BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ TRỌNG SƠN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN QUAN HOÁ, TỈNH THANH HOÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ TRỌNG SƠN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN QUAN HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.05
Vinh - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ TRỌNG SƠN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN QUAN HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Sỹ Tùng
Vinh - 2010
Trang 3lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tôi
đã nhận đ-ợc sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo, nhiều thầy giáo, cô giáo, các bạn
đồng nghiệp và gia đình
Tôi chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu; Khoa Sau đại học; Hội đồng khoa học tr-ờng Đại học Vinh; các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suôt quá trình học tập và viết Luận văn; Tôi chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá; UBND huyện Quan Hoá; Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quan Hoá; các thầy giáo, cô giáo; đội ngũ cán bộ quản
lý của 18 tr-ờng tiểu học trong huyện Quan Hoá cùng đông đảo bạn bè đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi, tham gia đóng góp những ý kiến quý báu cho việc nghiên cứu Đề tài Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS TS Ngô Sỹ Tùng - Ng-ời h-ớng dẫn khoa học
đã tận tâm trau dồi t- duy, bồi d-ỡng kiến thức, ph-ơng pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này
Mặc dầu đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận đ-ợc những lời chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao
đổi của các bạn đồng nghiệp để Luận văn đ-ợc hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 10
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường tiểu học ……… 15
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 15
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài. 15
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 16
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 18
1.2.1.Quản lí, quản lí giáo dục,quản lí nhà trường 18
1.2.1.1.Khái niệm Quản lý 18
1.2.1.2 Quản lý giáo dục 21
1.2.1.3.Quản lý nhà trường 22
1.2.2.Khái niệm cán bộ,cán bộ lãnh đạo,cán bộ quản lí: 23
1.2.2.1.Khái niệm cán bộ: 24
1.2.2.2.Khái niệm cán bộ lãnh đạo và khái niệm cán bộ quản lí: 24
1.2.3.Cán bộ quản lí giáo dục, cán bộ quản lí trường tiểu học: 26
1.2.3.1.Cán bộ quản lí giáo dục 26
1.2.3.2.Cán bộ quản lí trường tiểu học 26
1.2.4 Chất lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học… 29
1.2.4.1 Quan niệm về chất lượng 29
1.2.4.2 Chất lượng của người CBQL trường học 31
1.2.5 Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
trường tiểu học……… 34
1.2.5.1.Giải pháp 34
1.2.5.2.Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học . 34
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 34
Trang 51.3.1 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân : 34
1.3.1.1 Vị trí trường tiểu học 34
1.3.1.2 Mục tiêu đào tạo của trường tiểu học 35
1.3.1.3 Nhiệm vụ của trường tiểu học 36
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng CBQL trường TH 37
1.3.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quả lý 38
1.3.4 Một số yếu tố quản lý có tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 39
1.3.4.1 Chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL 39
1.3.4.2 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ CBQL 39
1.3.4.3 Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý 40
1.3.4.4 Thực thi kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý 41
1.3.4.5 Đánh giá chất lượng cán bộ quản lý 41
Kết luận chương 1 42
Chương 2: Thực trạng của đội ngũ cán bộ quản lý các trường Tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá 43
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục của huyện Quan Hoá , tỉnh Thanh Hoá 43
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế -xã hội của huyện Quan Hoá tỉnh Thanh Hoá 43
2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học của huyện Quan Hoá tỉnh Thanh Hoá 44
2.1.2.1 Thuận lợi 44
2.1.2.2 Khã kh¨n 45
Trang 62.2 Thực trạng giáo dục tiểu học ở huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá….46
2.2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh tiểu học 46
2.2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Quan Hoá 48
2.2.2.1 Về số lượng 48
2.2.2.2 Về trình độ đào tạo và chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu hoc 48
2.2.2.3 Về cơ cấu ĐNGV tiểu học huyện Quan Hoá 50
2.2.3 Thực trạng chất lượng giáo dục tiểu học 52
2.2.4 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 54
2.2.5 Thực trạng đội ngũ CBQL các trường tiểu học huyện Quan Hoá 56
2.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL các trường tiểu học huyện Quan Hoá 57
2.3.1 Về số lượng và cơ cấu 57
2.3.2 Về chất lượng CBQL 60
2.3.3 Nhận định chung về đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Quan Hoá 65
2.4 Thực trạng các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ Quản lý các trường tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá 68
2.4.1 Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý 68
2.4.2 Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý 69
2.4.3 Đánh giá, tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển đội ngũ cán bộ quản lý 70
2.4.4 Về chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý 73
2.5 Đánh giá nguyên nhân 75
Kết luận chương 2 76
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý các trường Tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá 77
Trang 73.1 Các căn cứ để xây dựng giải pháp về nâng cao chất lượng đội
ngũ CBQL trường Tiểu học 77
3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu……… ………77
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp chế……… 78
3.1.3 Nguyên tắc toàn diện……….78
3.1.4 Nguyên tắc khả thi……… 78
3.1.5 Nguyên tắc hiệu quả……….78
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá 78
3.2.1.Đổi mới công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng, luân chuyển cán bộ quản lý……… 79
3.2.2 Tăng cường công tác xây dựng quy hoạch CBQL trườngTH ……83
3.2.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường TH ……… 86
3.2.4 Xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ trong công tác quản lý … 91
3.2.5 Hoàn thiện chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý 92
3.2.6 Cụ thể hoá quy trình đánh giá cán bộ quản lý 96
3.2.7 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với cán bộ quản lý 99
3.3 Tổ chức thực hiện các giải pháp 102
3.3.1 Thực hiện đồng bộ các giải pháp 102
3.3.2 Khai thác các yếu tố thực hiện 102
3.4 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 103
Kết luận chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 8CÁC CHỨ VIẾT TẮT
Trang 928 THPT Trung học phổ thông
30 CNH - HĐH Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, chúng ta đã
có những thay đổi mạnh mẽ về cơ chế, chính sách, về kinh tế chính trị, văn hoá -
xã hội Đặc biệt là công tác Giáo dục - Đào tạo đã được khẳng định rất rõ trong
đường lối chính trị của đảng: “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho sự phát triển ” [1,tr.69] Để Giáo dục và đào tạo phát
triển và đảm đương được sứ mệnh của mình thì một trong những nhân tố quan trọng là phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ cán bộ cán bộ nói chung và cán bộ quản
lý giáo dục nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ Đó chính là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của xã hội
Khi nói về tầm quan trọng của công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc ”, “Muốn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém ”, “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong”
[15,tr.67]
Chất lượng giáo dục - đào tạo là thước đo thành quả của quá trình dạy học Giáo dục và Đào tạo gắn liền với con người là nguồn gốc của sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy, “thực sự coi giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội”.[17, tr.168]
Chiến lược công tác cán bộ có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của sự nghiệp cách mạng cũng như sự nghiệp giáo
dục - đào tạo Vì vậy “Phải thường xuyên quán triệt quan điểm coi cán bộ là
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; phải kiên trì lãnh đạo và
Trang 11thường xuyên chăm lo nâng cao chất lượng sự nghiệp GD&ĐT để chuẩn bị nguồn nhân lực cho phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.[2,tr.261]
Giáo dục tiểu học là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục tiểu học đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu phát triển toàn diện về quy
mô, đa dạng về loại hình trường - lớp, với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Muốn giải quyết tốt mâu thuẫn trên, đòi hỏi chúng ta phải đề xuất một
hệ thống các giải pháp, trong đó giải pháp quyết định có quan hệ đến yếu tố con
người như Bác Hồ đã dạy “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc
thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.[16,tr.269]
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của bậc tiểu học, đội ngũ CBQL có một vai trò hết sức quan trọng Vì vậy, nâng cao chất lượng CBQL trường tiểu học là một vấn đề góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục nói chung nhằm phát triển GD-ĐT
Quan Hoá là một huyện cao của tỉnh Thanh Hoá, trong những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chính vì vậy mà đời sống của đồng bào các dân tộc trong huyện tuy đã được nâng lên, nhưng so với mặt bằng chung của xã hội thì điều kiện Kinh tế - Xã hội của đồng bào còn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Chính vì vậy giáo dục chịu ảnh hưởng khá lớn từ những điều kiện khó khăn trên Chất lượng các cấp học, bậc học chưa được nâng cao Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy
và học còn thiếu thốn khá nhiều cụ thể là tại các điểm trường lẻ của bậc tiểu học Đặc biệt, đội ngũ cán bộ cán bộ quản lý hay có những biến động do phải thuyên chuyển công tác về xuôi, trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ quản
lý còn có những hạn chế
Trong thời điểm hiện nay, toàn ngành giáo dục đang tiếp tục thực hiện chỉ thị 40 của ban Bí thư TW Đảng về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về chất lượng đội ngũ
Trang 12CBQL trường tiểu học trên địa bàn huyện chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu nhiều Chính vì lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các
trường Tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh HoḔ với mong muốn góp
phần khiêm tốn của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường Tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
4 Giả thuyết khoa học:
Nếu chúng ta xây dựng được các giải pháp một cách khoa học, có tính khả thi thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ CBQL ở các trường tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng đội ngũ CBQL các trường tiểu học:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên nói chung, chất lượng cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá nói riêng
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài:
Trang 13Khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng chất lượng đội cán bộ quản
lý và giáo viên tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá trên cơ sở khoa học, toàn diện, khách quan, trung thực, công khai, công bằng, minh bạch theo chuẩn Nghề nghiệp giáo viên Tiểu học hiện hành
5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá:
Đề ra các giải pháp cụ thể về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá một cách thiết thực, phù hợp với xu thế phát triển giáo dục ở địa phương
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản lãnh đạo và quản lý, các công trình và các tài liệu khoa học; nhóm phương pháp này được sử dụng nhằm xây dựng hoặc chuẩn hóa các khái niệm, các thuật ngữ; chỉ ra các cơ
sở lý luận, thực hiện các phán đoán và suy luận, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tri thức đã có
6.2 Nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp quan sát
Người nghiên cứu tiếp cận và xem xét hoạt động quản lý của đội ngũ cán
bộ quản lý trường tiểu học Mục đích chính của việc sử dụng phương pháp này
là tìm hiểu về thực trạng chất lượng các mặt hoạt động quản lý theo chức năng
và nhiệm vụ của cán bộ quản lý trường tiểu học; đồng thời nhờ phương pháp này, người nghiên cứu có thể khẳng định thực trạng việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
6.2.2 Phương pháp điều tra
Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ yếu là thu thập các số liệu nhằm minh chứng thực trạng chất lượng
Trang 14đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học và thực trạng công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học
6.2.3 Phương pháp chuyên gia
Bằng việc soạn thảo hệ thống các câu hỏi về tính hợp lý và khả thi của các giải pháp quản lý gửi tới các chuyên gia (các cán bộ quản lý trường tiểu học, lãnh đạo các tổ chức, đoàn thể của trường tiểu học, cán bộ quản lý và chuyên viên làm công tác quản lý của Phòng Nội vụ, Phòng Giáo dục…); phương pháp này được sử dụng với mục đích xin ý kiến của các chuyên gia về tính hợp lý và khả thi của các giải pháp quản lý được đề xuất
6.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Bằng việc sử dụng một số thuật toán thống kê áp dụng trong nghiên cứu giáo dục; phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra
7 Cấu trúc luận văn Luận văn được chia làm 3 phần:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận văn có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
CBQL các trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng vấn đề chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục bậc tiểu học ở huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý các trường tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
8 Đóng góp của luận văn:
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm về quản lý giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học
- Chỉ ra được thực trạng của đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Trang 15- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng CBQL các trường TH huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá
- Giúp cho cán bộ quản lý làm việc khoa học hơn; năng động, sáng tạo trong công tác; phân công trách nhiệm rõ ràng, hợp lý, khoa học; có ý thức trách nhiệm trong công việc
- Công tác chỉ đạo điều hành được nâng lên, cơ chế phối hợp trong công tác giữa các đơn vị trường tiểu học đạt hiệu quả tốt hơn
Chương I
Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
các trường tiểu học
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về quản
lý giáo dục như: “Những vấn đề về quản lý trường trường học” (P.V Zimin ,M.I Kôđacốp), “Cơ sở lý luận của khoa học QLGD ”( M.I Kôđacốp)
Nghiên cứu về vai trò quản lý, các nhà lý luận quản lý Quốc tế như :Fiederich Wiliam Taylor (1856-1915) - Mỹ; Hemri Fayol (1841-1925 ) - Pháp; Max Weber (1864-1920)- Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển của xã hội Quả đúng như vậy, trong bất
kỳ lĩnh vực nào của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò quan trọng trong việc vận hành và phát triển Ở lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, quản lý là nhân tố giữ vai trò then chốt trong công việc đảm bảo và nâng cao chất lượng Bởi vậy, đã có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng cán bộ quản
lý ở các lĩnh vực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây như: V.AXukhomlinki; V.Pxtrezincondin; đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng về công tác quản lý trường
Trang 16học Trong đó, các tác giả đã khẳng định: Hiệu trưởng là nhà lãnh đạo toàn diện
và chịu trách nhiệm trong công tác quản lí nhà trường; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất tốt tâm huyết với nghề quản lí, có năng lực, trình độ quản
lí vững vàng, luôn phát huy tính sáng tạo trong quá trình quản lí và ngày càng vững vàng về nghiệp vụ quản lí Đó chính là yếu tố quyết định thành công trong công tác quản lí của người hiệu trưởng Bởi vậy, các nhà nghiên cứu thống nhất : Việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh(1890-1969) lúc sinh thời rất quan tâm đến giáo
dục & Đào tạo nước nhà Khi bàn về công tác giáo dục Người khẳng định: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.[16,tr.269]
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ được Hồ Chí Minh và Đảng ta dày công chăm lo Sự chăm lo ấy không chỉ thể hiện trong lý luận mà còn thể hiện trong hoạt động thực tiễn Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, nghị quyết, quy định về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, về xây dựng đôi ngũ nhà giáo và CBQLGD nói riêng Thời gian qua, Trung ương Đảng đã mở hội nghị chuyên đề về công tác cán bộ, chuyên đề về giáo dục như hội nghị TW4 (khoá VII) về Giáo dục - Đào tạo, Hội nghị TW2 ( khoá VIII) về Giáo dục - Đào tạo và Khoa học - Công nghệ, Hội nghị TW3( khoá VIII) về công tác cán bộ, Hội nghị TW6 (khoá IX) về Giáo dục - Đào tạo và công tác cán bộ Gần đây, BCHTW Đảng ( khoá IX) có chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/06/2004 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục
Hiện nay, đã có khá nhiều công trình, bài viết của nhiều tác giả bàn về lý
Trang 17luận quản lý trường học và các hoạt động quản lý nhà trường như: “Đại cương
về khoa học quản lý” của PGS TS Trần Hữu Cát và TS Đoàn Minh Duệ ( NXB Nghệ An); “Khoa học tổ chức và và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB thống kê Hà Nội năm1999); Tâm lý xã hội trong quản lý” của Ngô Công Hoàn ( NXBĐHQG Hà Nội); Tập bài giảng “Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường của PGS TS Thái Văn Thành trường Đại học Vinh … Đây là những công trình khoa học nghiên cứu hết sức công phu, có tính lý luận và thực tiễn cao, đã đóng góp to lớn vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng quản lý giáo dục
Đặc biệt, ngày nay trong sự nghiệp đổi mới của đất nước vấn đề “Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý” là một đề tài hết sức quan trọng, chính vì vậy, đã
có không ít các nhà nghiên cứu, nhà quản lý giáo dục tại các địa phương đã nghiên cứu vấn đề này
- Nguyễn Sinh Tại - Công tác quản lý cán bộ huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá
- Hoàng Phú - Xây dựng và quy trình đánh giá CBQL trường TH huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An Luận văn Thạc sĩ khoa học GD, Đại học Vinh năm
2008
- Lương Nguyễn Duy Thanh – Một số giải pháp quản lý hoạt động Dạy - Học ở các trường Tiểu học vùng sâu huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Luận văn Thạc sĩ khoa học GD, Đại học Vinh năm 2008
- Phạm Văn Thành - Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường THCS huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Nhìn chung, các đề tài này đã đề cập đến mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề “Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý” và chỉ ra một số biện pháp, giải pháp khắc phục khó khăn trước mắt Song, đa số những giải pháp của các đề tài mới chỉ dừng lại ở mức độ giải quyết những vấn đề cục bộ ở từng địa phương
Trang 18riêng lẻ Nói chung, các đề tài này còn nhiều vấn đề cần được làm rõ thêm, cần được giải quyết Chính vì vậy, đây cũng cũng là vấn đề chủ yếu mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu tại luận văn này
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1 Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường:
1.2.1.1 Khái niệm Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người có sự hợp tác với nhau thì hoạt động quản lý đã được hình thành Ở đâu có nhóm xã hội, dù là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, nhóm chính thức hay không chính thức… thì ở đó cần đến hoạt động quản lí Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng quản lí vào trong việc tổ
chức hoạt động của mình
Khi bàn đến hoạt động quản lý, cần bắt đầu từ khái niệm “tổ chức” Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động với một mục đích chung nào đó, để đạt được mục đích đó một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến
Bất kỳ một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần có sự quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục tiêu của mình Vậy khái niệm quản lý là gì?
Có nhiều cách hiểu về quản lý, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau
- Theo từ điển tiếng Việt thông dụng của tác giả Nguyễn Như Ý: “Quản lý
là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [34,tr.616]
- Theo tác giả Thái Văn Thành: “Quản lí là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí”[24,tr.5]
- Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong
Trang 19điều kiện biến đổi của môi trường”[26,tr.43]
Bàn về vấn đề tổ chức, quản lý trong cuốn khoa học tổ chức và quản lý đồng chí Vũ Oanh, nguyên ủy viên Bộ Chính trị đã viết: “Tổ chức và quản lý theo nghĩa rộng là tổ chức và quản lý trong mọi lĩnh vực đời sống và hoạt động của xã hội, từ một tế bào nhỏ nhất của xã hội là gia đình, đến những tổ chức kinh tế xã hội… mang tính cộng đồng, dân tộc và tổ chức rộng lớn hơn mang tính quốc tế… “Khi đã có tổ chức thì không thể không có công tác quản lý Nói đến tổ chức và quản lý trong hoạt động xã hội là nói đến mối quan hệ sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của một chỉnh thể” [2,tr.16]
Hoạt động quản lý có thể được miêu tả qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Mô hình về quản lí
Qua những định nghĩa trên ta thấy rõ QL có những nét đặc trưng cơ bản
về bản chất của hoạt động Quản lí như sau:
- Quản lí gồm hai thành phần là chủ thể và khách thể quản lí “Ai quản lí”:
Đó là chủ thể QL Chủ thể QL có thể là một người hoặc một tổ chức “ Quản lí ai”, “Quản lí cái gì?”, “Quản lí sự việc gì?” đó là khách thể quản lí Khách thể
QL có thể là người, tổ chức hay là sự vật cụ thể, cũng có khi khách thể là người,
tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lí cấp dưới thấp hơn
Môi trường quản lí
Cộng cụ
QL
Phương pháp QL
Chủ thể
QL
Khách thể QL tiêu QL Mục
Trang 20- Ngày nay quản lí được định nghĩa: Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng phối hợp các chức năng kế-tổ-đạo-kiểm ( kế hoạch hoá-tổ chức-chỉ đạo-kiểm tra)
Theo chúng tôi: Quản lý là hoạt động có định hướng chủ định của chủ thể
QL (Người quản lí) đến khách thể QL ( người bị quản lí ) Trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách người QL phải biết vận dụng các chức năng kế hoạch hoá - tổ chức - chỉ đạo và kiểm tra
- Chức năng kế hoạch hoá: Đưa ra mọi HĐ của nhà trường vào công tác
kế hoạch với mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định cụ thể các điều kiện để thực hiện mục tiêu trên
- Chức năng tổ chức: Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với nhiệm vụ, mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, thúc đẩy, giám sát, điều chỉnh
và phối hợp các lực lượng trong nhà trường, tích cực hăng hái, chủ động làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có sự đánh giá đúng Kiểm tra thực chất là quá trình thiết lập mối quan hệ ngược trong QL giúp chủ thể QL điều chỉnh tối ưu hiệu quả QL của mình
Ngoài 4 chức năng cơ bản trên, trong quá trình QL còn có hai vấn đề quan trọng đó là: Thông tin quản lí và quyết định quản lí
- Thông tin là mạch máu lưu thông tin tức giữa các bộ phận, đảm bảo cho
bộ máy hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong QL Quá trình QL phụ thuộc chặt chẽ vào các thông tin các thông tin phụ vụ cho hoạt động QL được gọi là thông tin QL
- Quyết định là công việc xuyên suốt các hoạt động của người QL, bất kể
ở cấp nào Do đó người QL phải ra quyết định để giải quyết những vấn đề nảy
Trang 21sinh trong hoạt động của tổ chức, trong quan hệ qua lại giữa tổ chức và môi trường Như vậy quyết định QL là hành vi sáng tạo của chủ thể QL nhằm định ra chương trình, mục tiêu, tính chất hoạt động của những người và những cấp có thẩm quyền
Chúng ta có thể xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các chức năng quản
lý vai trò thông tin bằng sơ đồ:
Sơ đồ 2: Các chức năng quản lý
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quản lí nói chung và quản lí giáo dục nói riêng Kết quả đã được ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lí nhà trường và mang lại một số kết quả nhất định
Cũng như khái niệm quản lí, khái niện quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tiêu chuẩn nhà trường XHCN Việt Nam Mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”[19,tr.35]
Trang 22- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân”[4,tr.3]
Từ những quan điểm trên ta thấy: Bản chất của hoạt động quản lí giáo dục
là quản lí hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lý theo những những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả như mong muốn
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Trường học là cấp cơ sở của hệ thống giáo dục Trường học là nơi trực tiếp đào tạo học sinh, sinh viên, nơi thực thi mọi chủ trương đường lối, chế độ, chính sách, nội dung, phương pháp, hình thức, tính chất giáo dục Trường học cũng là nơi trực tiếp diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học của bộ máy hoạt động giáo dục
Điều 48 Luật Giáo dục 2005 đã ghi rõ: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [5,tr.18]
Trường học là một hệ thống xã hội, nó nằm trong môi trường xã hội và nó
tác động qua lại với môi trường đó, nên: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” và
“Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [19,tr.35]
Cũng có thể coi QL là một hệ thống bao gồm 6 thành tố:
Trang 236- Trường sở và thiết bị dạy học
Ngoài ra, người cán bộ QL trường học cần phải có những mối quan hệ với môi trường giáo dục và hoạt động xã hội, nên cũng có thể thêm hai yếu tố bên ngoài: Môi trường giáo dục, các lực lượng xã hội và kết quả giáo dục
Các yếu tố hợp thành quá trình giáo dục vừa có tính độc lập tương đối và
có nét đặc trưng riêng của mình có quan hệ mật thiết với nhau, tác động tương
hỗ lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất Có thể biểu hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ 3: Các yếu tố hợp thành quá trình giáo dục
Sự liên kết của các thành tố này phụ thuộc rất lớn vào chủ thể quản lý, nói cách khác, người quản lý biết “khâu nối” các thành tố lại với nhau, biết tác động vào cả quá trình giáo dục hoặc tăng thành tố làm cho quá trình vận động tới mục
tiêu đã định, tạo được kết quả giáo dục, đào tạo của nhà trường
1.2.2 Khái niệm cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lí
MT
HS
ND CSVC
PP
GV
Quản lý
Trang 241.2.2.2 Khái niệm cán bộ lãnh đạo và khái niệm cán bộ quản lí:
Theo từ điển bách khoa Việt Nam(1995), CBQL là: “Người làm công tác
có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [29,tr.105]
Giáo trình Khoa học quản lý đưa ra khái niệm: “CBQL là các cá nhân thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý” Mỗi CBQL nhận trách nhiệm trong bộ máy quản lý bằng một trong hai hình thức tuyển cử và bổ nhiệm [24,tr.295]
CBQL là chủ thể, gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên
CBQL có thể là trưởng, phó trưởng của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về công việc được phân công
Đội ngũ CBQL là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị - xã hội của
Trang 25đất nước, là một trong những nhân tố có tính quyết định sự thành công hay thất bại của một hệ thống quản lý và hiệu quả các hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, giáo dục… Ngày nay, lao động quản lý có xu hướng nâng cao và trở thành một bộ phận quan trọng của cơ cấu lao động xã hội, là một nghề có cơ cấu phức tạp trong cơ cấu sản xuất xã hội được chuyên môn hóa, hợp tác hóa sâu sắc
Vai trò của CBQL ngày càng tăng, thực chất là do đòi hỏi ở người cán bộ khả năng phát huy nhân tố chủ quan, có bản lĩnh, tri thức và năng động trên cơ
sở các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của công cuộc đổi mới đất nước
Theo tác giả Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sâm: Khái niệm CBLĐ được chia làm 2 phần:
- Thành phần thứ nhất được hiểu theo nghĩa rộng:
CBLĐ bao gồm những ai giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức , có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của một tổ chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của bộ máy.[27,tr.35]
- Thành phần thứ hai trong khái niệm CBLĐ là người cầm đầu trong một tổ chức quốc gia Họ là nhóm lãnh đạo tầm vĩ mô Thế giới gọi đây là nhóm lãnh đạo chính trị quốc gia, Ở nước ta nhóm lãnh đạo chính trị tầm quốc gia này còn gọi là lãnh đạo cao cấp, chủ chốt.[27,tr.37]
Khái niệm CBQL và CBLĐ là hai khái niệm gắn liền với nhau, đều được hiểu là những người có chức vụ, có trách nhiệm điều hành và cầm đầu trong một
tổ chức Cả hai đều có vai trò định hướng, điều khiển hoạt động của bộ máy và
là chủ thể ra quyết định điều khiển hoạt động của một tổ chức Người CBLĐ phải thực hiện chức năng lãnh đạo đồng thời cũng phải thực hiện chức năng của người quản lí Tuy nhiên hai khái niệm trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau
Trang 26+ Quản lí bao gồm việc tổ chức các nguồn lực, việc kế hoạch hoá, việc tạo
ra các hoạt động để đạt mục tiêu phát triển
+ Lãnh đạo ngoài việc tổ chức hoạt động còn là việc làm thế nào để tập hợp được lực lượng tiến hành hoạt động có hiệu quả [25,tr.29]
Như vậy, trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách Còn hoạt động quản lí mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định trước
Trong nhà trường, người Hiệu trưởng vừa với tư cách là người lãnh đạo, vừa với tư cách là người quản lí phải biết suy nghĩ về những nhu cầu cần thiết trong quá trình xây dựng chương trình phát triển nhà trường Bất cứ lúc nào cũng phải nghĩ đến học sinh, phải quan tâm đến nhu cầu phát triển của giáo viên , đặc biệt là nhu cầu phát triển nghề nghiệp [25,tr.30]
1.2.3 Cán bộ quản lí giáo dục, cán bộ quản lí trường tiểu học:
1.2.3.1 Cán bộ quản lí giáo dục:
CBQL giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lí, điều hành CBQLGD là những người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức hệ thống giáo dục Người CBQLGD là người có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức giáo dục để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt mục đích giáo dục
1.2.3.2 Cán bộ quản lí trường tiểu học:
CBQL trường tiểu học là người đại diện cho nhà nước về mặt pháp lí Có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lí cấp trên về tổ chức và hoạt động giáo dục của nhà trường Có vai trò ra quyết định quản lí, tác động điều khiển các thành tố trong các hệ thống nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo,
Trang 27được quy định bằng pháp luật hoặc bằng văn bản, thông tư, hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành
CBQL trường tiểu học bao gồm Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng
- Hiệu trưởng:
+ Hiệu trưởng trường TH là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường Hiệu trưởng do Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc trương đương bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập , công nhận đối với trường tiểu học tư thục theo đề nghị của trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo Nhiệm kì của HT trường công lập là 5 năm; hết nhiệm kì HT được luân chuyển đến một trường tiểu học khác lân cận hoặc theo yêu cầu điều động Hiệu trưởng chỉ được quản lí một trường tiểu học
Sau mỗi năm học, HT trường TH được cấp có thẩm quền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường
+ Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm hiệu trưởng trường tiểu học phải là giáo viên có thời gian dạy học ít nhất là 3 năm ở cấp tiểu học, đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ QL, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực quản lí trươờnghọc và có sức khoẻ Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc được công nhận hiệu trưởng có thể có thời gian dạy ít hơn theo quy định
- Phó hiệu trưởng:
+ Phó hiệu trưởng là người giúp việc cho HT và chịu trách nhiệm trước
HT, phó hiệu trưởng do Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc cấp tương đương bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với trường TH tư thục theo đề nghị của trưởng phòng Giáo dục và đào tạo…
+ Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm phó HT trường TH phải có thời gian dạy học ít nhất 2 năm ở cấp TH, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực quản lí trường học và có sức
Trang 28khoẻ Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc được công nhận phó hiệu trưởng có thể có thời gian dạy ít hơn theo quy định.[6,tr.9]
Chức năng , nhiệm vụ của người cán bộ quản lí trường tiểu học
Điều lệ trường TH đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng như sau
* Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dựng quy hoạch và phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục từng năm học; báo cáo đánh giá kết quả thực hiện trước hội đồng nhà trường và các cấp có thẩm quyền
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của của hội đồng nhà trường, trình các cấp có thẩm quyền quyết định
- Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định
- Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguốn tài chính, tài sản của nhà trường
- Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trong địa bàn nhà trường phụ trách
- Dự các lớp về bồi dưỡng chính trị, chuyên môn nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng các chế độ chính sách theo quy định
- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính
Trang 29trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng
* Phó Hiệu trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Chịu trách nhiệm điều hành công việc do hiệu trưởng phân công
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quan 4 tiết trong một tuần; được hưởng các chế độ chính sách theo quy định [6,tr.9]
Vì vậy, để đạt được những mục tiêu của nhà trường, CBQL cùng với đội ngũ GV phải là một thể thống nhất mà chất lượng và hiệu quả giáo dục được quyết định bởi chất lượng từng thành viên, số lượng, cơ cấu và chất lượng của đội ngũ
Để đáp ứng được vị trí vai trò và thực hiện được nhiệm vụ của mình, người CBQL nói chung, người CBQL trường TH nói riêng phải có những phẩm chất và năng lực đảm bảo chất lượng cao
Vai trò, trách nhiệm của người CBQLGD: Luật Giáo dục năm 2005 tại điều 16 đã quy định vai trò, trách nhiệm của người CBQLGD [5,tr.29]
1.2.4 Chất lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học
1.2.4.1 Quan niệm về chất lượng:
- Theo tri thức triết học: “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị
những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là thuộc tính khách quan của
sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, sự gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật” [31,tr.71]
- Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Chất lượng là cái làm nên phẩm
chất, giá trị của con người, sự vật” [30,tr.331] Hoặc “Chất lượng là tổng thể
Trang 30những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với (sự việc) khác”
- Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 8402: Chất lượng là tập hợp những đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn
Như vậy, vận dụng quan điểm này vào việc đánh giá chất lượng cán bộ nói chung và đội ngũ CBQL giáo dục nói riêng thì cần phải so sánh kết quả các hoạt động của cán bộ đó với các chuẩn quy định hay những mục tiêu của các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của họ
Có nhiều quan điểm nhận diện chất lượng, trong đó có 6 quan điểm về đánh giá chất lượng có thể vận dụng vào nhận diện chất lượng (nói chung) như:
“Chất lượng được đánh giá đầu vào, chất lượng được đánh giá bằng đầu ra, chất lượng được đánh giá bằng giá trị gia tăng, chất lượng được đánh giá bằng giá trị học thuật, chất lượng được đánh giá bằng văn hóa tổ chức riêng và chất lượng được đánh giá bằng kiểm toán” [8,tr.56]
Ngoài 6 quan điểm về đánh giá chất lượng nêu trên, còn có các quan điểm
về chất lượng như:
- Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn quy định
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
- Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích
- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Qua những khái niệm, cách tiếp cận và những quan điểm đánh giá chất lượng nêu trên, có thể nhận diện chất lượng cán bộ quản lý ở hai mặt chủ yếu là
phẩm chất và năng lực của họ trong việc thực hiện các quy định về chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của họ qua các biểu hiện chủ yếu dưới đây
Phẩm chất được thể hiện ở các mặt như phẩm chất tâm lý, phẩm chất trí tuệ, phẩm chất ý chí và phẩm chất sức khỏe thể chất và tâm trí
Trang 31- “Phẩm chất tâm lý là những đặc điểm thuộc tính tâm lý nói lên mặt đức
(theo nghĩa rộng) của một nhân cách” [31,tr.427] Nó bao hàm cả đặc điểm tích cực lẫn tiêu cực theo hàm nghĩa đạo lý và có thể chi ra các cấp độ: xu hướng, phẩm chất, ý chí, đạo đức, tư cách, hành vi và tác phong
- “Phẩm chất trí tuệ là những đặc điểm bảo đảm cho hoạt động nhận thức
của một con người đạt kết quả tốt, bao gồm phẩm chất của tri giác (óc quan sát), của trí nhớ (nhớ nhanh, chính xác,…), của tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và chú
ý”.[31,tr.427]
- “Phẩm chất ý chí là mặt quan trọng trong nhân cách bao gồm những đặc
điểm nói lên một người có ý chí tốt: Có chí hướng, có tính mục đích, quyết
đoán, đấu tranh bản thân cao, có tinh thần vượt khó” [31,tr.427] Phẩm chất ý
chí giữ vai trò quan trọng, nhiều khi quyết định đối với hoạt động của con người
- Ngoài ra, trong thực tiễn phát triển xã hội hiện nay, các nhà khoa học
còn đề cập tới phẩm chất sức khỏe thể chất và tâm trí của con người; nó bao
gồm các mặt rèn luyện sức khỏe, tránh và khắc phục những ảnh hưởng của một
số bệnh mang tính rào cản cho hoạt động của con người như chán nản, uể oải, muốn nghỉ công tác, sức khỏe giảm sút,…
1.2.4.2 Chất lượng của người CBQL trường học:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”; “Có cán
bộ tốt việc gì cũng xong” Người đã coi cấu trúc nhân cách là “Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm” và “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”[18,tr.315]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng khoá VIII đã nêu tiêu chuẩn chung (chất lượng) của cán bộ trong thời kì mới, ta thấy nổi lên hai yếu tố là: Phẩm chất và năng lực
Trang 32* Về phẩm chất:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước
- Có bản lĩnh chính trị rõ ràng, trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lí tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí, công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có ý thức tổ chức kỉ luật, trung thực không cơ hội gắn bó mật thiết với nhân dân được nhân dân tín nhiệm
* Về năng lực:
- Có trình độ hiểu biết lí luận chính trị, quan điểm, đường lối của đảng chính sách Pháp luật của nhà nước, có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
- Có ý thức về khoa học lãnh đạo và quản lí
- Đối với cán bộ quản lí giáo dục đã có trong quy định về mục tiêu và kế hoạch đào tạo của trường phổ thông do Bộ GD&ĐT quy định
* Tư tưởng - chính trị đạo đức của CBQL là: Phải một lòng một dạ trung
thành với Tổ quốc Việt Nam XHCN, có tinh thần làm chủ tập thể, giàu tình thương, trọng lẽ phải, trung thực và khiêm tốn, cần cù và giản dị, gắn bó với nhân dân lao động, không ngừng học tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tự bồi dưỡng
về văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, gương mẫu chấp hành dường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, làm tốt nhiệm vụ được giao, nêu gương sáng cho học sinh noi theo
* Về văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ: “Phải sớm đạt trình độ đào tạo
chuẩn do Bộ GD&ĐT quy định, thực hiện các chương trình bồi dưỡng thường xuyên, không ngừng học tập, rèn luyện để có năng lực dạy tốt các môn học, tổ
Trang 33chức hướng dẫn tốt các hoạt động GD được phân công tham gia tổ chức kết hợp Giáo dục và phát huy vai trò của các lực lượng xã hội”
- Trong điều lệ trường TH nêu tiêu chuẩn của CBQL trường tiểu học: “ Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng là giáo viên đạt chuẩn quy định, đã dạy học 5 năm ở bậc tiểu học hoặc bậc cao hơn, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực quản lí, được bồi dưỡng lí luận và nghiệp vụ quản lí giáo dục, có sức khoẻ, được tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm”
- Chất lượng đội ngũ CBQL trường học còn được xác định qua năng lực
của cán bộ Trước hết “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông
thạo, tức là có thể thực hiện được một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó” [31,tr.41]
- Năng lực gắn liền với phẩm chất tâm lý, phẩm chất trí tuệ, phẩm chất ý chí và phẩm chất sức khỏe thể chất và tâm trí của cá nhân Năng lực có thể được phát triển trên cơ sở kết quả hoạt động của con người và kết quả phát triển của
xã hội (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân,…)
- Khi tiếp cận chất lượng của người CBQL giáo dục thì phải gắn với nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn đã được quy định cho họ Cụ thể: chất lượng đội ngũ CBQL trường TH phải gắn hoạt động quản lý nhà trường của họ
- Chất lượng của một số lĩnh vực hoạt động nào đó của người CBQL giáo dục thể hiện ở hai mặt phẩm chất và năng lực cần có để đạt tới mục tiêu của lĩnh vực hoạt động đó với kết quả cao Cụ thể: chất lượng đội ngũ CBQL trường TH được biểu hiện ở phẩm chất và năng lực cần có của họ, để họ tiến hành hoạt động quản lý của họ đạt tới mục tiêu quản lý đã đề ra
Như vậy, với tài và đức hay nói cách khác phẩm chất và năng lực là hai yếu tố cơ bản đan quyện vào nhau, cấu thành chất lượng của người CBQL nói chung và CBQL trường tiểu học nói riêng Trong mỗi giai đoạn cách mạng, ở
Trang 34mỗi cương vị công tác đều có những yêu cầu cơ bản về phẩm chất và năng lực cán bộ
1.2.5 Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học:
1.2.5.1 Giải pháp:
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: “ Giải pháp là giải quyết một vấn đề nào đó”[34,tr.387] Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những thách thức tác động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định Tựu trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động giải phóng càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn
đề đặt ra Tuy nhiên, để có những giải pháp như vậy cần phải đặt trên những cơ
sở lí luận và thực tiễn đáng tin cậy
1.2.5.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học:
- Nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học là làm cho đội ngũ chất lượng CBQL trường tiểu học ngày càng hoàn thiện ở trình độ cao hơn về tất
cả các yếu tố cấu thành từ số lượng đến phẩm chất, năng lực, trình độ
- Nâng cao chất lượng CBQL trường tiểu học thực chất là quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ làm cho đội ngũ trưởng thành ngang tầm với đòi hỏi yêu cầu của sự nghiệp giáo dục - Đào tạo nói chung và từng nhà trường nói riêng
- Như vậy giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học: Chính là đề cập đến” Cách làm, cách giải quyết” cơ bản quan trọng nhằm làm cho chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học phát triển đạt tới chất lượng tốt hơn
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài:
1.3.1 Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân:
1.3.1.1 Vị trí trường tiểu học:
Trang 35Trong khoản 2 điều 26 luật Giáo dục năm 2005 về hệ thống giáo dục quốc dân ghi rõ Giáo dục phổ thông bao gồm:
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học lớp 1 đến lớp 5 Tuổi của học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi
- Giáo dục THCS thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp 9 Học sinh vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình TH, có độ tuổi là 11 tuổi
- Giáo dục THPT được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến lớp 12 Học sinh vào lớp 10 phải có bằng TNTHCS, có tuổi là 15 tuổi
Điều lệ trường tiểu học quy định vị trí trường tiểu học: Trường tiểu học là
cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học đầu tiên của nghành học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm bước đầu hình thành trình độ học vấn phổ thông cho học sinh Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
1.3.1.2 Mục tiêu đào tạo của trường tiểu học:
- Định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kì CNH - HĐH chỉ rõ: “Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển XH, đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư cho phát triển” [32,tr.127] Trong quá trình phát triển của đất nước, nền GD Việt Nam, hệ thống nhà trường của Việt Nam đang tiến tới hoàn thiện về mục tiêu, nội dung, phương pháp Để phát triện
sự nghiệp GD&ĐT nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước trong lĩnh vực giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Luật GD đã quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân Luật giáo dục chỉ rõ vị trí, nhiệm vụ, tính chất, mục tiêu, nguyên lí, nội dung, phương pháp giáo dục, quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội Trong đó nhà trường giữ vai trò chủ động phối hợp thực hiện mục tiêu giáo dục
Trang 36“Mục tiêu GDPT là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhăm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh học lên hoặc đi sâu vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, mục tiêu đào tạo của nhà trường tiểu học là: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh có nền tảng văn hoá ban đầu vững chắc, có trình độ học vấn nghe, nói, đọc, viết thông thạo, có kĩ naăg tính toán cơ bản, hình thành cho học sinh cơ
sở ban đầu về nhân cách, phổ cập và phát triển” [5,tr.38]
1.3.1.3 Nhiệm vụ của trường tiểu học:
Luật giáo dục và điều lệ trường tiểu học quy định nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học như sau:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành
- Tiếp nhận học sinh, vận động học sinh bỏ học trở lại lớp, thực hiện kế hoạch hoá, phổ cập GDTH trong phạm vị cộng đồng theo quy định của nhà nước
- Quản lí giáo viên và học sinh
- Quản lí và sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động trong phạm vi cộng đồng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Trong các mục tiêu do Liên hợp quốc đề xướng đến năm 2015, thì mục tiêu “Tất cả trẻ em học hết tiểu học” được xếp vị trí thứ 3 trong 8 mục tiêu thiên niên kỷ
Trang 37“Đến năm 2020 có 99% trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học” “Tỷ lệ trẻ
em người dân tộc trong độ tuổi được đến trường ở tiểu học là 90%” “Giáo dục hoà nhập được thực hiện ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo để đến năm
2020 có 70% người khuyết tật và 95% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được học
1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng CBQL trường TH:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW đã nêu rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng , của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”
và “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng bộ máy nhà nước”[30,tr.77] Quan điểm đó nói lên vai trò rất quan trọng và then chốt của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đối với việc xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh Quan điểm đó cũng đặt ra yêu cầu trách nhiệm cao cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cần phải phấn đấu vươn lên nữa để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng
Cán bộ quản lí giáo dục là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng và nhà nước ta Việc nâng cao chất lượng CBQL nói chung và CBQL giáo dục nói riêng trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cấp các ngành
Trong những năm qua công tác GD&ĐT của nước ta đã thu được những thành tựu đáng kể Nhưng hiện nay sự nghiệp GD&ĐT đang đứng trước mâu thuẫn giữa những yêu cầu của sự phát triển nhanh, quy mô lớn với việc gấp rút nâng cao chất lượng trong khả năng điều kiện hạn chế Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng (Khoá 8) đã nêu những thành tựu đạt được của
Trang 38GD&ĐT và những yếu kém về quản lí đã làm cho những mâu thuẫn đó càng trở nên gay gắt Đồng thời nghị quyết cũng đã nêu: “Đổi mới cơ chế quản lí, bồi dưỡng cán bộ, sắp xếp chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy quản lí GD&ĐT” là một trong những giải pháp chủ yếu cho phát triển GD&ĐT
Trường tiểu học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học nền tảng của giáo dục phổ thông Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng CBQL
là một vấn đề lớn để góp phần nâng cao chất lượng phát triển GD&ĐT
Trách nhiệm cá nhân cao trong quá trình đào tạo hiện hành và phát triển trong tương lai của nhà trường có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ Sản phẩm lao động của CBQL giáo dục có tác động rất lớn đến kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
Quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp GD&ĐT đã giúp ta nhận thức được rằng: Người CBQL phải biết hội tất cả các yếu tố lại để điều hành, sử dụng sao cho có hiệu quả nhất
Quản lí yếu kém là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng yếu kém của GD trong những năm qua Việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL mới, giỏi, đa năng là việc làm cần thiết, lâu dài của toàn ngành và mọi cấp Nâng cao chất lượng CBQL trường học nói chung và trường tiểu học nói riêng là nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà trường của chúng ta trong thế kỉ XXI là việc làm cần thiết
1.3.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
Trước hết, công tác tổ chức cán bộ là trách nhiệm của Đảng và Đảng lãnh đạo toàn diện công tác tổ chức cán bộ Từ những quan điểm, đường lối, chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ; các cơ quan quản lý và các CBQL có được định hướng trong việc tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và đào tạo, bồi dưỡng CBQL nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
Trang 39Chỉ thị 40-CT/TW cũng đã nêu rõ: Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ
số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ QLGD.[3,tr.5]
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục Các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương thường xuyên lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách giáo dục, đặc biệt là công tác xã hội hóa giáo dục, công tác chính trị tư tưởng, xây dựng nề nếp kỷ cương; coi việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục là một chỉ tiêu phấn đấu xây dựng và củng cố tổ chức Đảng để thực sự thành hạt nhân lãnh đạo trong nhà trường
Như vậy, quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường Tiểu học nói riêng có mối quan
hệ mật thiết tới sự lãnh đạo của Đảng Khi nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường Tiểu học, ta không thể không đánh giá thực trạng công tác lãnh đạo của Đảng để định ra những giải pháp cần thiết về lĩnh vực này
1.3.4 Một số yếu tố quản lý có tác động đến chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý trường tiểu học
1.3.4.1 Chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL
Kết quả một số hoạt động nào đó của con người nói chung và chất lượng một số hoạt động của con người nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính động lực thúc đẩy hoạt động của con người Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ CBQL còn chứa đựng trong đó những vấn đề mang tính đầu tư cho nhân lực theo dạng tương tự như “tái sản xuất” trong quản lý kinh tế Chính từ vấn đề
có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ mà chất lượng đội ngũ được nâng lên Nhìn chung, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ nói chung và đối với
Trang 40CBQL nói riêng là một trong những hoạt động quản lý cán bộ, công chức của cơ quan quản lý và của người quản lý đối với một tổ chức
1.3.4.2 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ CBQL:
Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán
bộ, công chức nói chung và CBQL nói riêng là công việc thuộc lĩnh vực công tác tổ chức và cán bộ
Tuyển chọn, bổ nhiệm chính xác các CBQL có đủ phẩm chất và năng lực
cho một tổ chức là yếu tố quan trọng để phát triển tổ chức nói chung và thực chất là tạo điều kiện tiên quyết cho tổ chức đó đạt đến mục tiêu của nó Mặt khác, những tiêu chuẩn cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm CBQL lại là những yêu cầu tất yếu cho việc thực hiện kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
Miễn nhiệm CBQL thực chất là làm cho đội ngũ CBQL luôn luôn đảm
bảo các yêu cầu về chuẩn của đội ngũ, không để cho đội ngũ CBQL có những thành viên không đủ yêu cầu Điều đó có nghĩa là một hình thức nâng cao chất lượng đội ngũ
Luân chuyển (có thể hiểu là bao hàm cả điều động) CBQL có tác dụng
làm cho chất lượng đội ngũ được đồng đều trong các tổ chức; mặt khác, lại tạo điều kiện thỏa mãn các yêu cầu của CBQL Hai mặt tác dụng trên gián tiếp làm cho chất lượng CBQL được nâng cao
Qua phân tích trên cho thấy, các hoạt động tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và luân chuyển cán bộ nói chung là các hoạt động trong lĩnh vực quản lý cán bộ Như vậy không thể thiếu được việc đánh giá thực trạng hoạt động của lĩnh vực này; đồng thời không thể thiếu được những giải pháp quản lý khả thi đối với các lĩnh vực đó
1.3.4.3 Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Công tác quy hoạch đội ngũ là một trong những hoạt động quản lý của