1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam

100 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH --- NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY BỘ MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY BỘ MÔN TIẾNG ANH Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Vinh-2010

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành Lãnh đạo Trường Đại học Vinh, Khoa sau Đại học, quý thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Chân thành cảm ơn các cán bộ quản lí, lãnh đạo Trường Đại học Quảng Nam, các đồng chí Trưởng, Phó các Phòng, Khoa, các thầy cô giáo và sinh viên Trường Đại học Quảng Nam

Đặc biệt xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Hường - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này

Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự chia sẻ và nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng năm 2010

Tác giả

NGUYỄN THỊ KIM PHƢỢNG

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích của việc nghiên cứu 5

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

4 Giả thuyết khoa học 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Những đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8

1.2 Một số vấn đề hoạt động dạy học ở nhà trường 10

1.3 Một số vấn đề về quản lí hoạt động dạy học bộ môn Tiếng Anh ở trường ĐH 14

Kết luận chương 1 27

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM 28

2.1 Vài nét về Trường ĐH Quảng Nam và Khoa Ngoại ngữ 28

2.2 Thực trạng về giảng dạy Tiếng Anh ở khoa Ngoại ngữ Trường ĐH Quảng Nam… 30

2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng dạy và học Tiếng Anh trường ĐH Quảng Nam… 33

2.4 Thực trạng công tác quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường ĐHQuảng Nam 40

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lí hoạt động giảng dạy Tiếng Anh 52

2.6 Nguyên nhân của thực trạng 55

Kết luận chương 2 57

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở

TRƯỜNG ĐH QUẢNG NAM 59

3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 59

3.2 Một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường ĐH Quảng Nam… 59 3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 74

3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 74

Kết luận chương 3 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC

Trang 4

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

HĐGDNN : Hoạt động giảng dạy ngoại ngữ HĐHTNN : Hoạt động học tập ngoại ngữ

Trang 5

Với tình hình như vậy yêu cầu tất yếu đặt ra cho ngành giáo dục phải tạo

ra nguồn nhân lực có chất lượng giáo dục toàn diện mà Đảng và Nhà nước ta ta luôn chú trọng đến việc đề ra những chính sách nhằm phát huy nguồn lực con

người cao nhất, điều này đã khẳng định trong nghị quyết Đại hội X: "phát triển

mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức."

Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định:" Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung, phương pháp dạy học ".[12]

Để thực hiện chiến lược trên thì vai trò đặt ra cho ngành giáo dục là hết sức quan trọng, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò của các trường Đại học trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, có khả năng tiếp thu tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt sử dụng thành thạo ngoại ngữ để học tập, nghiên cứu và giao tiếp nhằm tạo bước bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hiện nay việc dạy ngoại ngữ nói chung hay dạy tiếng Anh nói riêng có một vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo của các trường CĐ, ĐH Thực

Trang 6

tế cho thấy nếu thiếu năng lực ngoại ngữ, các nhà chuyên môn trong nhiều lĩnh

vực của xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển nghề nghiệp

Từ thực tiễn đó, ngày 30 tháng 10 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ

trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” [11] với mục tiêu chung là

“Đổi mới toàn diện việc dạyvà học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân,

triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào

tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử

dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên Đến

năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học

có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm

việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở

thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước”

Trong những năm qua mặc dù ngành giáo dục đã nổ lực không ngừng và

thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục, tuy nhiên thực trạng học

tiếng Anh của sinh viên vẫn chưa đạt hiệu quả cao Một trong những nguyên

nhân dẫn đến chất lượng đó là việc quản lí dạy học nói chung và dạy học môn

ngoại ngữ nói riêng vẫn còn hạn chế Bên cạnh đó sinh viên chưa chú trọng,

chưa hiểu được tầm quan trọng của nó trong nghề nghiệp tương lai của họ

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam, là

một trong số ít địa phương có hai di sản văn hóa thế giới, và là nơi phát triển về

du lịch, kinh tế Chính vì lẽ đó, ngay từ những ngày thành lập trường, bộ môn

ngoại ngữ, đặt biệt là Tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy cho tất cả các

ngành học nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội

Tuy nhiên, qua thực tế công tác quản lí dạy ngoại ngữ nói chung và dạy

Tiếng Anh nói riêng ở Trường Đại học Quảng Nam còn nhiều bất cập, hạn chế,

chưa bắt kịp với đáp ứng được với yêu cầu của Bộ GD-ĐT đề ra và nhu cầu của

xã hội

Vì vậy, việc quản lí dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Quảng Nam có

ý nghĩa rất quan trọng Các nhà quản lí cần nghiên cứu đổi mới việc quản lí dạy

Trang 7

và học, đề ra những biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh thực sự

có hiệu quả

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn đã nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:

"Một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học bộ môn tiếng Anh ở Trường Đại học Quảng Nam"

Quản lí hoạt động giảng dạy ở trường Đại học Quảng Nam

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học bộ môn tiếng Anh ở trường Đại học Quảng Nam

4 Giả thuyết khoa học

Các giải pháp quản lí dạy học môn tiếng Anh hiện nay ở trường Đại học Quảng Nam đã có những chuyển biến đáng kể, song vẫn còn những hạn chế Nếu đề xuất các giải pháp quản lí hữu hiệu, khả thi, phù hợp với tình hình đặc điểm của trường thì chất lượng dạy học bộ môn tiếng Anh sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí trường học và quản lí hoạt động dạy học nói chung và dạy học môn tiếng Anh nói riêng

- Tìm hiểu thực trạng của việc quản lí hoạt động giảng dạy bộ môn Tiếng Anh ở trường Đại học Quảng Nam

- Đề xuất một số giải pháp quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở khoa ngoại ngữ trường Đại học Quảng Nam nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn tiếng Anh của trường

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Chỉ nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở khoa ngoại ngữ trường Đại học Quảng Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu, phân loại, khái quát và hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết, văn bản của Đảng, Nhà nước, ngành, địa phương và các tài liệu khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra bằng phiếu nhằm làm rõ thực trạng giảng dạy tiếng Anh với các mẫu điều tra ở các đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu các quyết định quản lý, các kế hoạch năm học, tháng, tuần của khoa ngoại ngữ Căn cứ vào các tài liệu, các kế hoạch, báo cáo tổng kết theo từng đợtthi đua, hệ thống sổ sách quản lý các số liệu để đánh giá thực trạng quản

lý giảng dạy

6.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Phỏng vấn và ghi nhận ý kiến của cán bộ quản lí ngành GD-ĐT, phòng

đào tạo, lãnh đạo các khoa chuyên môn thuộc trường ĐH Quảng Nam về công tác quản lí hoạt động giảng dạy ngoại ngữ

6.2.5 Phương pháp khảo nghiệm

Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất

6.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học

Qua các kết quả nghiên cứu được ở các phương pháp trên, sử dụng công

thức trung bình cộng, tính phương sai và độ lệch chuẩn và phép thử Student để

xử lí, phân tích số liệu và đưa ra kết quả nghiên cứu

Trang 9

7 Những đóng góp của luận văn

7.1 Đóng góp về mặt lí luận

7.2 Đóng góp vào thực tiễn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu; luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học nói chung và dạy học tiếng Anh nói riêng

Chương 2 Thực trạng của việc quản lí hoạt động dạy và học Tiếng Anh ở trường Đại học Quảng Nam

Chương 3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường Đại học Quảng Nam

Trang 10

Trên cơ sở các Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nuớc, một số các nhà nghiên cứu giáo dục cũng đã dành thời gian tập trung cho vấn đề sử dụng thành thạo Tiếng Anh trong GD-ĐT như:

Trong kỷ yếu hội thảo khoa học do trường Đại học Sư phạm Thành Phố

Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 11/2005, có nhiều bài tham luận nêu lên thực trạng giảng dạy ngoại ngữ không chuyên, những thuận lợi cũng như những khó khăn từ việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh Một số bài tham luận như:

Trần Thị Nga, Đại học Quốc gia Hà Nội đã viết: "Hướng tới nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh không chuyên"

Nguyễn Minh Chinh, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam: "Thực trạng về việc giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Cao đẳng

Đào Thị Tạo, Trường Đại học kiến trúc Hà Nội: "Thách thức và triển vọng của giảng dạy ngoại ngữ tại các trường Đại học không chuyên ngữ ở Việt Nam"

Trang 11

Ths Phạm Văn Chủ: "Thực trạng và giải pháp dạy học ngoại ngữ không chuyên ở Thanh Hoá và trường Đại học Hồng Đức"

Ths Lý Thị Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh: "Một số ý kiến về việc dạy học tiếng Anh như là một ngoại ngữ không chuyên"

TS Nguyễn Thị Kim Anh, Trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh: "Dạy và học ngoại ngữ - Vấn đề cần quan tâm"

Lê Thị Thuỷ, Học viện Hành chính quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh:

"Dạy - Học ngoại ngữ không chuyên sẽ có hiệu quả hơn trong khuôn khổ hoạt động chuyên môn và hợp tác quốc tế"

Ths Lê Thị Hồng, Trường Đại học Hải Phòng: "Việc dạy và học ngoại ngữ cho sinh viên không chuyên ngữ ở trường Đại học Hải Phòng"

Vũ Thành Công, Học viện Báo chí và tuyên truyền: "Một số nhận xét về việc dạy học ngoại ngữ ở các trường không chuyên ngữ"

Ths Bùi Thị Kim Tuyến, Trường Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình: "Thực trạng việc dạy ngoại ngữ cho sinh viên không chuyên ngữ trường Cao đẳng Sư phạm Hoà Bình"

Luận văn thạc sĩ do Trần Thị Bình, trường Đại học Sư phạm Thành Phố

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu “ Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh” đã nêu thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung chương trình, cách kiểm tra đánh giá, phương tiện dạy học, tổ chức giảng dạy, đội ngũ giáo viên, kết quả học tập của sinh viên khoa không chuyên ngữ, đưa ra một số biện pháp để khắc phục những yếu kém

Nguyễn Thị Châu Anh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre: "Dạy và học tiếng Anh không chuyên tại trường Cao đẳng: Thực trạng và giải pháp"

Nguyễn Thị Ngọc Hường, Trường Cao đẳng Cộng đồng Trà Vinh: "Dạy ngoại ngữ cho sinh viên không chuyên ngữ trong các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam: Những yêu cầu mới"

Ths Nguyễn Thị Bích Liên, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội: "Thực trạng và một số giải pháp nhằm cải thiện tình trạng dạy và học cho sinh viên

Trang 12

khối không chuyên Anh Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội" Ths Nguyễn Thị Bích Liên, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội: "Thực trạng và một số giải pháp nhằm cải thiện tình trạng dạy và học cho sinh viên khối không chuyên Anh Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội"

Qua các đề tài đã nêu trên, các tác giả quan tâm nghiên cứu việc giảng dạy ngoại ngữ ở các trường ĐH nhưng chưa có công trình nghiên cứu để đưa ra các giải pháp quản lí hoạt động giảng dạy Tiếng Anh ở Quảng Nam nói chung

và Trường ĐH Quảng Nam nói riêng một cách cụ thể, sâu sắc và có tính thực tiễn

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn đi sâu tìm hiểu thực trạng quản lý việc giảng dạy tiếng Anh và đưa ra giải pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở ĐH Quảng Nam một cách có hiệu quả

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở NHÀ TRƯỜNG 1.2.1 Khái niệm về hoạt động dạy học

Theo Từ điển Giáo dục học, hoạt động dạy học là : “hoạt động truyền thụ

kiến thức, kĩ năng cho người học của nhà giáo Giảng dạy luôn luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động học tập của học sinh và hợp thành hoạt động dạy - học trong lĩnh vực sư phạm” [24]

Trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường, dạy học tồn tại như là một hoạt động xã hội đặc biệt, một quá trình hoạt động phối hợp giữa người dạy

và người học Nhờ đó, mỗi cá nhân có thể làm phong phú vốn học vấn của mình bằng kho tàng trí tuệ của nhân loại thông qua quá trình dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục tập thể, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ

sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất, nhân cách người học

Như vậy dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học Dạy học bao gồm hai hoạt động, đó là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau Trong đó giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy học, hướng

Trang 13

dẫn dạy học, hưỡng dẫn các hoạt động dạy học cho học sinh, học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của hoạt động hướng dẫn, tự giác, tích cực, độc lập trông việc chiếm lĩnh tri thức khoa học Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, việc dạy học không diễn ra

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động dạy học ở trường ĐH

Mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của các trường ĐH trong Luật giáo dục Việt Nam đã nêu: "Đào tạo trình độ CĐ, ĐH phải đảm bảo cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành cần thiết, chú trọng rèn luyện

kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn." Do vậy, hoạt động dạy học ở các trường ĐH là giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là trong tư duy nghề nghiệp

Chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy học tập đối với ngành nghề được phép đào tạo do các trường ĐH được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm xây dựng Mục tiêu đào tạo được xác định trên cơ sở phân tích hoạt động nghề

và yêu cầu thực tiễn Vì vậy chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở mục tiêu đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo

Như vậy để đạt được mục tiêu đào tạo đòi hỏi giảng viên hội đủ kiến thức đại cương, kiến thức cơ sở, chuyên môn ngành và kĩ năng thực hành của các nghề trong ngành đồng thời phải có kiến thức và kĩ năng sư phạm Trong quá trình giảng dạy và đào tạo giảng viên phải trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức chuẩn của môn học cần phải nắm vững, giúp họ tự học, tự tìm tòi và tự kiểm tra nhận thức của mình, tự mở rộng kiến thức qua các tài liệu tham khảo, giúp sinh viên tự tổ chưc học nhóm, học tổ, trao đổi thảo luận và giải quyết vấn

đề nhằm đạt mục tiêu đào tạo

1.2.3 Đặc điểm của hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng ở trường ĐH

1.2.3.1 Đặc điểm của hoạt động dạy học ngoại ngữ

Hoạt động dạy học ngoại ngữ là một hoạt động phức tạp, hoạt động dạy học ngoại ngữ được dùng để chỉ một phương thức xã hội đặc thù của hoạt động

Trang 14

tái tạo một ngoại ngữ cụ thể Nó bao gồm HĐDNN của GV và HĐHNN của SV Mục đích của dạy học ngoại ngữ là người học tiếp thu những tri thức ngôn ngữ,

có thể phát triển khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ được học Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ bao gồm kỹ năng thu nhận và tái tạo Kỹ năng nghe và đọc là kỹ năng thu nhận Kỹ năng nói và viết là kỹ năng tái tạo Như vậy, giáo viên và học sinh phải phân biệt yêu cầu của từng kỹ năng để có phương pháp dạy và học phù hợp

+ Đặc điểm hoạt động dạy ngoại ngữ:

- HĐGDNN thể hiện quan điểm về HĐ trong công tác dạy học ngoại ngữ

- Trong HĐGDNN giáo viên không sáng tạo ra ngoại ngữ mới để dạy, mà ngoại ngữ cần dạy là ngôn ngữ đã có sẵn trong nhân loại đã và đang được dân tộc đó

sử dụng và chỉ để tái tạo lại nhưng không phải để cho mình mà để tổ chức quá trình tái tạo này ở SV

- HĐGDNN được dùng để chỉ một phương thức xã hội đặc thù của HĐHTNN Tính xã hội của HĐ này bộc lộ ở chỗ nó diễn ra dưới hình thức nhà trường, có tổ chức chặt chẽ, được những người thực hiện có ý thức rõ ràng, tự giác tức là mục đích, có chương trình, nội dung kế hoạch, có biện pháp được tổ chức và được ý thức rõ ràng

- Nội dung hoạt động học ngoại ngữ của học sinh do HĐGDNN của giáo viên tạo ra, ngược lại HĐHNN của học sinh là điều kiện duy trì HĐGDNN của giáo viên

- HĐGDNN là một quá trình phức tạp bao gồm HĐDNN của thầy và HĐHNN của trò, hai hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

+ Đặc điểm hoạt động học ngoại ngữ:

- HĐHNN là hoạt động có đối tượng nghĩa là ngoại ngữ là đối tượng của HĐHNN chứ không phải là đối tượng dạy ngoại ngữ

- Đối tượng của HĐHNN được HS ý thức rõ ràng

- HĐHNN hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của HĐ (làm phát triển NN ở SV) không làm thay đổi khách thể (tức là không đưa những cái mới vào ngôn ngữ được học)

Trang 15

- HĐHNN vận hành theo cơ chế lĩnh hội chứ không phải theo cơ chế sáng tạo giống như các hoạt động khác

- HĐHNN không chỉ nhằm vào việc lĩnh hội tri thức, kĩ xảo, kĩ năng lời nói tiếng nước ngoài, mà còn lĩnh hội cả phương pháp học ngoại ngữ (không có trong học ngoại ngữ tự phát) như Achiomov V.A đã khẳng định: " Trong kết quả nắm vững tiếng nước ngoài hay từng mặt của thứ tiếng đó về mặt thực hành, dựa trên những hoạt động đã có, nhưng không phải là tài sản của bẩm sinh di truyền." [1]

1.2.3.2 Đặc điểm hoạt động dạy học bộ môn Tiếng Anh ở các trường ĐH

Hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng ở các trường

ĐH có những đặc thù riêng biệt Dạy học ngoại ngữ (tiếng Anh) nhằm tạo dựng

ở người học năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh góp phần phát triển trí tuệ cần thiết để có thể tiếp tục học lên, hoặc đi vào cuộc sống lao động, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo thông qua các tài liệu, đặc biệt là tài liệu bằng tiếng Anh và sử dụng thành thạo bốn kỹ năng thực hành ngôn ngữ: Nghe - Nói - Đọc - Viết

Kỹ năng nói và kỹ năng nghe là quan hệ hai chiều, tạo ra quá trình giao tiếp hiện thực

Kỹ năng nói và kỹ năng viết có quan hệ hữu cơ với nhau, ở đây người nói

và người vết đều phát ra thông điệp trong hoạt động giao tiếp

Kỹ năng viết và kỹ năng đọc là quan hệ một chiều tạo ra sự giao tiếp thuộc về nhận thức

Các kỹ năng này có quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau Trong hoạt động dạy và học tiếng Anh không thể dạy học kỹ năng này tách biệt hoàn toàn khỏi kỹ năng kia Không thể nói mà lại không nghe, không thể đọc mà lại không nói và không thể viết mà lại không đọc Khó có thể tách bạch kỹ năng này khỏi

kỹ năng kia Các kỹ năng ngôn ngữ thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau để nâng cao năng lực giao tiếp ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng

Ngoài ra hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường ĐH còn giới thiệu cho sinh viên những tri thức văn hóa nền tảng của dân tộc có ngôn ngữ mà sinh viên đang học, giúp sinh viên hiểu thêm về đất nước, con người, có hứng thú trong

Trang 16

học tập, làm giàu thêm vốn văn hóa của chính mình Đồng thời tùy theo từng ngành học mà sinh viên học thêm những thuật ngữ chuyên ngành để giúp học tự nâng cao kiến thức chuyên ngành qua các tài liệu nước ngoài

Hoạt động dạy học ngoại ngữ ở các trường ĐH là hoạt động có mục đích, chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp dạy học cụ thể nhằm giúp cho sinh viên nhận thức và có thể vận dụng chủ động, tự giác học ngoại ngữ như một ngôn ngữ giao tiếp

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.3.1 Khái niệm quản lí, chức năng quản lí

1.3.1.1 Khái niệm quản lí

Quản lí là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu được trong đời

sống xã hội Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lí càng lớn và nội dung quản lí càng phức tạp Khi nghiên cứu về quản lí Các Mác đã viết: "Bất cứ nơi nào có lao động, ở nơi đó có quản lí." " Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng."[31,tr.24]

Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn Nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình

“Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm

sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ trì trệ, ngược lại chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững

Người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng động Vậy quản lý chính là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển và sự phát triển phải tạo ra được sự ổn định của hệ

Trang 17

Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lí theo nhiều cách khác nhau, theo nhiều góc độ khác nhau

Theo góc độ kinh tế: Quản lí là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra

Theo góc độ chung nhất: Quản lí là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt tới mục tiêu

Theo C.Mác: Quản lí được coi là chức năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Từ đó ông cho rằng: “quản lí là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội Nhu cầu quản lí có ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [30]

V.G Aphanaxev đã viết trong cuốn "Con người trong hệ thống quản lí"

cho rằng: "Quản lí con người là sự tác động con người đến con người thông qua quan hệ quản lí (quan hệ con người với con người và quan hệ công việc) làm cho hành vi (hoạt động) của con người đáp ứng của xã hội, của tập thể, đem lại lợi ích cho cả cá nhân, tập thể và xã hội, thúc đẩy sự phát triển cho cá nhân, tập thể và xã hội" [3]

Theo Henry Fayol (1841-1925) đã nghiên cứu kĩ bản chất và tính chất công việc của người quản lí và đi đến kết luận rằng “Quản lí đó là dự tính (dự toán và lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”

Theo Harold Koontz: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo

phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của người quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và

sự bất mãn cá nhân ít nhất” [23]

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lí là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lí, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người” [36]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [5]

Trang 18

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo đã viết trong cuốn " Cơ sở khoa học quản lí" cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý về mặt chính trị, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lí” [16]

Tác giả Thái Văn Thành cho rằng: " Quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội", " Quản lí gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm", " Quản lí là sự tác động cói mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu đề ra."[38]

Từ những cách hiểu về quản lí đã được nêu trên, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: “Quản lí một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học, địa phương…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp tích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra”

Hay nói khác hơn: “Quản lí là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm thỏa mãn nhu cầu chung và đạt được các mục tiêu đã xác định”

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý song có thể hiểu quản lý

là những hoạt động mang tính tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đề ra

1.3.1.2 Chức năng quản lí

Theo tác giả Thái Văn Thành “Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định” [38]

Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhắm đạt được mục tiêu quản lí Trong quá trình quản lí, chủ thể quản lí phải thực hiện những nhiệm vụ, chức năng khác nhau Thực ra các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động

Trang 19

quản lý Có thể nói rằng chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý

Nhiều nhà khoa học và quản lí thực tiễn đã đưa ra những quan điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lí, tuy chưa thống nhất nhưng về cơ bản đều thống nhất quản lý có bốn chức năng cơ bản, liên quan mật thiết với nhau: Kế hoạch hoá, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra và thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện thực hiện các chức năng quản lý

Chức năng kế hoạch hóa là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu Nó có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động, là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức đơn vị và từng cá nhân của quá trình quản lí Như vậy thực chất kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lí vào công tác kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện

và đảm bảo các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu của tổ chức

Chức năng tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo việc thực hiện tốt các mục tiêu đề ra Tổ chức là xác định cơ chế hoạt động và các mối quan hệ của tổ chức Tổ chức là nơi bố trí sắp xếp công việc, sắp xếp công việc, sắp xếp con người và các bộ phận một cách khoa học Tổ chức phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong tổ chức và tổ chức thực hiện theo nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra Tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện tự giác và sáng tạo, tạo nên sự phối hợp ăn khớp, nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý, và thực hiện kế hoạch và mục tiêu tổng thể của tổ chức một cách có hiệu quả nhất

Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động

và ảnh hưởng của các chủ thể quản lí với những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức thành nhu cầu chung của cán bộ tổ chức, trên cơ sở

Trang 20

đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc Bởi vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lí và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động Chức năng chỉ đạo một chức năng quản lí quan trọng nhất của lãnh đạo

Chức năng kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức Chức năng kiểm tra là chức năng cuối cùng của quá trính quản lí, nó giúp cho chủ thể quản lí biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thế nào, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lí ban hành có phù hợp với thực tế hay không, trên những cơ sở

đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu đề ra Vậy chức năng kiểm tra thể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin

và trợ giúp các cá nhân và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu và kế hoạch đã xác định Có thể nói rằng không có kiểm tra là không có quản lí

1.3.2 Mục tiêu của việc quản lí HĐDH bộ môn Tiếng Anh ở trường ĐH Trong báo cáo tổng kết với đầu đề “Học tập: của cải nội sinh” của Uỷ ban

quốc tế chuẩn bị giáo dục đi vào thế kỉ XXI của UNESCO đã nêu: “Quan hệ giữa khối lượng tri thức ngày càng tăng quá nhanh với khả năng tiếp thu của con người Chắc chắn là không thể tăng số bộ môn lên tương ứng được, mà buộc chúng ta phải làm các chương trình bộ môn hợp lí, biết lựa chọn, đặc biệt bảo đảm tính cơ bản của nền giáo dục”, “Phải dạy cái gì và dạy thế nào để đáp ứng

cả yêu cầu tạm thời lẫn yêu cầu lâu bền, yêu cầu trước mắt và lâu dài, làm sao cân đối thoả mãn cung cấp một khối lượng thông tin đồ sộ”, “Giáo dục thường xuyên phải là điểm chủ đạo của mọi chính sách giáo dục; giáo dục suốt đời, giáo

dục bằng mọi cách, giáo dục cho mọi người, xây dựng một xã hội học tập” [21]

Đó là mục tiêu của giáo dục trong thế kỉ XXI mà giáo dục Việt Nam phải hướng tới

Theo tinh thần Nghị quyết TW 2 – khoá VIII đã nêu rõ: “Nhà trường phải

thực hiện 3 mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trên cơ sở mẫu số chung là nhân cách, phải tạo ra nguồn nhân lực có trình độ,

có tay nghề, biết sử dụng và áp dụng thành thạo khoa học kĩ thuật, công nghệ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [14]

Trang 21

Như vậy, quản lí mục tiêu giáo dục chính là quản lí việc đào tạo ra con người phát triển toàn diện, có đầy đủ phẩm chất và năng lực, làm chủ tri thức, khoa học - công nghệ hiện đại, giàu lòng yêu nước, kế thừa sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa và có tinh thần học tập thường xuyên, học tập suốt đời Điều đó đòi hỏi việc tổ chức quá trình dạy học sao cho người học phát huy tính sáng tạo Với những yêu cầu đổi mới của người dạy và người học hiện nay, mục tiêu quản lí dạy học môn Tiếng Anh của nhà trường là làm sao nâng cao chất lượng giảng dạy và học Tiếng Anh

Đối với bộ môn Tiếng Anh, quản lí mục tiêu giáo dục là quản lí quá trình trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về Tiếng Anh, hình thành cho sinh viên

kĩ năng, kĩ xảo thực hành tiếng để họ có thể ứng dụng kiến thức Tiếng Anh vào môi trường thực tế học tập, giảng dạy và công tác, trên cơ sở đó hình thành nhân cách cho sinh viên

Do vậy, quản lí mục tiêu của bộ môn Tiếng Anh ở trường ĐH chính là đánh giá đầu ra của sinh viên, tức là xem xét sản phẩm đào tạo đạt tới trình độ, chất lượng đến mức độ nào? Đánh giá phải dựa trên các mặt cụ thể về kiến thức,

kĩ năng, kĩ xảo, khả năng ứng dụng và kể cả thái độ học tập, tinh thần học tập thường xuyên, học tập suốt đời Cụ thể:

+ Kiến thức: Phải cung cấp, trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản

làm cơ sở cho việc phát triển các kỹ năng

+ Kĩ năng kĩ xảo: Đối với sinh viên không chuyên, giúp sinh viên được

phát triển đầy đủ và thành thạo 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết, qua đó sinh viên có thể vận dụng trong giao tiếp, trao đổi trong cuộc sống, đặc biệt là vận dụng công việc chuyên môn sau này Đối với sinh viên chuyên, ngoài những nội dung trên cần có kĩ năng cao về chuyên ngành Tiếng Anh và có trình độ tương đương Cử nhân Tiếng Anh

+ Khả năng ứng dụng: Đối với sinh viên không chuyên giúp sinh viên có

khả năng nghe, nói, đọc, viết những câu đơn giản, có khả năng diễn đạt và giao tiếp tốt trong phạm vi công việc sau này Đối với sinh viên chuyên, khả năng đòi hỏi cao hơn, phải trở thành những cử nhân Tiếng Anh sau khi tốt nghiệp

Trang 22

+ Thái độ: Giờ học ngoại ngữ nhẹ nhàng, thoải mái tạo cho sinh viên niềm

say mê luyện tập, thực hành giao tiếp, biết tìm tòi, sáng tạo, tự tin, không nhút nhát, từ đó giúp sinh viên có niềm tin yêu đối với môn Tiếng Anh và hứng thú trong việc nghiên cứu, xác định động cơ tinh thần, thái độ học tập nghiêm túc và theo tinh thần học tập thường xuyên, học tập suốt đời

1.3.3 Các phương pháp quản lí hoạt động dạy học bộ môn Tiếng Anh

Quản lí là một dạng hoạt động nghệ thuật mang tính chất trí tuệ cao, do

vậy phương pháp quản lí đòi hỏi phải mang tính khoa học, phù hợp với các qui luật khách quan và phải đảm bảo các nguyên tắc quản lí

Phương pháp quản lí tốt sẽ giúp cho hoạt động quản lí đạt chất lượng cao, kết quả do quản lí mang lại đáp ứng được mục tiêu đề ra

1.3.4 Nội dung quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh

1.3.4.1 Quản lí nội dung chương trình giảng dạy

Đây chính là cốt lõi của hoạt động dạy và học, chính nội dung sẽ thể chế

hoá cho chương trình học và phương pháp học Quản lí nội dung chương trình giảng dạy Tiếng Anh ở trường phải sát với qui chế do Bộ GD & ĐT đề ra, đồng thời nội dung phải được cụ thể hoá, vừa cơ bản, vừa hiện đại, vừa thiết thực với thực tiễn kinh tế và sự phát triển xã hội Việc lựa chọn nội dung theo quan điểm chủ điểm và cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

+ Các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ của chúng cần phải được đặt trong ngữ cảnh hóa để sinh viên có thể thực hiện các hoạt động giao tiếp gần giống với đời sống thực

+ Các chủ điểm được lựa chọn đưa vào chương trình cần phải đảm bảo phù hợp với mối quan tâm, kiến thức nền, sở thích cũng như năng lực thực hành tiếng của sinh viên Các yếu tố văn hoá của các nước nói tiếng Anh cũng cần đưa vào chương trình một cách phù hợp

+ Nội dung giảng dạy cần tạo cho sinh viên khả năng ứng dụng cao, giúp sinh viên liên hệ nội dung kiến thức đang học vào môi trường thực tế và bổ sung kiến thức vào kho tàng của họ

Trang 23

+ Nội dung ngôn ngữ của chương trình cần đảm bảo tính xác thực sao cho kiến thức và kỹ năng của sinh viên đạt được trong trường học phù hợp với các tiêu chí của ngôn ngữ thực đang được sử dụng ở các nước nói tiếng Anh

+ Chương trình cho phép phân chia khối lượng kiến thức, kỹ năng thành các phần nhưng không vì thế chúng độc lập với nhau Các bài tập, hoạt động cá nhân cũng như theo nhóm, tổ cần đảm bảo việc kết hợp tất cả các kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) để lĩnh hội, chuyển dịch thông tin và áp dụng thông tin

+ Các hoạt động trên lớp học cần được sắp xếp theo trình tự phù hợp với quá trình tiếp thu một ngoại ngữ, bắt đầu bằng các hoạt động có ngữ cảnh cụ thể và không đòi hỏi nhiều đến tư duy trừu tượng tiến tới các hoạt động có ngữ cảnh khái quát và đòi hỏi tư duy trừu tượng cao

+ Sinh viên cần nhận được các thông tin phản hồi theo các yêu cầu của hoạt động trên lớp học để từ đó có thể tự đánh giá sự tiến bộ của mình hoặc điều chỉnh phương pháp học tập để đạt được hiệu quả học tập cao

Vì vậy, trong dạy học, quản lí nội dung chương trình giảng dạy là yếu tố vô cùng quan trọng Đó là kim chỉ nam trong hoạt động dạy học nói chung, hoạt động giảng dạy từng môn học nói riêng Nếu quản lí tốt sẽ hạn chế được sự tùy tiện của giảng viên trong quá trình giảng dạy và đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu đào tạo

1.3.4.2 Quản lí giảng dạy

Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy Thực hiện chương trình giảng dạy là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của trường CĐ,

ĐH theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định Yêu cầu người cán bộ quản lý phải nắm được những vấn đề như: nguyên tắc cấu tạo chương trình của bộ môn ở từng năm học; chương trình của từng môn, nội dung, kiến thức của từng phân môn; phương pháp dạy học đặc trưng của từng phân môn và các hình thức dạy học; kế hoạch dạy học của từng môn, khối lớp (thời lượng dạy của môn học, bài học, hình thức dạy học, kiểm tra, đánh giá, )

Quản lý chương trình giảng dạy của giáo viên: Giáo viên phải dạy đúng theo khung chương trình qui định, đảm bảo thời lượng cho từng phân môn, khối

Trang 24

lớp Người cán bộ quản lý muốn thực hiện được yêu cầu này cần phải chú ý một

+ Các báo cáo về theo dõi thi đua của giáo viên, soạn giảng,… Các loại

hồ sơ sổ sách liên quan đến hoạt động chuyên môn của giáo viên

1.3.4.3 Quản lí giảng viên, sinh viên

Quá trình dạy học ở CĐ, ĐH về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của sinh viên được thực hiện dưới vai trò chủ đạo của giảng viên nên việc quản lí giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học là vấn đề cơ bản nhất của người quản lí Quá trình đào tạo có thành công hay không chính là do hoạt động chủ đạo của người thầy và tính chủ động của người học

Sự tương tác của hoạt động này nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất để người học nắm vững tri thức hình thành kĩ năng, kĩ xảo, phát huy hết mọi tiềm năng, thông minh sáng tạo để nhận thức và giải quyết các vấn đề được đặt ra

Tuy hai hoạt động này có mối quan hệ tương tác nhau, hỗ trợ lẫn nhau để đạt được mục tiêu giáo dục Song không thể đánh giá có cái nhìn về mặt quản lí giống nhau

Quản lí giảng viên là quản lí hoạt động của người thầy thông qua quản lí việc thực hiện qui chế chuyên môn và qui chế lao động Hiệu trưởng và cán bộ quản lí từ tổ chuyên môn, khoa chuyên môn, phòng đào tạo phải có kế hoạch theo dõi, kiểm tra việc thực hiện qui chế chuyên môn của giảng viên để ngăn chặn và kịp thời nhắc nhở những sai phạm của giảng viên trong việc thực hiện qui chế chuyên môn do Bộ, trường đề ra

Quản lí dạy học của giáo viên Tiếng Anh là quản lí khâu soạn bài, quản lí giờ lên lớp, quản lí việc dự giờ, đánh giá giờ dạy, quản lí việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

Trang 25

Quản lí sinh viên là quản lí chất lượng học tập của sinh viên, quản lí tinh thần và thái độ học tập của sinh viên ở lớp, ở trường Luôn tạo điều kiện cho sinh viên hình thành thói quen tự học, tự rèn luyện, tự nghiên cứu nhằm khơi dậy lòng say mê học ngoại ngữ Phải thường xuyên quản lí chất lượng học tập của sinh viên để có giải pháp chỉ đạo kịp thời

Do đó, để đánh giá kết quả dạy học bộ môn, người quản lí phải theo dõi sâu sắt quá trình giảng dạy của giảng viên và quá trình học tập của sinh viên, không thể đánh giá ở một mặt riêng biệt nào đó để qui kết quả cho một kết quả của quá trình dạy học mà phải dựa vào các tiêu chí để đánh giá kết quả dạy học

1.3.4.4 Quản lí công tác bồi dƣỡng chuyên môn của giảng viên

Chất lượng giáo dục của nhà trường có hiệu quả hay không là phụ thuộc

vào phần lớn khả năng và tiềm lực của đội ngũ giáo viên, "Không có hệ thống giáo dục nào vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó", như Luật giáo dục đã quy định " Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục" Ở trường ĐH không chỉ đơn thuần dạy kiến thức sinh viên, mà còn đào tạo nghề cho sinh viên, đào tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học, đào tạo ra những người thầy giáo cho xã hội Do đó, người giảng viên phải đạt chuẩn về trình độ chuyên môn như Luật giáo dục đã qui định Năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường, bởi vì thông qua giảng dạy của giảng viên sẽ là hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc cho nghề nghiệp tương lai của các em Do vậy, công tác bồi dưỡng giáo viên là một yêu cầu khách quan có tính cấp thiết để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục ở nước ta hiện nay

Để thực hiện tốt việc quản lí trình độ đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên Tiếng Anh nói riêng, lãnh đạo nhà trường phải luôn quan tâm sâu sát đến việc tuyển chọn giảng viên và luôn quan tâm trình độ năng lực giảng viên bộ môn trong từng thời điểm, có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giảng viên Tiếng Anh thường xuyên bằng nhiều con đường: cho những cán bộ chưa đạt chuẩn đi học thạc sĩ, tiến sĩ, tạo điều kiện tối đa cho giảng viên bộ môn Tiếng Anh trong việc học tập nâng cao nghiệp vụ bằng cách bồi dưỡng thường

Trang 26

xuyên; bồi dưỡng, tiếp cận các chuyên đề Tiếng Anh trong các hội thảo Tiếng Anh do Bộ GD & ĐT tổ chức

1.3.4.5 Quản lí thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy

Giáo dục ĐH hiện nay đang có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung chương

trình và phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa, tiếp cận trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp với môn học, nội dung chương trình, đối tượng đào tạo của từng cơ sở đào tạo là rất quan trọng Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên ĐH…” [14]

Theo tác giả Phan Thế Sủng: “Đổi mới giáo dục nói chung, phương pháp dạy học nói riêng là qui luật phát triển tất yếu của thời đại và của mỗi quốc gia trên bước đường phát triển xã hội, của giáo dục và của chính bản thân người làm công tác giáo dục, của giảng viên và học sinh trong điều kiện mới” [37]

Đổi mới phương pháp giảng dạy không phải là thay cái cũ bằng cái mới

Nó là sự kế thừa và sử dụng một cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống phương pháp giáo dục truyền thống hiện còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kĩ năng, kinh nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị xã hội Đổi mới phương pháp dạy học phải thực sự góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Trong hoạt động dạy học, giáo viên thường kết hợp nhiều phương pháp và luôn cải tiến để phù hợp cho từng tiết học, từng trình độ của sinh viên Giáo viên phải có khả năng phối hợp cùng với người học để truyền thụ và tiếp thu kiến thức một cách khoa học và hợp lí khiến giờ học trở nên sôi động, cuốn hút người học vào hoạt động tiếp nhận và mở rộng tri thức, tránh lối thông tin một chiều đó là phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn Phương pháp dạy học tích cực phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học

Trang 27

Như vậy, quản lí thực hiện đổi mới phương pháp dạy học là quản lí chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học trong mối quan hệ biện chứng với sự đổi mới mục tiêu, nội dung trong chương trình học tập Tùy theo nội dung chương trình dạy học mà có những phương pháp dạy học thích hợp Việc sử dụng phương pháp dạy học nào cũng tùy thuộc vào nội dung mà giảng viên sử dụng phương pháp riêng biệt, không nhất thiết phải luôn bó buộc vào một phương pháp nào đó trong quá trình dạy học

1.3.4.6 Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thành công của quá trình giáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng Mỗi bộ môn, mỗi khâu, mỗi vấn đề trong chương trình dạy học đều gắn với một hệ thống phương pháp, phương tiện dạy

học nhất định, đặc biệt là các phương tiện hiện đại

Ở góc độ lý luận quản lý thì cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai là một phương tiện thực hiện mục đích quản lý; cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai một trong những trụ cột cơ bản của quản lý để chủ thể quản lý dựa vào

nó mà thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý (kế hoạch hoá, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra); cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đóng vai phương tiện để kết nối các hoạt động trong nhà trường với nhau và kết nối các hoạt động của trường với các cơ quan hữu quan ngoài trường

Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học giúp nâng cao kết quả quá trình giáo dục nói chung và dạy học nói riêng; mặt khác việc sử dụng đúng mục đích, tận dụng công suất của cơ sở vật chất và thiết bị dạy học không những mang lại chất lượng và hiệu quả giáo dục mà còn mang lại hiệu quả kinh tế giáo dục

Đối với môn Tiếng Anh, cơ sở vật chất và trang thiết bị đòi hỏi yêu cầu rất cao mới có thể đáp ứng được Cơ sở vật chất gồm các nội dung chính sau:

+ Trường sở: gồm trường, lớp, các phòng hội họp, phòng chức năng, sân chơi, nhà đa năng…

+ Phương tiện kĩ thuật và thiết bị giáo dục: gồm máy chiếu đa năng, máy

chiếu phim trong, máy vi tính, ti vi, máy quét ảnh, đầu video, CD, DVD, sách báo, …

Trang 28

Phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học được sử dụng phải phù hợp với đặc điểm và khả năng nhận thức của người học Bởi nó hỗ trợ cho người học phát triển năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, khám phá và vận dụng tri thức đã tiếp thu trên giảng đường vào thực tế Phương tiện trang thiết bị kĩ thuật ảnh hưởng lớn đến phương pháp giảng dạy của giáo viên Vì vậy, khi tổ chức việc chọn lựa và thiết kế các phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học cần chú ý tới đặc điểm tâm sinh lý và lứa tuổi của người học; đồng thời cần lưu ý tính thích ứng với khả năng và đặc điểm tư duy của người học Ngoài ra phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học phải đảm bảo tính khoa học, tính an toàn, tính thẩm mỹ, tính hiệu quả

Để duy trì, sử dụng, và bảo quản trang thiết bị một cách có hiệu quả thì đòi hỏi nhà quản lí phải có kế hoạch định kì cho việc kiểm kê, đánh giá cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học, để có kế hoạch mua sắm, sửa chữa, thay thế mới các phương tiện dạy học nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu hoạt động dạy học nói chung và việc dạy học môn Tiếng Anh nói riêng

1.3.4.7 Quản lí việc tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Quản lí việc tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên có một ý nghĩa hết sức quan trọng Đặt ý nghĩa và vai trò của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc CNH, HĐH quan trọng bao nhiêu thì càng thấy công tác quản lí

sự nghiệp giáo dục quan trọng và cấp thiết bấy nhiêu, trong đó có việc quản lí đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đó là sản phẩm của lao động trong giáo dục

Quản lí việc tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là động lực phát triển của ngành giáo dục và là sản phẩm của giáo dục tạo ra Vì thực chất, nếu không có hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên thì trên thực tế không có quản lí dạy học, giáo dục không được lãnh đạo, chỉ đạo

Quản lí việc tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quản lí quá trình giảng viên đánh giá sinh viên thông qua hoạt động học Giảng viên cần kết hợp các hình thức kiểm tra để đánh giá đúng thực chất kết quả học

Trang 29

tập của sinh viên, khả năng sáng tạo, các năng khiếu của sinh viên Chính điều này giúp cho sinh viên phát huy tính tích cực của cá nhân, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo để hình thành chu trình lĩnh hội tri thức đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội đặt ra

Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả dạy học mang những đặc điểm, nội dung, tiêu chí của công việc kiểm tra trong quá trình quản lí, giúp cung cấp thông tin quản lí về quá trình dạy học cho chủ thể quản lí và các cấp quản lí điều hành để đạt mục tiêu, để có những chủ trương, biện pháp sát thực chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lac, khuyến khích hỗ trợ những sáng kiến, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

Tóm lại, việc kiểm tra đánh giá người học có ý nghĩa về nhiều mặt, trong

đó quan trọng nhất là đối với bản thân mỗi người học

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ngày nay quá trình toàn cầu hoá đang đặt ra cho giáo dục nước ta những thách thức lớn, trong đó việc dạy và học ngoại ngữ giữ vị trí và vai trò quan trọng Ngoại ngữ là một công cụ giao tiếp, là phương tiện để thực hiện đẩy mạnh hợp tác quốc tế

Trong chương I của luận văn chúng tôi chỉ trình bày một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản mà liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài về hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng

Công tác quản lí hoạt động giảng dạy trong nhà trường nói chung, quản lí hoạt động giảng dạy Tiếng Anh nói riêng chưa được sự quan tâm đúng mức và chưa thật sự khoa học, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra Các nhà quản lí cần phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp để thay đổi cách quản lí, xác định lại quan niệm về mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, từ đó thay đổi phương pháp tổ chức và quản lí giáo dục, đặc biệt công tác quản lí hoạt động giảng dạy là một bước đột phá trong giai đoạn hiện nay

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

BỘ MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM

2.1 Vài nét về trường ĐH Quảng Nam và khoa ngoại ngữ

2.1.1 Khái quát về hoạt động đào tạo của trường ĐH Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, diện tích tự nhiên 10.406 km2 , tổng dân số khoảng 1.419.503 người Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Tam Kỳ Quảng Nam nổi tiếng với hai di sản văn hóa thế giới là Hội An và Mỹ Sơn Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có rất nhiều trường CĐ, ĐH, trong đó có trường ĐH Quảng Nam, nằm ngay trung tâm thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Trường ĐH Quảng Nam được Thủ Tướng Chính Phủ ra quyết định thành lập tháng 6 năm 2007 trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam Trường

ĐH Quảng Nam là trung tâm văn hoá, khoa học và kĩ thuật của tỉnh Quảng Nam

và của ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Nam Trường Đại học Quảng Nam đuợc xây dựng phát triển theo hướng đa ngành, đa hệ, trở thành trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học, trung tâm văn hóa giáo dục lớn của tỉnh Quảng Nam Với tiền thân là trường CĐSP Quảng Nam (thành lập tháng 11/2000), trường có quá trình xây dựng và trưởng thành đáng tự hào: luôn thực hiện hiệu quả kế hoạch của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, chất lượng đào tạo ngày càng nâng cao

Trong chiến lược phát triển, Trường đặc biệt coi trọng công tác tiêu chuẩn hóa đội ngũ giảng viên nhằm hướng tới mục tiêu phát huy tính tích cực của đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao trình độ, Trường có chế độ khuyến khích để xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đồng bộ về chuyên ngành Hiện nay, tổng số cán bộ viên chức trong nhà trường: có 265 người, trong đó:

Giáo viên tham gia giảng dạy: 185 người ( kể cả số làm công tác ở các Phòng, Trung tâm)

Trình độ: Tiến sĩ: 03, NCS: 12, GVC: 22, Thạc sĩ: 69, Đang học cao học:

58, Đại học: 105, đi học tập bồi dưỡng ở nước ngoài: 05, CBNV hành chính: 54

- được phân bổ ở 18 đơn vị trực thuộc gồm: 5 phòng, 7 khoa, 2 tổ trực thuộc, 4 trung tâm

Trang 31

Nhà trường luôn chú trọng công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ vào trong giảng dạy và học tập Nhà trường thường xuyên tổ chức các hội nghị khoa học, tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên, sinh viên của trường có

cơ hội giao lưu học hỏi và trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu

Trường Đại học Quảng Nam dự kiến cơ cấu đào tạo 30% SV thuộc ngành

sư phạm và 70% SV thuộc ngành đào tạo khác Hiện nay, Trường ưu tiên đào tạo các ngành mũi nhọn là Du lịch, Công nghệ thông tin và Ngoại Ngữ Ngoài

ra, trường còn liên kết với các tỉnh để đào tạo các ngành nghề mà bản thân nhà trường chưa đủ mạnh, hơn nữa thông qua đây sẽ học tập kinh nghiệm quản lý, giảng dạy

Trường luôn chú trọng đầu tư, đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại theo phương thức xã hội hóa, thu hút các nguồn lực đầu tư nhằm đáp ứng đúng mức yêu cầu nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập của cán

bộ, giảng viên và HS-SV một trường đại học đa ngành Tăng cường các điều kiện thực hành tại chỗ, đồng thời liên kết với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, dịch vụ… tạo môi trường thuận lợi cho HS-SV thâm nhập thực tế ngay từ những năm đầu vào trường

Ngoài ra, trường còn liên kết với các tỉnh để đào tạo các ngành nghề mà bản thân nhà trường chưa đủ mạnh, hơn nữa thông qua đây sẽ học tập kinh nghiệm quản lý, giảng dạy

2.1.2 Vài nét cơ bản về đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn ngoại ngữ trường ĐH Quảng Nam

Khoa Ngoại ngữ trường Đại học Quảng Nam tiền thân là Trung tâm Tin học - Ngoại ngữ trường CĐSP Quảng Nam được thành lập vào tháng 9/2000 Khi mới thành lập Trung tâm chỉ có 4 người (1 Giám đốc và 3 nhân viên) Từ khi khoa được thành lập đến nay, sau gần 10 năm hoạt động đội ngũ cũng đã từng bước được nâng lên cả về số lượng và chất lượng

Hiện nay tổng số CB, CNV của khoa gồm có 21 người bao gồm:

Trang 32

Giảng viên tiếng Anh : 19

Giảng viên tiếng Pháp: 01

Giáo vụ khoa: 01

Trong đó có 09 thạc sĩ,đang học cao học: 09, đang nghiên cứu sinh: 01, cử nhân: 02 Theo dự kiến đến năm 2012, khoa Ngoại ngữ sẽ có 90,48 % giảng viên có trình độ trên đại học

Trong năm học này, khoa Ngoại ngữ đảm nhận trách nhiệm giảng dạy tại

08 lớp ngoại ngữ chuyên ngành và 62 lớp ngoại ngữ không chuyên cho toàn bộ sinh viên trong trường

Khoa Ngoại ngữ có nhiệm vụ và chức năng là đào tạo nguồn nhân lực có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp để làm việc trong ngành du lịch, ngoại thương, ngân hàng Có thể làm phiên dịch tiếng Anh hoặc những công việc có sử dụng tiếng Anh trong các tổ chức, công ty, v.v Có thể làm hướng dẫn viên du lịch hoặc nhân viên tại các công ty du lịch, nhân viên

lễ tân tại các khách sạn, tiếp viên hàng không hoặc thư ký

Trang bị kiến thức tiếng Anh cơ bản cho sinh viên các khoa khác trong trường giúp họ có điều kiện tham khảo tư liệu tiếng Anh, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của mình Tham gia giảng dạy các lớp chứng chỉ A, B, C cho đối tượng giáo viên, cán bộ công chức của Tỉnh

Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có chương trình, giáo trình cụ thể cho hệ đào tạo cử nhân cao đẳng chuyên ngành ngoại ngữ và không chuyên nên từ khi thành lập khoa tới nay, toàn bộ chương trình, giáo trình phục vụ cho quá trình đào tạo đều do đội ngũ giáo viên trong khoa biên soạn, cập nhật, chỉnh lí hằng năm để đáp ứng yêu cầu đào tạo của trường

Ngoài ra các giảng viên trong khoa phải tham gia nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm phục vụ việc giảng dạy của khoa nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thành tốt mục tiêu đào tạo của trường

2.2 Thực trạng về giảng dạy tiếng Anh ở khoa Ngoại ngữ Trường ĐH Quảng Nam

Trang 33

2.2.1 Chương trình tiếng Anh chuyên

Năm học 2009-2010 khoa Ngoại ngữ có 08 lớp chuyên ngữ Tiếng Anh ngoài sư phạm với tổng số sinh viên là 362, lớp năm thứ nhất có 72 sinh viên, năm thứ hai có 140 sinh viên, năm thứ 3 có 150 sinh viên Khoa ngoại ngữ đã xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình giảng dạy cho các lớp chuyên ngữ này cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Tổng hợp phân phối chương trình lớp chuyên ngành Tiếng Anh

Đối với khối Đại học:

ĐVHT SỐ TIẾT ĐVHT SỐ TIẾT

Trang 34

2.2.2 Chương trình tiếng Anh không chuyên

Trong những năm gần đây Trường ĐH Quảng Nam đã đưa tiếng Anh vào giảng dạy cho tất cả các khối, ngành khác nhau từ hệ trung cấp đến đại học Theo quy định chung của Bộ GD và ĐT rút ngắn từ 20 ĐVHT (300 tiết) xuống còn 18 ĐVHT(270 tiết) đối với khối ĐH, trong đó 3 kì đầu là tiếng Anh cơ sở, 2

kì sau là tiếng Anh chuyên ngành, được phân bố như sau:

Trang 35

III 3 45 Đối với hệ Trung học Sư phạm, chương trình tiếng Anh cũng được đưa vào giảng dạy với thời lượng 8 ĐVHT:

2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng dạy và học Tiếng Anh trường ĐH Quảng Nam

2.3.1 Nội dung chương trình

Nội dung dạy học là kết quả của sự lựa chọn những nguồn đa dạng và

phong phú các tri thức, thông tin khoa học, các kinh nghiệm thực tiễn và xử lí chúng theo yêu cầu của mục tiêu đào tạo thành các thông tin Để đánh giá về việc quản lý thực hiện nội dung, chương trình giảng dạy của khoa Ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ và chuyên ngữ tại trường ĐH Quảng Nam, chúng tôi đã lấy ý kiến của 4167 sinh viên các lớp không chuyên ngữ, 362 sinh viên lớp chuyên ngữ và 19 giảng viên của khoa đang tham gia giảng dạy tiếng Anh tại trường về mức độ phù hợp của nội dung, chương trình với nhu cầu thực tế qua bảng khảo sát sau:

Bảng 2.2: Nhận xét của sinh viên chuyên ngữ và không chuyên về nội dung, chương trình tiếng Anh

Trang 36

Nội dung các lựa chọn

Tiếng Anh chuyên

Tiếng Anh không chuyên

Từ bảng khảo sát trên cho thấy khi sinh viên chuyên ngữ được hỏi ý kiến nhận xét về nội dung chương trình tiếng Anh thì họ đều cho rằng nội dung chương trình khá phù hợp với mục tiêu đào tạo chung, chiếm tỉ lệ 78.73%, 20.72% ý kiến cho rằng nội dung chương trình chưa phù hợp lắm và 0.55% ý kiến nhận xét nội dung chương trình đang học không phù hợp với mục tiêu của

họ

Theo bảng số liệu trên cho thấy đối với sinh viên không chuyên mức độ rất phù hợp của nội dung chương trình chỉ chiếm 1.94%, mức độ khá phù hợp có 42.00% ý kiến, có 55.68% ý kiến cho rằng giáo trình chưa phù hợp lắm và có 0.38% cho rằng nội dung chương trình hoàn toàn không phù hợp và đề xuất ý kiến nên dạy tiếng Anh chuyên ngành cho các lớp trung cấp, cao đẳng không chuyên ngữ, ví dụ như tiếng Anh chuyên ngành Toán, Vật lý, Kế toán, Tiểu học, v.v…Với kết quả 4167 ý kiến của sinh viên các lớp không chuyên ngữ trên, hơn một nữa nhận xét nội dung chương trình chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của sinh viên

Bảng 2.3: Nhận xét của giảng viên về nội dung, chương trình tiếng Anh

Nội dung các lựa chọn

Tiếng Anh chuyên

Tiếng Anh không chuyên

Số lƣợng

Tỉ lệ % Số lƣợng Tỉ lệ %

Trang 37

0

Qua khảo sát ý kiến giảng viên về chương trình tiếng Anh chuyên cho thấy

có 84.21% ý kiến đồng ý với nhận xét chương trình dành cho các lớp chuyên ngữ khá phù hợp, và 15.79% ý kiến nhận xét chưa phù hợp lắm Qua ý kiến của

tổ trưởng bộ môn tiếng Anh và lãnh đạo khoa thì chương trình giảng dạy cho các lớp Anh chuyên có vài điểm chưa phù hợp lắm cần phải điều chỉnh bổ sung Đối với chương trình tiếng Anh không chuyên cho thấy có 8 ý kiến nhận xét nội dung chương trình tiếng Anh khá phù hợp chiếm tỉ lệ 42.11%, 11 ý kiến cho rằng nội dung chương trình chưa phù hợp lắm với tỉ lệ 57.89% Ngoài ra giảng viên đề nghị cần cập nhật giáo trình giảng dạy, tăng số giờ môn học, bổ sung giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho các lớp không chuyên ngữ

Từ kết quả nghiên cứu bảng 2.2, bảng 2.3 cho thấy: Ý kiến của giảng viên

và sinh viên cho rằng nội dung chương trình Tiếng Anh đang đào tạo của Trường ĐH Quảng Nam hiện nay chưa phù hợp với mục tiêu đào tạo chung là một thực tế có cơ sở cần được quan tâm Trường ĐH Quảng Nam cần phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp để cải tiến

2.3.2 Mức độ sinh viên thích chương trình tiếng Anh

Bảng 2.4: Ý kiến của sinh viên về mức độ thích chương trình tiếng Anh

đang học

Nội dung các lựa chọn

Sinh viên chuyên

Sinh viên không chuyên

759

1012

18.21 24.29

Trang 38

2111

285

50.66 6.84

Qua kết quả trưng cầu ý kiến ở bảng 2.5 chúng tôi thấy đa số sinh viên chuyên ngữ thích chương trình họ đang học, có 27.90% rất thích chương trình hiện tại, 65.75% khá thích và 6.35% không thích lắm chương trình đang học Ngược lại đối với sinh viên không chuyên chỉ có 18.21% rất thích chương trình Tiếng Anh hiện tại, 29.09% ý kiến khá thích, có đến 50.66% ý kiến không thích lắm và 6.84% ý kiến hoàn toàn không thích chương trình tiếng Anh đang học

Từ bảng khảo sát trên chúng tôi thấy đa số sinh viên không chuyên không thích chương trình tiếng Anh lắm Nhưng ngược lại phần lớn sinh viên chuyên ngữ lại khá thích chương trình hiện hành Như vậy với kết quả khảo sát trên chúng ta cần điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi những bất cập trong chương trình

2.3.3 Tự nhận xét về trình độ và khả năng vận dụng tiếng Anh của sinh viên

Để làm rõ hơn ý kiến trên, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của sinh viên không chuyên và các sinh viên chuyên ngữ về tự nhận xét trình độ và khả năng vận dụng tiếng Anh trong thực tế qua bảng sau:

Bảng 2.5: Tự nhận xét của sinh viên về trình độ tiếng Anh

Nội dung các lựa chọn

Sinh viên chuyên

Sinh viên không chuyên

69

87

1.65 2.09

Trang 39

1908

2103

45.79 50.47

Nhìn bảng khảo sát trên chúng tôi thấy sinh viên chuyên tự nhận xét trình

độ tiếng Anh của mình cao hơn so với sinh viên không chuyên, cụ thể như sau: Sinh viên chuyên : có 14.64% ý kiến là tốt, 60.22% ý kiến là khá, 24.59% ý kiến

là trung bình, và có 0.55% có ý kiến là yếu Ngược lại trình độ sinh viên không chuyên ở mức độ tốt chỉ có 1.65%, khá 2.09%, trung bình 45.79% và yếu 50.47%

Bảng 2.6: Nhận xét của sinh viên về khả năng vận dụng tiếng Anh

Nội dung các lựa chọn

Sinh viên chuyên

Sinh viên không chuyên

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.7, chúng tôi thấy số sinh viên chuyên có khả

năng vận dụng tiếng Anh tốt trong thực tế là 14.09%, số sinh viên vận dụng khá

là 29.28%, có 55.52% ý kiến nhận xét mức độ trung bình, và 1.11% ý kiến nhận xét yếu Sinh viên không chuyên có 0.02% ý kiến tự nhận xét về khả năng vận dụng tiếng Anh vào thực tế cuộc sống là tốt, có 1.25 ý kiến nhận xét ở mức độ khá, có 29.21% ý kiến nhận xét ở mức độ trung bình, còn lại 69.52% ý kiến là yếu

Nhìn bảng trên ta thấy sinh viên không chuyên vận dụng tiếng Anh vào thực tế còn hạn chế Một phần làm ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng và hứng

Trang 40

thú học tập của sinh viên là do nội dung chưa được cập nhật thường xuyên, chương trình chưa phong phú Vì vậy việc thay đổi giáo trình giảng dạy, bổ sung, cập nhật một số nội dung là điều cần thiết để góp phần cải tiến kết quả dạy

và học bộ môn tiếng Anh

2.3.4 Thời lƣợng môn học tiếng Anh

Bên cạnh những nội dung trên thì thời lượng môn học cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức tiếng Anh của sinh viên Do vậy chúng tôi cũng khảo sát sinh viên và giảng viên về thời lượng môn học tiếng Anh với kết quả như sau:

2.3.4 Thời lƣợng môn học tiếng Anh

Bảng 2.7: Nhận xét của sinh viên về thời lượng môn học tiếng Anh

Nội dung các lựa chọn

Sinh viên chuyên

Sinh viên không chuyên

Với kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy rằng có 30.11% ý kiến của sinh viên chuyên ngữ cho rằng thời lượng môn học như vậy là hợp lí, có 10.22% ý kiến là nhiều và 59.67% ý kiến cho rằng là thời lượng như vậy là ít

Đối với sinh viên không chuyên ngữ có 26.28% ý kiến cho rằng thời lượng phân bố chương trình tiếng Anh là hợp lí, có 2.28% ý kiến là nhiều, còn 71.44% ý kiến thời lượng môn học tiếng Anh là ít

Bảng 2.8: Nhận xét của giảng viên về thời lượng môn học tiếng Anh

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Achiomov V.A, Tâm lí học giảng dạy ngoại ngữ, NXB Giáo dục 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học giảng dạy ngoại ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục 1969
2. V.G Aphanaxev, Con người trong hệ thống quản lý xã hội tâp 1, tập 2, NXB Khoa học xã hội năm 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong hệ thống quản lý xã hội tâp 1, tập 2
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội năm 1979
3. Đinh Quang Bảo, Giải pháp đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên nhằm nâng cao chât lượng đội ngũ giáo viên, Tạp chí Giáo dục số 105-01/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên nhằm nâng cao chât lượng đội ngũ giáo viên
4. Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả, khoa học tổ chức và quản lí -Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khoa học tổ chức và quản lí -Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Thống kê
5. Bộ GD & ĐT, Báo cáo về Đào tạo Tiếng Anh trong các trường đại học không chuyên ngữ, Hà Nội ngày 05/12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về Đào tạo Tiếng Anh trong các trường đại học không chuyên ngữ
7. Mai Văn Bưu (chủ biên), Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
8. Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Tập bài giảng về lý luận đại cương về quản lý, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về lý luận đại cương về quản lý
9. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Điều lệ trường Đại học, ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Đại học
10. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam, Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, ban hành theo Quyết định số 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”
11. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đại biểu lần thứ IX, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đại biểu lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 2001
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khóa 8, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khóa 8
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 1997
13. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
14. Nguyễn Minh Đạo, Cơ sở khoa học quản lí, NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lí
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội
15. Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ, Giáo dục Thế giới đi vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Thế giới đi vào thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
16. Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về Quản lý giáo dục và Khoa học quản lý giáo dục, NXB Giáo dục Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Quản lý giáo dục và Khoa học quản lý giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
17. Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn, Những bài giảng về quản lí trường học, Tập III, NXB Giáo duc, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lí trường học
Nhà XB: NXB Giáo duc
18. Bùi Hiển, Phương pháp hiện đại dạy học ngoại ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp hiện đại dạy học ngoại ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
19. PGS, TS Hà Văn Hùng, Kiểm tra, thanh tra, đánh giá trong giáo dục, Tập bài giảng dành cho học viên lớp cao học QLGD K14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra, thanh tra, đánh giá trong giáo dục
20. Lê Viết Khuyến, “Về tổ chức đào tạo và quản lý chất lượng giáo dục đại học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tổ chức đào tạo và quản lý chất lượng giáo dục đại học
22. Harold Koontz, Những vấn đề cốt yếu của quản lí, NXB KHKT Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lí
Nhà XB: NXB KHKT Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp phân phối chương trình lớp chuyên ngành Tiếng Anh - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.1 Tổng hợp phân phối chương trình lớp chuyên ngành Tiếng Anh (Trang 33)
Bảng 2.2: Nhận xét của sinh viên chuyên ngữ và không chuyên về nội dung, chương trình tiếng Anh - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.2 Nhận xét của sinh viên chuyên ngữ và không chuyên về nội dung, chương trình tiếng Anh (Trang 35)
Từ bảng khảo sát trên cho thấy khi sinh viên chuyên ngữ được hỏi ý kiến nhận  xét  về  nội  dung  chương  trình  tiếng  Anh  thì  họ  đều  cho  rằng  nội  dung  chương  trình  khá  phù  hợp  với  mục  tiêu  đào  tạo  chung,  chiếm  tỉ  lệ  78.73%,  20.72% - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
b ảng khảo sát trên cho thấy khi sinh viên chuyên ngữ được hỏi ý kiến nhận xét về nội dung chương trình tiếng Anh thì họ đều cho rằng nội dung chương trình khá phù hợp với mục tiêu đào tạo chung, chiếm tỉ lệ 78.73%, 20.72% (Trang 36)
Theo bảng số liệu trên cho thấy đối với sinh viên không chuyên mức độ rất phù hợp của nội dung chương trình chỉ chiếm 1.94%, mức độ khá phù hợp có  42.00% ý kiến, có 55.68% ý kiến cho rằng giáo trình chưa phù hợp lắm và có  0.38% cho rằng nội dung chương  - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
heo bảng số liệu trên cho thấy đối với sinh viên không chuyên mức độ rất phù hợp của nội dung chương trình chỉ chiếm 1.94%, mức độ khá phù hợp có 42.00% ý kiến, có 55.68% ý kiến cho rằng giáo trình chưa phù hợp lắm và có 0.38% cho rằng nội dung chương (Trang 36)
Từ kết quả nghiên cứu bảng 2.2, bảng 2.3 cho thấy: Ý kiến của giảng viên và  sinh  viên  cho  rằng  nội  dung  chương  trình  Tiếng  Anh  đang  đào  tạo  của  Trường ĐH Quảng Nam hiện nay chưa phù hợp với mục tiêu đào tạo chung là  một  thực  tế  có  cơ   - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
k ết quả nghiên cứu bảng 2.2, bảng 2.3 cho thấy: Ý kiến của giảng viên và sinh viên cho rằng nội dung chương trình Tiếng Anh đang đào tạo của Trường ĐH Quảng Nam hiện nay chưa phù hợp với mục tiêu đào tạo chung là một thực tế có cơ (Trang 37)
Bảng 2.4: Ý kiến của sinh viên về mức độ thích chương trình tiếng Anh đang học.  - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.4 Ý kiến của sinh viên về mức độ thích chương trình tiếng Anh đang học. (Trang 37)
Qua kết quả trưng cầ uý kiến ở bảng 2.5 chúng tôi thấy đa số sinh viên chuyên ngữ thích chương trình họ đang học, có 27.90% rất thích chương trình  hiện tại, 65.75% khá thích và 6.35% không thích lắm chương trình đang học - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
ua kết quả trưng cầ uý kiến ở bảng 2.5 chúng tôi thấy đa số sinh viên chuyên ngữ thích chương trình họ đang học, có 27.90% rất thích chương trình hiện tại, 65.75% khá thích và 6.35% không thích lắm chương trình đang học (Trang 38)
Từ bảng khảo sát trên chúng tôi thấy đa số sinh viên không chuyên không thích chương trình tiếng Anh lắm - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
b ảng khảo sát trên chúng tôi thấy đa số sinh viên không chuyên không thích chương trình tiếng Anh lắm (Trang 38)
Nhìn bảng khảo sát trên chúng tôi thấy sinh viên chuyên tự nhận xét trình độ tiếng Anh của mình cao hơn so với sinh viên không chuyên, cụ thể như sau:  Sinh viên chuyên : có 14.64% ý kiến là tốt, 60.22% ý kiến là khá, 24.59% ý kiến  là trung bình, và có 0 - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
h ìn bảng khảo sát trên chúng tôi thấy sinh viên chuyên tự nhận xét trình độ tiếng Anh của mình cao hơn so với sinh viên không chuyên, cụ thể như sau: Sinh viên chuyên : có 14.64% ý kiến là tốt, 60.22% ý kiến là khá, 24.59% ý kiến là trung bình, và có 0 (Trang 39)
Bảng 2.6: Nhận xét của sinh viên về khả năng vận dụng tiếng Anh. - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.6 Nhận xét của sinh viên về khả năng vận dụng tiếng Anh (Trang 39)
Bảng 2.7: Nhận xét của sinh viên về thời lượng môn học tiếng Anh. - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.7 Nhận xét của sinh viên về thời lượng môn học tiếng Anh (Trang 40)
Nhìn bảng thống kê trên không có ý kiến nào nói thời lượng hoàn toàn không phù hợp, có 15,79% ý kiến là thời lượng chương  trình tiếng Anh là rất  phù hợp, nhưng có tới 57.89% cho rằng chưa phù hợp lắm và chỉ có 26.32% ý  kiến là phù hợp - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
h ìn bảng thống kê trên không có ý kiến nào nói thời lượng hoàn toàn không phù hợp, có 15,79% ý kiến là thời lượng chương trình tiếng Anh là rất phù hợp, nhưng có tới 57.89% cho rằng chưa phù hợp lắm và chỉ có 26.32% ý kiến là phù hợp (Trang 41)
Nhìn vào bảng tổng hợp điểm của sinh viên cho thấy: Sinh viên chuyên ngữ  đạt  mức  khá  giỏi  cao  hơn  so  với  sinh  viên  không  chuyên  ngữ - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
h ìn vào bảng tổng hợp điểm của sinh viên cho thấy: Sinh viên chuyên ngữ đạt mức khá giỏi cao hơn so với sinh viên không chuyên ngữ (Trang 42)
Bảng 2.9: Ý kiến của giảng viên về phương pháp dạy bộ môn. - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.9 Ý kiến của giảng viên về phương pháp dạy bộ môn (Trang 43)
Bảng 2.10 Ý kiến sinh viên về phương pháp dạy học của giáo viên. - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.10 Ý kiến sinh viên về phương pháp dạy học của giáo viên (Trang 44)
Bảng 2.11. Ý kiến của giảng viên về công tác kiểm tra nề nếp. - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.11. Ý kiến của giảng viên về công tác kiểm tra nề nếp (Trang 45)
Với bảng khảo sát trên chúng ta có thể thấy công tác quản lý ở khoa ngoại ngữ chưa được tốt lắm và thực tế công tác quản lý giảng dạy tiếng Anh của khoa  được thể hiện cụ thể như sau:  - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
i bảng khảo sát trên chúng ta có thể thấy công tác quản lý ở khoa ngoại ngữ chưa được tốt lắm và thực tế công tác quản lý giảng dạy tiếng Anh của khoa được thể hiện cụ thể như sau: (Trang 46)
Về việc quản lí chẩt lượng giảng dạy của giảng viên bảng 2.12 cho thấy: - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
vi ệc quản lí chẩt lượng giảng dạy của giảng viên bảng 2.12 cho thấy: (Trang 47)
Trong tình hình hiện nay để quản lí giảng viên tốt theo họ cần phát huy vai trò lãnh đạo từ tổ đến khoa chuyên môn, phát huy tính tích cực năng động của  từng  giảng  viên  thông  qua  khâu  tuyển  chọn  và  phân  công - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
rong tình hình hiện nay để quản lí giảng viên tốt theo họ cần phát huy vai trò lãnh đạo từ tổ đến khoa chuyên môn, phát huy tính tích cực năng động của từng giảng viên thông qua khâu tuyển chọn và phân công (Trang 48)
Đối với các lớp chuyên Anh thì hình thức kiểm tra đa dạng hơn: vấn đáp, viết, trắc nghiệm, … - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
i với các lớp chuyên Anh thì hình thức kiểm tra đa dạng hơn: vấn đáp, viết, trắc nghiệm, … (Trang 53)
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của giảng viên về tổ chức, kiểm tra đánh giá kết quả học tập  sinh viên   - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của giảng viên về tổ chức, kiểm tra đánh giá kết quả học tập sinh viên (Trang 53)
Bảng 3.2: Tổng hợp ý kiến đánh giá tính khả thi của việc thực hiện các giải  pháp  nâng  cao  hiệu  quả  tổ  chức  hoạt  động  dạy  học  môn  Tiếng  Anh  tại                 Trường Đại học Quảng Nam - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 3.2 Tổng hợp ý kiến đánh giá tính khả thi của việc thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại Trường Đại học Quảng Nam (Trang 80)
NỘI DUNG GIẢI PHÁP - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
NỘI DUNG GIẢI PHÁP (Trang 80)
3.5.2. Kiểm chứng mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
3.5.2. Kiểm chứng mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp (Trang 81)
Bảng 3. 3: Kết quả điểm trung bình mức độ cần thiết và tính khả thi của - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
Bảng 3. 3: Kết quả điểm trung bình mức độ cần thiết và tính khả thi của (Trang 81)
Theo số liệu đánh giá ở bảng 3.3 cho thấy mức độ cần thiết và mức độ khả thi có mối tương quan chặt chẽ với nhau, cả hai đều đạt trên mức trung bình: từ  3.0 đến 4.0 điểm, điều này cho thấy rằng các biện pháp quản lí dạy và học môn  Tiếng Anh mà tác giả đ - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
heo số liệu đánh giá ở bảng 3.3 cho thấy mức độ cần thiết và mức độ khả thi có mối tương quan chặt chẽ với nhau, cả hai đều đạt trên mức trung bình: từ 3.0 đến 4.0 điểm, điều này cho thấy rằng các biện pháp quản lí dạy và học môn Tiếng Anh mà tác giả đ (Trang 83)
Mang tính hình thức Nội dung sơ sài  - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
ang tính hình thức Nội dung sơ sài (Trang 94)
13. Theo bạn giáo viên nên sử dụng hình thức nào để kiểm tra, đánh giá sinh viên trong học tập bộ môn Tiếng Anh?    - Một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng anh ở trường đại học quảng nam
13. Theo bạn giáo viên nên sử dụng hình thức nào để kiểm tra, đánh giá sinh viên trong học tập bộ môn Tiếng Anh? (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w