tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ ở những tính cách phi thường mà ở cả nhân
Trang 26dân đại chúng: ở anh bộ đội, chị dân quân, ở ông lái đò sông Đà…
“Nói đến Nguyễn Tuân, một mặt, người ta nghĩ ngay đến một cây bút nổi bật của xu hướng văn học lãng mạn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, với đủ thứ tật bệnh “điển hình” Nhưng mặt khác, Nguyễn Tuân lại ở trong số nhà văn thành tâm, hào hứng chào đón cách mạng và đi theo cách mạng đến cùng, ngay từ giờ phút đầu đã sáng tác ngợi ca cuộc sống mới và phục vụ kháng chiến, vừa đi, vừa viết, vừa tự đổi mới, tự bồi dưỡng để vươn lên, vươn đến đâu, viết liền đến đấy, không ngừng không nghỉ, liên tục cho đến khi từ giã cõi đời Nhớ lại những bạn bè “cùng một lứa bên trời lân đận” với ông thuở nào, không kể những người bị đời sống cách mạng đào thải, dễ mấy ai đã bền bỉ dẻo dai được như ông, hơn nữa, đã như ông, theo kịp để bắt được, hoà được vào cái tươi mới, trẻ tráng của văn học Việt Nam hiện đại?” [38, 80]
Nguyễn Tuân không phải ở ngay từ những tác phẩm đầu tay đã đạt đến sự thành công Cũng như một số nhà văn khác, ông đã thử bút qua nhiều thể loại như thơ, bút ký, truyện ngắn hiện thực trào phúng… Thế nhưng tạo nên tên tuổi của nhà văn lớn Nguyễn Tuân chính là thể loại tùy bút Với một tâm hồn nghệ sĩ phóng túng như Nguyễn Tuân thì tuỳ bút là thể loại thích hợp nhất Ông được mệnh danh là nhà tuỳ bút với những tác phẩm còn mãi dư âm với người
đọc: Đường vui, Tình chiến dịch, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi…
cái dư âm đó của tất cả những gì mà Nguyễn Tuân mang đến qua các thiên tuỳ bút sẽ còn đọng lại mãi bởi chất thời sự nóng hổi của nó
Gắn bó sâu sắc và thuỷ chung với thể loại tuỳ bút, Nguyễn Tuân đã tạo dựng được cho mình một vị thế riêng, không bị lẫn với bất cứ cây bút nào khác trên văn đàn Việt Nam hiện đại
Sự nghiệp văn chương cũng như tính cách của Nguyễn Tuân đã được Nguyễn Đình Thi đánh giá rất cao: “Nguyễn Tuân là một trong
Trang 27mấy nhà văn lớn mở đường và đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỷ
XX Cùng với những bạn cùng thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân đã đặt viên đá riêng vào cái nền và mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta, và viên đá của Nguyễn Tuân là một hòn đá tảng, mà tôi tin là sẽ chắc bền trong thời gian”
Nguyễn Minh Châu có một nhận xét rất xác đáng: “Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa rất chuẩn về người nghệ sĩ chân chính”
1.2 Tiểu luận phê bình trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân
1.2.1 Hiện tượng các nhà văn viết tiểu luận phê bình
Phê bình, lý luận, nghiên cứu văn học là một bộ phận của một nền văn học phát triển Có văn học thì lúc đó mới có phê bình Muốn
có tầm nhìn phê bình sâu rộng phải phát triển lĩnh vực nghiên cứu, biên soạn các chuyên luận Phê bình vừa có vai trò làm nhịp cầu giữa người đọc và người sáng tác, người đọc với người đọc, vừa có vai trò tác động trở lại, thúc đẩy sáng tác, hướng dẫn sáng tác…
Theo nhà phê bình Pháp Albert Thibaudet, phê bình văn học bao gồm 3 bộ phận: Phê bình của người đọc, phê bình chuyên nghiệp
và phê bình nghệ sĩ
Phê bình của người đọc là phê bình của bất cứ ai đọc văn học,
đã đọc là có phán đoán, khen chê…
Phê bình chuyên nghiệp, hay phê bình khoa học mà Thibaudet gọi là phê bình “kiểu giáo sư”…
Phê bình nghệ sĩ hay phê bình bậc thầy, tức là phê bình của các cây bút lớn Những người này thường nói về tác phẩm, tác giả mà họ tâm đắc, về thủ pháp nghệ thuật mà họ yêu mến, biểu hiện của một trí tuệ sắc sảo với những lời lẽ cô đúc…
Ở nước ta Nguyễn Tuân thực ra không phải là trường hợp duy nhất là người sáng tác mà viết phê bình Chúng ta có thể kể đến Xuân
Trang 28Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Vĩ, Vũ Quần Phương, Gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ, ngoài sáng tác có chú ý viết phê bình, như Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa,… Nhưng để có tư cách nhà phê bình như thế hệ lớp trước với những tên tuổi: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn
Vĩ, Nguyễn Tuân thì không dễ
Nguyễn Đình Thi (1924 - 2003) là một trong những người đầu tiên tham gia Hội văn hoá cứu quốc Sau này ông giữ chức Tổng thư
ký Hội nhà văn gần 30 năm Ông là nghệ sĩ đa tài, đóng góp nhiều về nhạc, thơ, tiểu thuyết… Riêng về lý luận, phê bình ông có đóng góp vào sự hình thành ý thức văn học cách mạng thời đại mới
Nhận đường (1947) trở thành cái mốc đánh dấu sự chuyển
mình của giới văn nghệ Nguyễn Đình Thi viết không nhiều nhưng trong sáng tác và trong lý luận, ông thể hiện được cái chủ kiến riêng
của mình Ông quan tâm tới đặc trưng văn nghệ Các bài viết Tiếng nói văn nghệ, Mấy ý nghĩ về thơ, Tìm nghĩa hiện thực mới, cuốn sách Công việc của người viết tiểu thuyết đều kết hợp lý luận với những
trải nghiệm sâu sắc của bản thân ông với tư cách là nhà nghệ sĩ
Xuân Diệu (1916 - 1985) là một trong những thành viên đầu tiên của Hội văn hoá cứu quốc (1946) Xuân Diệu là người có ý thức mạnh mẽ về văn hoá dân tộc Bên cạnh sáng tác thơ, Xuân Diệu là người có đóng góp nổi bật về lý luận, phê bình, nghiên cứu thơ ca Ông có tới 18 tập tiểu luận, phê bình Trong số đó đáng chú ý là
Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Dao
có mài mới sắc (1963), Đi trên đường lớn (1968), Và cây đời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những
kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Tập I, II,
1981 - 1982)
Trang 29Xuân Diệu là người am hiểu rộng, có quan niệm riêng về thơ
ca Xuân Diệu khẳng định thơ ca cách mạng với một thái độ nhiệt tình nhưng cũng không ngần ngại phê bình một cách thẳng thắn những non yếu của chúng Những bài giới thiệu thơ hiện đại nước ngoài và đặc biệt là những công trình nghiên cứu thơ ca cổ điển dân tộc của Xuân Diệu có giá trị rất lớn Phương pháp phê bình của ông thiên về chủ quan, trực cảm; văn phong rất lôi cuốn, hấp dẫn Xuân Diệu vừa bình vừa giảng, ông phải hiểu thấu nghĩa đen, nghĩa bóng, từng chữ, từng câu, từng dòng của bài thơ thì lúc bấy giờ sự thưởng thức trong thi nhân mới thực sự được thoả mãn Xuân Diệu như muốn chuyển tải mọi xúc cảm lúc đọc thơ cũng như khi làm thơ của mình đến với bạn đọc qua những trang viết phê bình của ông
Chế Lan Viên (1920 - 1989) là nhà thơ, nhà bút ký và phê bình
văn học Các tác phẩm phê bình của ông có Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981)
Ngoài những tác phẩm thơ được đánh giá là phong phú, tiểu luận phê bình của Chế Lan Viên cũng rất đa dạng Ông là người có quan niệm riêng về thơ và lối phê bình của ông rất giàu chất trí tuệ và
óc tưởng tượng Chế Lan Viên thì rất ít khi bình giảng tác phẩm cụ thể Nét sắc sảo dưới ngòi bút phê bình của nhà thơ là suy nghĩ, bình luận một cách khái quát về một vấn đề văn học nào đấy, hoặc một phong cách chung của một tác giả - một nhà văn - nhà thơ nào đấy…
Nhìn chung, các nhà văn, nhà thơ viết phê bình cũng thường hay viết theo sở trường, sở thích riêng Họ cũng muốn đóng góp ít nhiều vào sự phát triển của lý luận, phê bình văn học nghệ thuật nước nhà Trong số những nhà văn, nhà thơ viết phê bình, Nguyễn Tuân là một gương mặt sáng giá Có thể nói đến một phong cách phê bình - Nguyễn Tuân
Trang 301.2.2 Nguyễn Tuân - một nhà văn viết phê bình có phong cách
Trở lên, chúng tôi đã trình bày những nội dung chính về Nguyễn Tuân với tư cách là một nhà văn Người ta biết đến Nguyễn Tuân, chú ý tìm hiểu về ông dĩ nhiên trước hết là với tư cách này Nhưng trong khi trình bày những nội dung chính về Nguyễn Tuân với
tư cách là một nhà văn, điều quan trọng chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tuỳ bút Nguyễn Tuân đã phần nào cho thấy tư cách hoặc tố chất nhà phê bình văn học ở ông: thiên về “bình”, chú trọng tính lịch
sử, tính xác thực, chú trọng nét đặc sắc nổi bật, đặc thù, độc đáo của đối tượng được bàn đến (hoặc là một tác giả, một tác phẩm hoặc là một vấn đề nào đó của văn học nghệ thuật)
Gọi Nguyễn Tuân là nhà viết tiểu luận phê bình thực ra cũng không có gì là quá đáng hay nói đúng hơn là vẫn xứng đáng Ông am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau: văn học, âm nhạc, hội họa, vũ đạo, điện ảnh, văn hoá, lịch sử, địa lý… Xét riêng trong lĩnh vực văn học, ông càng am hiểu nhiều thể loại (thơ, truyện, kịch, ký), am hiểu nhiều phương pháp sáng tác (cổ điển, lãng mạn, hiện thực, hiện đại)… Chính vì vậy, ông có nhiều thuận lợi khi viết tiểu luận phê bình… Với một số lượng bài viết trên hai mươi bài về nhiều hiện tượng văn học khác nhau, và tiểu luận nào cũng sắc sảo, cũng có những đóng góp phát hiện mới sâu sắc, có thể gọi Nguyễn Tuân là nhà viết tiểu luận phê bình vững vàng, có phong cách riêng Bên cạnh các nhà văn viết tiểu luận phê bình xuất sắc như Xuân Diệu, Hoài Thanh…, Nguyễn Tuân có một vị trí xứng đáng Ông từng viết về Tản Đà:
“Trong hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ hội, trong làng văn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý mà làng văn, làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”… Có thể nói Nguyễn Tuân
có đủ tư cách để “ngồi chung một chiếu” với các nhà viết tiểu luận phê bình như vừa nói Hy vọng rồi đây sẽ có những công trình tiếp
Trang 31theo tìm hiểu nghiên cứu về Nguyễn Tuân trên phương diện viết tiểu luận phê bình…
Như đó nờu, ngoài công việc sáng tác, Nguyễn Tuân còn rất quan tâm đến các hiện tượng văn học và một số vấn đề của văn học cần bàn bạc, nghị luận Ông tìm hiểu từ ngôn ngữ viết, cách viết đến các hiện tượng tác gia, tác phẩm, cũng như các vấn đề khác của văn học
Nguyễn Tuân đã để lại nhiều tiểu luận phê bình xuất sắc Trước hết, về Tú Xương, Nguyễn Tuân có một tiểu luận công phu, không
chỉ là phê bình mà còn mang tính nghiên cứu khoa học sâu sắc: Thời
và thơ Tú Xương
Về Tản Đà - người bạn vong niên của Nguyễn Tuân, Nguyễn
Tuân có ba tiểu luận viết thực sự cảm động và tài hoa: Chén rượu vĩnh biệt; Tản Đà một kiếm khách; Tản Đà tửu điếm;
Về Vũ Trọng Phụng, một tiểu luận, hiếm ai viết được một tiểu
luận như thế này: Một đêm họp đưa ma Phụng; Về Nguyên Hồng, một tiểu luận cũng thật cảm động: Con người Nguyên Hồng
Về nghề văn, Nguyễn Tuân có một cuốn khá dày dặn: Chuyện nghề Và nhiều tiểu luận khác: Về tiếng ta; Tản mạn xung quanh một áng Kiều; Băm sáu cái nõn nường Xuân Hương; Tán về ngôn ngữ; Nhân đọc tiếu lâm; Tắt đèn; Trước đèn, đọc đoản thiên Ngô Tất Tố; Phim chị Dậu cùng là cảm nghĩ tất niên với bác (Đầu) Xứ Tố; Sống mãi với Thủ đô; Luỹ hoa; Đọc và xem A Phủ; Thạch Lam; Truyện ngắn Ăng Đớc Xen; Đốt-x-tôi; Tôn-x-tôi; Truyện ngắn Lỗ Tấn; Con người Xô Viết, con người Nga trong một số phim Liên Xô; Cháy bản thảo; Kể chuyện vỹ tuyến mười bảy; Truyện thiếu nhi của Võ Quảng; Cảm xúc diễn viên; Phố phái
Là nhà văn viết phê bình, Nguyễn Tuân tập trung vào những tài năng mà ông quý mến, cảm phục Là nhà phê bình, Nguyễn Tuân có
Trang 32cơ sở lý luận của ông, song cái đặc sắc là đưa ra nhiều nhận xét độc đáo bất ngờ mà nghệ sĩ bậc thầy mới làm được Ông có khả năng cảm nhận văn chương một cách cụ thể sinh động
Nguyễn Tuân viết trên hai mươi bài tiểu luận phê bình Trong
đó, bằng ngòi bút của mình, ông đã dựng lên bức chân dung về các nhà văn, nhà thơ lớn Đó là những bức chân dung Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Thạch Lam
Đồng thời, trong tiểu luận của Nguyễn Tuân, ta cũng bắt gặp nhiều bài bình, những ý kiến sắc sảo về các hiện tượng văn học (tác
gia, tác phẩm), những đoạn bình thơ Tú Xương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố…
Đối với Nguyễn Tuân, Tiểu luận phê bình không phải là bộ phận chính, là hướng chủ đạo trong sự nghiệp sáng tác của ông Viết phê bình chỉ như là việc làm tay trái của một cây bút tài hoa, tài tử, chỉ viết những gì mình thích Nguyễn Tuân viết phê bình cũng như đang bước vào vườn hoa nhiều hương sắc, "mà thấy cây nào ra hoa
mà tiện mắt, tiện tay, tiện chỗ" thì xem trước, thấy bông nào đẹp thì hái chơi…
Với tính chất tài tử, tuỳ hứng, các tác phẩm phê bình của Nguyễn Tuân cũng không tránh khỏi nhiều lúc trở nên phiến diện và cực đoan Nhưng đọc kỹ những bài viết của ông, người đọc không bao giờ thấy bằng phẳng, nhạt nhẽo, hay vô vị… Đọc tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân người đọc bao giờ cũng thu lượm được ít nhiều cái gì đó rất mới mẻ, độc đáo…
Trong văn nghiệp của Nguyễn Tuân, mảng sáng tác này mang
ý nghĩa không kém phần quan trọng Cho nên nhiều bài viết của Nguyễn Tuân đến nay vẫn còn có giá trị Nghiên cứu Nguyễn Tuân
mà không chú ý đến bộ phận này trong văn nghiệp của ông, dĩ nhiên,
sẽ là một thiếu sót lớn
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁC HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC QUA TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH CỦA NGUYỄN TUÂN
2.1 Quan điểm viết tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân
2.1.1 Một số tổng quan
Có thể nói bất cứ nhà văn hay nhà nghiên cứu nào khi viết tiểu luận cũng đều có quan điểm (hay quan niệm) riêng của mình Quan điểm đó có thể dưới dạng “hữu ngôn” (tức được phát biểu thành luận điểm, lý thuyết cụ thể), cũng có thể ở dạng “vô ngôn” (tức không được phát biểu thành luận điểm, lý thuyết cụ thể), mà chỉ thể hiện qua các bài viết nghị luận về đối tượng họ tìm hiểu nghiên cứu Quan điểm viết tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân được bộc lộ dưới cả hai dạng, tuy nhiên chủ yếu vẫn là dưới dạng bộc lộ qua các bài phê bình Muốn thấy được quan điểm này của ông, dĩ nhiên người nghiên cứu phải khảo sát, tổng hợp và xác định
Thành công của những bài Tiểu luận phê bình về văn học của Nguyễn Tuân không phải ngẫu nhiên mà có Ở đây, ngoài cái tài năng, tài hoa đặc biệt của Nguyễn Tuân còn có sự vận dụng những quan điểm phê bình một cách khoa học Quan điểm viết tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân là cả một hệ thống những luận điểm về nhiều vấn đề khác nhau của văn học nghệ thuật, thậm chí là về một số vấn
đề khác của những lĩnh vực khác như văn hoá, ngôn ngữ, lịch sử…
Điều đáng chú ý là dẫu viết về nhiều vấn đề khác nhau thuộc khá nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng Nguyễn Tuân bao giờ cũng rất nhất quán Thái độ viết của ông bao giờ cũng tỏ ra nghiêm túc, phương pháp tìm hiểu, khảo sát tỉ mỉ, nếu cần, tra tận nguồn Không bao giờ ông tỏ ra dễ dãi, hời hợt, mơn trớn, cợt nhã với những vấn đề
Trang 34mà mình luận bàn… Điều này không ít người đã mắc phải, nhất là với một số nhà nghiên cứu hải ngoại như chúng tôi đã được biết…
Nguyễn Tuân có lần nói, trong phê bình, ông chỉ phê chứ không bình, và bình thì như người đi trong vườn hoa, tiện tay chỗ nào, thấy hoa đẹp thì hái… Thực ra các bài Tiểu luận phê bình của ông, nếu đọc kỹ, ta sẽ thấy không hẳn như vậy Ông có logic riêng của ông trong triển khai tìm hiểu, lập luận, phân tích, xác định đặc điểm của đối tượng tìm hiểu, nghiên cứu
2.1.2 Những quan điểm cơ bản của Nguyễn Tuân trong viết Tiểu luận phê bình
Trước hết, các bài viết của Nguyễn Tuân cho thấy quan điểm viết tiểu luận phê bình của ông là phải đảm bảo tính lịch sử của đối tượng được bàn đến Đây cũng là yêu cầu khoa học thiết yếu đối với
người làm công tác phê bình văn học
Vận dụng quan điểm lịch sử trong khi viết Tiểu luận phê bình văn học thực ra không phải là một điều quá mới mẻ thế nhưng nói về lịch sử, nhiều người chỉ biết nêu lên những sự kiện chính trị, xã hội theo cách viết như những nhà sử học Nghĩa là chỉ nói một cách khô khan, trừu tượng Điều cần nhấn mạnh ở đây là Nguyễn Tuân đã vận dụng quan điểm này một cách đầy sáng tạo
Yêu cầu của quan điểm lịch sử là phải nghiên cứu tỉ mỉ về môi trường sống cụ thể của nhà văn, môi trường kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và thậm chí là cả môi trường thiên nhiên nữa Từ sự nghiên cứu, tìm hiểu công phu và tỉ mỉ những yếu tố đó, người viết Tiểu luận phê bình phải dùng trí tưởng tượng của mình để dựng lên được không khí cụ thể của cái môi trường ấy đồng thời nhận thấy sự tác động cụ thể của chúng đối với tâm lý xã hội cũng như tâm lý nghệ thuật các nhà văn Đây chính là một khả năng tưởng tượng sáng tạo rất cần thiết đối với công việc viết tiểu luận nghiên cứu và phê bình văn học
Trang 35Bài Thời và thơ Tú Xương có thể coi là mẫu mực của việc vận
dụng quan điểm lịch sử theo quan niệm ấy Để có thể dựng lên được
không khí lịch sử cụ thể của Thời và thơ Tú Xương, Nguyễn Tuân đã
phải thu thập rất nhiều tài liệu cụ thể về khoa thi Hương ở Nam Định năm Giáp Ngọ mà Tú Xương có tham gia và đậu tú tài, khoa thi năm Đinh Dậu có toàn quyền P.Dume đến dự, tình hình chính trị ở Bắc Kỳ với sự kiện vụ Đề Thám đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, vụ tù phạm nổi dậy ở vườn bách thảo Hà Nội, sự kiện Pháp phá thành Thăng Long, lấp sông Tô Lịch ở Hà Nội, lấp sông Vị Hoàng ở quê hương Tú Xương “Trường thi Nam Định năm 1894 đông như kiến
cỏ Năm 1891, Nam Định chỉ có 9.000 sĩ tử, năm 1894 con số người
đi thi lên tới 11.000 Từ giữa trường thi, chỗ đường thập đạo trông ra, trùng trùng điệp điệp những mu rùa bằng tre, những tấm mui luyện nhà đò (ý nói những thi cụ lều chõng) Kỳ đệ nhất vào ngày 25-10-
1894, kỳ đệ nhị, ngày 15-11 Kỳ đệ tam 25-11 Và kỳ phúc hạch đệ tứ
là ngày 2-12-1894 Ngày 8-12-1894 là lễ xướng danh những người
đỗ Tiếng loa ran lên, ồm ồm lanh lảnh Tiếng í ới gọi nhau lạc đường của người nhà các thầy khoá, của tiểu đồng lão bộc quả gia nhổ lều đội chõng ra về trong đêm tối lập loè ánh đuốc Đám đông lên tới hai mươi nhăm ngàn người Lễ xướng danh từ sớm cho đến chiều ghế bành của các quan chấm trường dự lễ tại ghế cao đến bốn thước mét” [45, 478- 479]
Bài Đốt-x-tôi cũng có những trang viết tạo không khí lịch sử
rất thành công Ở bài viết này, Nguyễn Tuân không nói lịch sử đẻ ra tác phẩm của Đốt-x-tôi ở nước Nga Sa Hoàng ngày trước, mà lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết của Đốt-x-tôi của giới trí thức Việt Nam trong
những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa Pháp Một xã hội "dẫy dụa quằn quại trong nhục nhằn, đau thương, tức tở, phẫn uất" Thời
đại của bọn mật thám bắt người yêu nước - có năm "tù chính trị lên
Trang 36tới 10 ngàn người và tử hình lên tới 699" Thời đại của thằng bồi săm
mà có quyền xin mề đay cho quan An Nam, của những ả gái điếm được ban tặng bằng tiết hạnh khả phong, thời đại của những con mụ
trùm chợ đen dựa vào Nhật hống hách đi điều khiển giá hàng lậu "xe hòm kính hai bên cờ Nhật", thời đại của những thằng con ép mẹ đi
khai bị Tây hiếp để được vào làng Tây… Người ta nhảy đầm, đánh cá ngựa, lột nhau trong song tài sửu, đồng thời làm nghệ thuật vị nghệ thuật, và tung ra đủ thứ học thuyết định mệnh Cuộc sống thì khốn
khổ mà lắm kẻ cứ hát vang "Sầm Sơn vui thú biết bao!" Giấy bạc
lạm phát nhiều hơn lá rừng, cờ bài rượu, cờ bài thuốc phiện mở ra vô tội vạ để đắp cho ngân sách thực dân tiêu vào bộ máy chỉ điểm, đội xếp, lính tập ngày một tăng Năm 1939, cùng với đạo dụ cấm tuyên truyền Cộng sản, chính quyền thực dân đã tung ra thị trường 39 triệu lít rượu cồn và 70 tấn thuốc phiện ty… "Lúc ấy trông đến cái gì cũng thấy sợ Ai ai cũng bắt nạt ăn hiếp được mình Trong cái cuộc sống lộn tùng phèo nhức xương ấy, có nhiều chàng trai thời ấy đã đọc Đốt-
x-tôi"
Thứ hai, viết phê bình đối với Nguyễn Tuân là nhằm phát hiện những đặc sắc, những giá trị độc đáo, nổi bật của các hiện tượng văn học Đó có thể là về một tác giả, tác phẩm hoặc là về một vấn đề
văn học nào đó Cũng chính với quan điểm này mà Nguyễn Tuân
"tuyên bố" ông chỉ bình chứ không phê "Bình" thì chỉ bình cái hay, cái đẹp, cái độc đáo Tiểu luận phê bình của ông tất cả đều tập trung vào những hiện tượng văn học xuất sắc là vì vậy
Về một tiếng chửi trong thơ Tú Xương, Nguyễn Tuân bình và tán: "Ới thi ơi là thi, ới khỉ ơi là khỉ"; "than sự thi, đến thế là đã nói hết cả nghĩa chữ rồi Câu thứ tư của bài thơ ngũ ngôn vần trắc, khác chi một chữ xoẳn cộc lốc của thể thơ yếu hậu Nó đánh chát một cái vào những cái điều tiêu lên mà vịnh mà đề "Ới khỉ ơi là khỉ" Buồn
Trang 37cười như anh không biết bơi bị uống nhiều ngụm nước mùa thớt! Đồ con khỉ nhe răng cười khi bị dội nước sôi! Khi mà công lý công luận
bị nhục mạ thì hay sằng sặc lên cái hơi cười uất ức đó Giữa bài thơ mình đọc cho xung quanh, chẳng lẽ lại văng ra đấy một con gì tục tĩu hơn cả mọi sự lõa lồ! con khỉ đây là biểu tượng thế phẩm cho cái (cái hay là con?) hình tượng mà một nhà nho tự trọng đã vừa kìm nó lại kịp thời Con khỉ đây chính là muốn nói cái con đó mà không chịu dùng cái tiếng đó "Ới khỉ ơi là khỉ" Vừa cười, vừa chửi, vừa thét gào, vừa mếu cho mọi trò bú dù đang xảy ra xung quanh những cuộc đánh giá văn chương của một thời bố láo lợm mửa! Cần phải
nôn thốc vào, cần phải cho oẹ, oẹ ra cho kỳ hết" (Thời và thơ Tú Xương) [45, 487-488]
Viết về Tản Đà, cái ấn tượng sâu đậm nhất mà Nguyễn Tuân muốn mang lại cho người đọc đó chính là cái ngông của Tản Đà - tất nhiên cái ngông này không phải là cái ngông tầm thường, nó phải dựa trên tài hoa và nhân cách hơn đời, hơn người của thi nhân Chính vì Ngông nên toàn làm những việc trái khoáy, khác thường, ngược đời Nhà nho tài tử ấy chỉ biết có rượu có thơ và “sống đến tận cùng cái cá tính độc đáo của mình”…[38, 102]
Chính vì lẽ đó mà đến làm khách nhà người ta mà tự tiện đào nền nhà người ta lên để mà trồng húng, rồi thì người ta cất công từ lục tỉnh Nam Kỳ ra để hỏi chuyện thơ thì chỉ toàn nói chuyện ăn uống…
Thế nhưng, cái điều mà Nguyễn Tuân muốn nói đến ở đây không phải là bản thân của hành vi ngông ấy mà theo ông, cái ngông cuồng quá đản ấy là những biểu hiện gai góc của một đấng tài hoa bất đắc chí, của một tâm hồn thanh sạch lạc lõng giữa bụi trần phàm tục
mà thôi
Trang 38Viết về Vũ Trọng Phụng, ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng có
những nét thật độc đáo Bài Một đêm họp đưa ma Phụng của Nguyễn
Tuân đã diễn tả được tiếng cười đầy nước mắt của bọn cầm bút ngày xưa, trước cái chết của một đồng nghiệp, thấy cần phải quây quần lại với nhau cho đỡ lạnh
Sau cách mạng tháng Tám, bức chân dung thành công nhất của Nguyễn Tuân chính là bức vẽ Nguyên Hồng Vẽ Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân đã tóm được những chi tiết thật đích đáng
"Tôi là một thằng thích phá đình phá chùa, mà anh đúng là một người ưa chuyện tô tượng đúc chuông" - ấy là văn Nguyên Hồng
"Nguyên Hồng đã đưa vào phòng khách sạn thành phố tất cả
phù sa quý hoá của đồng ruộng ven sông Hồng" - ấy là con người
cái màu thiền của đạo Phật…
Thứ ba, qua những bài viết của mình, Nguyễn Tuân cho thấy yêu cầu cần phải chú ý đến tư tưởng của nhà văn nhưng đấy phải
là tư tưởng nghệ thuật
Đây là một quan điểm rất xác đáng và hết sức cơ bản đối với việc phân tích tác phẩm văn học cũng như việc dựng chân dung các nhà văn
Chính nhờ quan điểm và phương pháp phân tích tác phẩm như
thế, Nguyễn Tuân đã phát hiện ra trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô
Tất Tố: "Trên cái tối trời tối đất của đồng lúa ngày xưa, thấy sừng
sững cái chân dung lạc quan của chị Dậu" Ông khẳng định tiểu thuyết Tắt đèn có hiện tượng bi quan nhưng đó lại không hẳn là tiêu
Trang 39cực bởi "bản chất của nhân vật chị Dậu rất khỏe cứ thấy lăn xả vào bóng tối mà phá ra"
Vận dụng quan điểm và phương pháp phê bình ấy, Nguyễn Tuân nhận thấy trong thơ Tú Xương, đằng sau tiếng cười của ông đậm đặc cái chất trữ tình lãng mạn Nguyễn Tuân kết luận "Trào lộng kiêu bạc
chỉ là hiện tượng da thịt bên ngoài phủ lên một tuỷ cốt chung tình"
Cũng từ quan điểm và phương pháp ấy, Nguyễn Tuân đã phát
hiện chất đời đã thấy chất đạo trong tác phẩm Truyện Kiều bất hủ của
đại thi hào dân tộc Nguyễn Du: "Cái lý thú của tiếng nói Nguyễn Du lại còn ở chỗ đa sắc, nó ngồn ngộn đủ các màu cầu vồng, chữ cứ óng ánh cả lên như múa bằng hồi quang của hào quang Thật là "cỏ lợt màu sương", "thưa hồng rèm lục", "một gian nước biếc", "mặn phấn tươi son", "bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây", "non phơi bóng vàng, "thành xây khói biếc", và "xơ xác vàng" cho liễu cùng là "trôi giạt thắm" cho hoa… Cứ bảo tư tưởng Nguyễn Du nhiễm màu đạo và thuyết luân hồi Phật, tức là chiên già sắc sắc không không Tư tưởng không sắc sắc không nhưng lời nói câu thơ thì phản hẳn lại, và sự mâu thuẫn hiện lên thành đủ màu, màu chữ của Kiều thỏa thuê mà tươi chói như màu các hoạ sĩ vị sắc phái Colariste" [45, 417]
Đọc Sêkhôp cũng là một bài viết nổi bật cho thấy sự vận dụng
quan điểm và phương pháp này
Trong Đọc Sêkhôp, ba lần ông đều nêu lên khái niệm này:
“… Nađia đây là cái hậu thân tất nhiên của những tiền kiếp đau khổ kia trong thế giới chúng sinh Sê-khốp Nói một cách khác nữa
Nađia đây là cái hoá thân cuối cùng của tư tưởng nghệ thuật của
Sê-khốp”
“Để hiểu rõ tư tưởng nghệ thuật của khốp và thái độ của
Sê-khốp đối với cái thiên chức nhà văn, đối với cuộc sống…”
Trang 40“Tư tưởng nghệ thuật Sê-khốp, có một lúc đã là một chú bé đi
học trọ phương xa, qua vùng thảo nguyên, nhìn anh đào thành ra
“mùa anh đào chính quả”…
Từ quan điểm ấy, Nguyễn Tuân đã chỉ ra được sự vận động tích cực của tư tưởng Sêkhôp qua phân tích sự vận động của thế giới nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Nga Sêkhôp
Thứ tư, Nguyễn Tuân thể hiện rõ nhận thức đúng đắn về vai trò chủ thể sáng tạo của nhà văn
Đọc truyện Người đầm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân viết:
“Chuyện Người đầm xem như là lối truyện không nặng về cốt câu
chuyện Nó nặng về biểu hiện mặt trong của suy nghĩ hơn là diễn tả cái bề ngoài Hầu hết là bút pháp của độc thoại nội tâm, trừ một vài chặng đối thoại, như chỗ bà đầm nói chuyện với chú bé bán kẹo vừng bên Hồ Kiếm Đọc truyện, tôi thích những tác giả có cái bút lực dừng đám đông tấp nập, ồ ạt nhiệt náo, quát thét, vận động nhiều, hành động nhiều hơn là bàn bạc Nhưng tôi lại thích cả những cách diễn đạt trầm trầm mà chuyển, đêm dài một bóng một đèn, một nhân vật
đó và mình, thấy cũng thấm đáo để Nhà văn Thế Lữ có kể lại rằng câu chuyện này là do hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí thuật lại và Thạch Lam
đã viết ra theo một cách diễn tả riêng Nếu thật là như vậy thì càng thấy rõ việc sáng tác chính là ở chỗ vận dụng được kinh nghiệm sự sống, vận dụng được cái vốn suy nghĩ và tưởng tưởng của bản thân mình Còn như có sống trực tiếp hay chỉ là gián tiếp cái cốt truyện cái khung chuyện dựng ra kia thì đó chưa phải là mặt quan trọng trong sáng tác văn học Cái chủ yếu vẫn là cái cơ sở nhân sự thực tế, cái vốn thực tế đã tầng trải đã thể nghiệm, đã tích luỹ Chuyện của người khác được sống lại một cách sinh động trong truyện kể hấp dẫn của mình, ấy là nhờ có cái sự tích luỹ quý báu đó vậy” [45, 618]