Đ ng g p của luận văn - Luận văn làm rõ đặc trưng về mặt lý luận ứng dụng CNTT trong QL đào tạo và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V, đồng thời luận văn cũ
Trang 1Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHO HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.ĐINH XUÂN KHOA
Vinh, 2010
Trang 22
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khóa VIII)
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới đã yêu cầu ngành giáo dục phải “đổi mới mạnh mẽ PP giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy-học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” Công nghệ thông tin chính là công cụ trợ giúp đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, PP giảng dạy, hỗ trợ quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phát triển giáo dục Nhận thực rõ vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học, Bộ GD&ĐT đã quyết định chọn năm học 2008-2009 làm năm học ứng dụng CNTT nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa”
Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, PP dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục Hội nghị Trung ương 6, khóa IX đã đề ra 3 nhiệm vụ để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, trong đó có nhiệm vụ về giáo dục đào tạo là: nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo nhân tài Trong nhiệm
vụ này, trọng tâm là đổi mới nội dung, chương trình, PP giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin vào các cấp học, bậc học
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị CT/TW của Bộ Chính Trị ngày 17 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT
Trang 358-3 trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg
Trong nhiều năm qua, vấn đề đổi mới PP giảng dạy đã được chúng ta quan tâm, các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học như máy vi tính, máy chiếu, băng, đĩa… được các nhà trường quan tâm trang bị, nhiều giáo viên đã đầu tư cho bài giảng của mình để nâng cao chất lượng giảng dạy Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT vẫn chưa được thường xuyên và rộng khắp
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động giảng dạy được coi là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Chỉ khi nào mỗi cán bộ, giáo viên coi việc ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy như là một nhu cầu tự thân, không mang tính áp buộc từ bên trên, tự họ tìm tòi, không ngừng đổi mới và hoàn thiện tri thức, kỹ năng áp dụng
và sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực thì việc quản lý hoạt động giảng dạy mới thực sự sâu rộng, có hiệu quả và bền vững
Cùng với các cơ sở giáo dục, đào tạo trên cả nước, nhiều năm qua Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và cải tiến phương pháp, hình thức dạy học, phù hợp cho riêng mình Những cố gắng ấy đã tạo ra những chuyển biến đáng kể trong phong trào thi đua dạy tốt - học tốt của toàn trường
Tuy nhiên, phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy ở trường vẫn chưa đều khắp ở các đơn vị và ở cán bộ giáo viên Nó mới chỉ dừng lại ở bề nổi của hình thức mà chưa đi vào chiều sâu của chất lượng và chưa được thường xuyên, liên tục Nó chưa trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, giáo viên
Trong những năm gần đây, đã có những công trình khoa học đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy Ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào bàn về vấn đề này Với những lý do ở trên tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “
Trang 43 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác QL đào tạo, đổi mới PP giảng dạy qua việc ứng dụng CNTT ở Trường
Trung cấp Thương mại Trung ương V
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp QL đào tạo, đổi mới PP giảng dạy qua việc ứng dụng CNTT ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V
4 Giả thuyết khoa học
- Chất lượng đào tạo của nhà trường sẽ được nâng lên đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội nếu hệ thống này được quản lý bằng một quy hoạch tổng thể mang tính khoa học và khả thi
5 Nhi m vụ và ph m vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề ứng dụng CNTT trong QL đào tạo
và đổi mới PP giảng dạy;
- Đánh giá phân tích việc ứng dụng CNTT trong QL đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V;
- Đề ra những giải pháp cơ bản để quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy qua việc ứng dụng CNTT tại Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V
Trang 55
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục & đào tạo, Bộ Công thương và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
6.3.Nhóm các phương pháp thống kê Toán học
7 Đ ng g p của luận văn
- Luận văn làm rõ đặc trưng về mặt lý luận ứng dụng CNTT trong QL đào tạo
và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V, đồng thời luận văn cũng chỉ ra những bất cập, khó khăn trong việc ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo của nhà trường
- Đề xuất các giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT trong QL đào tạo và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V
8 Cấu trúc của luận văn
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài;
Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới phương
pháp giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và đổi mới phương
pháp giảng dạy qua việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V
Trang 66
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦ ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số nước trên thế giới
Ở một số nước phát triển trên thế giới đã sớm chú trọng tới việc ứng dụng CNTT Những nước này có nhiều chương trình quốc gia về CNTT, nhằm ứng dụng
nó vào mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có GD&ĐT Những thành tựu phát triển kinh tế đạt được hiện nay có phần đóng góp hết sức to lớn của chương trình quốc gia này Có thể thấy ở một số quốc gia điển hình như:
- Nhật Bản: “Kế hoạch về một xã hội thông tin, mục tiêu quốc gia tới năm 2000
đã được công bố từ năm 1972”
- Hàn Quốc: Xác định mục tiêu chiến lược của chính sách đẩy mạnh tin học hóa
là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000
- Singapo: Năm 1981, nước này đã thông qua một đạo luật về tin học quốc gia, quy định ba nhiệm vụ; một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính
và hoạt động của chính phủ; hai là, phối hợp giáo dục và đào tạo tin học; ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapo Một ủy ban máy tính quốc gia được thành lập để quản lý công tác đó
- Tại Mỹ và các nước Châu âu, những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ, chính vì thế ứng dụng CNTT trong quản lý GD đã được sự ủng hộ từ các chính sách trợ giúp của chính phủ ngay từ cuối những thập niên 90
- Ứng dụng CNTT trong giáo dục tại Anh quốc:
+ Cấp Trung học trung bình được đầu tư 198 máy tính PC và 53 máy tính xách tay/trường;
+ Tỉ lệ nối mạng ở tiểu học là 96%, trung học là 99,8%;
Trang 77 + CNTT được ứng dụng trong tất cả các môn học chứ không phải là một môn riêng biệt; không dạy học sinh phổ thông lập trình phần mềm, đây là công việc của các chuyên gia hoặc các trường trung học chuyên nghiệp;
+ Máy chiếu có ở mọi phòng học;
+ Các trường phổ thông kể cả tiểu học đều có phòng đa phương tiện (Multimedia) [23]
Khi nghiên cứu vấn đề thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong GD&ĐT giáo
sư David Mousund, bộ phận quản lý và chính sách trường đại học Oregon Autralia
đã đưa ra các luận điểm:
- Lĩnh vực ICT (Information Communication Technology) đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt khả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại;
- Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng ICT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm
Trong luận điểm của mình giáo sư David Mousund, bộ phận quản lý và chính sách trường Đại học Oregon Autralia đã chỉ ra vấn đề là cần phải thay đổi tư tưởng của nhà quản lý Ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa ICT và tư tưởng của nhà quản lý Khi đến với hội thảo tại ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề “Các giải pháp công nghệ và quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục” (Hãng Microsoft tài trợ) các tác giả:
- Giáo sư Vương Thanh Sơn, UBC (Viện đại học British Columbia, Canada) Tác động của CNTT trong GD&ĐT;
- Tiến sỹ Patrick Tantribeau, Futuru Com International Holdings, Ltd, Van couver, Canada “Những thay đổi quản lý trong thời đại thông tin”
Những nhà khoa học này đã mang đến hội thảo các đề tài với cùng quan niệm chung là thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục Các tác giả đã đề cập một cách sâu rộng tác động của CNTT, tầm quan trọng của CNTT, cách sử dụng website trong GD&ĐT, đặc biệt là đòi hỏi phải thay đổi quản lý trong thời đại thông tin
1.1.2 Ở Việt Nam
Trang 88
Do ý nghĩa, tầm quan trọng của CNTT đối với phát triển kinh tế-xã hội đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương chính sách hết sức quan trọng để đẩy mạnh việc ứng dụng, phát triển CNTT
- Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh và ứng
dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học; phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT” [6]
- Luật CNTT đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
- Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 về tăng cường giảng dạy đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005
- Công văn 9584/BGD&ĐT-CNTT, ngày 07 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về ứng dụng CNTT
- Chủ đề của năm học 2008-2009 mà Bộ GD&ĐT chọn và công bố ngày 31 tháng 7 năm 2008 tại Hải Phòng nhân dịp Bộ GD&ĐT tổ chức hội nghị tổng kết năm học 2007-2008, triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm học 2008-2009 là
“Năm học ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong ngành”
- Công văn số 273/CNTT, ngày 12/8/2008, của Cục CNTT (Bộ GD&ĐT) về việc kết nối cáp quang Internet đến các trường trong cả nước [12]
Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quản lý GD đặc biệt là trong quản lý nhà trường đã được một số luận văn thạc sỹ, công trình khoa học nghiên cứu đề cập đến chẳng hạn như:
Trang 99
“Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trường THPT” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006); “Một số biện pháp nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý GD ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Văn Khiêm (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006); Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu tổ chức và quản lý việc ứng dụng CNTT&TT trong quản lý trường THCS” do TS Trương Đình Mậu làm chủ nhiệm; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường Đại học Vinh” do PGS.TS Nguyễn Đình Huân làm chủ nhiệm,
Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sỹ trên đã đề cập đến việc ứng dụng CNTT vào trong QL ở nhà trường, khẳng định ý nghĩa tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong QL và các tác giả cũng đề xuất được một số giải pháp cần thiết, khả thi nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong QL Tuy nhiên, mới chỉ dừng ở một phạm vi, một trường, một số khía cạnh nào đó Chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong QL đào tạo và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V Vì thế tác giả đi sâu nghiên cứu đề tài này mong muốn đề xuất được những giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V , góp phần nâng cao chất lượng QL
và đào tạo của nhà trường
1.2 Một số khái ni m cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo viên
Trong xã hội ngày nay, người thầy được xã hội tôn vinh và được coi là “kỹ sư tâm hồn” giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ Trong từ điển tiếng Việt: “Giáo viên là người dạy bậc phổ thông hoặc tương đương”
Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 61 nêu: Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác [32] Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau:
- Có phẩm chất đạo đức tốt;
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ;
Trang 10Từ đó chúng ta có thể hiểu: “Đội ngũ giáo viên là một tập thể người có cùng chức năng, nghề nghiệp (nghề dạy học) cấu thành một tổ chức và là nguồn nhân lực của tổ chức đó; cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện một mục tiêu giáo dục-đào tạo đã đề ra cho tập thể đó; họ làm việc theo kế hoạch đồng thời chịu sự ràng buộc của những quy tắc hành chính của ngành và theo quy định của pháp luật
1.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin
1.2.3.1 Khái niệm thông tin (Information)
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin, nhưng phần lớn đều hiểu thông tin
là tất cả những gì có thể cung cấp cho con người những hiểu biết về đối tượng được quan tâm trong tự nhiên và xã hội, về những sự kiện diễn ra trong không gian và thời gian, về những vấn đề chủ quan và khách quan…nhằm giúp con người trên cơ
sở đó có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời, có hiệu quả và có ý nghĩa Thông tin bao hàm tất cả những thu thập có tính ghi chép, thống kê, tổng kết, những nhận định, dự báo, những dự kiến, kế hoạch, chương trình,…Thông tin là
Trang 1111 thuộc tính của sự vật, đặc trưng cho độ bất định của sự vật đó Thông tin là những gì có thể giúp cho con người hiểu đúng về đối tượng mà họ quan tâm
Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học, thông tin có thể hiểu là những nội dung trao đổi giữa hệ thống và môi trường được sử dụng nhằm mục đích điều khiển hoạt động của hệ thống đó [19, Tr.31]
Dữ liệu (Data) có thể hiểu vật liệu thô mang thông tin Dữ liệu sau khi được tập hợp lại và xử lý cho ta thông tin Nói cách khác, dữ liệu là nguồn gốc, là vật mang thông tin, là vật liệu sản xuất ra tin [19, Tr.36]
Hệ thống thông tin (Information System) là một hệ thống tiếp cận các nguồn dữ liệu như các phần tử và chúng được xử lý thành các sản phẩm thông tin là các phần
tử ra [19,Tr.41]
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thông tin
1.2.3.2 Công nghệ thông tin
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin viết tắt IT (Information Technology) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin,
là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ,
xử lý, truyền và thu thập thông tin [59]
Tại Việt Nam, khái niệm CNTT trong nghị quyết số 49/NQ-CP, nghị quyết về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, chính phủ ký ngày 04 tháng 8 năm
1993 đã định nghĩa như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các PP khoa học, các phương tiện và công cụ hiện đại-chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông-nhằm
tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”
Theo điều 4, Luật CNTT số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006 thì; “Công nghệ thông tin là tập hợp các PP khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”
Dữ liệu
(Data)
Xử lý (Processing) (Information) Thông tin Nhập
(Input)
Xuất (Output)
Trang 1212 Công nghệ thông tin, thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học
và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo nghĩa đó CNTT cung cấp cho chúng ta các quan điểm, PP khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người [31]
Theo nghĩa hẹp thì CNTT bao gồm các thiết bị phần cứng dùng để kết nối các máy tính, các thiết bị điện tử nhờ có môi trường truyền thông (đường dây điện thoại, đường truyền cáp, ăng ten, trạm vệ tinh, bộ định hướng, bộ chuyển tiếp và các thiết bị khác dùng để kiểm soát đường truyền dữ liệu), các phần mềm được dùng để gửi, nhận và quản lý các tín hiệu được truyền dẫn, các phương tiện kết nối phần cứng với phần mềm
Dù hiểu về CNTT ở góc độ nào thì những công nghệ, phương tiện kỹ thuật nói trên đều hỗ trợ cho việc thu nhận, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin
1.2.3.3 Ứng dụng CNTT trong quản lý
Công nghệ thông tin có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong quản lý nhà trường chúng ta có thể chia những khả năng ứng dụng của CNTT làm hai phạm trù:
- Công nghệ thông tin là một hệ thống trợ giúp Trong công tác hành chính CNTT sẽ đơn giản hóa những nhiệm vụ như: Lập kế hoạch, làm báo cáo và quản lý hành chính nhà trường;
Với công tác hành chính thì CNTT thường xuyên đem đến những sự trợ giúp to lớn Những công việc hành chính phức tạp và tốn nhiều thời gian có thể được đơn giản hóa và vi tính hóa Ví dụ như lập kế hoạch, quản lý hệ thống, làm báo cáo, kế toán, hành chính;
- Lồng ghép sử dụng CNTT
Khi nhà quản lý thực sự sử dụng CNTT trong các hoạt động quản lý, khi đó gọi
là sử dụng lồng ghép Vấn đề sử dụng CNTT trong quản lý như thế nào có thể được phân ra làm nhiều cách Ở đây, chúng ta chỉ phân loại giữa việc ứng dụng CNTT
Trang 1313 như là một đối tượng học tập, một công cụ quản lý, là một người hướng dẫn, một phương tiện mở với việc sử dụng CNTT như là một phương tiện truyền thông
1.2.4 Quản lý, quản lý gi o dục và quản lý nhà trường
1.2.4.1 Quản lý
“Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người” [22,Tr.11]
* Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn:
Quản lý là quá trình tác động của chủ thể QL đến khách thể quản lý thông qua các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu QL
Giáo dục và QLGD là sự tồn tại song hành, Nếu nói GD là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về QLGD [48,Tr.11]
* Tác giả Trần Quốc Thành có trình bày về quản lý:
- Quản lý là quá trình tác động có ý thức vào một bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động vào bộ máy để đạt được mục đích
- QL là hoạt động phối hợp nhiều người, nhiều yếu tố;
- Định hướng các hoạt động đó theo một mục tiêu nhất định;
- Kiểm soát được tiến trình đạt tới mục tiêu [28]
Trang 1414 Với cách hiểu quản lý là quản lý tổ chức của con người, hoạt động của con người, có thể định nghĩa khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động” [25,Tr.8]
Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm “Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ, ít nhất
có hai cấp độ chủ yếu; cấp vĩ mô và cấp vi mô
- Đối với cấp vĩ mô
QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD;
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên hệ thống GD nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động; Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể QL nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chình, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực
Trang 15* Tóm lại: Theo các tác giả thì QLGD đều chứa đựng các nhân tố đặc trưng bản chất như phải có chủ thể QLGD, ở tầm vĩ mô là QL của nhà nước mà cơ quan QL trực tiếp là Bộ, Sở, Phòng GD, còn ở tầm vi mô là QL của hiệu trưởng nhà trường Phải có hệ thống tác động QL theo nội dung, chương trình, kế hoạch thống nhất từ trung ương tới địa phương nhằm thực hiện mục đích GD trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội Phải có một lực lượng đông đảo của XH những người làm công tác GD cùng với hệ thống CSVC kỹ thuật tương ứng
QLGD có tính xã hội cao do đó cần tập trung giải quyết các vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng phục vụ cho công tác GD Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó GV và HS là hai đối tượng đặc biệt quan trọng
Như vậy, quản lý giáo dục về thực chất là quản lý nhà trường và quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác
Trang 1616 Trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại như: Quản
lý hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp); hoạt động xã hội; hoạt động văn thể; hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa; hoạt động giáo dục hướng nghiệp, vv Quản lý các đối tượng khác nhau: Quản lý giáo viên; học sinh; tài chính; quản lý cơ sở vật chất vv…
Trên cơ sở đó, chúng ta hiểu quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của Hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên, học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin…) hợp quy luật nhằm đạt mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ Quản lý nhà trường cũng tập trung nhiều sức lực vào quản lý hoạt động dạy học bởi “Hoạt động (quá trình) dạy học là quá trình mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức-học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [39, Tr.7]
Mặt khác, quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người, quản lý quá trình
GD theo nghĩa rộng (quá trình sư phạm tổng thể - quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp) [40, Tr.29] Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ Trong nhà trường GV và HS vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý Cho nên, quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm của người hiệu trưởng, mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường
Nói cách khác, quản lý con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người
“Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân”
Trang 1717 Quản lý nhà trường là sự cụ thể hóa công tác QLGD Nhà trường là tế bào chủ chốt của của bất cứ hệ thống GD nào từ trung ương đến địa phương
PPDH là hệ thống các hoạt động của người dạy và người học có mục đích, có bài bản, được thiết kế theo kiểu "thầy tổ chức - trò hành động" hoặc theo Hêghen “ PP dạy học là sự vận động của nội dung dạy học”
1.2.6 ổi mới phương ph p
Từ nhu cầu đổi mới PPDH, các nhà khoa học như: Thái Duy Tuyên [47]; Trần Kiều [26]; Nguyễn Hữu Châu [8], đã khẳng định định hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: “ PP dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong hoạt động”
1.3 Vai trò của tin học, ứng dụng công ngh thông tin và truyền thông trong sự nghi p công nghi p hoá, hi n đ i hoá đất nước
Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có tác động rất mạnh đến việc ứng dụng CNTT trong QL Các chính sách trong từng lĩnh vực có tác động mạnh hay yếu khác nhau Những năm vừa qua, Đảng và Chính phủ đã có sự chỉ đạo sát sao nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội
- Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và
phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đã chỉ rõ: “… Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất
cả các cơ sở giáo dục và đào tạo…” [6];
Trang 18Những biện pháp thích hợp tăng cường ứng dụng CNTT vào quản lý ở các nhà trường được áp dụng tốt, chúng ta sẽ tạo được chuyển biến mới tích cực trong công tác quản lý giáo dục, góp phần hết sức quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT Đây cũng là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành GD giai đoạn 2001-2005 qua Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg
Cụ thể hơn quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ còn có một số văn bản khác như:
- Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005;
- Ngày 06/4/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg, phê duyệt chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010;
331/QĐ Quyết định 146/2005/QĐ331/QĐ TTg phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010;
- Năm 2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 64/NĐ-CP về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Trang 1919 Một số chủ trương, nghị định, quyết định nói trên cũng đã chứng tỏ rằng Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong quản lý
1.4 Vai trò của tin học, ứng dụng công ngh thông tin và truyền thông trong sự nghi p đổi mới giáo dục và quản lý đào t o
Sự phát triển nhanh chóng của CNTT có tác động lớn đến hệ thống GD&ĐT của mỗi quốc gia CNTT đang làm nên một cuộc đổi mới mạnh mẽ trong GD&ĐT Nó làm thay đổi nội dung, PP dạy và học cũng như cách thức điều hành và quản lý giáo dục
Các nhà quản lý cho rằng, CNTT tác động đến GD&ĐT theo các lĩnh vực: mục tiêu ứng dụng; PP dạy và học; môi trường đào tạo và công tác quản lý giáo dục Trong đó, PP dạy và học chịu tác động nhiều nhất, máy tính, mạng máy tính sẽ góp phần tạo ra môi trường lý tưởng cho hoạt động của người dạy và người học trong việc mô phỏng các quá trình hay kiểm tra năng lực của người học
Đối với GD&ĐT, Tin học được sử dụng như “người phụ giảng” tham gia trong các quá trình đào tạo và giáo dục Tin học đang phát huy vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp đào tạo con người thông qua những sản phẩm thông minh về lao động tư duy Tin học đang trở thành người bạn đồng hành hữu ích và không thể thiếu được đối với cuộc sống con người
Có thể thấy rằng, sự phát triển của CNTT đang là một thách thức đối với GD&ĐT, nhất là đào tạo ở các trường ĐH, CĐ, TCCN phải đưa quá trình giảng dạy trở thành việc khám phá hướng tới nghiên cứu cho HSSV Các siêu xa lộ thông tin cùng với CNTT sẽ có tác động tới sự phát triển nguồn nhân lực nói chung và sự nghiệp GD&ĐT nói riêng Một mặt, GD&ĐT sẽ có môi trường và các phương tiện thích hợp, hiệu quả hơn Mặc khác, nhờ CNTT mà GD&ĐT tạo ra được những “sản phẩm” con người có chất lượng hơn nhiều
Chúng ta cần thấy rõ vai trò quan trọng của CNTT trong GD&ĐT để tạo ra bước chuyển biến cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, PP giảng dạy, học tập bộ môn, tạo ra sự đổi mới trong quá trình quản lý giáo dục ở nhà trường Các trường CĐ, ĐH muốn phát huy và ứng dụng hết những tài nguyên do Tin học
Trang 20lý giáo dục và đào tạo Mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo phải có trang thông tin (Website) phản ánh các hoạt động của đơn vị mình và kết nối chung vào mạng giáo dục” [5]
Gần đây, Bộ GD&ĐT có công văn 9584/BGD&ĐT-CNTT, ngày 07 tháng 9 năm
2007 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về ứng dụng CNTT và lấy năm học 2008-2009 là năm học ứng dụng CNTT
Để cụ thể hóa chủ trương, chính sách và thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, của Bộ GD&ĐT nhiều đề án, dự án đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý
và dạy học ở các nhà trường được thực hiện Chẳng hạn như: Dự án Srem, Partners
in learning; Tập đoàn Intel có chương trình “Dạy học của Intel” trước đây gọi là
“Intel teach to the Future - Dạy học cho tương lai”
Tại Thanh Hóa, nơi Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V đóng đang triển khai thực hiện chương trình dự án quản lý hệ thống thông tin nhà trường VNPT school Chương trình dự án này do Sở GD&ĐT phối hợp với Viễn thông tỉnh tổ chức
Với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đặc biệt là sự gia tăng về số lượng, quy
mô và nhu cầu được giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng Việc ứng dụng CNTT trong quản lý ở các nhà trường được xác định là một trong những biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
Trang 21là hạt nhân kết nối và thúc đẩy các yếu tố sản xuất khác phát triển
Giáo dục đi vào thế kỉ XXI đã chỉ rõ “Các nước muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu thì phải tiếp nhận công nghệ mới, trước nhất là CNTT và phải đưa công nghệ
đó vào lĩnh vực của sản xuất và đời sống” [17]
Muốn làm được điều đó thì vai trò của GD&ĐT có ý nghĩa quan trọng, trong đó
có vai trò của các trường ĐH,CĐ,TCCN Vì thế, một trong những nhiệm vụ quan trọng cơ bản của trường TCCN mà Chương trình khung đào tạo trường TCCN đã
qui định là “Mục tiêu giáo dục trung cấp chuyên nghiệp là đào tạo người lao động
có kiến thức và kỹ năng thực hành nghề nghiệp ở trình độ trung cấp, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ” [33]
Muốn có nguồn nhân lực với đầy đủ các yếu tố trên thì trường TCCN cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Quá trình dạy học ở trường TCCN cần trang bị cho HSSV hệ thống những kiến thức cơ bản của chuyên ngành Các trường TCCN cần rèn luyện cho HSSV hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo;
- Trong quá trình dạy học ở trường TCCN, dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên, HSSV phát huy cao độ tính tích cực nhận thức, tự rèn luyện thao tác trí tuệ, dần dần hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ;
- Quá trình dạy học ở trường TCCN phải nhằm hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan, kỹ năng thực hành và những phẩm chất tốt đẹp của người cán
bộ Trung cấp
Trang 2222 Trong bối cảnh đó, nhiều người khi nói tới hiện đại hoá giáo dục thường chỉ nghĩ đến việc vận dụng các phương tiện kĩ thuật, công nghệ hiện đại, đặc biệt là CNTT trong quản lý, giảng dạy và học tập Điều này đương nhiên quan trọng, song cái chính chưa phải ở đó Cái chính là nhà trường phải làm sao đưa ra được các giải pháp quản lý hoạt động GD một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn Muốn vậy
trước hết nhà trường cần thay đổi tư duy giáo dục, xác định lại mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, từ đó thay đổi cách dạy, cách học, thay đổi phưong pháp, nội dung, tổ chức và đặc biệt là phải thay đổi cách quản íý giáo dục, nhằm xây
dựng một nền giáo dục phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội và cuộc sống trong kỷ nguyên nền kinh tế tri thức Do đó, việc giáo dục trong nhà trường TCCN cần lưu ý
đến giai đoạn “học”, giai đoạn này là hết sức quan trọng để trang bị cho người học
một vốn kiến thức cơ bản và cần thiết trong suốt quá trình học tập và làm việc sau này Song song với nó là quá trình quản lý hoạt động GD của người thầy ở các
trường TCCN để tạo ra những “sản phẩm” con người phát triển toàn diện phục vụ
công cuộc đổi mới đất nước
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, các trường TCCN phải tăng cường công tác quản lý, phải cải tiến công tác quản lý, đặc biệt phải đề ra các giải pháp quản lý hoạt động GD một cách hiệu quả và tích cực hơn
Về lĩnh vực Tin học, Chỉ thị Số: 55/2008/CT- BGDĐT ngày 30 tháng 9 năm 2008: “Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012” đã chỉ rõ : Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của CNTT và triển khai có kết quả cao yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong năm học 2008-2009 là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới PP dạy và học ở từng cấp học; Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong điều hành và quản lý giáo dục” Đối với HSSV, việc học tập và sử dụng Tin học được xem là một nhu cầu quan trọng và rất cần thiết cho họ ở tất cả các khoa, ngành Với sự trợ giúp của Tin học, trình độ chuyên môn, khả năng tư duy sáng tạo và khả năng tự học của HSSV sẽ
Trang 2323 không ngừng được nâng cao, phát triển Do vậy ứng dụng CNTT trong nhà trường cần phải được quản lý bởi các giải pháp tích cực hơn, hiệu quả hơn
Đối với cán bộ, GV nhà trường tổ chức bồi dưỡng, giảng dạy Tin học cho GV, từ
đó đa số cán bộ, GV của trường biết sử dụng CNTT vào trong công việc và giảng dạy
Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V đã thể hiện vai trò của mình trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới GD&ĐT Nhà trường đã từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
sử dụng Tin học trong quản lý, giảng dạy, khai thác tối ưu các hệ thống thiết bị máy tính, các phương tiện thông tin hiện đại, luôn lấy nhiệm vụ đào tạo nhân lực chuyên môn làm trọng tâm, phát huy đầy đủ tài năng và trí tuệ của GV và HSSV
Để nâng cao hiệu quả của Tin học trong nhà trường, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ Tin học hiện có, khai thác hết công suất, tính năng, tác dụng của hệ thống thiết bị máy tính trong nhà trường vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhà trường cần cải tiến phương thức đào tạo, đề ra các giải pháp quản lý trong việc tổ chức ứng dụng CNTT một cách cụ thể, đáp ứng được yêu cầu của Chiến lược phát triển giáo
dục trong thời gian tới đó là: “Phổ cập kiến thức Tin học cơ sở trong nhà trường, đặc biệt chú trọng khả năng truy cập và xử lí thông tin trên mạng”, từ đó “Đảm bảo cho HSSV sau khi tốt nghiệp sử dụng tốt máy tính để thu thập và xử lí thông tin, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế”
Kết luận chương 1
Phần trên đã làm sáng tỏ những khái niệm, những vấn đề lý luận liên quan tới
QL đào tạo, đổi mới PP giảng dạy và ứng dụng CNTT trong QL nói chung, ứng dụng CNTT trong QL nhà trường nói riêng Nó là căn cứ quan trọng để xem xét, phân tích và đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường, đề xuất giải phát tăng cường ứng dụng CNTT Mục đích chính là nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường
Để việc ứng dụng CNTT vào quản lý nhà trường được tốt cần quan tâm chú ý tới các hoạt động; lựa chọn, khai thác sử dụng phần mềm quản lý; xây dựng mạng cục
Trang 24QL sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng, hiệu quả QL
Trang 2525
Chương 2 THỰC TRẠNG VI C ỨNG DỤNG C NG NGH TH NG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ ĐỔI MỚI PP GIẢNG DẠ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG MẠI TRUNG ƯƠNG V
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục chuyên nghi p khu vực Trường đ ng
Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V - trực thuộc Bộ Công Thương, hiện đóng trên địa bàn phường Đông Vệ, Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá, được thành lập từ năm 1962 Hiện nay lưu lượng học sinh đào tạo tại cơ sở chính của trường là gần 3000 học sinh/năm và dự kiến đến năm 2015 là 4000 học sinh/năm Với bề dày 48 năm kinh nghiệm, nhà trường đã được nhân dân trong khu vực đánh giá cao sự đóng góp của Trường trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành và xã hội
Thanh Hóa là một trong những tỉnh lớn của cả nước với diện tích tự nhiên: 11.106km2 và dân số gần 3,8tr người Toàn tỉnh có 1 Thành phố, 2 Thị xã và 24 huyện
Về giáo dục chuyên nghiệp: trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có:
- 2 Trường Đại học: Đại học Hồng Đức và Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh (Cơ sở tại Thanh Hóa);
- 4 Trường Cao đẳng: Cao đẳng Y tế; Cao đẳng Thể dục thể thao; Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật; Cao đẳng Tài nguyên và môi trường miền Trung;
- 10 Trường TC chuyên nghiệp: Trung cấp Thương mại Trung ương V; Trung cấp Thủy sản; Trung cấp Nông lâm; Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa; Trung cấp Văn hiến; Trung cấp Xây dựng; Trung cấp Bách Nghệ; Trung cấp Đức Thiện; Trung cấp Vitsco; Trung cấp Y dược Hợp Lực; Trung cấp tư thục Lam Sơn
2.2 Thực tr ng của Trường Trung cấp Thương m i Trung ương V
2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của trường hiện nay
Căn cứ Quyết định số: 97 NT/QĐ1 của Bộ Nội thương, ngày 29 tháng 08 năm
1978 và Quyết định số: 1101 TN/QĐ1 ngày 24 tháng 11 năm 1990 của Bộ Thương
Trang 2626 nghiệp (nay là Bộ Công Thương) quy định lại chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức bộ máy của Trường thì vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường Trung cấp Thương mại Trung ương V hiện nay, như sau:
Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V là cơ sở sự nghiệp giáo dục trực thuộc Bộ Công Thương Trụ sở của Trường đóng tại số 569, phố Quang Trung 3, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng các ngành, nghề thuộc lĩnh vực thương mại, du lịch, dịch vụ kết hợp đa dạng hoá các ngành nghề đào tạo khác được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép ở trình độ trung cấp và các trình độ thấp hơn; bồi dưỡng, đào tạo lại cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ; liên kết hợp tác đào tạo với các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước; thực hiện dịch vụ khoa học công nghệ phù hợp với ngành nghề được phép đào tạo theo quy định của pháp luật
Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V có nhiệm vụ:
1 Đào tạo cán bộ trung cấp về nghiệp vụ quản lý và nghiệp vụ kỹ thuật kinh doanh thương mại cho khu vực 8 tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, gồm các chuyên ngành:
- Kế toán tài chính Doanh nghiệp
- Kế toán Ngân sách
- Quản trị doanh nghiệp
- Nghiệp vụ Kinh doanh Xăng dầu
4 Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch do Bộ giao, tổ chức thực hiện việc tuyển sinh, giảng dạy học tập, thi cử và cấp bằng tốt nghiệp, phân phối học sinh, theo dõi kết
Trang 2727 quả đào tạo sau khi học sinh tốt nghiệp ra trường, tập sự, công tác theo đúng quy chế chung của Nhà nước và sự chỉ đạo của Bộ
5 Nghiên cứu xây dựng kế hoạch giáo dục, chương trình nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cho từng chuyên ngành theo các hình thức tập trung (dài hạn, ngắn hạn), tại chức và tổ chức thực hiện sau khi được Bộ xét duyệt Nghiên cứu cải tiến mục tiêu đào tạo, kế hoạch giáo dục, nội dung và phương pháp đào tạo chuyên ngành nghiệp vụ quản lý để giúp Bộ chỉ đạo chung trong ngành
6 Quan hệ chặt chẽ với các cơ quan thương mại trong khu vực được phân công phụ trách để nghiên cứu cải tiến chương trình nội dung, phương pháp đào tạo, xây dựng cơ sở thực tập cho từng ngành, từng khoá học và tổ chức thực hiện sau khi được Bộ xét duyệt
7 Tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan đến công tác giảng dạy và học tập trong cán bộ, học sinh của trường Tăng cường hợp tác XHCN với các trường bạn, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các đơn vị kinh doanh sản xuất trong, ngoài ngành và các đoàn thể (chủ yếu trong phạm vi khu vực) nhằm bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao
8 Xây dựng và quản lý tốt đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh: quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản, cơ sở vật chất của trường theo đúng chính sách, chế độ của Nhà nước và của Bộ quy định
9 Quan hệ chặt chẽ với chính quyền và nhân dân địa phương (nơi trường đóng), thực hiện tốt sự giúp đỡ lẫn nhau giữa nhà trường và địa phương, chấp hành đầy đủ các chính sách, thể lệ và luật pháp của Nhà nước
10 Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của Nhà nước và của Bộ đối với trường Trung cấp chuyên nghiệp
2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ m y hiện tại của Trường
- Ban Giám hi u: 01 Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng
- Các phòng, ban chức năng (5 đơn vị):
+ Phòng Hành chính – Quản trị;
+ Phòng Tổ chức cán bộ;
Trang 2828 + Phòng Đào tạo – Quản lý chất lượng;
+ Tổ bộ môn Tài chính - Thống kê;
+ Tổ bộ môn Văn hoá cơ bản;
+ Tổ bộ môn Tin học - Ngoại ngữ;
+ Hội đồng giáo viên;
+ Hội đồng thẩm định chương trình môn học;
+ Hội đồng tuyển sinh;
+ Hội đồng thi và công nhận tốt nghiệp;
+ Hội đồng thi đua - khen thưởng - kỷ luật;
+ Hội đồng lương - học bổng;
+ Hội đồng kiểm kê thanh lý tài sản
- Các tổ chức chính trị - xã hội:
+ Đảng bộ Nhà trường (hiện có 56 đảng viên), trực thuộc Đảng bộ khối các
cơ quan tỉnh - Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá;
+ Công đoàn Nhà trường (hiện có 94 đoàn viên) trực thuộc Công đoàn ngành Công thương Việt Nam;
+ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nhà trường trực thuộc Đoàn khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa;
+ Ban Nữ công;
+ Hội Cựu chiến binh
Trang 3030
Sơ đồ 2.1 Tổ chức hành chính của Trường Trung cấp Thương
mại Trung ương V
2.2.3 ội ng gi o viên và c n bộ viên chức của Trường
Tổng số biên chế được giao: 100 người
Tổng số cán bộ, giáo viên và nhân viên hiện có: 94
theo chuyên đề
Các lớp học sinh Nhà, xưởng, phòng thực hành
Trang 3131 + Cán bộ hành chính: 7 người
Cụ thể:
2.2.3.1 Giáo viên trong biên chế
Bảng 2.1 Giáo viên trong biên chế
Trung cấp
Trên
15 năm
10-15 năm
5-10 năm
(Nguồn số liệu : Phòng TCCB Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V)
Đội ngũ cán bộ quản lý nghiệp vụ về cơ bản đã được chuẩn hoá có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, có gần 30% trình độ lý luận chính trị cao cấp trở lên,
có thâm niên giảng dạy và kinh nghiệm quản lý giáo dục, có phẩm chất và năng lực
để hoàn thành tốt nhiệm vụ
Tổng số cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong biên chế là 57 người, đều có trình đội đại học trở lên, trong đó có 17 người là thạc sỹ (chiếm 30%) và hiện có 9 giáo viên đang theo học các lớp Cao học Về cơ bản, đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hoá, được đào tạo căn bản và đang được trẻ hoá Hàng năm, đội ngũ giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới và phương pháp giảng dạy mới 100% giáo viên đã qua nghiệp vụ sư phạm bậc 2 và đã được phổ cập tin học và ngoại ngữ A, B, trên 30% số giáo viên
Trang 3232 đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp, trong đó có 07 giáo viên giỏi cấp toàn quốc ngành GDCN
2.2.3.2 Giáo viên hợp đồng
Tổng số là 10 người đều có trình độ đại học và trên đại học Trong đó có 03 trình
độ tiến sỹ (01 PGS.TS kinh tế chuyên ngành Quản lý chất lượng; 01 TS chuyên ngành kế toán và 01 TS kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị) và 07 trình độ đại học (Kế toán: 01; Tiếng Anh: 01; Tin học: 01; Du lịch: 02; Kinh tế thương mại: 01)
2.2.3.3 Giáo viên thỉnh giảng
Ngoài đội ngũ giáo viên cơ hữu là nòng cốt, trường có đội ngũ giáo viên thỉnh giảng hùng hậu: 40 người, tất cả đều là những giáo viên có học vị cao (tiến sỹ, thạc sỹ) thuộc các trường Đại học Thương mại, Đại học Hồng Đức, Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá và một số chuyên gia thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý kinh doanh có trình độ chuyên môn cao và tay nghề thành thạo, vừa làm kinh doanh, vừa giảng dạy nên có nhiều kinh nghiệm thực tế phong phú, đa dạng làm cho công tác đào tạo của nhà trường gắn với thực tiễn kinh doanh của ngành
2.2.3.4 Cán bộ viên chức
Tổng số là 20 người trong biên chế và 7 hợp đồng
2.2.4 Quy mô và ngành nghề đào tạo những năm qua
- Thực hiện các Nghị quyết của Đảng về đổi mới giáo dục - đào tạo, trong những năm qua, đặc biệt từ năm 2000 đến nay, Nhà trường không ngừng mở rộng quy mô đào tạo, đa dạng hoá các loại hình đào tạo Quy mô đào tạo ngày càng tăng, thể hiện kết quả như sau:
Bảng 2.2 Quy môn đào tạo
Hệ tốt nghiệp THPT
Hệ tốt nghiệp THCS
Trang 33(Nguồn số liệu : Phòng đào tạo-QLCL Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V)
- Về ngành nghề đào tạo: cơ cấu ngành nghề không ngừng được mở rộng, ngày càng đa dạng hoá và phong phú theo nhu cầu của người học, của doanh nghiệp và thị trường lao động phù hợp với khả năng, năng lực của Trường Ngoài các chuyên ngành truyền thống như: Kế toán Doanh nghiệp thương mại, dịch vụ; Nghiệp vụ Kinh doanh Thương mại, dịch vụ; Nghiệp vụ Kinh doanh xăng dầu, Nhà trường phát triển đào tạo các chuyên ngành mới như: Kế toán Ngân sách; Nghiệp vụ Hướng dẫn du lịch; Quản trị kinh doanh Thương mại, Nghề bán hàng xăng dầu v.v Cơ cấu ngành nghề đào tạo của trường từ 3 chuyên ngành bậc trung cấp lên 5 chuyên ngành
Bảng 2.3 Cơ cấu ngành nghề đào tạo
Trang 34(Nguồn số liệu : Phòng đào tạo-QLCL Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V)
2.2.5 Liên kết đào tạo đại học tại chức và cao đẳng
Được phép của Bộ GD&ĐT và Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V đã liên kết với trường Đại học Thương mại Hà Nội mở các lớp đào tạo đại học tại chức (hệ vừa học, vừa làm) chuyên ngành Kế toán - Tài chính thương mại ; liên kết với trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Thương mại mở lớp đào tạo liên thông hệ Cao đẳng, chuyên ngành Kế toán
Kết quả của công tác liên kết đào tạo đại học tại chức: đến nay, Trường đã tổ chức được 7 khoá, đã có gần 700 sinh viên (5 khoá) tốt nghiệp ra trường Hiện tại,
có 2 khoá (khóa 39 và khóa 43), gần 200 sinh viên đang theo học Lớp đào tạo hệ cao đẳng liên thông từ Trung cấp lên Cao đẳng với trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại, đang theo học tại trường Hiện nay, nhà trường vẫn đang tiếp tục công tác liên kết đào tạo với trường Đại học Thương mại Hà Nội và các trường đại học khác Liên kết với các Sở Công Thương từ Quảng Bình trở ra mở nhiều lớp đào tạo nghề và bồi dưỡng ngắn hạn (khu vực Bắc Trung bộ)
2.2.6 Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học của trường được triển khai thực hiện thường xuyên hàng năm theo hai dạng:
- Hoạt động nghiên cứu các đề tài, tổ chức đào tạo, xây dựng chương trình giáo dục mới, viết chương trình, giáo trình môn học, viết sáng kiến kinh nghiệm;
- Nghiên cứu ứng dụng các đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả công tác quản lý nhà trường
Trong những năm qua có 2 đề tài cấp Bộ và trên 30 đề tài khoa học cấp trường
đã được nghiệm thu và ứng dụng trong thực tế đạt kết quả tốt
Trang 3535 Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, Nhà trường đang triển khai từng bước hợp tác, liên kết trong đào tạo cho học sinh ngoài xã hội và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý
2.2.7 Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có
2.2.7.1 Khuôn viên nhà trường và các khu chức năng
- Nhà trường được UBND tỉnh Thanh Hoá giao quản lý sử dụng tại cơ sở 1 (569, Quang Trung 3, TP Thanh Hóa): 22.000 m2 đất (có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất);
Tháng 04/2009, UBND tỉnh Thanh Hóa đồng ý giải quyết cấp thêm đất mở rộng tại cơ sở 2 cho Trường: 45.000 m2, tại lô 6 trong Quy hoạch chi tiết Khu đô thị mới phía Nam Thành phố Thanh Hóa, cách cơ sở I của Trường 1,5 km về phía Đông Bắc
Hiện tại, Nhà trường đang khẩn trương xúc tiến triển khai thực hiện Quy hoạch xây dựng mở rộng Trường trên cả 2 cơ sở giai đoạn 2010 - 2020 có xét đến 2025
- Các khu chức năng:
+ Khu làm việc hiệu bộ: 1.604 m2 ;
+ Khu giảng đường, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, gồm: 28 phòng học; 9 phòng thực hành, thí nghiệm: 2.064 m2
; + Khu ký túc xá gồm 20 phòng ;
+ Hội trường lớn, khu thể thao
2.2.7.2 Tổng hợp cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện có của trường
(tính đến 31/03/2010)
Bảng 2.4 Tổng hợp cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện có
Trang 3737
Tóm lại, được Bộ Công thương quan tâm và bằng mọi khả năng cố gắng của
Trường, đến nay về cơ bản, trường Trung cấp Thương mại Trung ương V có đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất - kỹ thuật tương đối đồng bộ, có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo trình độ Cao đẳng ngay từ năm học tới cho nhiều chuyên ngành khác nhau
2.3 Thực tr ng ứng dụng Công ngh thông tin trong quản lý đào t o và đổi mới phương pháp giảng d y ở Trường Trung cấp Thương m i Trung ương V
2.3.1 Nhận thức về ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và đổi mới phương ph p giảng dạy
Với cách nhìn nhận tích cực, CNTT đã đem lại sự chuyển biến như cuộc cách mạng về khoa học công nghệ trên toàn thế giới Bởi thế, có nhà nghiên cứu coi thời đại ngày nay là thời đại “Cách mạng quản lý, mà công cụ trực tiếp là CNTT” Nhận thức được lợi ích to lớn của ngành khoa học CNTT đem lại cho GD&ĐT, cho việc quản lý ở nhà trường Các nhà QL, GV bước đầu đã có sự hưởng ứng nhiệt tình và đồng thuận với việc triển khai ứng dụng CNTT trong QL ở nhà trường
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, CNTT đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhà quản lý các cấp xem việc ứng dụng, phát triển CNTT trong quản lý nhà trường là khâu thiết yếu tạo các điều kiện để đổi mới công tác QLGD mà bấy lâu Đảng ta vẫn đánh giá là khâu yếu kém
Đối với các cấp QLGD là nhân tố quyết định việc ứng dụng thành công CNTT trong GD Thời gian qua nhà quản lý cũng đã có những quyết định, định hướng, khuyến khích ứng dụng CNTT trong QL, trong dạy học bằng việc đầu tư CSVC thiết bị như máy tính, máy chiếu, kết nối mạng, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng trình
độ tin học,…
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VIII)
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới đã yêu cầu ngành giáo dục phải “đổi mới mạnh mẽ PP giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” Công nghệ thông
Trang 3838 tin chính là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, PP giảng dạy, hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phát triển giáo dục Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định chọn năm học 2008-2009 làm năm học ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục theo định hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá” [4]
Ứng dụng CNTT hỗ trợ QL đào tạo và đổi mới PP giảng dạy hiện nay đang còn khá mới mẻ đối với cán bộ, GV và HSSV Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V
Trước hết, đòi hỏi mỗi cán bộ, GV phải là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, có lòng say mê tìm tòi, tận tâm trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy Cảm nhận được vấn đề nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng dạy học là nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, GV Mỗi cán bộ, GV phải tự mình nghiên cứu
và tích cực trong học tập nâng cao trình độ, nhất là khoa học kỹ thuật có liên quan đến lĩnh vực giảng dạy nhằm nâng cao khả năng tư duy lý luận và tư duy thực tiễn của mình
Để đánh giá thực trạng nhận thức về ứng dụng CNTT vào QL đào tạo và đổi mới
PP giảng dạy ở Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên ba đối tượng:
- Cán bộ quản lý : 2 người;
- Cán bộ ở các phòng chức năng: 10 người;
- Giáo viên: 32 người
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức ứng dụng CNTT vào QL đào
tạo và đổi mới PP giảng dạy của nhà trường
quản lý đào tạo và đổi mới PP giảng dạy
Số đối tượng khảo sát
Cần thiết
Rất cần thiết
Không cần thiết
3 Khai thác thông tin qua Internet phục vụ
công việc
Trang 392.3.2 Thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin ở trường Trung cấp Thương mại Trung ương V
Trình độ Tin học của cán bộ, GV trong trường: Tổng số CB, GV điều tra: 94 người
Bảng 2.6 Trình độ tin học của cán bộ, GV, CNV trong trường
Tổng số Trên ĐH Trình độ Tin học
ĐH,CĐ Trung cấp A Trình độ B Trình độ C Trình độ Sử dụng chưa
thành thạo
11 Tổ bộ môn Văn hóa cơ bản 10 7 3
Trang 40(Nguồn số liệu: Phòng TCCB, Trường Trung cấp Thương mại Trung ương V)
Để hiểu thêm chi tiết về bảng thống kê trên, chúng tôi xin diễn giải các thông số thống kê như sau:
+ 24 người có trình độ tin học A chủ yếu là nhân viên phục vụ, cán bộ, GV, CNV đã lớn tuổi;
+ 52 người có trình độ Tin học B, 10 người có trình độ tin học C chủ yếu là CB quản lý, GV và cán bộ tại các phòng, ban;
+ Hiện tại nhà trường còn 5 người sử dụng chưa thành thạo máy tính cụ thể là nhân viên bảo vệ 3 người ở phòng Công tác HSSV và lái xe 2 người ở phòng Hành chính-Quản trị;
+ Có 3 người có trình độ tin học là ĐH, CĐ và 1 người có trình độ sau đại học đây là con số đang còn rất ít so với nhu cầu ứng dụng CNTT vào các hoạt động giáo dục của nhà trường Đặc biệt tại phòng Đào tạo-QLCL, phòng chức năng giải quyết rất nhiều công việc đến QL đào tạo vẫn chưa có chuyên viên về Tin học dẫn đến việc ứng dụng CNTT của phòng còn gặp nhiều khó khăn
Đây là thực trạng mà nhà trường cần có giải pháp bồi dưỡng, tuyển dụng, phân
bổ cán bộ một cách hợp lý để đảm bảo việc ứng dụng CNTT của nhà trường đạt hiệu quả cao
Việc trao đổi thông tin, số liệu trong trường vẫn làm theo hình thức thủ công vì hiện tại nhà trường chưa kết nối được mạng Lan (Local Area Netwwork) đến các phòng, khoa, tổ bộ môn Để việc trao đổi thông tin, số liệu được dể dàng, dùng chung các tài nguyên trong toàn trường chúng tôi nghĩ rằng thời gian tới nhà trường cần triển khai nối mạng nội bộ đến các đơn vị trong trường
Trình độ Tin học của CB, GV, CNV nhà trường hầu hết mới sử dụng được chương trình Tin học văn phòng (Word, Excel, Power point), các phần mềm khác như: quản lý nhân sự, quản lý đào tạo,… gần như chưa sử dụng do nhà trường chưa đưa các phần mềm trên vào ứng dụng