Những yêu cầu khi thiết kế dạy học các bài thực hành tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực...16 II.Quy trình và một số phương pháp, kĩ thuật dạy học có thể áp dụng vào dạy các bài th
Trang 1Đề tài: “Dạy học cụm bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn
THPT theo hướng phát triển năng lực”
Mục lục
Trang
A PHẦN MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
I.Cơ sở lí luận 6
II Cơ sở thực tiễn 13
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 16
I Những yêu cầu khi thiết kế dạy học các bài thực hành tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực 16
II.Quy trình và một số phương pháp, kĩ thuật dạy học có thể áp dụng vào dạy các bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT 19
III.Giáo án thiết kế một số bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT theo định hướng phát triển năng lực 22
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 45
I Mục đích thực nghiệm sư phạm 45
II Kế hoạch thực nghiệm 45
III Kết quả thực nghiệm 46
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 3Trong chương trình THPT, mỗi môn học đều có đặc trưng và thế mạnh riêngtrong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung Môn Ngữ văn là mônhọc công cụ, có ưu thế nổi trội trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lựcvăn học, một biểu hiện cụ thể của năng lực thẩm mĩ Các phẩm chất được nêu lêntrong chương trình giáo dục tổng thể như: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực
và trách nhiệm đều có thể thông qua môn Ngữ văn để phát triển cho học sinh
Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thôngqua môn học, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiếnthức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân, …phát triển được năng lựcđặc thù của môn học như năng lực giao tiếp trong tiếng Việt, năng lực thưởng thứcvăn học, cảm thụ thẩm mĩ đồng thời phát huy những năng lực thiết yếu khác như:năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, sáng tạo, hợp tác, tự quản, …
Phân môn tiếng Việt trong chương trình THPT tuy chỉ chiếm một phần nhỏ,nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giácũng như giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ tiếngViệt Đặc biệt ở cấp THPT những bài tiếng Việt chủ yếu được biên soạn dưới dạngthực hành, vận dụng do đó có thể coi đây là phương tiện rèn luyện kĩ năng và pháttriên năng lực cần thiết cho học sinh
Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ, họchỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy sự đổi mới, sáng tạo trongphương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong môn Ngữvăn nói chung và các bài thực hành tiếng Việt nói riêng chưa nhiều Dạy học vẫn
Trang 4theo phương pháp cũ, nặng về kiến thức, vẫn mang tính hàn lâm, chứ chưa chútrọng đến việc thiết kế các hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực toàn diệncho học sinh
Để việc dạy và học những bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữvăn THPT trở nên hấp dẫn, sinh động, phát huy được năng lực của người học,
người viết chọn đề tài: “Dạy học những bài thực hành tiếng Việt trong chương
trình Ngữ văn THPT theo hướng phát triển năng lực” nhằm đề xuất một số giải
pháp dạy học các bài tiếng Việt phát huy được năng lực, sự sáng tạo, khả năng sửdụng ngôn ngữ của học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài trong sáng kiến kinh nghiệm lần này, chúng tôi mongmuốn đưa ra một số giải pháp có khả năng ứng dụng hiệu quả vào việc dạy - họcnhững bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT Đồng thời tìmhiểu, vận dụng những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánhgiá theo định hướng phát triển năng lực của người học để góp phần hình thànhnhững năng lực cần hướng đến của môn Ngữ văn cụ thể là:
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tự quản bản thân
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
- Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mỹ
Từ đó, thúc đẩy sự tìm tòi ứng dụng các phương pháp đổi mới trong dạy họccủa giáo viên Tạo động lực học tập cho học sinh, phát huy tính sáng tạo cho ngườihọc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trọng tâm của đề tài là dạy học những bài thực hành tiếng Việt trong chươngtrình THPT theo hướng phát triển năng lực cho học sinh Người giáo viên lựa chọnnhững phương pháp nào, cách thức tổ chức dạy - học như thế nào để phù hợp vớikhả năng tiếp thu của học sinh trên cơ sở đó giúp các em có được khả năng vậndụng, sử dụng ngôn ngữ thành thạo Mặt khác cũng tạo điều kiện để các em đượcthể hiện tính sáng tạo, năng động, biết vận dụng kiến thức để giải quyết các tìnhhuống thực tiễn Qua mỗi bài thực hành tiếng Việt học sinh phát triển được năng
Trang 5lực của cá nhân gồm: năng lực làm chủ và phát triển bản thân; năng lực xã hội,năng lực công cụ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, như tên gọi của nó, tôi tập trungnghiên cứu các vấn đề lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực đểvận dụng vào việc dạy - học nhóm bài học cụ thể - những bài thực hành trongchương trình ngữ văn THPT (10 bài thực hành) ở cả ba khối lớp học 10, 11, 12 Từ
đó đưa ra những cách tiếp cận, giảng dạy các bài thực hành tiếng Việt có hiệu quả,làm tiền đề áp dụng rộng rãi hơn trong hoạt động dạy học Ngữ văn
Đối tượng học sinh mà tôi thực hiện khảo nghiệm là học sinh lớp 10 và 11,trường THPT Chuyên Bắc Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh trong các nămhọc 2017 – 2018, 2018 – 2019, 2019 – 2020 và 2020 - 2021
5 Phương pháp nghiên cứu
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứusau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp so sánh
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I Cơ sở lí luận
1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
1.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Trang 6Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện đại, năng lực và phẩm chất người học làhai yếu tố được coi trọng Trong đó, năng lực là khái niệm then chốt chi phối việcđổi mới căn bản chương trình giáo dục mới Khái niệm “năng lực” được hiểu là
“thuộc tính cá nhânđược hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình họctập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng vàcác thuộc tính cá nhân khác như: hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành côngmột loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.Như vậy việc dạy họcđịnh hướng phát triển năng lực về bản chất không thay thếviệc dạy học hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ mà chỉ mở rộng hoạt động dạyhọc hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để học sinhđược thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái
độ của mình
Ta có thể so sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học theo tiếp cận nội dungkiến thức (dạy học hiện hành) và dạy học theo định hướng phát triển năng lựcquabảng sau:
Nội dung Dạy học theo tiếp cận trang
Kết quả học tập cần đạt được mô
tả chi tiết và có thể quan sát, đánhgiá được, thể hiện được mức độtiến bộ của học sinh một các liêntục
Nội dung
dạy học
Việc lựa chọn nội dung dựavào các khoa học chuyên môn,không gắn với các tình huốngthực tiễn Nội dung được quyđịnh chi tiết trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằmđạt được kết quả đầu ra đã quyđịnh, gắn với các tình huống thựctiễn Chương trình chỉ quy địnhnhững nội dung chính, không quyđịnh chi tiết
Phương
pháp dạy
học
GV là người truyền thụ tri thức,
là trung tâm của quá trình dạyhọc HS tiếp thu thụ độngnhững tri thức được quy địnhsẵn
GV chủ yếu là người tổ chức, hỗtrợ HS tự lực và tích cực lĩnh hộitri thức Chú trọng sự phát triểnkhả năng giải quyết vấn đề, khảnăng giao tiếp, …;
-Chú trọng sử dụng các quan
Trang 7điểm, phương pháp và kỹ thuậtdạy học tích cực, các phươngpháp dạy học thực nghiệm, thựchành
Tiêu chíđánh giá dựa vào năng lựcđầu ra, có tính đến sự tiến bộtrong quá trình học tập, chú trọngcác tình huống thực tiễn
1.2 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực
Hệ thống năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến
Với xu thế đổi mới giáo dục những năm gần đây, đặc biệt là mục tiêu củachương trình phổ thông sau năm 2018 định hướng cho chương trình giáo dục trunghọc phổ thông mục tiêu hướng tới giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩmchất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khảnăng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp vớinăng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, họcnghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thaytrong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới
Trong đó, chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho họcsinh những năng lực cốt lõi đó là những năng lực chung và năng lực chuyên môn(tùy theo đặc thù từng môn học)
Năng lực chung là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dụcgóp phần hình thành, phát triển đó là:
- Năng lực tự chủ và tự học
- Năng lực giao tiếp và hợp tác
Trang 8- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Môn Ngữ văn là một trong những môn học bắt buộc, là môn học công cụ Nómang những đặc thù riêng Do đó, ngoài những năng lực chung được nhắc tới ởtrên, môn Ngữ văn còn hướng tới hình thành và phát triển những năng lực có tínhđặc thù Đó là:
- Năng lực tiếng Việt
- Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ
Với đặc trưng của môn học, môn Ngữ văn với ba phân môn Văn học, TiếngViệt và Làm văn, thông qua việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết,nghe, nói giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực, đáp ứng các yêu cầu của
xã hội Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văngiúp các em từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học,
cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe, đọc) và năng lực tạo lậpvăn bản (gồm kĩ năng nói và viết) Năng lực đọc – hiểu văn bản của học sinh đượcthể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức tiếng Việt, về các loại hìnhvăn bản và kĩ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập thông tin, cảm thụ cái đẹp
và giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật Năng lực tạo lập văn bản của họcsinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ýthức và tình yêu Tiếng Việt, văn học, văn hóa, cùng kĩ năng thực hành tạo lập vănbản, theo các phương thức biểu đạt khác nhau, theo hình thức trình bày miệng hoặcviết Thông qua các năng lực học tập của bộ môn để hướng tới năng lực chung vàcác năng lực đặc thù của môn học
Hệ thống năng lực dành cho phân môn tiếng Việt THPT
Từ thống kê của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống trong bài “Xây dựng chương trình
giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực” đăng trên Tạp chí Tia
sáng ngày 9 tháng 6 năm 2011, dựa vào yêu cầu, mục đích của chương trình Ngữvăn THPT và chuẩn kiến thức – kĩ năng môn Ngữ văn (tiếng Việt), tác giả PhạmThị Thu Hương đã đề xuất hệ thống năng lực riêng dành cho phân môn tiếng Việt,ngoài ra tác giả chỉ rõ trong mỗi năng lực này còn có thể chia thành các năng lực cơbản và cụ thể hóa thành hệ thống những kĩ năng khi thiết kế bài tập, cụ thể là:
- Năng lực làm chủ ngôn ngữ gồm: giao tiếp, đọc – viết, phỏng vấn và trả lời
phỏng vấn, sử dụng các biện pháp tu từ, sử dụng phong cách ngôn ngữ trongtừng hoàn cảnh, …
Trang 9- Năng lực giải quyết vấn đề gồm: trình bày một vấn đề, đưa ra nhiều phương
án giải quyết vấn đề, sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ, …
- Năng lực tư duy phê phán, tư duy logic
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
Hệ thống năng lực chung dành cho phân môn Tiếng Việt được xây dựng dựatrên hệ thống năng lực chung và bổ sung thêm một số năng lực cần thiết cho mônhọc, cũng như lược bỏ bớt những năng lực không cần thiết
2 Đặc trưng và những quy tắc dạy học tiếng Việt trong chương trình THPT
2.1 Đặc điểm của chương trình tiếng Việt ở THPT
Tiếng Việt là phân môn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong việcgiáo dục, bồi dưỡng, phát triển năng lực cũng như nhân cách của học sinh trongnhà trường Đặc biệt với việc phát triển khả năng ngôn ngữ thì việc học tiếng Việtlại càng trở nên thiết thực nhất là trong thời kì hội nhập ngày nay
Phân môn tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành có một sốđặc điểm sau đây:
- Về hình thức, trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành,phân môn tiếng Việt được biên soạn xen kẽ với các phần Văn học và Làmvăn Phần tiếng Việt còn được thể hiện ở các mục chú giải từ ngữ sau mỗivăn bản, ở những mục đề cập đến việc dùng ngôn ngữ trong làm văn, ở bảngtra cứu về từ ngữ Hán Việt
- Về nguyên tắc biên soạn, chương trình Tiếng Việt được biên soạn theo cácnguyên tắc sau đây:
+ Nguyên tắc tích hợp (xen kẽ và phối hợp phần tiếng Việt với Làm văn và Vănhọc ở những nội dung gần gũi Ví dụ, ở chương trình lớp 10, khi học về phần Vănhọc dân gian thì phần tiếng Việt học sinh sẽ được học về phong cách ngôn ngữ sinhhoạt, về đặc điểm của ngôn ngữ nói và luyện tập về phép tu từ ẩn dụ, hoán dụ, …)+ Nguyên tắc đi từ nội dung quen thuộc, gần gũi đến những kiến thức mới Ví dụ,
từ hoạt động giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày đến phân biệt ngôn ngữ dạng nói,dạng viết, đến các loại phong cách ngôn ngữ chức năng như: phong cách ngôn ngữsinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, …
+ Những vấn đề học sinh đã được học ở THCS về từ và câu thì cơ bản không họclại mà khi cần thiết và có điều kiện chỉ ôn tập và nâng cao dưới hình thức thực
Trang 10hành Đây cũng là lí do vì sao các bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữvăn THPT chưa được chú trọng và phát huy hiệu quả
- Về phương pháp trình bày, các bài học tiếng Việt chủ yếu trình bày theohướng quy nạp Kiến thức được hình thành thông qua hoạt động tìm hiểutheo câu hỏi hoặc bài tập thực hành Qua hệ thống câu hỏi trong sách giáokhoa, học sinh tích cực tìm hiểu kiến thức, luyện tập kĩ năng Việc củng cốkiến thức, nâng cao và mở rộng kiến thức, kĩ năng cũng thông qua luyện tập,thực hành Phần ghi nhớ sẽ chốt lại những kiến thức và kĩ năng chủ yếu nhất.Chỉ có vài bài thiên về cung cấp lí thuyết có dung lượng kiến thức nhiều vàmới thì được viết theo kiểu trình bày thông tin như bài “Khái quát về lịch sửtiếng Việt” hay bài “Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết”
- Về quan hệ giữa lí thuyết và thực hành, các bài tiếng Việt lấy phương châmthực hành làm chủ đạo
2.2 Những nguyên tắc trong dạy học tiếng Việt nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung
Việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy phân môn tiếng Việt trong chươngtrình Ngữ văn THPT nói riêng cần tuân thủ theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Thứ nhất, nguyên tắc mục tiêu: Nhận diện => Lí giải => Vận dụng
- Thứ hai, nguyên tắc kết hợp lí thuyết với thực hành: Lí thuyết Thực hành
- Thứ ba, nguyên tắc sư phạm: Dễ => Khó, Đơn giản => Phức tạp, Ứng dụng
+ Thích hợp và thiết thực về yêu cầu
3 Cấu trúc chương trình và cấu trúc bài học các bài thực hành tiếng Việt trong chương trình THPT hiện nay
3.1 Cấu trúc chương trình
Trang 11Trong chương trình Ngữ văn THPT, ban cơ bản hiện hành, ta nhận thấy cácbài thực hành tiếng Việt được phân bố ở cả ba lớp 10, 11 và 12 Chương trình Ngữvăn lớp 10, mỗi học kì có 1 bài thực hành; chương trình ngữ văn lớp 12 mỗi học kì
có 2 bài thực hành; trong khi đó, chương trình Ngữ văn lớp 11 các bài thực hànhchủ yếu được phân bố ở học kì 1 (học kì 2 không có) Cụ thể như sau:
*
Cấu trúc bài học
Trang 12hưởng cho câu (3 bàitập)
III Phép chêm xen (2 bài
Trang 131 Thực trạng việc dạy học môn Ngữ văn trong trường THPT hiện nay
Nói đến thực trạng dạy học Ngữ văn trong trường THPT hiện nay, bên cạnhnhững phương pháp đổi mới được áp dụng vào giảng dạy, ta còn nhận thấy vẫn tồntại không ít những hiện tượng khá phổ biến còn tồn tại nhiều hạn chế như:
- Thứ nhất, phương pháp dạy học còn theo lối truyền thống, theo lối cũ, chỉdựa vào giảng, bình, diễn giảng Việc dạy văn hầu như chỉ có một đường là
“giảng”, “bình”, “luận”, “phân tích” Phần Làm văn đa số chỉ dạy lí thuyếtrồi ra đề cho HS tập làm theo nhứng yêu cầu của đề, học sinh viết lại nhữngđiều đã học mà ít nêu yêu cầu khám phá, phát hiện những cái mới trên cơ sởnhững điều đã biết Đề thi tuy có sự đổi mới về kiểm tra đánh giá năng lựcngười học nhưng không ít đề ra theo dạng tái hiện kiến thức, ghi nhớ
- Thứ hai, trong các giờ dạy học trên lớp, học sinh chưa được xem là chủ thểcủa các hoạt động học văn Người giáo viên chưa trao cho các em tính chủđộng trong học tập, vai trò chủ đạo vẫn thuộc về người thầy, học sinh chưachủ động kiến tạo kiến thức của mình Khi coi học sinh là chủ thể của hoạtđộng học tập thì giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động họctập để học sinh tự lĩnh hội kiến thức của mình
- Thứ ba, các giờ học văn vẫn dừng lại ở việc học sinh học theo cách diễn giảicủa thầy, chưa tự mình khám phá những cách hiểu mới Phương pháp nàycòn mang tính áp đặt, một chiều
Như vậy, có thể thấy với phương pháp giảng dạy hiện tại, giờ học văn chưathực sự tạo ra nhiều hứng thú, đam mê đối với người học Thực trạng dạy học vănnhư trên không phải do giáo viên thiếu nhiệt tình dạy học, không cố gắng, mà chủyếu là do vẫn tồn tại một quan niệm sai lầm, cũ kĩ, lạc hậu về việc dạy học nóichung và dạy học văn nói riêng Lí luận dạy học đặc biệt là lí luận dạy học Ngữ văn
ở nước ta chưa có được sự đổi mới đồng nhất, toàn diện chỉ mới dừng lại phần
Trang 14nhiều ở lí thuyết, phổ biến ở các thành phố có điều kiện phát triển giáo dục chứchưa được áp dụng rộng rãi, phổ biến Vì vậy, vấn đề đặt ra làm sao áp dụng đượcnhững lí thuyết dạy học mới, tạo được sự hứng thú và phát huy được năng lực chohọc sinh là điều cần thiết
2 Thực trạng việc dạy học bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn hiện nay
Xuất phát từ thực tế dạy học, chúng tôi nhận thấy một số thực trạng đối vớiviệc dạy và học các bài thực hành tiếng Việt trong trường THPT hiện nay như sau:
- Thứ nhất, phân môn tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT nói chung
và trong cấu trúc chương trình thi tốt nghiệp THPT và thi đại học nói riêngchỉ chiếm một phần nhỏ Do vậy, học sinh và một số giáo viên ngán ngại khidạy và học phần tiếng Việt hơn phần văn
- Thứ hai, thời gian học không nhiều, lại ít có sự đào sâu dẫn đến hiện trạngphổ biến khó nhớ, mau quên, học vẹt, học thuộc lòng chứ thật sự không hiểuhết vấn đề Kiến thức nói chung và phần lý thuyết tiếng Việt nói riêng học ởnăm học trước thì năm sau đã quên, chưa nói đến chuyện học ở THCS lênbậc THPT mới thực hành Do vậy, học sinh thụ động trong việc tiếp nhậnkiến thức, ít chịu hỏi lại những vấn đề mình chưa hiểu kỹ, chưa khắc sâu, …phần đông các em cho qua, không để tâm đến
- Thứ ba, học sinh không có nhiều hứng thú với giờ tiếng Việt, một phần vìkiến thức không mới lại thiên về thực hành, vận dụng, các bài tập còn thiên
về lí thuyết, mang tính hàn lâm; một phần vì nhiều bạn đã quên những kiếnthức cơ bản, được học về tiếng Việt ở THCS nên không thích thú với giờthực hành
- Hơn nữa, khi hướng dẫn học sinh thực hành, nhiều giáo viên bị sơ cứng,không linh động, ít sáng tạo nên hiệu quả đạt được so với mục tiêu bài họcđặt ra chưa thực sự như ý muốn Giờ học tiếng Việt trong nhà trường THPTchỉ dừng lại ở hình thức thầy hướng dẫn, trò làm bài chưa thực sự có nhiềuhoạt động đa dạng, hấp dẫn
- Cuối cùng, nhận thấy sách giáo khoa biên soạn các bài thực hành tiếngViệttheo chương trình tích hợp, kiến thức rộng nhưng giờ lên lớp cho phầnthực hành lại bị khống chế (đa số các tiết thực hành chỉ có 45 phút, tức tươngđương với một tiết dạy)
Từ những yếu tố khách quan cũng như chủ quan vừa nêu trên, ta nhận thấynhững tiết học thực hành tiếng Việt trong trường THPT hiện nay chưa thực sự nhận
Trang 15được sự say mê, yêu thích của học sinh cũng như chưa thực sự phát triển được hếtkhả năng, năng lực cho các em học sinh
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO HƯỚNG PHÁT
kể lại, nghe – ghi chép, nghe - phản hổi Còn kĩ năng đọc không chỉ dừng lạiở yêucầu đọcđúng, đọc diễn cảm một văn bản mà cần chú trọng yêu cầu đọc - hiểu đúng,hiểu sâu văn bản Việc rèn kĩ năng đọc thông qua các hoạt động như: tóm tắt lạivăn bản đã học, ghi lại hay kể lại văn bản bằng ngôn ngữ của bản thân, chuyển lờinói trực tiếp thành lời nói gián tiếp, đọc phản hồi văn bản, … Ví dụ, ta có thểáp
dụng việc rèn luyện các kĩ năng nghe, nói vào bài Thực hành về nghĩa của từ trong
sử dụng (Ngữ văn 11, tập 1)cụ thể với bài tập 2, thay vì yêu cầu các em học sinh
làm việc độc lập thực hiện yêu cầu của bài, giáo viên có thể cho học sinh hoạt độngtheo cặp, xây dựng các đoạn hội thoại có sử dụng các từ có nghĩa gốc chỉ bộ phận
cơ thể người (đầu, chân, tay, miệng, óc, tim, …) chuyển nghĩađể chỉ cả con người
Trang 16Sau đó, gọi 2 – 3 cặp lên thực hiệnđoạn hội thoại của mình (2 học sinh lên trình bàykhi đóđã thực hiện kĩ năng nói), các bạn học sinh bên dưới chúý lắng nghe đồngthời xác định những từđược dùng với nghĩa chuyển trong đoạn hội thoại của cácbạn Như vậy, nhiệm vụ học tập được chuyển giao vừa hoàn thiện được bài tập, vừarèn kĩ năng nói và nghe cho học sinh, đồng thời rèn kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năngtrình bày, phát hiện, …
Để phục vụ cho việc phát triển các kĩ năng giao tiếp trong học tập và sinhhoạt hằng ngày, trong dạy học tiếng Việt đặc biệt là những bài thực hành cần chútrọng đến các ngữ liệuđược lấy từ thực tiễn Vì vậy, hệ thống bài tập nên gắn vớitình huống giao tiếp thực của đời sống vừa làm tăng sự hứng thú cho học sinh, tạo
sự hấp dẫn cho giờ học, đồng thời cũng phục vụ cho thực tiễn giao tiếp của các em
Ví dụ, khi dạy bài Thực hành về các phép tu từ: phép điệp, phép đối (Ngữ văn 10,
tập 2), giáo viên có thểđưa ra một tình huống cụ thể (nói chuyện về một người bạngiàu nghị lực trong lớp/ trường) và yêu cầu học sinh làm việc theo cặp, tạo câutrong hội thoại có sử dụng phépđiệp, phép đối Sau đó, chỉ ra hiệu quả của việc sửdụng (giá trị gợi hình, gợi cảm, …) Những tình huống thực tế không chỉ tạo ra chohọc sinh môi trường giao tiếp tốt để thực hành sử dụng tiếng Việt một cách tựnhiên thuận lợi mà còn giúp các em nhận thấy được sự thiết thực, hữuích của việchọc khi có thể vận dụng những kiến thức học được vào việc giải quyết các vấn đềtrong cuộc sống
2 Phát huy vốn tiếng Việt sẵn có của học sinh, tăng cường yêu cầu thực hành, vận dụng
Những bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT thuộcdạng bài luyện tập Loại bài này hướng tới việc rèn kĩ năng lĩnh hội và sử dụngcácđơn vị kiến thức ngôn ngữđã học (phương tiện, biện pháp tu từ, một số quy tắc
sử dụng tiếng Việt, …) Thông qua hệ thống bài tập, học sinh giải quyết các nhiệm
vụ nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năngđã họcở các bài trước hoặcở những
lớp dưới Ví dụ như các bài Thực hành một số phép tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, điệp
ngữ, …), Thực hành sử dụng một số các kiểu câu trong văn bản, …
Như vậy, với các bài thực hành tiếng Việt, học sinh được tiếp xúc với mộtđối tượng quen thuộc, bởiđó là ngôn ngữ các em sử dụng hằng ngày Hơn nữa, trảiqua bậc THCS, các em đã có được những kiến thức phổ thông cơ bản về ngôn ngữ,
đã được hình thành và rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết Vì vậy, khi dạyhọc các bài thực hành tiếng Việt cho học sinh bậc THPT, giáo viên cần phải chúýđến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh để phát huy tính tích cực, chủ động của
Trang 17học sinh trong từng bài học Dựa vào những kinh nghiệm, vốn hiểu biết sẵn có củahọcsinh về tiếng Việt, giáo viên có thể biến giờ thực hành (trước kia chỉ là giờ làmbài tập) thành giờ học với nhiều hoạt động phong phú hơn như các buổi thảo luậnhoặc thuyết trình với các trò chơi ngôn ngữ, các tiết mục diễn xuất, thậm chí là thực
hành sáng tác, … Ví dụ như bài Thực hành các phép tu từ: phép điệp, phép
đối(Ngữ văn 10, tập 2) giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm nhỏ tổ chức trò
chơiTiếp sức, các nhóm cửđại diện lên bảng trong vòng 5 phút tìm thật nhiều các ví
dụ có sử dụng phépđiệp trong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ hoặc trong cáctác phẩm em đã được học, nhóm nào tìm được nhiều đáp án hơn sẽ chiến thắng.Hoặc cũng trong tiết hoc đó, giáo viên có thể tổ chức hoạt động đối thơ: chia lớpthành hai nhóm, các nhóm lần lượt ra vế đốiđể nhóm kia đối lại, … Các hoạt độngnhư vậy vừa huy động, vừa vận dụng được các kiến thứcđã học, vừa hoàn thiệnthói quen sử dụng tiếng Việt nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp cho học sinh
Với những bài thực hành tiếng Việt thì hoạt động thực hành, vận dụng phảihết sức được coi trọng Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa hiện hànhđã cho thấyhầu hết nội dung của các bài thực hành tiếng Việt là trực tiếp hoàn thiện các dạngbài tập cụ thể chứ không dành thời gian học lại lí thuyết rồi mới luyện tập Do vậy,giáo viên cần triển khai các hoạt động thực hành khác nhau để tạo nên sự phongphú, hấp dẫn, có sức lôi cuốn với học sinh, có tác dụng tích cực đối với việc củng
cố, nâng cao kiến thức và rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt Ví dụ trong bài
Thực hành một số phép tu từ cú pháp (Ngữ văn 12, tập 1), để thực hành phần I Phép lặp cú pháp, giáo viên có thể cho học sinh hoạt động cá nhân bài tập 1 để tất
cả học sinh cùng củng cố kiến thức vềphéplặp Tiếp đến bài tập 2, yêu cầu so sánhhiện tượng lặp kết cấu cú pháp trong những câu văn xuôi, những câu thơở bài tập 1với những kết cấu của những câu thuộc thể loại khác, với bài tập này giáo viên cóthể cho học sinh thảo luận theo nhóm để có thểđưa ra được nhiềuý kiến, quan điểmhơn khi so sánh Tới bài tập 3, để thay đổi không khí, thu hút sự tập trung của họcsinh, giáo viên có thể tổ chức trò chơi để các em tìm kiếm các ví dụ về phép lặptheo yêu cầu của đề bài Sựđa dạng trong hình thức luyện tập sẽ góp phần tăng hiệuquả giờ thực hành cũng như chú trọng rèn luyện các năng lực, kĩ năng cần thiết chohọc sinh
3 Tổ chức và thực hiện dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Như ta được biết, học tiếng Việt không chỉ dừng lạiở việc hiểu về nó mà phảibiết cách sử dụng thành thạo công cụ này trong hoạt động tư duy và giao tiếp.Vìvậy, dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp nghĩa là giáo viên cần phải tìm
Trang 18mọi cách hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp Tác giả Lê A cho rằng: “Phương
pháp giao tiếp là cách thức hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân
tố tham gia vào hoạt động giao tiếp.” Theo đó, giáo viên cần tiến hành một số thao
tác sau đây: tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp chohọc sinh; học sinh xác định hướng giao tiếp khi tiến hànháp dụng các tri thức tiếng
Việt Nói cách khác, các em cần phải trả lời được các câu hỏi sau: Nói (viết) với ai?
Về cái gì?Trong hoàn cảnh nào? học sinh căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếpđể tạo ra
các lời nói cụ thể, đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm Như vậy, bản chất cốt lõicủa phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp là giáo viên phải hướng vàongười học, tích cực hoá hoạt động của người học
Ví dụ, khi dạy bài Thực hành về thành ngữ, điển cố (Ngữ văn 11, tập 1), để
học sinh nhớ lại được khái niệm “thành ngữ” (họcở lớp 7), giáo viên cần thiết kếnhiệm vụ giúp học sinh huy động kiến thức nhận diệnđúng thành ngữ, sau đó là tạocâu có sử dụng thành ngữ, chỉ ra tác dụng của thành ngữ (bằng cách thay thế thànhngữ bằng từ/ cụm từ có nghĩa tương đương); và cuối cùng là biết vận dụng thànhngữ trong tạo lập hội thoại (nói) và tạo lập văn bản (viết) nhằm nâng cao hiệu quảgiao tiếp Về khái niệm “điển cố” giáo viên cũng xây dựng những nhiệm vụ học tậptương tự như trên, có thể tập trung thêm vào việc lí giải cácđiển cốđó Nhữngnhiệm vụ dạy học này cần được thiết kế dưới dạng hoạt động và triển khai theohướng giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh thực hiện nhiệm vụ và tựđánh giá mứcđộđạt được (khuyến khích đa dạng các hình thức học tập cá nhân, cặpđôi, nhóm);giáo viên hồiđáp và chuyển giao nhiệm vụ mới…
Như vậy, tổ chức dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, giáo viênnhấtđịnh phải hướng đến năng lực giao tiếp, chúýđánh giá toàn diện các kĩ năngnghe, nói, đọc, viết; chúý tới sự tiến bộ và tiềm năng của học sinh trong việc sửdụng các kĩ năng ngôn ngữ, từđó làm tăng hiệu quả của hoạt động dạy học
II Quy trình và một số phương pháp, kĩ thuật dạy học có thểáp dụng vào dạy các bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT
1 Quy trình dạy các bài thực hành tiếng Việt
Những bài học tiếng Việt trong sách giáo khoa chủ yếu được chia thành hailoại: thứ nhất là loại bài hình thành kiến thức mới (ví dụ như: các bài về Phongcách ngôn ngữ, Đặcđiểm loại hình của tiếng Việt, Ngữ cảnh, Đặcđiểm của ngônngữ nói và ngôn ngữ viết, …); thứ hai là loại bài luyện tập - những bài thực hànhtiếng Việt thuộc dạng này
Trang 19Nếu như với những bài hình thành kiến thức, một giờ dạy theo hướng pháttriển năng lực sẽ bao gồm 5 hoạt động:
- Giới thiệu, nêu yêu cầu bài học/ có thể tích hợp với hoạt động khởi động
- Giáo viên hướng dẫn giao nhiệm vụ 1
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ 1
- Giáo viên hồiđáp kết quả
- Giáo viên hướng dẫn giao nhiệm vụ 2 …
Các hoạt động dạy học tuần tự thực hiện cho đến khi kết thúc giờ học Đểtránh cảm giác nhàm chán khi thực hiện tiếp nối các hoạt động, giáo viên nên sửdụngđa dạng các biện pháp dạy học như thu thập thông tin, điền khuyết thông tin,chuyển đổi xử lí thông tin, trò chơi, đóng vai, tranh luận, …
2 Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực có thểứng dụngvào các bài thực hành tiếng Việt trong chương trình THPT
Với xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực nhưhiện nay, ta nhận thấy việc lựa chọn phương pháp và các kĩ thuật dạy học để xâydựng một hoạt động học tập là điều rất quan trọng và cần thiết Việc vận dụng cácphương pháp và kĩ thuật dạy học cần tuân thủ theo những định hướng chung củachương trình Giáo dục Phổ thông 2018 như: dạy học tích hợp và phân hoá, đa dạnghoá các hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học; phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo trong học tập và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh
Ứng dụng vào dạy học môn Ngữ văn nói chung và phân môn tiếng Việt nóiriêng có rất nhiều các phương pháp và kĩ thuật dạy học khác nhau
- Một số phương pháp dạy học như:
Trang 20+ Phương pháp dạy học theo mẫu …
- Một số kĩ thuật dạy học như:
+ Kĩ thuật khăn trải bàn
+ Kĩ thuật sơ đồ tư duy
+ Kĩ thuật bốn ô vuông
+ Kĩ thuật phòng tranh…
Các phương pháp và kĩ thuật dạy học này, ta có thể dễ dàng tìm hiểu trongcác tài liệu bồi dưỡng giáo viên, qua các phương tiện thông tin cũng như các sáchhướng dẫn dạy học theo định hướng phát triển năng lực Đây cũng là nhữngphương pháp dễ vận dụng trong thiết kế bài dạy, không cần nhiều điều kiện chuẩn
bị đồng thờiđem lại hiệu quả cao Tuy nhiên, không có một phương pháp, kĩ thuậtdạy học nào là tốiưu có thể dành cho mọi tình huống và mọi đối tượng học sinh.Mỗi phương pháp, kĩ thuật dạy học đều có những ưu và nhượcđiểm nhất định Vìvậy, căn cứ vào mục tiêu, nội dung, đối tượng dạy học và cơ sở vật chất, điều kiện
sở trường, mỗi giáo viên cần lựa chọn và sử dụng cũng như phối hợp nhiều phươngpháp, kĩ thuật dạy học vào thực tiễn giảng dạy đểđạt được hiệu quả tốt nhất
III Giáo án thiết kế một số bài thực hành tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT theo định hướng phát triển năng lực
Đáp ứng các yêu cầu dạy học tiếng Việt theo tinh thần đổi mới cùng vớiviệcứng dụng một số các phương pháp, kĩ thuật dạy học Ngữ văn theo định hướngphát triển năng lực cho học sinh, chúng tôi xin đưa ra một số giáo án thiết kế bàithực hành tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho ba bộ phận của phânmôn tiếng Việt Đó là bài thực hành về biện pháp tu từ, bài thực hành về từ vựng vàbài thực hành về câu
1 Giáo án 1: Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ
Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1) – cơ bản
Trang 21A MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức :
- Ôn tập, củng cố và nâng cao sự hiểu biết về hai phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
- Tích hợp với vốn sống, vốn văn chương đã học và với các bài làm văn tự sự
có yếu tố miêu tả và biểu cảm
B CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1 Giáo viên: Soạn giáo án, đọc thêm tài liệu, soạn powerpoint…
2 Học sinh: xem lại bài cũ, soạn bài mới
C PHƯƠNG PHÁP
- Giáo viên sử dụng phương pháp: thảo luận nhóm, vấn đáp, chơi trò chơi
phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS
D PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1 Giáo viên: SGK, SGV, giáo án, máy chiếu,
tâm thế, huy động kiến thức liên quan làm hành trang để tiếp nhận kiến thứcmới
Thời gian : 5 phút
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
Hãy kể tên các biện pháp tu từ từ vựng đã
học ở THCS?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
Các biện pháp tu từ từ vựng đã được học ởTHCS:
- So sánh
- Nhân hoá
Trang 22HS: suy nghĩ, thảo luận, ghi vào bảng
phụ
GV: Quan sát, hỗ trợ HS
Bước 3: Báo cáo kết quả
HS mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết
quả thảo luận
GV: quan sát, hỗ trợ
Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả
thực hiện nhiệm vụ
GV: nhận xét, chuẩn hoá kiến thức
GV dẫn dắt vào bài mới: Ẩn dụ và hoán
dụ là hai phép tu từ khá quan trọng mà
trong chương trình THCS các em đã được
học Hôm nay, chúng ta sẽ học bài “Thực
hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ” để
giúp các em ôn tập, củng cố và nâng cao
sự hiểu biết về hai phép tu từ ẩn dụ và
hai biện pháp ẩn dụ và hoán dụ thông qua các bài tập thực hành
Thao tác 1: GV hướng dẫn HS thực
hành vềẩn dụ
Bài 1: SGK/135
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
GV: chia lớp làm 4 nhóm, thảo luận yêu
cầu của bài tập 1 trong vòng 5 phút
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
I Ẩn dụ
Bài 1: SGK/135
a + Thuyền, con đò → con trai
Di chuyển không cố định + Bến, bến cũ → con gái
Trang 23HS: đọc những câu ca dao trong SGK và
trả lời câu hỏi, ghi đáp án vào giấy A0
- Những từ “thuyền, bến, cây đa, con
đò” không chỉ là thuyền bến mà
còn mang nội dung ý nghĩa khác
Nội dung ý nghĩa ấy là gì?
- Thuyền và bến ở câu (1) với cây đa
bến cũ, con đò ở câu (2) có gì khác
nhau?
Bước 3:Báo cáo kết quả
HS mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết
quả thảo luận
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
GV: tổ chức trò chơi “Con số may mắn”
Luật chơi: Có 6 con số, trong đó từ số 1
đến số 5, mỗi con số tương ứng với
mộtđoạn trích trong bài tập 2 và số 6 là
con số may mắn 4 nhóm lần lượt bốc
thăm con số của mình, bốc vào con số
nào thì phải tìm và phân tích phép ẩn dụ
có trong đoạn trích của con sốấy Trả lời
đúng thì được 1 điểm, trả lời sai cơ hội
dành cho nhóm nào giành quyền nhanh
nhất bằng cách xung phong Nếu nhóm
bốc được con số 6 thì không cần trả lời
vẫn ghi được 1 điểm
Kết thúc trò chơi, đội nào giành được
=> son sắt, thuỷ chung cố định + Cây đa, bến cũ: chỉ người có quan hệgắn bó nhưng phải xa nhau
b Khác nhau:
- Thuyền - bến: con trai – con gái
- Bến – đò: Hai người có quan hệ gắn
bó nhưng vì điều kiện phải xa nhau
mẽ, không có tính chiến đấu; tìnhcảm yếu đuối, uỷ mị
- Đoạn trích (3): giọt (tiếng chim) –
âm thanh của tiếng chim hót có vẻđẹp của giọt nước long lanh dướiánh nắng mặt trời
từ thính giác sang thị giác, xúc giác
- Đoạn trích (4):
Trang 24nhiều điểm nhất sẽ chiến thắng
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS:Đại diện mỗi nhóm sẽ lên bốc thăm
con số và cả nhóm sẽđưa ra câu trả lời
trong vòng 1 phút Các nhóm còn lại sẽ
theo dõi, nhận xét
Bước 3:Báo cáo kết quả
HS: mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết
quả thực hiện nhiệm vụ
GV: quan sát, hỗ trợ, trong vai trò là
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
GV: yêu cầu 4 nhóm thảo luận yêu cầu
của bài tập 1 trong vòng 5 phút
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS:tiếp tục thảo luận theo 4 nhóm đã
chia ban đầu, đọc những câu thơ trong
SGK và trả lời câu hỏi, ghi đáp án vào
giấy A0
Bước 3:Báo cáo kết quả
HS: mỗi nhóm cử đại diện, báo cáo kết
+ Thác - ẩn dụ chỉ sự gian khổ, khó khăn+ Thuyền - ẩn dụ chỉ sự nghiệp cáchmạng
- Đoạn trích (5):
+ Phù du: chỉ những cái phù phiếm, không
có ích lợi cho cuộc sống; chỉ cuộc sốngtrôi nổi
+ Phù sa: ẩn dụ chỉ những cái ích lợi chocuộc sống; cuộc sống mới, đầy triển vọngtốt đẹp cho con người
II Hoán dụ
Bài 1: SGK/136
a Những hình ảnh:
* Câu (1)
- Đầu xanh, má hồng: → Thuý Kiều
- Đầu xanh: chỉ những người trẻtuổi
- Má hồng: + chỉ người con gái đẹp + thân phận làm gái lầuxanh
Trang 25quả thảo luận
dụng trong câu thơ?
GV: Câu thơ của Nguyễn Bính và câu
ca dao ở phần I khác nhau ở điểm nào?
- Áo nâu: chỉ người nông dân
- Áo xanh: chỉ người công nhân
b Để hiểu đúng một đối tượng khi nhàthơ thay đổi tên gọi của đối tượng
đó, ta phải xác định được mối quan
hệ gần gũi, tương cận giữa các đốitượng như: quan hệ giữa bộ phận vàtoàn thể, giữa trang phục và conngười, giữa nơi ở hay con người, …
và cũng là cơ sở để hiểu đúng hoán
dụ
Bài 2: SGK/137
a Hoán dụ: Thôn Đoài, thôn Đông: →chỉ những người thôn Đoài và ngườithôn Đông
- Ẩn dụ: Cau và trầu không: → chỉ
những người có tình cảm thắm thiết
b So sánh: Cùng bày tỏ nỗi nhớ ngườiyêu nhưng:
- Câu thơ của Nguyễn Bính: dùng cả
hoán dụ (thôn Đoài, thôn Đông) và