Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ của nhà văn Võ Thị Xuân Hà - ng-ời đã cung cấp các tài liệu và nhiệt tình cởi mở bày tỏ những nội dung quan trọng liên quan đến sáng tác c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2Lời cảm ơn
Tr-ớc hết tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS Đinh Trí Dũng - ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn, chỉ bảo
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ của nhà văn Võ Thị Xuân Hà - ng-ời đã cung cấp các tài liệu và nhiệt tình cởi mở bày tỏ những nội dung quan trọng liên quan đến sáng tác của chị, giúp tôi có
đ-ợc những kiến thức quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Tr-ờng Đại học Vinh, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ chuyên ngành Văn học Việt Nam, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài
Và cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Vinh, tháng 11 năm 2010 TáC GIả
Phạm Thị Hải
Trang 3
MỤC LỤC
Trang
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Lịch sử vấn đề ……… 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 10
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 10
6 Đóng góp của luận văn ……… 10
7 Cấu trúc của luận văn ……… 10
NỘI DUNG Chương 1 Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 12 1.1 Vài nét về khái niệm truyện ngắn và ưu thế của thể loại ……… 12
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn trong văn học Việt Nam ……… 12
1.1.2 Ưu thế của truyện ngắn ……… 13
1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội và bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 ………
15 1.2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội ……… 15
1.2.2 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 ………… 18
1.2.2.1 Dân chủ hóa văn học ……… 18
1.2.2.2 Đổi mới tư duy, quan niệm, cảm hứng văn học ……… 20
1.3 Nhìn chung về đóng góp của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà …… 23
1.3.1 Vài nét về tiểu sử và con người ……… 23
1.3.2 Đóng góp của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà ……… 33
Chương 2 Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân
Hà trên một số phương diện nội
42
Trang 42.1 Lựa chọn đề tài ……… 42
2.1.1 Những đề tài chính trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986 ……… 42
2.1.2 Đề tài nổi bật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà ……… 47
2.1.2.1 Đề tài về cuộc sống bề bộn, phức tạp thời hậu chiến ………… 47
2.1.2.2 Đề tài về tình yêu, hôn nhân gia đình ……… 56
2.2 Cảm hứng chủ đạo ……… 65
2.2.1 Những cảm hứng nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 … 65 2.2.2 Cảm hứng chủ đạo của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà ………… 68
2.2.2.1 Cảm hứng phê phán ……… 68
2.2.2.2 Cảm hứng thân phận con người cá nhân ……… 73
2.2.2.3 Cảm hứng ngợi ca ……… 80
Chương 3 Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trên một số phương diện hình thức nghệ thuật 85 3.1 Tình huống đa dạng ……… 85
3.1.1 Khái niệm tình huống và nhìn chung về tình huống trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986 ………
85 3.1.2 Tình huống đơn giản ……… 86
3.1.3 Tình huống bi kịch ……… 89
3.2 Giọng điệu đa thanh ……… 91
3.2.1 Khái niệm giọng điệu ……… 91
3.2.2 Giọng điệu trữ tình ……… 93
3.2.3 Giọng điệu mỉa mai, giễu cợt ……… 96
3.2.4 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lí ……… 98
3.3 Ngôn ngữ truyện ngắn ……… 101
3.3.1 Ngôn ngữ trần thuật linh hoạt ………… 101
3.3.1.1 Trần thuật thay đổi điểm nhìn ……… 101
3.3.1.2 Sử dụng các ca từ, ca khúc ……… 105
3.3.2 Ngôn ngữ nhân vật ……… 107
Trang 53.3.2.1 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm ……… 107
3.3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại ……… 110
KẾT LUẬN ……… 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 118
PHỤ LỤC ……… 123
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà góp phần thêm
sắc màu vào bức tranh chung truyện ngắn sau 1986 qua đó hiểu rõ hơn tiến trình đổi mới văn học Việt Nam
1.2 Võ Thị Xuân Hà là một cây bút xuất hiện trên văn đàn vào những năm đầu
thập kỷ 90 thế kỷ 20 cho đến nay, sức viết của chị đang lên Với sự đa dạng về mặt thể loại, chị đặc biệt gặt hái được nhiều thành công ở truyện ngắn và quan trọng hơn là được đông đảo bạn đọc vui mừng đón nhận Song về mặt nghiên cứu chưa thực sự được quan tâm vì vậy cần có những công trình chuyên sâu để chỉ ra mặt mạnh và yếu của tác giả góp phần hoàn thiện hơn trên bước đường văn nghiệp của người cầm bút
1.3 Tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà sẽ giúp chúng ta
đi sâu vào đặc trưng thể loại và qua đó soi rõ được đóng góp xứng đáng của chị trong văn học đương đại Mặt khác tìm hiểu truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà sẽ góp thêm tư liệu truyện ngắn Việt Nam đương đại cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập văn học trong nhà trường được thuận lợi hơn
2 Lịch sử vấn đề
Chị là người phụ nữ “xê dịch” được hiểu bao gồm cả cuộc đời lẫn sự nghiệp văn chương Với đôi mắt mở to điềm đạm, khuôn mặt dịu dàng bí ẩn của người con gái xứ cố đô, nhưng bên trong lại là một trái tim luôn day dứt dến dữ dội Võ Thị Xuân Hà như một sứ mệnh của văn chương chứ không tình cờ duyên nghiệp đến với văn thơ như một số tác giả khác Trong thời đại Internet, lằn ranh giữa sức nóng của thông tin và vực thẳm là khá mong manh – Người cầm bút phải đi trên dây thăng bằng với mong tìm chỗ đứng Võ Thị Xuân Hà biết tin vào cái Đẹp, tự tin, chị “biến ảo và khó nắm bắt” như màu sắc của một hạt cườm dưới ánh mặt trời Những trang viết của chị cũng lóng lánh y hệt “ một thứ nhà gương” mà người ta
có thể nhận diện hai mặt của mình, để rồi lúc thì bật cười, lúc thì sợ hãi Xuân
Trang 7Hà tâm sự “tôi luôn cảm thấy có một “thế lực siêu hình” nào đó cứ xui khiến, bắt mình phải day dứt, phải viết ra những điều trăn trở” Và chị “viết để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế” Cùng với sự say mê, tâm huyết lao động chăm chỉ Võ Thị Xuân Hà
ra mắt bạn đọc một loạt những đứa con tinh thần: chín tập truyện ngắn, hai tập truyện dài, hai cuốn tiểu thuyết (trên 200 và 300 trang) Thế nhưng những công trình nghiên cứu về tác phẩm của chị quả là đang khiêm tốn Đó là một vài bài viết nhỏ trên một số trang báo, một vài website phỏng vấn cũng như một số điểm xuyến trong các luận văn, khóa luận tốt nghiệp Những bài báo, những bài phỏng vấn ấy
đa số phản ánh được lộ trình sáng tác và cho thấy được những dòng cảm hứng nhất định trong sáng tác của nhà văn Võ Thị Xuân Hà Tuy nhiên đó chỉ là những bài viết mang tính chất cảm nhận, lướt trên bề mặt tác phẩm, chứ hoàn toàn chưa thực
sự bám sát, đi sâu, thâm nhập vào hình tượng của tác phẩm Đến nay, sáng tác của Xuân Hà vẫn chưa có những công trình nghiên cứu mang tính chất học thuật chuyên ngành
Báo Sài Gòn giải phóng, bài phỏng vấn của tác giả Bình Nguyên Trang đã
phần nào cho thấy được chân dung ngòi bút của nhà văn Trong bài phỏng vấn ấy nhà văn đã cho người đọc biết được phần nào quá trình hình thành một đứa con tinh thần của mình Đồng thời chị cũng không hề giấu giếm người đọc rằng gánh nặng áo cơm đang bấu lấy ngòi bút sáng tác của mình cũng như một số nhà văn khác C.Mark đã từng nói: “Con người trước hết phải đảm bảo về nhu cầu ăn, mặc, sinh hoạt lúc đó mới nói đến nghệ thuật” Võ Thị Xuân Hà cũng thành thật: “Tôi cũng như nhiều bạn văn khác, phải mất quá nhiều thời gian cho công việc lo cơm
áo gạo tiền Vì vậy, khi tôi được ngồi vào bàn viết truyện, tức là câu chuyện ấy đã manh nha hình thành trong đầu một cái tứ nào đó rồi Có thể nghĩ ra cái kết trước, hoặc nội dung ban đầu, hoặc đơn giản chỉ là một cái tên truyện bất ngờ hình thành trong đầu” Chị cũng tự nhận: “Tôi cũng mắc “bệnh Đan Thiềm” như nhiều người làm công việc sáng tạo khác, là lúc nào cũng suy tư trăn trở để sáng tạo, dù sống giữa bộn bề những công việc khác” Điều đó có nghĩa là bài phỏng vấn cho thấy sự
Trang 8đam mê nghệ thuật đích thức của nhà văn Tuy nhiên điều này được chứng minh rõ ràng hơn trong hành trình đến với văn chương của Võ Thị Xuân Hà Phần này chúng tôi sẽ trình bày ở chương 1, mục 1.3.1 Ngoài ra bài phỏng vấn cũng hé lộ cho người đọc thấy được phần nào trong văn mạch của Xuân Hà, nhưng nó chỉ là vết dầu loang trên bề mặt sáng tác của chị Đó là “vẻ mơ màng sương khói, vẻ lãng
mạn hư thực trong một số truyện ngắn của chị như: Lúa hát; Vĩnh biệt giấc mơ
ngọt ngào; Bầy hươu nhảy múa…”
Bài trả lời phỏng vấn của tác giả Hồng Minh, trong khuôn khổ ngắn gọn tác giả đã khái quát một cách cô đọng về tiểu sử, con đường đến với văn chương cũng như những yếu tố có ảnh hưởng đến văn nghiệp của tác giả sau này Đồng thời bài viết cũng đã đề cập đến bút pháp, thiên hướng quan điểm thẩm mỹ của nhà văn Khi được hỏi về bút pháp tác giả nói ngắn gọn rằng: “Bút pháp truyện ngắn ngày nay đa dạng và được thể hiện bằng nhiều cách cấu trúc, dài ngắn khác nhau, có thể
là lát cắt hoặc cả một trường thiên” Võ Thị Xuân Hà cũng thẳng thắn bộc lộ quan điểm, trách nhiệm của mình trước ngòi bút : “Khi ngồi vào bàn viết, tôi nghĩ mình viết về những con người, cho những con người, nhưng vì tôi là phụ nữ nên việc thể hiện những xúc cảm nội tại sẽ thiên giọng nữ hơn Đã là nhà văn thì phải đấu tranh cho hạnh phúc của một hay hàng vạn chị em phụ nữ, thì cũng đơn giản vì tôi là một nhà văn” Cũng trong những lời tâm sự với báo chí này cho thấy Xuân Hà đặc biệt quan tâm ngòi bút của mình theo hướng độc giả Với chị, chỉ có độc giả mới là người thẩm định tác phẩm khách quan nhất và quan trọng nhất Tuy nhiên cũng như ở bài phỏng vấn của Bình Nguyên Trang, tác giả Hồng Minh cũng chỉ mới nhận xét được vài nét theo tính chất trò chuyện văn học chứ chưa có được những nội dung mang tính chất học thuật
Ở bài “Võ Thị Xuân Hà – Hành trình nhận diện chính mình” do tác giả Ngọc Lan thực hiện được đăng trên báo Nông thôn ngày nay với tiêu để rất ấn tượng Tác
giả bài viết đã có tiếp cận đối tượng sáng tác, nhưng cũng mới chỉ là tiếp cận ở bề ngoài với cái nhìn tổng quan Một nửa còn lại bài viết đề cập đến hai cuốn tiểu
Trang 9thuyết của tác giả Điều đáng lưu ý ở bài viết này là từ sự “nhận diện chính mình”, nhà văn đã tự họa cho người đọc một bức chân dung Bức chân dung dù còn là phác thảo nhưng cũng cho chúng ta điểm nhìn để tiếp tục bóc tách tác phẩm Ở bài viết này, Xuân Hà đã nói về bút pháp của mình : “Bút pháp của tôi là khối không gian đa chiều” Đồng thời chị cũng bộc lộ các dòng cảm hứng trong mạch sáng tác của mình: “Trước đây tôi vẫn luôn trình bày những bi kịch, những số phận, thậm chí là những số phận nghiệt ngã đến tận cùng (….) Hiện nay tôi vẫn chưa hề đánh mất sự trong trẻo lạc quan trong tình cảm với nhân vật Ngay sêri ba truyện ngắn
Chuyện của con gái người hát rong, dù mỗi nhân vật có cuộc sống “thảm” đến thế
nào, thì trong mỗi linh hồn sống đó đều ẩn chứa niềm đam mê sống, đam mê hướng thiện Khi đọc xong, người đọc có thể đau đớn, có thể buồn “nẫu ruột”, có thể bị
ám ảnh, thậm chí thất vọng với những gì đã và đang diễn ra trong xã hội, nhưng nỗi thất vọng đó sẽ được khát vọng hóa mong muốn bản thân mình, bạn bè mình và cộng đồng được gặp may mắn, gặp mọi sự tốt đẹp hơn trong cuộc sống Và đó là thiên chức của nhà văn”
Họ Võ cũng hết sức lạc quan, tự tin với những gì mình có Dù chỉ là nếu như độc giả nhớ một vài tác phẩm trong toàn bộ sáng tác của mình Chị quan niệm:
“Nếu có chuyện đó (chuyện độc giả nếu chỉ nhớ đến một Võ Thị Xuân Hà của Đàn
sẻ ri bay ngang rừng và Lúa hát), vì trên đời này mọi sự đều có thể xảy ra, thì
không sao, ít nhất là đối với tôi Vì tôi tự thấy mình đã cống hiến cho người đọc
khá nhiều trang viết thấm đẫm sự đời và tình người” Và chính trong “Hành trình
nhận diện chính mình” qua những sáng tác, tác giả đã không quên thể hiện nỗi đau
giai dẳng về chiến tranh, những di chứng mà chính trong bản thân gia đình Võ Thị Xuân Hà gánh chịu Nhưng đây chỉ là sự thừa nhận một mảng sáng tác của chị, chứ bài báo chưa hề đã động đến sự thẩm bình tác phẩm Và cuối cùng chị tự nhận thiên chức của mình: “Tôi còn gặp nhiều nỗi cay đắng thất bại khác Lảo đảo đứng dậy đi tiếp Tôi nhận ra mình có mặt ở trên đời không phải để được yêu Tôi phải yêu người Yêu hết thảy mọi sinh linh trên cõi nhân gian Ngôi sao chiếu mệnh của
Trang 10tôi lúc này đang buộc tôi ngồi để viết ra những câu chuyện dâng cho cuộc sống”
Và con người chị thực sự rất mạnh mẽ: “Nhận ra điều này, tôi không còn thấy sợ cô đơn”
Và biết rằng cuộc sống sẽ nghiệt ngã, ngòi bút của tác giả cheo leo giữa gánh nặng áo cơm và văn chương nghệ thuật, nhưng chị luôn cố gắng, thậm chí còn “tự huyễn hoặc mình” nữa để viết, để “Mong được là chính mình” Đó là nội dung mà
bài “Mong được là chính mình” của tác giả Thu Hà đăng trên báo Tuổi trẻ Thành
Phố Hồ Chí Minh thực hiện Bài báo đã nêu lên được nhiều khía cạnh trong giọng
điệu truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà Đó là sự đan xen giữa sự tưởng tượng hư ảo; Sự đậm đặc của không khí hiện đại, những toan tính bon chen, những bi kịch thị dân; Điềm đạm và sâu lắng Chính bản thân tác giả cũng thừa nhận sáng tác của
mình có ba giọng điệu: “Hình như (chữ dùng của Võ Thị Xuân Hà) có ba kiểu: Lúa
hát là một Đàn sẻ ri bay ngang rừng là một kiểu Hội đồng quản lý là một kiểu
khác nữa” Theo tác giả “sự phân loại này thật ra cũng không chính xác lắm, vì có
khi trong một truyện có sự giao thoa của cả ba giọng ấy Nhà có ba chị em chẳng
hạn…” Và bài báo gần hai trang viết nên chỉ dừng lại ở cách nói chung chung đó
Và nữa cái gọi là “Mong được là chính mình” ấy cũng chỉ là chính mình tác giả mong muốn chứ chưa phải đã bóc tách bằng những tác phẩm văn chương thực sự
Do đó, một mặt là khoảng trống để chúng tôi mổ xẻ đi sâu phân tích, mặt khác cũng là trách nhiệm của người làm nghiên cứu cần phải cố gắng hoàn thành ý tưởng của tác giả sáng tạo
Nguyễn Thị Thu Thủy trong bài phỏng vấn “Tham gia chương trình “Mùa
xuân nước Pháp” để gần độc giả hơn ”, chỉ là những câu hỏi về chương trình mà
Võ Thị Xuân Hà có tham gia giao lưu với nội dung “Không gian đa chiều trong bút pháp Võ Thị Xuân Hà” Ngoài ra không có gì động chạm đến sáng tác của tác giả Tuy nhiên qua bài phỏng vẫn chương trình này cũng giúp chúng tôi nhận thấy rằng
“Không gian đa chiều” là một đặc trưng nghệ thuật trong sáng tác của chị Hà, để từ
đó tiếp tục đi sâu khảo sát phân tích
Trang 11“Đọc những trang văn tinh tế, thâm trầm của Võ Thị Xuân Hà nhiều người sẽ nghĩ chị viết khó khăn vì câu chữ rất kỹ Thực ra, Xuân Hà là một trong những tác giả hiếm hoi có thể viết văn với cái lối của một nhà báo Nghĩa là ở bất cứ đâu, trong hoàn cảnh nào chị cũng có thể ngồi gõ máy như nhập đồng” Và thật bận rộn, thật hăng say làm việc để làm sao cho bản thân mình không nhàm chán, văn
chương không nhàm chán Đó là nội dung chủ yếu của bài viết: “Nhà văn Võ Thị
Xuân Hà: Bí quyết chống nhàm chán” do tác giả Phong Điệp thực hiện được đăng
trên báo Văn nghệ trẻ, số 9, ngày 1/3/2009 và được đăng tải trên Website
Phongdiep.net Thông qua nội dung đó tác giả bài viết giới thiệu về tập truyện ngắn Thế giới tối đen và những sự kiện xung quanh tập truyện; Thời điểm ý thức về con
đường đến với văn chương; Chương trình văn hóa Tôn vinh văn hóa đọc do Võ Thị
Xuân Hà xây dựng Nhưng nội dung này dù đang ngắn gọn sơ lược nhưng giúp chúng tôi hiểu được quá trình, tâm huyết sáng tạo của chị Võ Đặc biệt là ý tưởng
của Xuân Hà về tập truyện Thế giới tối đen Muốn thoát ra khỏi sự nhàm chán của
chị thể hiện ngay ở việc chị bảo vệ chính kiến của mình về tên tập truyện Khi được
nhiều người trong làng biên tập góp ý nên thay tên tập truyện Thế giới tối đen bằng
những cách gọi khác với những lí do hợp lý Nhưng chị bảo vệ quan điểm của mình rằng: “Nhưng cái cốt chính của tập này là tôi muốn tìm cách thay đổi thói quen của con người, định dạng lại cách gọi sự vật sự việc trên thế gian, một việc làm giống
như đánh nhau với cối xay gió; Thế giới tối đen chính lại là thế giới tuyệt đẹp của
loài chó dưới âm” Con đường đến với văn chương của chị ở trong bài viết này
cũng như chương trình Tôn vinh văn hóa đọc không phải đặc biệt nhưng giúp
chúng tôi nhìn nhận về con người tác giả sâu sắc hơn Đồng thời cách làm việc cật lực ấy người đọc sẽ có thêm lí lo để khâm phục sự “xả thân” vì văn chương của Võ Thị Xuân Hà Có lẽ tác giả bài viết cũng là người quá yêu mến chị, thế nên qua bài viết đậm vẻ thân tình, thấu hiểu này giúp chị cởi bỏ tấm lòng mình đối với nghiệp văn Cũng vì thế mà bài viết đang mang tính chất cảm nhận của người viết và lời tâm sự của người được phỏng vấn
Trang 12Bài viết Ngôi nhà gương của Võ Thị Xuân Hà đăng trên Tạp chí Người đẹp
Việt Nam, tác giả Hà Phạm Phú đã có bước thâm nhập bằng cảm nhận vào hình
tượng tác phẩm và tìm ra được những khái quát về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của chị Trước hết tác giả bài viết ghi nhận khả năng sáng tạo của chị:
“Chị lao động chăm chỉ và có tiềm lực đúng như nhà thơ Xuân Diệu viết: Cục ta cục tác, đẻ trứng này tôi còn trứng khác” Tiếp theo Hà Phạm Phú khẳng định Võ Thị Xuân Hà đã đến với bạn đọc bằng những truyện ngắn “đậm chất đàn bà”, mà theo tác giả bài viết làm nên “những ngôi nhà gương” chính là những người đàn bà
Bài báo tiếp tục đưa ra và phân tích các nhân vật nữ trong các truyện ngắn Đàn sẻ
ri bay ngang rừng, Người đàn bà và những con rối, Mùa biển, Cô gái quàng chiếc khăn xanh, Lúa hát… “Những người đàn bà của Võ Thị Xuân Hà không có một
làng quê chung rõ rệt, kẻ thì miền biển người thì miền rừng….Tuy nhiên những người ấy đều có một điểm giống nhau, cuộc sống tuy nghèo khó hay sung túc mặc
kệ, luôn cứ bị trộn lẫn thực tại và mộng tưởng, bị ám ảnh bởi quá khứ còn tương lai thì đầy bất trắc Những người đàn bà ấy cười nói, đi đứng, yêu đương vụng trộm, sung sướng và căm giận không hiểu sao lại làm cho lòng ta xáo động, đánh thức nỗi buồn chìm sâu và ngủ yên trong đáy tim mình từ bao năm, êm ái lan toả, thấm dần vào từng huyết quản Nỗi buồn còn bắt nguồn từ những khát vọng, ước mơ không đạt đến được, từ sự tan vỡ hạnh phúc mà đôi khi chính mình là thủ phạm Bởi quá yêu mình hay không chịu hiểu người Dừng lại ở những cảm nhận đó, bài viết kết luận: “Những truyện của Hà có cái gì đó mờ ảo Đọc truyện của Hà nghĩa
là làm một cuộc thám hiểm liều lĩnh vào thế giới tưởng tượng của chị, giống như đi vào nhà gương để nhận được đủ thứ gương mặt của mình, lúc thì bật cười, lúc thì
sợ hãi, để rồi cuối cùng thừa nhận rằng tất cả những cái vô lý ấy đều có cơ sở hiện thực của nó” Bài viết chỉ dừng lại ở mức nhận định tổng quát mà chưa đi vào phân tích sâu vào hình tượng nhân vật, ngôn từ, giọng điệu…
Bài Và người ta bắn chim sẻ của Cao Vi – Thùy Dung có lẽ là bài viết duy
nhất (cho đến thời điểm này) là bài viết tập trung nghiên cứu một tác phẩm văn học
Trang 13mang tính chất thẩm định bằng lí luận văn học trong truyện ngắn của Xuân Hà Bài
viết phân tích truyện ngắn Đàn sẻ ri bay ngang rừng dưới góc độ hội họa để rút ra
những nhận xét về nội dung tư tưởng Theo tác giả đây là tác phẩm “hoàn chỉnh nhất, xuất sắc nhất của Võ Thị Xuân Hà cả ở cảm hứng, cách viết, lẫn mức độ xâm lấn tình cảm ở người đọc”
Đặc biệt tác giả bài viết này còn đặt truyện ngắn Đàn sẻ ri bay ngang rừng trong sự đối sánh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), truyện ngắn Gió
dại Bài viết cho rằng sự gặp nhau của ba tác phẩm này là “Một cái nhìn đầy cay
đắng về chiến tranh và thân phận con người trong cuộc chiến đó”
“Truyện ngắn Gió dại kể về một mùa khô ác liệt trên chiến trường, một mối
tình “giữa hai bờ chiến tuyến” với một câu kết nổi tiếng Hiếm ở đâu trong văn học
Việt Nam về chiến tranh và hậu chiến như ở Gió dại và Đàn sẻ ri bay ngang rừng nỗi cay đắng về chiến tranh lại lớn đến vậy (ta có thể đọc được trong Đàn sẻ ri bay
ngang rừng những câu như: “Tôi căm tức nghĩ, may mà hồi đó có đánh nhau, chứ
cứ im ắng như bây giờ, những đứa con chán cha mẹ chỉ có nước đi lang thang”, hoặc “Nhưng anh Nẫm chân đạp đất mà đầu phải đội đạn”, hay “Tình yêu của chúng tôi mới đầu đã dợm mùi thuốc súng”), và được thể hiện cũng theo một mô hình khá giống nhau: sử dụng các ẩn dụ hàm nghĩa rõ rệt về sự vô nghĩa, nhỏ nhoi:
ở Gió dại là những cơn gió thổi hoang vu, còn ở Đàn sẻ ri bay ngang rừng là sự bạt
ngàn của những con chim sẻ: bởi vì lũ chim sẻ đông đến như vậy, nên cái chết của các cá thể chim sẻ hoàn toàn giống như một điều vô nghĩa Trong một bài viết được phân tích khá kỹ lưỡng này giúp cho người đọc có cái nhìn khách quan hơn, dẫn đường cho người đọc tìm đến sáng tác của Võ Thị Xuân Hà – ít nhất là cũng ở những tác phẩm nói về chiến tranh của chị
Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đương đại (Đoàn Cầm
Thi, http://evan.vnexpress.net 27/03/2004) là bài viết về đề tài chiến tranh, tình yêu
trong chiến tranh Với cái nhìn mới trên đề tài tưởng như đã cũ của văn học đi từ Nguyễn Minh Châu, Dương Hướng, đến Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà giúp người
Trang 14đọc có được những nhận thức mới mẻ hơn, lạ hóa hơn Dọc suốt chiều dài đề tài
chiến tranh, tình yêu trong chiến tranh của văn xuôi sau 1986 những người này đều
đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Thế nào là chiến tranh? Và những con người trở về
từ chiến tranh họ sẽ sống như thế nào? Ở bài viết này Đoàn Cầm Thi giúp chúng ta
nhận thấy văn xuôi Việt Nam có sự đổi mới ở phương diện đề tài, truyện ngắn Võ
Thị Xuân Hà cũng đã nắm bắt được những nét mới mẻ đặc biệt Tuy nhiên ở bài
viết này, sáng tác của Võ Thị Xuân Hà mới chỉ đề cập đến truyện ngắn Đàn sẻ ri
bay ngang rừng và đổi mới về nội dung chứ chưa đề cập được những thành công về
phương diện nghệ thuật
Ngoài những bài viết trên còn có những bài phỏng vấn, trao đổi, lời giới thiệu
về tác giả và tác phẩm trên những mặt báo khác Dù không nhiều nhưng thông qua
đó cũng bộc lộ được những nội dung quan trọng cho việc nghiên cứu
Tuy nhiên với số lượng sáng tác có tầm, nhưng những ý kiến đánh giá phê
bình về truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà đang hết sức ít ỏi Chưa có công trình nào
nghiên cứu có tính chất quy mô về đóng góp của Võ Thị Xuân Hà ở lĩnh vực truyện
ngắn Với đề tài “Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà”, chúng tôi
không chỉ cảm nhận chung chung, phiến diện, chủ quan Dựa vào việc lựa chọn
khảo sát các tập truyện ngắn của chị, trên cơ sở vận dụng lí luận và thực tiễn thể
loại chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp của Võ
ggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggg
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu chung về thể loại truyện ngắn và truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Đặt Võ Thị Xuân Hà trong bối cảnh chung với các tác giả cùng thời để thấy được
nét riêng trong đặc trưng và đóng góp của tác giả
3.2 Tìm hiểu truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà để làm nổi bật những nét độc đáo trên
một số phương diện nội dung
Trang 153.3 Tìm hiểu truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà để thấy được những nét độc đáo trên
một số phương diện nghệ thuật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các tập truyện ngắn đã xuất bản:
Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào – Tập truyện ngắn - Nxb văn học, 1992
Bầy hươu nhảy múa – Tập truyện ngắn - Nxb văn học, 1994
Cổ tích cho tuổi học trò - Tập truyện ngắn – Nxb Kim Đồng, 1994
Kẻ đối đầu - Tập truyện ngắn – Nxb Hội nhà văn, 1998
Giá nhang đèn và những truyện khác - Tập truyện ngắn – Nxb HN, 1999
Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà - Tập truyện ngắn – Nxb Phụ nữ, 2002
Chuyện của người con gái hát rong - Tập truyện ngắn – Nxb Hội nhà
văn, 2006
Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí - Tập truyện ngắn – Nxb Hội
nhà văn, 2007
Thế giới tối đen - Tập truyện ngắn – Nxb Phụ nữ, 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân loại – thống kê
Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp phân tích – tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đặt truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong bối cảnh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 để khảo sát, phân tích, qua đó chỉ ra những điểm mới mẻ của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà ở phương diện nội dung cũng như hình thức nghệ thuật
7 Cấu trúc luận văn
Trang 16Ngoài phần mở đầu, kết luận, liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Chương 2 Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trên một số phương diện nội dung
Chương 3 Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trên một số phương diện hình thức nghệ thuật
Trang 17Chương 1 TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ TRONG BỨC TRANH CHUNG
CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1986
1.1 Vài nét về khái niệm truyện ngắn và ưu thế của thể loại
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn trong văn học Việt Nam
Về khái niệm truyện ngắn, từ xưa đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu Nguyễn Kiên cho rằng: “Mỗi truyện ngắn là một trường hợp…Trong quan hệ giữa con người với đời sống, có những khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó được bộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt được cái trường hợp ấy Trường hợp ở đây là một màn kịch chớp nhoáng, có khi là một trạng thái tâm lí, một biến chuyển tình cảm kéo dài, chậm rãi trong nhều ngày Nhưng nhìn
chung thì vẫn có thể gọi là một trường hợp” Trường hợp đối với Nguyễn Kiên
được xem là tình huống Nhà văn Nguyễn Công Hoan – Một trong những người có thành công bậc nhất trong các cây bút truyện ngắn hiện đại, và yếu tố làm nên sự thành công của ông trong truyện ngắn là tình huống, lại có sự phân biệt giữa truyện
ngắn và truyện dài khi cho rằng: “Truyện ngắn và truyện dài phải khác nhau về tính
chất Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc Muốn truyện ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong từng ấy ý làm ý chính, làm
chủ đề cho truyện… Những chi tiết trong truyện chỉ xoay quanh chủ đề ấy thôi” Ở đây tác giả của Người ngựa, ngựa người nhìn truyện ngắn từ góc độ chi tiết Còn
Nguyên Ngọc lại đặt truyện ngắn trong sự đối sánh với tiểu thuyết: “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung”, vì vậy “Không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn có nhiều vẻ Có truyện viết
về cả một đời người lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua”…
Có thể thấy rằng xuất phát từ những mục đích, tiêu chí khác nhau mà truyện ngắn có thể được hiểu và diễn giải khác nhau Bởi vậy, đưa ra một định nghĩa đầy
Trang 18đủ về truyện ngắn là một việc làm không hề đơn giản Từ góc độ nghiên cứu theo yêu cầu, mục đích và thực tế của đề tài chúng tôi thống nhất với khái niệm truyện ngắn của nhóm biên soạn Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học NXB Giáo dục năm 2006: “Truyện ngắn là
thể loại tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra liền một mạch đọc một hơi không nghỉ”… Truyện ngắn
có nhiều khả năng đặc biệt, độc đáo của nó là có thể đọc liền mạch một hơi không nghỉ nhưng lại có khả năng thể hiện con người Truyện ngắn không nhiều nhân vật, không nhiều sự kiện đan xen như tiểu thuyết Nhân vật truyện ngắn cũng chỉ là lát cắt cho một trạng thái quan hệ, ý thức xã hội hoặc một trang thái nào đó tồn tại của con người Nghĩa là đối lập với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ, phát hiện một nét bản chất của đời sống; nó là một khoảnh khắc, một nhát cắt
có ý nghĩa “Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về không gian, thời gian Nó có chức năng nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và con người Kết cấu của truyện ngắn thường không gồm nhiều tầng tuyến, mà dựng theo kiểu
tương phản hoặc liên tưởng” [76,6]
Có thể nói yếu tố quan trọng bậc nhất làm nên lõi đặc trưng của truyện ngắn
là chi tiết cô đúc hàm chứa nội dung lớn và lối hành văn sắc gọn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm có chiều sâu, sức lan tỏa nhiều chiều để người đọc tự khám phá
1.1.2 Ƣu thế của truyện ngắn
Là một trong những loại văn kể chuyện, truyện ngắn cũng mang những đặc điểm của truyện nói chung (có có cốt truyện, có nhân vật, được thể hiện qua phương thức kể chuyện có vai trò của người kể chuyện gọi là người trần thuật, giọng điệu, chi tiết, ngôn ngữ ) Tuy nhiên, truyện ngắn vẫn chính là nó, không lẫn vào thể loại khác là bởi những đặc trưng riêng biệt, độc đáo Đó cũng chính là
ưu thế cốt lõi của thể loại này
Trang 19Truyện ngắn rất nhạy cảm với những biến động của đời sống xã hội nên “tự
nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ và truyền dẫn cực nhanh những thông tin mới mẻ Đây là thể loại văn học
có “nội khí một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy” Truyện ngắn có khả năng sống và chớp lấy sự thật nếu không quá chăm chú vào cái đặc biệt độc đáo nổi lên như một hiện tượng đời sống Sự thật ấy tiềm ẩn trong cái bình thường, trong những sự kiện hoàn toàn có thực bởi “truyền ngôn” chứ không phải “truyền thuyết” để đem lại cho truyện ngắn những con người thực sự và sự thật về con người” [76,7] Biêlinxki cũng từng nhận định: “Nếu có tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức của thời đại” Truyện ngắn là một trong những thể loại của thời đại Bởi rất nhạy cảm với đời sống mà nó thu hút được sự quan tâm của người sáng tác, người nghiên cứu, người đọc… Với hình thức nhỏ gọn, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã hội và tái hiện được mọi biến thái trước đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người
Truyện ngắn là một thể loại rất năng động, có khả năng to lớn trong việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống Tuy nó là thể loại “cỡ nhỏ” nhưng lại là thể loại phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu Vì thế mà dung lượng của truyện ngắn rất lớn Nhà văn Nguyên Ngọc trong một cuộc thảo luận
về truyện ngắn năm 1992 đã nhấn mạnh: “…Trong độ ba trang, mấy nghìn chữ
mà rõ mặt cả một cuộc đời, một kiếp người, một thời đại Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết”
Dù sức nặng của dung lượng truyện ngắn là rất lớn, nhưng đấy lại là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí Do đó, nó có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Bởi vậy mà thể loại này đã thu hút được sức sáng tạo của rất nhiều thế hệ cầm bút Chỉ riêng truyện ngắn Việt Nam sau 1975 thôi cũng đã có cả một lực lượng hùng hậu, từ những nhà văn có tầm cỡ như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Xuân Thiều …đến Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Lý Lan,
Trang 20Trần Thuỳ Mai, Trần Thị Trường, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo… và gần đây là Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư và nhiều cây bút trẻ đang thử sức mình trên lĩnh vực truyện ngắn Có thể nói, sự hội tụ và tiếp nối này của các thế hệ cầm bút đã góp phần không nhỏ vào việc cách tân thể loại, làm cho truyện ngắn ngày càng phong phú, mới mẻ, hứa hẹn nhiều thành tựu lớn Chính vì thế mà truyện ngắn cũng đã thực sự phát huy được ưu thế của thể loại và ở những phương diện nhất định, nó đã thực hiện được một số chức năng xã hội, thẩm mỹ của văn học
1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội và bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
1.2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội
Thế kỷ XX là thế kỷ có nhiều biến động rất lớn trong đời sống kinh tế, chính trị của Việt Nam Đồng thời cũng là thế kỷ với các chiến thắng đỉnh cao vinh danh nối tiếp trang sử của đất nước Việt Nam anh hùng
Cách đây tròn 35 năm, mùa xuân năm 1975, bằng cuộc tổng tấn công và nổi dậy, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ hệ thống ngụy quân, ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước Thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của khát vọng độc lập tự do, của ý chí và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam Đại thắng mùa xuân 1975 đã chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa Tổ quốc ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự do
và Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên cả nước lại phải bước sang một giai đoạn mới có nhiều thời cơ nhưng thách thức và cam go không kém phần khốc liệt: Bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa
Trang 21Sau chiến tranh, đất nước còn bộn bề, phức tạp về mọi mặt Những mặt trái của xã hội không ngừng bộc lộ, nhiều tiêu cực của cơ chế quản lý bao cấp đã góp phần tạo nên sự trì trệ Vừa thoát ra khỏi chiến tranh đầy thương tích lại tiếp tục oằn mình bước vào công cuộc kiến thiết đất nước thời hậu chiến khó khăn Tâm lý con người không khỏi có những băn khoăn, hoang mang lo lắng khi đối diện với những biến động khủng hoảng của xã hội Để ổn định lại, năm 1986, Đảng ta tiến hành Đại hội Đảng lần thứ VI Đây là Đại hội Đổi Mới toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và tư duy Rút kinh nghiệm sâu sắc từ vết xe đổ trong công cuộc cải tổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đường lối chính sách của Đại hội VI đã có những tác động tích cực lên tất cả các lĩnh vực Đặc biệt, vào tháng 10 năm 1987, cuộc giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và các anh em văn nghệ sĩ với những trao đổi thẳng thắn, cánh cửa lớn đã
mở ra cho văn học nghệ thuật Nối tiếp sau đó là sự ra đời của Nghị quyết 05 của
Bộ chính trị về công tác văn hóa văn nghệ (1987), tạo vị trí và chức năng mới cho văn nghệ: “Văn học nước ta phải đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Nhà văn của chúng ta bấy giờ cũng tự xác định “không thể viết như trước nữa” Chưa bao giờ lại có nhiều cuộc hội nghị “bàn tròn” về văn học như thời kỳ này Đường lối đổi mới cùng các sự kiện chính trị, văn hóa sau đổi mới đã tạo đà và thổi một luồng sinh khí mới cho văn nghệ Tinh thần “cởi trói”, “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, “tự do sáng tạo phải đi đôi với tự do phê bình” đã dần hình thành nếp trong đời sống văn nghệ Sau đổi mới, tư duy của con người thay đổi rõ rệt
“Khi nhận định về sự phát triển của văn hoá văn nghệ dưới chế độ tư bản C Mác đã viết: “Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thù địch với nghệ thuật và thơ ca” Đây là một luận điểm có tính bao quát về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với một số hoạt động tinh thần thiên về cái lý tưởng, cái đẹp trong đó có văn học nghệ thuật Có nhà nghiên cứu cho rằng C Mác muốn nói đến sự đối địch giữa chủ nghĩa tư bản vốn mang nhiều tính thực dụng với thơ ca một thể loại giàu tính chất trữ tình, thơ mộng Thực ra vấn đề lý luận đặt ra rộng hơn, sâu sắc hơn chung cho các loại hình văn nghệ
Trang 22C Mác đã khảo sát phát hiện và nêu nhiều luận điểm xuất sắc, phong phú về nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản Đó là thời kỳ lịch sử mới, với phương thức sản xuất lớn lao, đem lại khối lượng khổng lồ hàng hoá cho xã hội” Tuy nhiên, qua nhiều thế kỷ phát triển chủ nghĩa tư bản tự bộc lộ những mặt yếu tự bên trong: “cạnh tranh và chạy đua theo lợi nhuận bằng bất kỳ thủ đoạn nào và từng giai đoạn lại lâm vào khủng hoảng và tồi tệ nhất là cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay của Mỹ và một số nước tư bản Sự phân hoá giàu nghèo và đa số rơi vào cùng khổ, xã hội chất chứa nhiều cái phi lý, tội ác tràn lan trong đời sống Tất cả mặt mạnh và yếu trên đều tác động đến hoạt động tinh thần và đời sống văn hoá văn nghệ Kiến trúc thượng tầng của xã hội tư bản như một tấm gương treo ngược phản ánh những mặt trái, những bất công, phi lý của xã hội” [ 17,1] Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua gia đoạn tư bản chủ nghĩa là về đường lối, nhưng về
sự phát triển kinh tế vẫn không nằm ngoài những quy luật đó Nền kinh tế thị trường đi đôi với ưu điểm, đang ngày càng bộc lộ những mặt trái của nó: Sự băng hoại về đạo đức, truyền thống gia đình ngày càng lỏng lẻo, mong manh, chuẩn mực văn hóa đạo đức tốt đẹp của cha ông đang dần bị tấn công bởi những luồng văn hóa mới lạ, lai căng, quan hệ giữa người và người cũng bị “tiền tệ hóa” Nền văn hoá đại chúng này có ba điểm nổi bật: lối sống tiêu dùng tôn thờ tiện nghi, thời trang, và quảng cáo- cả ba thứ được coi trọng hàng đầu trong xã hội, nhất là giới trẻ Tinh thần này như một dòng chủ lưu đã xâm nhập, chi phối hầu như toàn bộ đời sống nhân loại
Nó tấn công vào đạo đức, thói quen, cách cảm cách nghĩ truyền thống Nó khước từ thần tượng Nó đề cao công ăn việc làm, kiếm tiền, và hưởng thụ Nó kích động con người tự quảng bá chính mình…Tinh thần chung của xã hội hiện đại thực sự là nơi ngự trị của con người cá nhân với tất cả sức mạnh tích cực cũng như hệ lụy của
nó
Từ những biến động lịch sử đã tác động sâu sắc đến tâm lý con người Trong chiến tranh con người đối mặt giữa sự sống và cái chết, anh dũng và hèn nhát, nhưng khi thời bình con người phải đối mặt với cuộc sống thường nhật Trong guồng quay của nền kinh tế thị trường, nội tâm con người bí ẩn và khó nắm bắt
Trang 23hơn Thế nên thị hiếu, khả năng nhận thức của con người cũng không hề đơn giản dẫn đến cách thẩm định văn học cũng phức tạp hơn Độc giả ngày nay “ không bằng lòng với hiện thực khách quan được phản ánh, họ đòi hỏi ở nhà văn tinh thần nghiền ngẫm, suy luận nghiêm túc Bởi vậy cái nhìn giản đơn một chiều về cuộc sống không còn hấp dẫn Thậm chí người đọc hôm qua còn mặn mà là thế bỗng dưng hờ hững quay lưng lại với văn học nước nhà vì lối viết không mới mẻ, vì những vấn đề hiện thực đã quá cũ mòn Đòi hỏi từ phía người tiếp nhận, sự tự ý thức phải thay đổi từ phía người sáng tạo cộng với đường lối chính sách thông thoáng đã tạo đà cho văn học Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ”[36,9]
1.2.2 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Chấm dứt một giai đoạn lịch sử dân tộc với nhiều những vấn đề bất cập của thời đại, năm 1986 Việt Nam tiến hành đổi mới để đưa đất nước vượt ra khỏi sự khủng hoảng chung của các nước Xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Bối cảnh mới này cũng tạo cho văn học những chấn động sâu sắc Đời sống xã hội thiết lập nhiều giá trị tinh thần mới Khác với nền văn học chiến tranh yêu cầu nghiêm ngặt về chính trị và tư tưởng, dân chủ trong sáng tác của thời kỳ này mở ra những cơ hội tìm tòi sáng tạo cho nhà văn Đặc biệt, đổi mới văn học từ 1986 “chính là sự ý thức của văn học trên một chặng đường mới của lịch sử đất nước và trên chặng đường phát triển của chính nó” Nằm trong nguồn mạch chung của văn học, văn xuôi, truyện ngắn Việt Nam sau 1986, với các ưu thế của nó đã bao quát lấy được bộ mặt chung của văn học thời kỳ này
1.2.2.1 Dân chủ hóa văn học
Dân chủ hóa trong quan niệm văn học
Văn học như một công cụ chính trị, là vũ khí tư tưởng, là phương tiện giáo dục, tuyên truyền là cách nhìn trước đây về cơ bản đã được giải tỏa Nay văn học
đã và đang từng bước trở lại với tính chất đặc thù nghệ thuật Người ta quan tâm đến văn học bởi chức năng, bản chất và đối tượng đặc thù của nó: “Văn học được nhấn mạnh tính chất tương đối độc lập của nó với chính trị Quyền tự do nhà văn
Trang 24được khẳng định Văn học gắn bó với hiện thực, nhưng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện thực Đối tượng nghiên cứu và khám phá của văn học không chỉ là xã hội mà còn là con người với tất cả sự phức tạp bí ẩn của nó Tính chất mỹ văn của văn chương được nhấn mạnh” [1,15] Quan niệm văn học cũng chịu sự chi phối của cơ chế mở và được gắn với cá tính sáng tạo của nhà văn
Xu hướng chung là các nhà văn không kì bí hóa văn chương, không đặt vào đó nhiều hi vọng cao siêu Xem văn chương như một hiện tượng bình thường của đời sống: về bản chất, nó vẫn là cái cần câu cơm (Nguyễn Huy Thiệp); “Văn chương sẽ sống cái sức sống tự nhiên của nó Nhưng như tất cả mọi việc trên đời này, văn chương cũng có giới hạn, có sự sáng lên, sự mất đi, có cái cao cả cũng như cái bình thường” (Lê Minh Khuê) [74]; Thái Thăng Long: “Với tôi văn chương là một tôn giáo, không mang một màu sắc chính trị nào cả Nó là nỗi đau khát vọng con người” [74]; Cũng có thể là “một phép ứng xử”, “một trò chơi vô tăm tích” như cách nghĩ của Phạm Thị Hoài… Đổi mới về quan niệm văn học giúp cho nhà văn
có một tâm thế mới, vị thế mới, chủ động và tự do hơn trong quá trình sáng tạo
Dân chủ hóa đời sống văn học
Văn học Việt Nam sau 1986 đã bước sang “một thời kỳ khác” (Nguyễn Kiên), thời kỳ mà văn hóa cũng được giao lưu hội nhập như các lĩnh vực khác Đó
là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới bước phát triển của văn học nước nhà Hòa nhập nhưng không hòa tan, trong quá trình giao lưu, văn học nước ta có điều kiện tiếp xúc, lĩnh hội những giá trị đích thực, những thành tựu to lớn của văn học thế giới Đổi mới cơ chế quản lý văn học, tài năng và cá tính sáng tạo của nhà văn được tôn trọng, chế độ đãi ngộ xứng đáng với lao động sáng tạo đã khiến cho đội ngũ nhà văn tăng lên một cách nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng Bên cạnh thế hệ các nhà văn trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, là sự xuất hiện các ngòi bút trẻ đầy triển vọng hội tụ đủ: sự xông xáo, tài năng, cá tính và hoài bão Không chỉ vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của thông tin, các nhà văn hải ngoại cũng góp phần vào sự nghiệp chung của Đổi mới văn học Tất cả các nhà văn đều
Trang 25có quyền tự do bày tỏ những suy ngẫm của mình về thế giới đa chiều của hiện thực đời sống: ngợi ca, chiêm nghiệm, phê phán, có cả những buồn thương, xa xót Mối quan hệ giữa văn học – công chúng đã được thiết lập lại trong quan hệ mới Tiếp nhận văn chương đã được dỡ bỏ những áp đặt về căn bản Thị hiếu của người đọc đa dạng và được tôn trọng nên công chúng có thể đọc và thẩm định được nhiều loại sách ở nhiều đề tài Thị trường văn học vì thế được mở rộng, ngòi bút nhà văn chịu sự chi phối vừa khắc nghiệt vừa rộng rãi của quy luật cung – cầu Mối quan hệ giữa nhà văn – bạn đọc, tác phẩm và công chúng đã có tác động đến quy luật nội tại của văn học chi phối đến thi pháp và giọng điệu văn chương Nhà văn không còn là người truyền bá tư tưởng, đạo lý, áp đặt chân lý nữa Nhà văn nay chỉ
“là một người bạn tâm tình”, người đọc đã có được “tư thế bình đẳng”, “làm chủ” đối với văn chương Ngày nay, nhà văn và người đọc như cùng song hành trên con đường nhận thức hiện thực và chân lý đời sống Độc giả nay trở thành nhân tố quan trọng tạo nên sự hoàn chỉnh cho tác phẩm văn học
1.2.2.2 Đổi mới tƣ duy, quan niệm, cảm hứng văn học
Đổi mới tư duy nghệ thuật
Muốn thay đổi diện mạo của đất nước, một trong những yếu tố quan trọng là
sự thay đổi về tư duy Tư duy con người là một nếp nghĩ bền vững ăn sâu tận trong gốc rễ Thay đổi nó phải đòi hỏi cả một quá trình cách mạng Với văn học trong đó
có thể tài truyện ngắn, cái mới trước hết của thời kỳ này là sự thay đổi tư duy nghệ thuật Khi vai trò chủ thể nhà văn được nhấn mạnh thì họ cũng tự tin hơn trong những tìm tòi, sáng tạo và cách lí giải về đời sống Hiện thực đời sống đã thay đổi, nhà văn giữ khư khư lối tư duy cũ, chẳng khác nào ép người đọc cứ phải nhận thức lại những cái quá nhàm chán, cũ rích Mà thị hiếu công chúng lại đâu chỉ đơn giản một chiều, gu thẩm mỹ, sự thẩm định của rất nhiều bạn đọc rất sâu sắc bởi trình độ
và vốn văn hóa có bề dày Trước những đòi hỏi đó nhà văn phải có cách tiếp cận hiện thực phù hợp Sau 1986, các mảng hiện thực gần như bị đảo lộn vị trí chiếm lĩnh đối với nhà văn Dường như không còn cái gọi là những vùng cấm địa đối với
Trang 26văn học Đâu là hiện thực chân thực của đời sống, thì ở đó lại có sức hút mạnh mẽ của người cầm bút Đề tài Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội không còn là đề tài độc tôn như trước nữa Một mảng hiện thực lớn hôm nay được khơi dậy là vấn đề thế sự đời tư, đời thường và đạo đức cá nhân Văn học trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt chỉ quan tâm được hiện thực lớn là hiện thực cách mạng, biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng Nhưng ngày nay, nếu bỏ qua hiện thực đời sống với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan phức tạp, giằng xé đan xen nhau tạo nên “mạch ngầm”,
“mạch nổi” của đời sống thì không đảm bảo được tính toàn vẹn của nó Đi sâu vào đời sống cá nhân, khám phá cuộc sống buồn vui riêng tư, tính cách, số phận, hạnh phúc hay bi kịch của con người đã mở ra không gian bất tận cho nhà văn thỏa sức chiếm lĩnh và khai phá
Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
Đặc điểm thi pháp văn học nằm trong hành trình sáng tạo của nhà văn và quy luật của thể loại, nhưng cuộc chiến tranh khốc liệt giai đoạn 1945 -1975 đã có những chi phối không nhỏ đến quan niệm nghệ thuật về con người Đó là vấn đề tồn tại mang tính lịch sử văn học Con người trong văn học chiến tranh là trước
1975 thậm chí kéo dài hết thập kỷ 80 là con người sử thi, sống vì cộng đồng, xã thân vì lợi ích của dân tộc Âm hưởng chủ đạo của văn học thời kỳ này là âm hưởng hào hùng ngợi ca bao trùm lên toàn bộ đời sống văn học Các nhà văn đều hướng ngòi bút của mình vào khám phá, ngợi ca những con người tiên tiến, hội tụ tinh hoa phẩm chất của thời đại, họ là những anh hùng tạc nên tượng đài dân tộc Việt Nam thế kỷ XX Sau chiến tranh, đặc biệt sau 1986, tất cả dường như lắng lại, các biến thái văn học đều lùi vào sự chiêm nghiệm suy ngẫm để rồi bùng lên với những biến thái đa dạng, phức tạp hơn Con người cá nhân với những mối quan hệ trong cuộc sống thường nhật được xem là đối tượng trung tâm của văn học Bối cảnh mới đã thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, đòi hỏi văn học phải quan tâm đến mỗi con người và từng số phận Sự thức tỉnh ý thức cá nhân cũng là mốc quan trọng nhất làm thay đổi quan niệm về con người thời kỳ đổi mới Truyện ngắn
Trang 27thời đổi mới quan tâm đến mọi vấn đề của con người “Đó là nỗi đau của chiến tranh để lại, là sự mất mát của người lính bước ra khỏi cuộc chiến, là nỗi hận thù của dòng họ, gia tộc, là cái khắc nghiệt của sự đói khát cô đơn Có cả những vấn đề của cõi tâm linh, tiềm thức và vô thức Mọi cảm xúc, mọi cung bậc của đời sống đều sống dậy trong những câu chữ giản dị Bao nhiêu phức tạp ồn ào bao nhiêu dư
vị đắng chát của cuộc sống thời đổi mới đều được truyện ngắn phản ánh chân thực” [36,12] Sau 1986, đặc biệt là hiện nay con người không còn gì là riêng tư nữa, mọi ngóc ngách sâu kín nhất của con người bằng hình thức này hoặc hình thức khác đều được đưa lên mặt báo Những vấn đề tế nhị, thiêng liêng nhất của con người, văn học đều chạm tới và xới tung lên như một vấn đề của hiện thực chân thực Vì thế những mảnh đời riêng biệt, âm thầm lặng lẽ hay sôi động ồn ào đều được nhà văn nhìn nhận khai thác làm nên sự đa dạng phức tạp trong thế giới nhân vật
Trước đây, với thi pháp nghệ thuật sử thi, con người được nhà văn nhìn nhận rất đơn giản, một chiều, bản chất con người có tính chất phân định rạch ròi: địch -
ta, thiện - ác, cao cả - thấp hèn, thì hiện nay trong văn xuôi nói chung cũng như truyện ngắn nói đến con người với sự tồn tại rất người, nguyên bản thể tự nhiên của
nó Tốt đẹp - xấu xa, thiện - ác, ánh sáng - bóng tối, cao thượng - thấp hèn…đan xen trộn lẫn trong con người Con người luôn phải đặt trong tình thế mong manh của đường phân giới hai cực đối lập vừa phải chung sống vừa phải đấu tranh với nhau Tiếp cận với thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, YBan, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, …Chúng ta luôn thấy họ là những cá thể riêng biệt, nhưng lại là những khuôn mặt khác nhau của cuộc sống đời thường đa dạng, biến hóa
Đổi mới cảm hứng
Sau 1986, văn xuôi Việt Nam tiếp tục phát triển với cảm hứng yêu nước, dân tộc, dân chủ, nhân văn Cái mới trong văn học có khi diễn ra đột xuất, đơn chiếc, dễ thấy nhưng nhiều khi nó diễn ra lặng lẽ, tiệm tiến, chắc chắn, phải đợi một thời gian mới thấy hết diện mạo của nó Phản ánh hiện thực cuộc sống là cảm hứng vô
Trang 28tận đối với mỗi nhà văn Tiếp tục truyền thống nhập cuộc xả thân trong chiến tranh, nay các nhà văn lại hăng hái phát huy tinh thần sáng tạo trong cuộc đấu tranh cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đi đến những lĩnh vực mũi nhọn, những nơi còn nhiều khó khăn, những vấn đề xã hội nóng bỏng Chủ đề nổi bật và mối quan tâm lớn nhất của văn học ta hiện nay là vấn đề đạo đức xã hội Cảm hứng nổi bật trong văn học lúc này không còn âm vang hào sảng như trước nữa mà lắng đọng lại những chiêm nghiệm, suy tư về cuộc sống và đời thường một cách toàn diện trọn vẹn Cuộc đấu tranh để hoàn thiện con người trong bối cảnh cơ chế thị trường và sự xung đột giữa các nhóm lợi ích diễn ra với biết bao giằng xé, đau đớn, vật vã được thể hiện một cách chân thực, tươi ròng, sâu sắc trong tất cả các thể loại Qua đó người đọc cảm thấy rất rõ cái tâm xây dựng và “hữu trách” của nhà văn…Do đó, nhiệm vụ của người cầm bút thời kỳ đổi mới được đặt ra một cách cấp thiết và đầy trách nhiệm
1.3 Nhìn chung về đóng góp của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
1.3.1.Vài nét về tiểu sử và con người
Võ Thị Xuân Hà sinh ngày 20 tháng 04 năm 1959 tại Hà Nội Quê gốc là Vĩ
Dạ, Thành phố Huế Tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Toán – Lý, học Tổng hợp văn tại chức, tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa 4 (1989-1992) đỗ Thủ khoa Tốt nghiệp khóa Chính trị Cao cấp tại chức, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh (1998-2001) loại giỏi Từ 1993-2000 làm phóng viên ở báo Vì trẻ thơ, Thiếu
niên tiền phong, là Trưởng Ban biên tập của báo Điện ảnh kịch trường Từ
2000-2001 là Trưởng Phòng Biên tập Tổng hợp của Nhà xuất bản Văn học Và hiện tại đang là Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam Tuy nhiên xen kẽ giữa các công việc đó, Võ Thị Xuân Hà đã và đang lấn sân sang cả lĩnh vực kinh doanh nữa Lẫn lộn giữa tiếng gõ máy của những con chữ phóng túng hư hảo là tiếng đòi hỏi được sinh tồn áo cơm, đứng vững được quả là điều không dễ dàng chút nào Dù cuộc sống áo cơm bận rộn nhưng sức viết của chị vẫn đang ngày càng mỗi dồi dào hơn và ngày càng được đông đảo bạn đọc đón nhận
Trang 29Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, quê hương Thành phố Huế, Võ Thị Xuân Hà mang trong mình đậm đà hai dòng văn hóa của hai vùng đất văn hiến Một Hà Nội – Thăng Long nghìn năm văn vật, một Huế - cố đô trung tâm Phật giáo, thành trì cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Điều này ảnh hưởng rõ ràng trong văn chương Võ Thị Xuân Hà Chị ăn và uống nước sông Hồng, nhưng vẫn ngấm sâu trong từng mao mạch là sự dịu dàng bí ẩn của dòng Hương Giang Đó là một ưu thế
mà người đọc dễ dàng nhận thấy trong văn chương của chị
Gia đình dòng tộc Võ Thị Xuân Hà là một danh gia vọng tộc ở Huế Vĩ Dạ - quê nội của nhà văn là cái tên vô cùng quen thuộc với mọi tầng lớp, lứa tuổi yêu thơ văn Tuy nhiên điều đặc biệt hơn nữa mà ít người biết được mà chính tác giả hết sức tự hào là ở làng Vĩ Dạ, con đường mang tên Nguyễn Sinh Cung chủ nhân
số nhà 210 là nơi bố mẹ Võ Thị Xuân Hà đang ở Tiếp nữa ngôi nhà số 250 chính
là của nhà thơ Mặt đường khát vọng và dòng họ Nguyễn Khoa danh gia vọng tộc
Dưới nữa là nơi Bội Lan – nhà thơ – nhân sĩ quen thuộc với người miền Nam đang
an trí Phía sau nhà họ Võ là nơi sinh ra và lớn lên của nhà thơ Trần Vàng Sao – nhà thơ nổi tiếng cùng bài thơ “Bài thơ của một người yêu nước mình”, là bạn của một người chú ruột Võ Thị Xuân Hà Gần nữa là nhà của nhà thơ Tô Nhuận Vĩ, dinh thất của Tuy Lí Vương và nhiều đại quan, vương tôn công tử triều Nguyễn…Địa linh sinh ra nhân kiệt Gia tộc Võ Thị Xuân Hà rất đặc biệt Ông Võ Công Đồng - nội chị là ông chủ tiệm vàng Tài Nguyên nổi tiếng và giàu nhất nhì Huế thời Pháp thuộc Những người Huế từ thời vua Bảo Đại đến thời chính quyền Sài Gòn, ít ai không biết đến các tiệm vàng Đức Nguyên, Tài Nguyên ở khu chợ Đông Ba, ở đường Thuận An, ở dốc chợ An Cựu Vàng son có phải là ảo mộng không nhưng gia tộc chị sau này cũng lụn bại theo ánh hoàng kim, bừng lên rực rỡ trước ánh bình minh rồi tắt dần khi hoàng hôn xuống, và từ đó nảy sinh ra một thế
hệ “nghiệt chủng” (chữ dùng của nhà văn Võ Thị Xuân Hà) thơ văn Giàu sang phú quý có thừa, vậy mà sau Cách mạng tháng Tám, anh con trai cả cụ Đồng là Võ Công Đẩu – bố Võ Thị Xuân Hà, chưa đầy hai mươi tuổi dứt bỏ giàu sang lên chiến
Trang 30khu hoạt động cách mạng và là một trong những tiểu đội trưởng thông tin đầu tiên của Khu Năm bấy giờ Là đảng viên từ năm 1946, rồi cả gia đình, vợ và ba con gái đều là đảng viên, từng giữ trọng trách Phó chủ nhiệm Bộ tư lệnh Thông tin đoàn
559, nhưng cho tới trước khi nghỉ hưu, năm 1980, ông Võ Công Đẩu mới đạt đến hàm thiếu tá Cái lý lịch con tư sản chủ tiệm vàng Huế neo giữ ông suốt hai mươi năm không lên nổi một bậc hàm quân đội
Gia đình ông Võ Công Đẩu, cũng như hàng vạn gia đình phía nam vĩ tuyến
17, từng bị chia đôi như Đất nước Vợ chồng anh trai cả là cộng sản, đi ra Bắc Bố
mẹ, anh chị em ở lại với Huế Ông em Võ Công Luân cùng các em nối nghiệp cha gìn giữ và phát triển tiệm vàng Tài Nguyên, Đức Nguyên, sinh sôi phát đạt rồi đến phá sản những năm sau giải phóng Mậu Thân năm 1968, ông Đồng chết vì lạc đạn, em trai thứ năm và em trai thứ bảy của ông Đẩu vượt biên ra nước ngoài học
do Mỹ đào tạo Người em Út đã từng phục vụ trong quân đội ngụy quyền Sài Gòn nhưng cũng chưa một lần cầm súng bởi ông ta chỉ làm công tác hậu cần, sau giải phóng ông đi cải tạo và sau này trở thành nhà thơ với bút danh Viên Tịnh Chú Bảy sống ở Canada giờ trở về nước cũng là một nhà thơ, ông có viết một số truyện ngắn
và một chương trình mang tên Tôn vinh văn hóa đọc được giới bạn đọc chú ý Như
vậy trong gia tộc Võ Thị Xuân Hà cũng có đến ba người theo nghiệp văn chương
Đó chưa phải là cái nôi văn nghệ dòng tộc thì cũng là dòng máu văn học nghệ thuật được sinh ra từ đất Vĩ Dạ - Mảnh đất phù sa đóng góp vào văn học nước nhà bao nhiêu tinh hoa đẹp đẽ Quê nội có thôn Vĩ Dạ thơ mộng, có dòng Sông Hương uốn mình dọc theo thành đại nội đến các chùa chiền lăng tẩm trầm mặc cổ xưa Quê ngoại Đà Lạt – Thành phố ngàn hoa, sương mù phủ kín quanh năm
Mẹ chị người gốc Huế nhưng ba đời sinh sống ở Đà Lạt Ông ngoại chị thời bấy giờ là “thợ cả” xây lăng Nam Phương Hoàng Hậu ở Đà Lạt Mẹ chị trốn nhà đi theo cách mạng và gặp Ba ở chiến khu Bình Định Năm 1954, hai ông bà tập kết ra bắc Do hoàn cảnh chiến tranh nên thưở thiếu thời chị em Võ Thị Xuân Hà luôn phải đi sơ tán, theo mẹ đến nhiều vùng đất khác nhau như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc,
Trang 31Hà Tây…Năm 1960 Ba chị vào chiến trường B – Nơi cuộc chiến tranh ác liệt nhất lúc bấy giờ đang diễn ra Chị em Võ Thị Xuân Hà luôn được sống trong mối quan tâm của đồng nghiệp, đồng đội của một gia đình cách mạng Những bối cảnh, tình cảm trong những ngày tháng đó sau này trở thành văn mạch ngầm chảy trong văn chương Võ Thị Một gia đình có cha mẹ trốn theo cách mạng, là cán bộ đảng viên
kỳ cựu, với Võ Thị Xuân Hà đó là một niềm tự hào Nhưng ba người chú và ba người cậu lại phải làm việc và cầm súng cho chính quyền Sài Gòn, ông nội bị lạc đạn của lính cộng hòa bắn chết hồi Tết Mậu Thân ở Huế Khi được hỏi về gia đình
và sự liên hệ với nội dung sáng tác, Võ Thị Xuân Hà tâm sự: “Giải phóng đất nước, một nửa ở lại Việt Nam xây dựng cuộc sống, một nửa lang thang phiêu bạt nơi quê người vì vĩnh viễn mang trong lòng sự hoài nghi, mặc cảm Thỉnh thoảng, họ gặp nhau nơi quê nhà, bàn chuyện đời, chuyện Phật Nhưng chẳng ai dám nhắc tới quá khứ đau lòng, vì biết đâu đã có lần anh và em hướng họng súng vào nhau mà không biết Đấy là hình ảnh của gia đình Võ Thị Xuân Hà Nếu bảo rằng tôi không bị ảnh hưởng hoặc không đau đớn vì cuộc chiến tranh mình không trực tiếp tham gia, thì đó chỉ là một cách cố che giấu đi những mất mát của mình mà thôi" Dù đó là cách nói hình tượng nhưng nếu không sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh quá đặc biệt như thế chị không thể có những trang viết đâu đâu cũng bàng bạc hình ảnh li tán của một gia đình đã một thời đứng ở hai bờ chiến tuyến Lúc ông cụ thân sinh tác giả mất tại Huế chị đã vẫn còn day dứt: “Cái lần em trong đoàn nhà văn trẻ Việt Nam đi thăm Mỹ năm 2002, theo lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ, nhiều người cho rằng em sẽ ở lại Mỹ luôn với mấy chú, mấy cô ruột em Riêng ba em tin rằng chẳng bao giờ em ở lại Đại gia đình họ Võ nhà em, cho đến cuối đời ba em, vẫn là hai dòng ý thức hệ ” Trong nội tâm của người nghệ sĩ vốn đã phức tạp, hoàn cảnh gia tộc mâu thuẫn thế kia Võ Thị Xuân Hà tránh sao khỏi những đa mang trên những trang viết day dứt về chiến tranh Dù rằng truyện của chị như bao người nhận thấy không hề đã động đến chiến tranh
Trang 32Bản thân Võ Thị Xuân Hà, sinh ra và lớn lên trong thời chiến, những chuỗi ngày sơ tán nay đây mai đó khi Mỹ ném bom xuống thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, cuộc đời riêng đầy sóng gió và sự nghiệp của chị vốn không hề bình yên Chị học Cao đẳng sư phạm Toán – Lý, ra trường đi dạy được vài năm Đang yên đang lành với một cô giáo dạy học tự nhiên thì bỏ dạy quay ra học Tổng hợp Văn bởi yêu nghiệp viết, vừa học vừa làm phóng viên cho nhiều tờ báo khác nhau Nhưng hình như chỉ những bài báo, những phóng sự thôi thì sẽ không đủ để chị vùng vẫy, để cháy hết mình với văn chương nghệ thuật nên gần có bằng Tổng hợp Văn chị lại bỏ và thi vào trường viết văn Nguyễn Du Và bắt đầu từ ấy, chúng ta biết về Võ Thị Xuân Hà – một nhà văn… Bỏ nghề giáo, Xuân Hà làm nhiều công việc khác nhau để mưu sinh: biên tập viên, làm báo, làm xuất bản ở lần lượt nhiều
cơ quan, cơ quan nào gắn bó nhất cũng chỉ đến 5 năm Trong những ngày tháng đó chị còn điêu đứng bởi hạnh phúc gia đình đỗ vỡ Nhà chồng khinh miệt, quay lưng, một mình cùng hai con nhỏ bơ vơ giữa Hà Nội không nhà không cửa, không anh
em, bà con …Nỗi đau riêng, nỗi đau chung, thương tổn tinh thần thiếu thốn vật chất…Cụ thân sinh ra chị thấy thế sốt ruột không hiểu đứa con bề ngoài thì dịu dàng, điềm tĩnh mà bên trong lại dữ dội, quyết liệt lúc nào mới chịu “an cư”? Cuộc sống đời thường đến với chị quá cay nghiệt và gian nan Nhà thơ Trần Đăng Khoa
có lúc đã thở dài chia sẻ: Cuộc sống cho “thím” cũng nhiều mà lấy đi của “thím” cũng nhiều quá Trong thâm tâm không phải Xuân Hà cố tình tìm cảm giác lạ ở những công việc khác nhau, chỉ là vì việc mưu sinh để nuôi hai đứa con ăn học buộc chị phải tự xoay sở và thích nghi Nhưng có một phần nữa, đó là phần như tất yếu trong mỗi nhà văn yêu nghiệp viết là chị giống như nhiều người viết văn khác, con người chị sinh ra đã mang lấy định mệnh làm người đàn bà viết mất rồi Nghệ thuật là một nghề cần đến lòng đam mê, đam mê chị có thừa nhưng nghệ thuật không kham nổi cuộc sống áo cơm cũng như gia đình của chị Võ Thị Xuân Hà vừa viết vừa làm kinh doanh Cuối năm 2001, chị mở một cửa hàng Cà phê – Trà – Gallery Tranh Nghệ thuật mang tên A-la-băng Và rồi sau quày bar, bà chủ quán –
Trang 33Nhà văn lại gõ máy như “ nhập đồng” để cho ra đời những đứa con tinh thần nhẹ
nhàng trong trẻo đến với bạn đọc Cà phê yêu dấu nhẹ nhàng, tinh tế nhưng lại đến
với bạn đọc trong bối cảnh đặc biệt ấy Một người phụ nữ oằn mình ra để viết lại có được những trang văn gần như không có những tủn mủn của áo cơm, điều đó quả là không dễ chút nào Được mất của văn chương không thể tách bạch rõ ràng, nhưng những người “đã mang lấy nghiệp vào thân” đều cảm thấy mình đã có những hạnh phúc riêng mà người khác không thể có được Dạ Ngân coi nhà văn là kẻ “cô đơn giữa bầy đàn của mình”, Phan Thị Thanh Nhàn từng lao đao vì những câu thơ trong trẻo bị hiểu lầm Nhưng như Võ Thị Xuân Hà thừa nhận, “không có văn chương đời tôi còn bất hạnh hơn”, nghề viết là niềm đam mê khó bỏ Đến nay chúng ta mừng cho chị, trên con đường đó chị đã có người đồng hành, con cái đã trưởng thành, chị hạnh phúc và chăm lo nghiệp viết Chị đã hồi sinh, cuộc sống đã hồi sinh nơi chị Với chị, có lẽ giờ mới là bắt đầu…
Con đường đến với nghệ thuật đối với nhà văn không giống nhau, nhưng chung quy văn học là nơi họ dựa dẫm, nơi gửi gắm tâm hồn mình Người thì bảo rằng “Viết văn là để trả nợ ân tình với cuộc đời”; Có người lấy văn chương làm điểm tựa “Có những phút ngã lòng/Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán); “Tôi không có giáo huấn gì trong sáng tác văn học, không chỉ dạy ai trong các trang viết Tôi ít tranh cãi nhưng cũng không chiều chuộng Văn học đối với tôi
là nỗi niềm, thân phận, lương tâm, những trải nghiệm cuộc đời và đôi điều suy tư từ những năm tháng sống lặn lội” (Lê Văn Thảo) Võ Thị Xuân Hà trước hết là vì yêu văn song hành mưu sinh cơm áo, nhưng sâu thẳm trong lòng chị luôn day dứt “Viết
để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế” Từ trong huyết quản chị mang văn hóa của người miền Trung – luôn phải đối mặt với gió bão, lụt lội, thời tiết nắng gắt khắc nghiệt tôi luyện nên những con người mạnh mẽ, can trường và rất kiên định Nét trầm mặc, bí ẩn riêng Huế ẩn sâu trong từng trang viết thì dù có sinh ra lớn lên ăn cơm
và uống nước Hà thành cũng không thể nào trộn lẫn được Những gì riêng và chung trong cuộc đời chị thể hiện ngay điều đó Tốt nghiệp loại giỏi trường viết văn
Trang 34Nguyễn Du cũng là lúc chị hoàn thành tập truyện ngắn đầu tay với bút pháp thiên
về lối viết bè trầm với bao niềm hi vọng của thầy cô, bạn bè Và người ta đã nhận thấy văn của Võ Thị Xuân Hà là văn phong của một ca tình miền Trung: “Có một dòng nhựa sống vẫn chảy hoang hoài, mơ về quê nhà nhẹ nhàng trong văn chị, trong khi tác giả vẫn sống giữa lòng Hà Nội” Và dù không nhắc nhiều đến đài từ lăng miếu nhưng chúng ta vẫn thấy một Huế mơ màng sương khói trong văn mạch của chị Xét ở góc độ thâm nhập vào cuộc sống thực xây dựng nên hình tượng cho một nhà văn thì Võ Thị Xuân Hà đã thành công Chị cũng đã có những tác phẩm mang hình hài của cuộc chiến tranh đã đi qua vài chục năm nhưng di chứng của nó
còn dai dẳng Tiêu biểu là truyện Đàn sẻ ri bay ngang rừng- Truyện này được dịch
ra tiếng nước ngoài và được đưa ra tham dự chương trình giao lưu văn hóa trong chương trình “Mùa xuân nước Pháp” Một mình tự vật lộn với cuộc đời để đưa con thuyền gia đình bé nhỏ - nhưng trên con thuyền ấy chỉ có một người đàn bà và hai đứa con gái còn nhỏ dại để vượt qua muôn trùng sóng gió của cuộc đời để đứng vững quả là phi thường Qua những gì được mất trong cuộc đời có thể khẳng định
Võ Thị Xuân Hà là người đàn bà hết sức mạnh mẽ, tự tin Chính bản thân chị cũng
đã mặc nhiên thừa nhận: “Người đàn bà can đảm trong tôi đã trộn lẫn từ lâu với người đàn bà mạnh mẽ Nếu không làm sao chúng ta lại có thể bình thản sống, chống chọi với sự phản bội, sự thua lỗ trong kinh doanh, tình trạng vắng khách, tệ nạn xã hội khi bước ra thị trường, vấn nạn bảo kê trá hình xuất phát từ tệ nạn sách nhiễu…” Và có lẽ vì thế những người đàn bà trong văn chị đều mạnh mẽ chăng?
Võ Thị Xuân Hà không tách bạch giữa hai chữ sòng phẳng trong kinh doanh và hai chữ trái tim trong sáng tác Với chị bất cứ làm nghề gì và con người nào cũng là hòa quyện hai yếu tố đó Và điều quan trọng là phải có tình yêu, niềm say mê với công việc mà mình đang làm mới mong được thành công Làm kinh doanh hay viết văn cũng là một công việc sáng tạo ra sản phẩm ở những hình thức khác nhau Ta phải biết thổi linh hồn mình vào đó mới mong được người khác đón nhận một cách trận trọng và chân thành Một câu nói dù xưa như trái đất nhưng cũng phải lặp lại
Trang 35nó trong trường hợp này: Những gì xuất phát từ trái tim sẽ đến được với trái tim Chị vừa tự mình đứng vững trong kinh doanh vừa sáng tác dồi dào, là gì nếu đó không phải là sự kết hợp tuyệt vời của trái tim và lí trí?
Với văn chương nghệ thuật, trước hết để sáng tác Võ Thị Xuân Hà luôn khẳng định ý chí quyết tâm không để mình nghèo nàn khổ sở Và chị cũng chưa bao giờ thấy mình khổ Bởi vì với chị, “nếu không tươi tỉnh sáng láng thì không thể ngồi vào bàn viết” Chị quan niệm: Không bao giờ viết truyện giải trí Viết là phải có cảm hứng, có tư tưởng hành động Muốn viết khỏe, văn tươi sáng trước hết phải sống khỏe mạnh, sống vui tươi Dù có những lúc chị cũng đã viết trong nhiều khoảnh khắc: nhọc nhằn, xa xót, vui sướng và hân hoan Chị luôn cảm thấy viết là
sự thôi thúc của trách nhiệm và lôi cuốn của đam mê Có lẽ vì thế nên chị rất trẻ, quá trẻ so với tuổi thực của chị đến hơn chục tuổi Vậy mà chị đâu có an nhàn, chị lao động làm việc quần quật và viết khắp mọi lúc, mọi nơi, hễ rãnh là lôi máy tính
ra gõ tành tạch Chị là một trong số những nhà văn rất tự tin, biết tin vào cái Đẹp Tạo hóa ban tặng con người thiên chức gì thì phải nỗ lực đam mê thực hiện hết mình vì thiên chức đó: “Tôi quan niệm cõi đời này tôi chỉ được đi qua có một lần Nếu có kiếp khác thì tôi lại được phôi thai bằng ảnh hình khác, dù cốt lõi vẫn là tôi đấy, nhưng đâu có phải là tôi như cõi này Nên tôi không dám cho rằng câu chữ của tôi sẽ được bất tử; tôi không dám nhận rằng mình đang mạo hiểm Nhưng tôi cũng không hề phù phiếm và thiếu tự tin đến mức sợ rằng các tác phẩm của mình sẽ bị ném vào đâu đó Chí ít cũng một vài ai đó trên cái cõi này đọc, một vài ý niệm sẽ được một vài ai đó nhớ Một chút có ích Thế là đủ rồi Tôi có thể sẽ viết mãi viết mãi cho đến khi chết Có thể ngày mai “xếp bút nghiên” Nhưng cho dù thế nào, tôi mãi là một người biết tin vào cái Đẹp!” Nhìn vào cuộc đời của chị, trong thế giới của chị dường như chúng ta có cảm giác rằng nó không tồn tại hai từ “không thể” Thiên hướng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn là làm đúng thiên chức Về chuyên được mất trong văn chương chị quan niệm rất giản dị, không lên gân nhưng toát lên trong tâm hồn chị một con người nhân hậu, vị tha: “Có thể không phải đánh
Trang 36đổi gì hết, mà chỉ có được Đó là cái đích mà những người cầm bút như tôi cố gắng đạt tới, không chỉ cho mình, mà còn cho cả nhân loại Còn có thể xác suất may mắn không rơi vào tôi, thì bình thản đón nhận mọi điều Tôi không đỗ lỗi cho văn chương” Thực tế chị là một nhà văn biết cảm thông chia sẻ mọi bức xúc từ đời sống một cách tỉ mỉ Vì với chị cái thiện và cái đẹp rất mong manh, và người ta cần đấu tranh để dành lại nó Trong bài phỏng vấn về tiểu thuyết Tường Thành (dù là tiểu thuyết nhưng nội dung, đề tài và hình tượng là tổng hợp những lát cắt đâu đó trong truyện ngắn của chị Nên những ý kiến cho tiểu thuyết có thể đồng hành với truyện ngắn của chị), Võ Thị Xuân Hà tâm sự “Tôi viết cuốn sách này trong nỗi bức xúc của chính những người thân, bạn bè Hàng ngày tôi đều nghe họ nói, lo cho chồng, bạn trai hay em mình hư hỏng sa ngã Tôi chia sẻ nỗi lo của những người phụ nữ bình thường, chỉ cốt sao giữ gìn được một khoảng nhỏ yên bình, hạnh phúc, mong sao còn được thánh thiện và tốt bụng Nhưng khó khăn lắm, khi sóng gió len lỏi vào từng mái nhà thì tình yêu, chung thủy, sự lành mạnh, đạo đức …đều
có cơ bị mất Tôi cũng như họ, sợ mình phải đau khổ” Thế nên chị tự nhận mình là
sứ giả của yêu thương: “Tôi còn gặp nhiều nỗi cay đắng thất bại khác Lảo đảo đứng dậy đi tiếp Tôi nhận mình có mặt trên đời không phải để được yêu Tôi phải yêu người Yêu hết thảy mọi sinh linh trên cõi nhân gian Ngôi sao chiếu mệnh của tôi lúc này đang lúc này đang buộc tôi ngồi để viết ra những câu chuyện dâng cho cuộc sống Nhận ra điều này, tôi không còn thấy sợ cô đơn…” “Ngôi sao chiếu mệnh” chính là cuộc đời và cũng là tư tưởng hành động trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà
Vì biết tin, biết yêu cái đẹp, nên Võ Thị Xuân Hà có chính kiến độc lập trong quan niệm sáng tác của mình Chị ý thức rõ tính dân tộc và bản sắc văn hóa của dân tộc mình Chị thẳng thắn, rõ ràng, có lúc phân thân nhưng để hoàn thiện mình Có thể vì điều đó mà khi chị viết về thủ đô – với nền kinh tế thị trường nảy sinh ra bao nhiêu bộ mặt khác nhau của đời sống hoàn toàn tách bạch, có sự phân thân rõ ràng với sự mềm mại, đôi khi nhọc nhằn lặng lẽ khi viết về miền Trung Với chị học hỏi
Trang 37tinh hoa văn học nước ngoài là chuyện đương nhiên, nhất là luôn phải cập nhật được tinh hoa của những cây bút trẻ nhưng chị không quá ám ảnh về họ Chị kiên quyết: “Tôi phải đi con đường của riêng tôi, một nhà văn Việt Nam, với những gì
đã và đang đến với dân tộc mình, nhỏ hơn là những gì đã và đang đến với thân phận một nhà văn nhỏ bé như mình” Và điều quan trọng hơn là phải nói thẳng, nói thật, dù sao chị đã bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề báo, cũng như nghề văn Vì
“Nếu bắt nhà văn ném đi thiên chức mô tả cái “ nghiệt ngã tận cùng”, nghĩa là bảo
họ thôi đừng viết nữa.” Thế nên thiên hướng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn là làm đúng thiên chức của một người cầm bút Trả lời bài phỏng vấn của ông Trần Qúy Phiệt – giáo sư khoa Tiếng Việt trường Schreiner College chị nói: “ Khi ngồi vào bàn viết, tôi nghĩ mình viết về những con người, cho những con người, nhưng
vì tôi là phụ nữ nên việc thể hiện những xúc cảm nội tại sẽ thiên giọng nữ hơn Đã
là nhà văn thì phải tranh đấu cho và vì quyền con người Nếu những tác phẩm của tôi góp phần tranh đấu cho hạnh phúc của một hay hàng vạn chị em phụ nữ, thì cũng đơn giản vì tôi là một nhà văn Tôi không có ý chia thế giới ra làm hai phần
và xác định mình phải viết để tranh đấu cho một phần hai thế giới là phụ nữ như mình Chính bởi vì tôi không thích bất cứ một sự thương xót nào mà người ta có thể quan niệm về sự tự ti, sự yếu đuối, sự kêu gọi thương hại từ phía phụ nữ”
Quan niệm về yếu tố sex trong văn chương Võ Thị Xuân Hà không phản đối Bởi vì yếu tố sex là bản năng tự nhiên của nhân vật Theo chị, nếu rạch ròi ra, sex trong đời sống có hai mặt, tốt và xấu Người Việt mình hiểu sex là một chữ bẩn, thiên về hướng tiêu cực hơn tích cực…Sex là bản năng tự nhiên của nhân vật, nếu tước đi bản năng tự nhiên của nhân vật thì không còn là truyện, là tiểu thuyết nữa Chuyện tình dục của con người ranh giới giữa dung tục và thánh thiện là rất mong manh, nhích một tí là thay đổi rồi Thế nên khi viết về những vấn đề liên quan sex trong sáng tác chị “hay dành những dòng đẹp, thậm chí thánh thiện hóa nó lên” Và tùy từng chỗ, từng lúc Có lúc chị dùng nó với mục đích tả thực; có khi lại để thể
Trang 38hiện mạch ngầm dữ dội của nội tâm nhân vật Những truyện ngắn Đàn sẻ ri bay
ngang rừng, Bay lên miền xa thẳm, Lúa hát…nằm trong văn mạch ấy
Là một người tích cực lao động, miệt mài, say mê sáng tạo, một nhà văn “cả tin”, luôn nhìn ra điểm tốt của mọi người hơn điểm xấu, nên sáng tác của chị là thông điệp của yêu thương Truyện ngắn của chị là minh chứng hết sức thuyết phục cho quan niệm của chị với nghề viết Chị yêu hết thảy! Trong tác phẩm của chị có những con người đáng thương chứ không đáng ghét Những lỗi lầm trong cuộc đời
để người ta “ngộ” ra vị trí của mình, tìm lại chính mình Chị luôn dành một nẻo về cho nhân vật Không rõ chị có ảnh hưởng tư tưởng của phật gia không nhưng trong sáng tác của chị bàng bạc khói hương chùa chiền Phải chăng một lần nữa chị muốn nhắn nhủ “Biển cả bao la, quay đầu là bờ” Chính vì thế nhân vật trong sáng tác của
Võ Thị Xuân Hà, sa đọa đến mức nào vẫn còn sót lại nhỏ nhoi một vẻ đẹp thánh thiện, dù họ chỉ là con người bình thường Ngoài ra truyện ngắn của chị thu hút bạn đọc còn bởi nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn Đó là lối nhận xét tinh tế, thâm trầm nhưng đậm triết lí; giọng điệu trữ tình, mỉa mai pha chút hài hước dí dỏm; không gian đa chiều; tình huống đơn giản nhẹ nhàng nhưng sâu sắc…Đó là một trong những lí do khiến truyện ngắn của chị nổi bật, đi theo một hướng riêng, không lẫn lộn với bao nhiêu tác giả nổi bật của thời các nhà văn nữ đang “lên ngôi” này Càng ngày ngòi bút của chị càng sung sức trên mọi phương diện Nội dung càng đi vào chiều sâu mọi lĩnh vực của đời sống, nghệ thuật thể hiện càng phong phú để thích nghi Chị đã không phụ lòng yêu mến của độc giả bằng sự khẳng định của chính mình trên văn đàn
1.3.2 Đóng góp của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Dường như cái tên Võ Thị Xuân Hà đã định hình trong lòng độc giả ở lĩnh vực truyện ngắn với hàng loạt tác phẩm có sức gây ấn tượng người ta vẫn nhắc đi
nhắc lại từ hàng chục năm nay: Đàn sẻ ri bay ngang rừng; Lúa hát; Cà phê yêu
dấu; Bay lên miền xa thẳm…Trên thực tế ở lĩnh vực nào Võ Thị Xuân Hà cũng thò
ngòi bút của mình và chiếm được ví trí xứng đáng Và điều quan trọng hơn là chị
Trang 39luôn được độc giả chờ đợi và đón nhận Ban đầu chị viết hàng loạt truyện ngắn, rồi lần lượt cho ra đời tiểu thuyết, kịch bản phim…Nhìn vào Võ Thị Xuân Hà lúc nào cũng thấy chị bận rộn: Nào công việc, nào chương trình, nào là các dự định viết truyện, tiểu thuyết…Và từ 1992 đến nay chị đã xuất bản được khá nhiều:
- Tập truyện ngắn Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào, Nhà xuất bản Văn học, 1992
- Tập truyện ngắn Bầy hươu nhảy múa, Nhà xuất bản Văn học, 1994
- Tập truyện ngắn Cổ tích cho tuổi học trò, Nhà xuất bản Kim Đồng, 1994
- Tập truyện ngắn Kẻ đối đầu, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1998
- Tập truyện ngắn Giá nhang đèn và những truyện khác, Nhà xuất bản Hà
Nội, 1999
- Tập truyện ngắn Màu vàng thần tiên, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2001
- Tập truyện ngắn Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, Nhà xuất bản Phụ Nữ, 2002
- Tập truyện ngắn Chuyện của con gái người hát rong, Nhà xuất bản Hội nhà
văn (2004, 2006);
- Tập truyện ngắn Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Nhà xuất bản Quân đội, 2005
- Tập truyện ngắn Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, Nhà xuất bản
Hội nhà văn, 2007;2009
- Tập truyện ngắn Thế giới tối đen, Nhà xuất bản Phụ nữ (2009);
- Tập truyện ngắn Tiếng gà gáy trong rừng hoa A-rui, Nhà xuất bản Văn hóa
– Thông tin (2010);
- Tập truyện ngắn Ăn trái đào hái hoa hồng đào, Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
2010
- Truyện dài Chiếc hộp gia bảo, Nhà xuất bản Kim Đồng, 1998; 2005; 2010
- Truyện dài Chuyện ở rừng Sồi, Nhà xuất bản Trẻ, 1998; 1999;2005;2010
- Tiểu thuyết Tường thành, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2004; 2005; 2006
- Tiểu thuyết Trong nước giá lạnh, Nhà xuất bản Hà Nội, 2004; 2008
- Tập ghi chép Xứ Hàn-Bạn tìm gì?, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2006
- Khảo cứu Gia đình Phật tử , Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2010
Trang 40- Kịch bản phim Chiếc hộp gia bảo
- Kịch bản phim Chuyện ở rừng Sồi
- Kịch bản phim Đất lặng lẽ
- Kịch bản phim Trăng nơi đáy giếng
Trong số những sáng tác trên có nhiều tập truyện ngắn và tiểu thuyết được
tái xuất bản nhiều lần như: Chuyện của con gái người hát rong, Cái vạc vàng có
đòn khiêng bằng kim khí, Chiếc hộp gia bảo, Chuyện ở rừng Sồi, Tường thành, Trong nước giá lạnh Sự đón nhận của bạn đọc, chính là sự ghi nhận thành công
của tác giả Xét về độ tuổi, Võ Thị Xuân Hà thuộc vào một thế hệ nhà văn như Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thị Thu Huệ, rồi sau này một chút là Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh, thế hệ của các nhà văn sinh ra trong khoảng thời gian từ cuối những năm 1950 cho tới cuối những năm 1960 Nhưng chị thực sự bắt đầu sáng tác là vào những năm đầu thập kỷ 90 Song chị đã gặt hái được một số thành công đáng kể:
* Các giải thưởng văn học:
- Tặng thưởng Nxb Kim Đồng 1996
- Giải thưởng sách hay Nxb Hội Nhà văn 1998
- Giải nhất truyện ngắn báo Thiếu niên tiền phong năm 2001
- Giải B Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm
2002
- Giải thưởng tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2005
- Giải nhất cuộc thi viết truyện và kí về “Người chiến sĩ Công an Hà Nội vì Thủ đô bình yên, vì nhân dân phục vụ” nhân dịp Một nghìn
năm Thăng Long, 2010 Với truyện ngắn Mặt trời ở lại
* Các giải kịch bản điện ảnh:
- Giải C kịch bản điện ảnh Chiếc hộp gia bảo (Hãng phim truyện
Việt Nam, 1997);