Mặt khác, trong các dự án nghiên cứu như: “Thị trường Ireland” 1996 của Roddy và cộng sự; “Chiếc thuật marketing thực phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Đức và Anh” 1997 của Latacz-
Trang 1HỌC VI N TÀI CHÍNH ỆN TÀI CHÍNH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM
NĂM 2018TÁC Đ NG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG LÊN QUYẾT ĐỊNH ỘNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG LÊN QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM HỮU CƠ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ N I ỘNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG LÊN QUYẾT ĐỊNH
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (NLN)
Hà N i , 05/2018 ội , 05/2018
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ 5
1.1Lý luận chung về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 5
1.1.1Nguồn gốc 5
1.1.2Khái niệm 5
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong quy trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 6
1.1.4Đặc điểm 7
1.1.5.Phân loại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 9
1.1.6.Vai trò và ý nghĩa của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 10
1.1.6.1.Vai trò của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với môi trường 10
1.1.6.2.Vai trò của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với con người 11
1.1.6.3.Vai trò của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với sự phát triển bền vững của nông nghiệp 11
1.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng và quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 12
1.2.1.Các lý thuyết hành vi người tiêu dùng 12
1.2.2.Quyết định mua hàng của người tiêu dùng 14
1.2.3.Các nhân tố tác động lên quyết định mua sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của người tiêu dùng 16
1.3.Lý luận về tác động của thuế Giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 20
1.3.1.Lý luận chung về thuế Giá trị gia tăng 20
1.3.1.1.Khái niệm 20
1.3.1.2.Đặc điểm 21
1.3.1.3.Vai trò 22
1.3.2.Sự tác động của thuế Giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 23
Trang 31.4 Mô hình lý thuyết phân tích tác động của Thuế Giá trị gia tăng lên quyết định
mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Tình hình thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội 31
2.1.1.Thời gian xuất hiện thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội 31
2.1.2.Những loại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội 32
2.1.3.Thực trạng thuế Giá trị gia tăng hiện nay áp dụng cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ và các sản phẩm cũng như các ngành sản xuất phụ trợ 36
2.2.Phân tích tác động của thuế Giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội 37
2.2.1.Quá trình tổ chức nghiên cứu 37
2.2.2.Thống kê mô tả các biến liên quan đến mô hình 38
2.2.2.1.Thống kê mô tả biến quan sát Q1 và Q2 38
2.2.2.2.Thống kê mô tả các biến quan sát độc lập 40
2.2.3.Phân tích mô hình và xác định hệ số tương quan giữa quyết định mua hàng và thuế suất thuế Giá trị gia tăng 52
2.2.3.1.Kết quả kiểm định CRONBACH'S ALPHA 52
2.2.3.2.KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA 57
2.2.3.3.Kết quả hồi quy thứ bậc ORDINAL LOGISTIC REGRESSION 60
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG LÊN SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ 73
3.1.Định hướng kiến nghị nhằm kích thích tăng trưởng và phát triển hoạt động sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội 73
3.1.1.Phát triển hoạt động sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trong nước 73
3.1.1.1.Về phía Nhà nước 73
3.1.1.2.Về phía các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 76
3.1.2.Về các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ nhập khẩu 77
3.2.Kiến nghị các chính sách về thuế giá trị gia tăng đối với các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ và các sản phẩm phụ trợ 77
3.2.1.Điều chỉnh thuế suất thuế Giá trị gia tăng đối với các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ và các sản phẩm phụ trợ 77
3.2.1.1.Đối với các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ 77
Trang 43.2.1.2.Đối với sản phẩm phân bón hữu cơ và máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụcho sản xuất nông nghiệp để sản xuất các sản phẩm nông nghiêp hữu cơ 793.2.2.Tăng cường công tác quản lý, kiểm soát thuế giá trị gia tăng đối với các sảnphẩm nông nghiệp nói chung và các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ nói riêng 80KẾT LUẬN 82
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTGT: Giá trị gia tăng
IFOAM: Tổ chức nông nghiệp hữu cơ quốc tếLMCA: Liên minh Châu Âu
NNHC: Nông nghiệp hữu cơ
NSNN: Ngân sách nhà nước
SP NNHC: Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
USDA: Bộ Nông nghiệp Mỹ
VAT: Value Added Tax – Thuế Giá trị gia tăngWHO: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu của con người là vô số và vô hạn, thế nhưng nhu cầu cấp thiết và thiếtyếu nhất của con người chỉ gói gọn trong ba thứ đó là: Không khí, đồ ăn, nước uống,
để có thể sinh tồn Chính vì vậy, dù đã hàng triệu năm trôi qua, trải qua biết bao thờikỳ, biến cố, xã hội ngày càng hiện đại và văn minh lên từ từ, dù mức sống của conngười có dần được nâng cao đến thế nào, thì ba nhu cầu cơ bản đó vẫn không thể thayđổi Trong đó, đặc biệt là vấn đề về thực phẩm, bởi thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe và cuộc sống của con người
Thế nhưng, có một vấn đề nổi cộm trong hơn một thập kỷ trở lại đây đó là: thựcphẩm bẩn Từ những thực phẩm thiết yếu như gạo, thịt, rau củ cho đến những thựcphẩm khác như hoa quả, sữa, bánh kẹo, cà phê… chẳng có một loại thực phẩm nào làtránh khỏi hóa chất độc hại, mất vệ sinh không an toàn Hàng trăm, hàng ngàn vụ việc
ô nhiễm thực phẩm bẩn đã bị cơ quan điều tra bắt gọn tại cơ sở chế biến Rau củ thì bịtiêm chất kích thích, hoa quả thì căng mọng chất bảo quản, các thực phẩm thịt lại càngnghiêm trọng hơn, nhuốm đầy hóa chất, màu thực phẩm Sức khỏe con người đang bị
đe dọa nghiêm trọng, đặt ra một bài toán nan giải cho người tiêu dùng mà hướng giảiquyết duy nhất đó là phải hết sức cẩn thận khi lựa chọn thực phẩm, thứ gọi là lòng tin
có thể bị đặt sai chỗ bất kỳ lúc nào Và cái giá phải trả chính là sức khỏe của chínhngười tiêu dùng và cả gia đình
Chính vì thế, thực phẩm nông nghiệp hữu cơ giống như một lối thoát mới chomỗi người tiêu dùng nói riêng và cả xã hội, cả đất nước, và thế giới nói chung Với haivai trò quan trọng nhất nổi bật đó là đảm bảo an toàn sức khỏe và thân thiện bảo vệmôi trường, SP NNHC được kỳ vọng mở ra một cánh cửa mới bền vững cho cả mộtnền kinh tế nông nghiệp của đất nước Việt Nam, đáp ứng nhu cầu không chỉ trongnước mà còn có cơ hội xuất khẩu tiềm năng Thế nhưng trước hết, để đạt được kỳ vọng
đó, chúng ta phải xây dựng những viên gạch nền tảng đầu tiên, tạo điều kiện để sảnxuất SP NNHC phát triển Muốn vậy, phải thúc đẩy thị trường trong nước, khuyếnkhích người tiêu dùng mua SP NNHC Song, quyết định mua hàng của người tiêudùng SP NNHC phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một tác nhân quan trọng đó làgiá cả, và một “nhân tố chìm” trong giá cả đó là Thuế Giá trị gia tăng
Vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của thuế giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của nguời tiêu dùng sản phẩm hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội” Nghiên cứu nhằm làm rõ bốn câu hỏi lớn: (i)Trên lý thuyết, thuế
GTGT có ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC hay
Trang 9không?; (ii)Nếu có trên phương diện lý thuyết thì sự tác động này có đúng trong thựctế hay không?; (iii)Nếu có thì sự tác động có lớn không, ở mức độ nào?; (iv)Như vậy,Chính phủ cần có chính sách Thuế và các chính sách bổ trợ khác thế nào cho phùhợp? Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn pháp luật về cáctác động cuả thuế GTGT không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễnsâu sắc.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu về những tác nhân ảnh hưởng đến quyết định mua SP NNHC củangười tiêu dùng đã được thực hiện rất phổ biên trên nhiều nước Châu Âu, Châu Mỹ vàrải rác trên thế giới từ hơn hai thập kỷ nay
Thông qua một số nghiên cứu như: “Ai có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
hữu cơ? Bộ hồ sơ về những người lựa chọn mua sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Bắc Ireland.” (1995) của Davies A, và cộng sự; “Nhu cầu sản xuất sản phẩm nông nghiệp hữu cơ” (1994) của Tregear A, và cộng sự; “Động lực thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm nông nghiệp hữu cơ” (2002) của Zanoli R và Naspetti S;… các tác giả
đã chỉ ra một số động lực thúc đẩy sự tiêu dùng SP NNHC của khách hàng bao gồm: íchlợi cho sức khỏe và môi trường, hương vị, giá trị dinh dưỡng, giá cả
Mặt khác, trong các dự án nghiên cứu như: “Thị trường Ireland” (1996) của Roddy và cộng sự; “Chiếc thuật marketing thực phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Đức và
Anh” (1997) của Latacz-Lohmann U, Foster C;… các tác giả tiếp tục nêu ra một số
nhân tố khác như: người dân muốn ủng hộ nền nông nghiệp địa phương, lượng cungtrên thị trường, sự nghi ngờ về tiêu chuẩn kiểm định chất lượng sản phẩm, sự thiếu hụttruyền thông và sự hiểu lầm về quy trình sản xuất SP NNHC
Các nghiên cứu trên cũng đưa ra một số nhân tố về nhân khẩu học như: giới tính,tuổi tác, lượng trẻ em trong gia đình, thu nhập, trình độ học vấn Và theo Ramu
Govindasamy and John Italia đã kết luận, với dự án “Dự đoán về xu hướng tiêu dùng
sản phẩm nông nghiệp hữu” thì trên tổng quát, dù cũng có trường hợp ngoại lệ, nhưng
càng là phụ nữ, gia đình có trẻ em, độ tuổi càng trẻ, trình độ học vấn càng và thu nhập
càng cao thì người đó có xu hướng mua SP NNHC càng nhiều
Cụ thể, trong nghiên cứu “Những yếu tố tác động đến sự tiêu dùng sản phẩm
nông nghiệp hữu cơ của cá nhân” , (2009), Joris Aertsens, Wim Verbeke, Koen
Mondelaers và Guido Van Huylenbroeck đa đưa ra 11 nhân tố: an toàn cho sức khỏe,hương vị, sự tò mò, lợi ích cho môi trường, các yếu tố tâm lý, thu nhập, giới tính, sốlượng trẻ em trong gia đình, tuổi tác, học vấn, nơi ở
Theo “Nghiên cứu thăm dò thái độ và hành vi của người tiêu dùng đối với sản
phẩm nông nghiệp hữu cơ”, (2008), nhóm tác giả Efthimia Tsakiridou, Christina
Trang 10Boutsouki and Yorgos Zotos và Kostantinos Mattas cũng đưa ra 11 nguyên tố baogồm: kiến thức về sản phẩm, giới tính, tình trạng hôn nhân, học vấn, số lượng ngườitrong gia đình, nghề nghiệp, thu nhập, ích lợi với môi trường, chất lượng, nguồn cungtrên thị trường, giá cả.
Dựa vào “Hành vi mua thực phẩm nông nghiệp hữu cơ trên thị trường thực
phẩm Châu Mỹ” (2007), Benjamin M Onyango, William K Hallman và Anne C.
Bellows đã đưa ra 9 nhân tố chủ yếu về mặt nhân khẩu học như: giới tính, độ tuổi,trình độ học vấn, thu nhập, tôn giáo, quốc tịch, chế độ ăn uống, nguồn gốc xuất xứ sảnphẩm, nguồn cung sản phẩm trên thị trường
Như vậy về mặt tổng quan nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy chủ đề về nhữngnhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC đượcnghiên cứu rất phổ biến trên thế giới, một số ít tại Việt Nam, nhưng chưa có dự án nào
đề cập hay nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của nhân tố Thuế GTGT, dù cũng có nhiềutác giả đã cân nhắc nhân tố giá cả Vì thế, vai trò của thuế GTGT và các chính sáchcủa Chính phủ chưa được xem xét kỹ càng
Vì vậy, nhóm nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của thuế giá trị gia tăng đến quyết định mua hàng của nguời tiêu dùng đối với SP NNHC trên địa bàn Hà Nội” Bằng cách sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, nhóm
nghiên cứu tìm hiểu và phân tích sự tác động của các nhân tố, đặc biệt xem xét ảnhhưởng của nhân tố thuế GTGT đến quyết định mua SP NNHC của người tiêu dùng Từ
đó đề xuất các giải pháp và một số kiến nghị về chính sách thuế GTGT để thúc đẩy thịtrường, thúc đẩy tiêu dùng SP NNHC, đẩy mạnh sản xuất, đồng thời mở ra một hướng
đi mới xanh – sạch – bền vững cho nền nông nghiệp và nền kinh tế Việt Nam
1.3 Mục tiêu
Đề tài nghiên cứu nhằm các mục tiêu sau:
-Xây dựng mô hình một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng củangười tiêu dùng SP NNHC trên địa bàn Thành phố Hà Nội
-Sử dụng mô hình này xác định tính chất tác động và đo lường mức độ tác độngcủa các nhân tố tới ý định mua SP NNHC tại Hà Nội
-Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất các kiến nghị cho doanh nghiệp trongngành sản xuất và kinh doanh SP NNHC tại Việt Nam và các cơ quan quản lý Nhànước nhằm thúc đẩy ý định mua SP NNHC tại Hà Nội Từ đó mở ra một hướng đi mớicho nền nông nghiệp và kinh tế của đất nước
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp: nghiên cứu định tính, nghiêncứu định lượng
Trang 11+ Nghiên cứu định tính dùng để tìm ra, bổ sung và lược bỏ, từ đó hoàn thiện cácbiến có tác động đến quyết định của người tiêu dùng đối với thực phẩm nông nghiệphữu cơ, dùng kết quả đó để hoàn thiện bảng hỏi
+ Nghiên cứu định lượng được tiến hành để điều tra mẫu trên diện rộng
Quy trình nghiên cứu:
+ Xây dựng bảng hỏi
+ Điều tra mẫu và thu thập kết quả
+ Kiểm định mô hình
+ Khắc phục các khuyết tật (nếu có)
+ Phân tích Mô hình thu được
1.5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.5.1 Phạm vi nghiên cứu
Dự án nghiên cứu được nghiên cứu ở phạm vi trên địa bàn thành phố Hà Nội, nơi
có dân số đông, hệ thống siêu thị bày bán các SP NNHC đa dạng, phong phú
1.5.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là tác động của thuế Giá trị gia tăng lênquyết định mua hàng của người tiều dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bànThành phố Hà Nội
1.6 Ý nghĩa đề tài
Đề tài nghiên cứu về tác động của thuế giá trị gia tăng đánh trên các sản phẩmnông nghịêp hữu cơ ảnh huởng sâu sắc đến quyết định mua hàng của nguời tiêu dùngtrên địa bàn Hà Nội Từ đó, đưa ra những đề xuất đối với công tác quản lý ban hànhmức thuế suất thuế giá trị gia tăng trên mặt hàng SP NNHC, nhằm tạo điều kiện thuậnlợi nhất cho cung và cầu về loại thực phẩm này trên thị trường
1.7 Bố cục đề tài
Đề tài có bố cục 3 phần như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tác động của thuế giá trị gia tăng tới quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Chương 2: Thực trạng tác động của thuế giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội
Chương 3: Một số đề xuất kiến nghị về thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
1.1Lý luận chung về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
1.1.1 Nguồn gốc
Khi cuộc cách mạng xanh vào đầu thế kỷ trước bùng nổ, phân bón hóa học, thuốctrừ sâu, thuốc kháng sinh, thuốc diệt cỏ, các loại hóa chất kích thích tăng trưởng trongthức ăn động vật… được sử dụng một cách tràn lan, theo đó năng suất từ việc chănnuôi và trồng trọt tăng lên liên tục Chính bắt đầu từ thời điểm này cho đến tận bâygiờ, một bài toán nan giải được đặt ra cho người tiêu dùng: Những thực phẩm đượcsản xuất tràn lan chứa các chất hóa học liệu có gây hại cho sức khỏe con người không?Cũng từ những trăn trở đó, nhiều nhà khoa học đã nảy ra ý tưởng về một loại sản phẩmnông nghiệp xanh – sạch, không sử dụng hóa chất độc hại trong quy trình sản xuất
mang tên “Thực phẩm Nông nghiệp hữu cơ”.
1.1.2 Khái niệm
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), NNHC là hệ thống canh tác và chăn nuôi
tự nhiên, không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc bảo quản… sản xuấttừ các nhà máy hóa chất Vì sản xuất theo cách tự nhiên, nên nền NHHC được cho làlành mạnh, giúp giữ độ phì nhiêu của đất, bảo vệ nguồn nước và giảm thiểu ô nhiễm
môi trường cũng như bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi Đặc điểm hữu cơ
(organic) được nhấn mạnh để phân biệt với những thực phẩm sử dụng nhiều hóa chất
trong quá trình sản xuất, bảo quản cũng như khi chế biến Do đó thực phẩm hữu cơ(organic foods), còn được gọi là thực phẩm thiên nhiên (natural foods) hay thực phẩmlành mạnh (healthy food)
Theo tổ chức NHHC Quốc tế (IFOAM), NNHC là hệ thống sản xuất nông nghiệp
đồng bộ hướng tới thực hiện các quá trình sản xuất với kết quả bảo đảm hệ sinh thái bềnvững, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo với động vật và công bằng xã hội,không sử dụng các hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng phi hữu cơ,tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng cácnguồn hiện có trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy trình sản xuất
“Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ” chính là kết quả của quá trình sản xuất NNHC.
Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA) công bố vào tháng 12 năm 2000, SP NNHC là sản
phẩm chăn nuôi, trồng trọt mà trong quá trình nuôi trồng, bảo quản và chế biến khôngsử dụng chất hóa học độc hai như thuốc trừ sâu, phân bón tổng hợp, công nghệ sinhhọc, phóng xạ hóa học,… kể cả phụ gia thực phẩm như chất làm ngọt, chất bảo quản,màu thực phẩm, bột ngọt Đồng thời, để được mang nhãn SP NNHC theo quy chuẩn
Trang 13của USDA, toàn bộ quá trình từ sản xuất cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêudùng phải được giám sát thường xuyên, kiểm định chặt chẽ bởi cơ quan USDA Sảnphẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt mới được dán nhãn NNHC khiđưa ra thị trường Nơi sản xuất SP NNHC cũng phải tuân theo nhiều tiêu chuẩn nhưphải nằm trong một hệ sinh thái đảm bảo, cách xa các nhà máy công nghiệp, đườngquốc lộ; nguồn nước sử dụng phải được kiểm định dư lượng kim loại và chất độc tựnhiên thấp, là nước giếng sạch, không phải nước sông.
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong quy trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
(1) Nguyên tắc “Sức khỏe” trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không
phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo Tổ chức Y tế Thế giới).
Các đối tượng cần được quan tâm trong nhóm sức khỏe trong NNHC là: đất, câytrồng, gia súc, con người
Nếu chúng ta không quan tâm, chăm sóc đất, cây trồng và gia súc tốt, nhữngnhân tố này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, làm giảm giá trị dinh dưỡng, ẩnchứa mầm bệnh Tiêu dùng SP NNHC không đạt chất lượng sẽ ảnh hưởng đến sứckhỏe của chính chúng ta
Vì thế, có thể thấy sản xuất SP NNHC phải đặt trên nền tảng cân bằng sinh thái,cải thiện đồng thời ngăn chặn tối đa những tác động xấu đến môi trường xung quanh
Đó chính là nền tảng cho sự sống và sự phát triển bền vững của nhân loại
(2) Nguyên tắc “Sinh thái” trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Đảm bảo sự cân bằng hệ sinh thái là một trong những nguyên tắc quan trọngtrong sản xuất NNHC Nguyên tắc này được thực hiện bằng cách thiết kế hệ tự nhiên
mô phỏng và bền vững tại khu vực đất trồng mà nông dân sử dụng canh tác và sảnxuất nông nghiệp
Đây được xem là nguyên tắc giúp nông dân có thể tận dụng được các thiên địchkhắc chế, phòng ngừa sâu bệnh cho cây trồng, bảo tồn tài nguyên sinh vật đa dạng.Đặc biệt nông dân có thể tiết kiệm được chi phí đầu tư vì tận dụng đượcnguồn phân bón hữu cơ từ gia súc, vật nuôi, phân xanh tại nhà nhưng vẫn đạt đượcnăng suất ổn định Nông sản khi được bán ra thị trường luôn có giá thành cao hơn sovới các sản phẩm cùng loại kém chất lượng vì các sản phẩm kém chất lượng luôn lạmdụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích,
(3) Nguyên tắc “Công bằng” trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Công bằng trong sản xuất NNHC chính là thể hiện sự tôn trọng, bình đẳng vàcông lý dành cho mọi sinh vật, không tập trung chăn nuôi một giống loài làm mất cánbằng sinh thái
Trang 14Bởi mỗi sinh vật khi chúng xuất hiện ở môi trường tự nhiên đều là có vai tròcũng như đóng góp trong việc cân bằng hệ sinh thái tự nhiên.
Nếu như trong quá trình sản xuất nông nghiệp, chúng ta không có sự công bằngđối với mọi sinh vật sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái tự nhiên nói chung, và hệ sinhthái tự nhiên nói riêng mà chúng ta đang xây dựng
Và hệ quả đó chính là sự bền vững trong sản xuất NNHC sẽ không có độ bền,cũng như sự lâu dài về mặt thời gian
(4) Nguyên tắc “Quan tâm” trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Trong quá trình sản xuất, nếu chúng ta chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà khôngquan tâm đến việc bảo vệ môi trường, cũng như bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng thì khicung cấp nông sản bẩn, nông sản kém chất lượng sẽ gây ảnh hưởng đến cả một thế hệtrong tương lại
Việc bức tử, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên lãng phí, không hợp lý sẽkhiến chúng cạn kiệt, như vậy, những thế hệ tương lai sau này sẽ gặp rất nhiều khókhăn để khắc phục hiện trạng mất cân bằng trong môi trường sống cũng như tìm kiếmnguồn tài nguyên mới để thay thế nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt Vì vậy, nguyên tắc
“quan tâm” trong sản xuất NNHC chính là thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và hướng tớixây dựng một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai, có trách nhiệm với một thế hệtương lai vững mạnh
1.1.4 Đặc điểm
Có thể thấy, SP NNHC được sản xuất và chế biến từ nguồn nguyên liệu sạch,trên dây chuyền vô trùng, sử dụng liệu pháp chăm bón tự nhiên như nhổ cỏ bằng tay,dùng cuốc dọn cỏ và sử dụng các loại phân bón tự nhiên như phân chuồng, phânxanh, không sử dụng các loại phân bón hóa học, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, chất bảoquản v.v…hoàn toàn hướng đến tự nhiên
Về cơ bản, SP NHHC có những đặc điểm sau:
(1) Không chứa thuốc trừ sâu, các loại hóa chất độc hại, thành phần biến đổi Gen, hooc môn tăng trưởng, chất phụ gia, chất bảo quản.
(2) Chứa nhiều vitamin, khoáng chất, dinh dưỡng, chất chống oxi hóa, hơn thực phẩm thông thường.
Nhiều nghiên cứu cho thấy quá trình sản xuất, chế biến, bảo quan không sử dụnghóa chất đã giúp SP NNHC giữ được nhiều chất khoáng (như kẽm, sắt), chât chống oxihóa và vitamin (như vitamin C) hơn
Cụ thể một số nghiên cứu tìm ra rằng SP NNHC chứa nhiều hơn thực phẩmthông thường 69% đối với chất chống oxi hóa, 58% đối với vitamin C
(3) Hàm lượng nitrate trong sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thấp hơn 30% so với thực phẩm thông thường.
Trang 15Hàm lượng Nitrate là hàm lượng các muối vô cơ NO2, NO3, dù tự nó không phải
là chất trực tiếp gây ra các bệnh ung thư, nhưng là nghi phạm gián tiếp gây ra ung thưkhi nó có phản ứng hóa học tạo ra muối nitrit Các muối này luôn có sẵn trong thựcphẩm, nhưng ở ngưỡng an toàn Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất và chế biến nếusử dụng nhiều hóa chất độc hại, dư lượng nitrate sẽ trở nên cao hơn bình thường, nếuvượt mức an toàn sẽ gây nguy hại cho cơ thể
Biểu hiện đầu tiên là ngộ độc khi ăn phải thực phẩm chứa quá nhiều muối nitrate
là ngộ độc với triệu chứng khó thở, tím tái… Lâu dài muối nitrat tích tụ trong cơ thể sẽgắn với các amin tạo ra tiền chất gây ung thư dạ dày, ruột, gan… gây hại tới sức khỏengười sử dụng Vì thế các tổ chức y tế trên thế giới thế giới và của Việt Nam đã đưa rakhuyến cáo về ngưỡng nitrat trong thực phẩm (bí xanh giới hạn là 400mg/kg; khoai tây
Tại một số đất nước mà sản xuất và tiêu dùng SP NNHC rất phổ biến và pháttriển như Mỹ, Pháp,… Chính phủ các nước từ lâu đã chỉ đạo cho Bộ Nông nghiệpnước đó xem xét và thiết lập hệ thống tiêu chuẩn đánh giá kiểm định chất lượng SPNNHC vô cùng chặt chẽ và nghiêm ngặt
Cụ thể, theo Bộ nông nghiệp Mỹ USDA, một sản phẩm muốn được gắn nhãn
“hữu cơ” thì không chỉ sản phẩm đó mà cả nhà sản xuất cũng như doanh nghiệp thamgia vào quá trình chế biến sản phẩm đó cũng phải được giám sát, kiểm tra kỹ càng.Nhìn một cách tổng quan, nhà sản xuất sẽ phải chứng minh được họ sản xuất nôngnghiệp nhưng vẫn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cân bằng sinh thái, vàchỉ sử dụng những nguyên liệu, những chất được cho phép bởi Bộ Nông nghiệp trongsản xuất SP NNHC Bộ Nông nghiệp Mỹ sẽ thường xuyên cử thanh tra giám sát (cóbáo trước) hoạt động của nhà sản xuất và doanh nghiệp chế biến để đảm bảo doanhnghiệp thực hiện đúng quy định đã được công bố Tuy nhiên theo quy định của BộNông nghiệp Pháp, Bộ cũng sẽ cử thanh tra giám sát tình hình hoạt động của doanhnghiệp tuy nhiên doanh nghiệp sẽ không được báo trước
Bất cứ một tổ chức nào vi phạm quy định về SP NNHC của USDA đều phải bịxử phạt, bao gồm xử phạt hành chính hoặc USDA sẽ thanh tra, xem xét về việc tướcchứng nhận hữu cơ đã được cấp cho tổ chức đó Bằng cách bảo vệ triệt đệ độ tin cậycủa nhãn mác “hữu cơ” trên sản phẩm, Bộ Nông nghiệp đang bảo vệ cho người tiêudùng theo cách hiệu quả nhất có thể
Trang 16Tuy nhiên, vì kiến thức và hiểu biết về SP NNHC chưa thực sự được phổ biếnrộng rãi trên thị trường, rất nhiều loại nhãn mác “tương tự” khác khiến người tiêu dùng
dễ bị lầm lẫn chúng với nhau Thứ nhất là loại nhãn mác ghi “100% Natural” – 100%
tự nhiên, dù tất nhiên khi sản phẩm được sản xuất, chế biến 100% tự nhiên thì không
thể chứa các thành phần hóa chất độc hại, nghe có vẻ rất giống với SP NNHC, tuynhiên, sự khác biệt là loại nhãn mác này không phải là loại nhãn mác chính thức,không được kiểm định nghiêm ngặt, do đó người tiêu dùng không thể kết luận liệu thật
sự sản phẩm này có phải 100% tự nhiên hay không
Hay như các loại thực phẩm được bày bán trong khu chợ hoặc các siêu thị lớn có
mác “Thực phẩm sạch” “Sạch” ở đây có nghĩa là sản phẩm được sản xuất và chế biến
vẫn sử dụng hóa chất nhưng được thực hiện đúng quy trình và liều lượng, dư lượnghóa chất độc hại dưới mức cho phép, không gây hại quá nhiều cho sức khỏe Dù đâyđược coi là loại sản phẩm khá “an toàn”, nhưng tất nhiên vẫn còn nhiều rủi ro
1.1.5 Phân loại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA ), SP NNHC được phân loại theo tiêu chí
thành phần nguyên liệu được kiểm định là hữu cơ, cụ thể như sau:
(1) “Hữu cơ hoàn toàn” (100% Organic):
Khi sản phẩm được gắn nhãn 100% Organic có nghĩa là toàn bộ nguyên liệu sửdụng trong quá trình sản xuất cũng như bảo quản, chế biến đều đã được kiểm định,chứng nhận hữu cơ bởi cơ quan kiểm định có thẩm quyền, hoàn toàn không chứa vàkhông trồng trên vùng đất chứa phân bón hóa học hay các chất hóa học, biến đổi gen,chất bảo quản…
Đồng thời, cách trồng trọt theo xu hướng hữu cơ tuyệt đối không được gây ảnhhưởng xấu đến cuộc sống của dân cư và hệ sinh thái (ví dụ như làm dơ nguồn nước)hay đến môi trường sống, sự sinh tồn của các sinh vật địa phương
(2) “Hữu cơ” (Organic):
Sản phẩm được gắn mác “Hữu cơ” có nghĩa là tất cả các nguyên liệu trong toàn
bộ quá trình từ sản xuất đến khi đến tay người tiêu dùng đều phải được kiểm địnhchứng nhận là hữu cơ trừ trường hợp được cho phép đặc biệt bởi USDA Tuy nhiên,phần nguyên liệu không phải là hữu cơ chỉ được chiếm dưới 5% trong thành phần củasản phẩm đó (không tính muối và nước vì muối và nước là thành phần tự nhiên) Cụthể, những nguyên liệu phi hữu cơ được cho phép là baking soda, acid citric, một sốloại enzymes,…
(3) “Sản xuất với thành phần hữu cơ” (Made with organic ingredients):
Điều này có nghĩa sản phẩm này có từ 70% đến 94% nguyên liệu hữu cơ đượckiểm định (trừ muối và nước) và được ghi trên sản phẩm là làm từ nguyên liệu hữu cơ(Made with Organic Ingredient), được dãn nhãn kiểm định hữu cơ nhưng phải đảm
Trang 17bảo ghi rõ tỷ lệ % nguyên liệu hữu cơ được kiểm định, số nguyên liệu không phải hữu
cơ được sử dụng cũng phải được sự cho phép, kiểm định kỹ càng của USDA (nhưnhóm 2)
(4) “Có thành phần hữu cơ” (Some organic ingredients)”: dưới 70% hữu cơ
được sử dụng
Những sản phẩm không dược các cơ quan kiểm định giám sát và có ít hơn 70%nguyên liệu là hữu cơ thì nhà sản xuất chỉ được phép liệt kê các nguyên liệu là “hữu
cơ” trên bao bì (trong mục thành phần) nhưng không được dán nhãn kiểm định hữu cơ.
1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Theo nghiên cứu báo cáo từ LMCA cho biết dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ởcác thực phẩm thông thường cao gấp 4 lần thực phẩm NHHC Các hóa chất tồn đọngngấm sâu vào trong sản phẩm không dễ dàng loại bỏ bằng nước hay nước muối nhưchúng ta vẫn thường sử dụng Những hóa chất này không chỉ gồm có thuốc trừ sâu màcòn có cả hooc môn tăng trưởng, thuốc kháng sinh hay các kim loại nặng như chì vàthủy ngân nên đặc biệt nguy hiểm đến sức khỏe của người tiêu dùng
Theo tổ chức NHHC quốc tế IFOAM: “Vai trò của NHHC, dù cho trong canhtác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng, là nhằm mục đích duy trì sức khỏe của hệ sinhthái và các sinh vật từ các sinh vật có kích thước nhỏ nhất sống trong đất đến conngười.”
1.1.6.1 Vai trò của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với môi trường
Canh tác NHHC sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái,tránh việc khai thác quá mức và gây ô nhiễm cho các nguồn lực tự nhiên, giảm thiểuviệc sử dụng năng lượng và các nguồn lực không thể tái tạo, sản xuất đủ lương thực códinh dưỡng, không độc hại, và có chất lượng cao… Ngoài ra, NHHC còn đảm bảo,duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nôngtrại, đặc biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừathay cho cứu chữa, đa dạng các vụ mùa với các loại vật nuôi, phù hợp với điều kiệnđịa phương,…
Các trang trại hữu cơ cung cấp sự đa dạng sinh học cao hơn thông qua việcnuôi nhiều ong, chim, côn trùng có ích Phương thức này cũng có giúp nâng cao chấtlượng nước và đất, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính
SP NNHC còn cung cấp một số hiệu ứng tích cực gián tiếp nhưng cũng vôcùng quan trọng với con người và môi trường Việc nghiêm cấm sử dụng các hóa chấtđộc hại trong sản xuất thực phẩm hữu cơ góp phần giảm ô nhiễm đất và nước
1.1.6.2 Vai trò của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với con người
SP NNHC được kiểm định rất nghiêm ngặt trong quá trình trông trọt cũng nhưchăn nuôi và cả những giống cây được đưa vào nuôi trồng…đảm bảo hoàn toàn không
Trang 18sử dụng phân bón hóa học cũng như hóa chất tổng hợp bảo vệ thực vật Điều này cóảnh hưởng cực kì tốt đến sức khỏe của chúng ta, chúng ta có thể yên tâm hoàn toàn về
sự an toàn cho sức khỏe: giảm nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm dạng nhẹ hay giảm nguy
cơ bị mắc các bệnh về ung thư lâu dài …
Ưu điểm chính của SP NNHC là không có các thành phần phi tự nhiên (có thể
là nguy hại) Nhưng lợi ích của thực phẩm hữu cơ với sức khỏe không dừng lại ở đó.Bởi thực tế, các sản phẩm hữu cơ không được chứa bất kỳ chất bảo quản nhân tạo nào,không có chất thải từ thuốc trừ sâu và chất kích thích tăng trưởng nên hạn sử dụngngắn hơn nhiều Rau quả hữu cơ có vị ngon hơn, nhiều dinh dưỡng hơn Rau quả hữu
cơ có chứa nhiều chất chống ôxy hoá có tác dụng chống các bệnh ung thư hơn các loạithực phẩm canh tác theo phương thức thông thường
Trồng trọt và chăn nuôi theo hướng NNHC mang lại nhiều lợi nhuận hơn – cóthể lên tới 35%, theo các nghiên cứu ở Bắc Mỹ, châu Âu và Ấn Độ - so với phươngthức sản xuất thông thường, đồng thời mang lại nhiều cơ hội việc làm ở nông thôn docần nhiều lao động hơn Đối với người lao động, NNHC giúp họ tránh được sự tiếpxúc với các chất hóa học độc hại một cách triệt để
Việc nghiêm cấm sử dụng các hóa chất độc hại trong sản xuất thực phẩm hữu
cơ góp phần giảm ô nhiễm đất và nước Giảm thiểu ô nhiễm cũng là biện pháp hiệuquả để bảo vệ sức khỏe con người
1.1.6.3 Vai trò của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đối với sự phát triển bền vững của nông nghiệp
NNHC giúp nâng cao giá trị sản phẩm, giảm tối đa tồn dư thuốc bảo vệ thựcvật trong thành phẩm Quan trọng hơn là bảo vệ môi trường đất, nước và không khí, từ
đó kiến tạo môi trường canh tác nông nghiệp an toàn, bền vững cho nông dân
Sản xuất theo hướng hữu cơ tạo môi trường sinh thái tốt đối với những hệ thựcvật, cây cối, sinh vật tồn tại ngẫu nhiên và đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra
Từ những vai trò hết sức quan trọng như trên, nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận:Cần khuyên khích, ủng hộ việc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ Tuy nhiên, dù mang nhiều lợi ích như giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cung cấpviệc làm bền vững và thực phẩm giàu dinh dưỡng, một thách thức khác vẫn đang chờđược giải quyết, đó là vấn đề tăng năng suất của canh tác NNHC để thu hẹp khoảngcách sản lượng với sản phẩm nông nghiệp thông thường và thúc đẩy thị trường SPNNHC phát triển, thúc đẩy tiêu dùng SP NNHC
Nông nghiệp hữu cơ cho thấy những hứa hẹn đáng kể trong nhiều lĩnh vực và vìvậy, cần coi đó là một công cụ quan trọng để phát triển nông nghiệp của cả nước nóichung một cách bền vững hơn
Trang 191.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng và quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
1.2.1 Các lý thuyết hành vi người tiêu dùng.
Theo nghiên cứu của Kita và cộng sự (2002), “Hành vi người tiêu dùng hình
thành một bộ phận quan trọng của hành vi con người” Chính vì thế, chủ đề hành vi
người tiêu dùng đã được rất nhiều nhà tâm lý học và kinh tế học nghiên cứu, thế nhưngđịnh nghĩa về hành vi người tiêu dùng thì lại không cố định mà có thay đổi đôi chút ởmột vài khía cạnh tùy thuộc vào các nghiên cứu và quan điểm của các nhà khoa học
Theo Kotler & Levy (1969): “Hành vi người tiêu dùng là hành vi bao gồm ra
quyết định trong việc mua sắm, sử dụng và xử lý, thải bỏ những hàng hóa và dịch vụ.”
Theo London và Dclla Bitta (1993): “Hành vi khách hàng là quá trình quyết
định và những hoạt động vật chất của họ khi sở hữu, sử dụng và xử lý thải bỏ những hàng hóa và dịch vụ.”
Theo Solomon R Micheal (1996): “Hành vi người tiêu dùng là một tiến trình khi
một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/ dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ”
Cũng vậy, trong nghiên cứu của mình, Leon G Schiffman & Leslie Lazar Kanuk
(1997) đã định nghĩa: “Hành vi người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu
dùng thể hiện trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý thải bỏ sản phẩm và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ”
Với Engal, Blackwell và Miniard (2001) thì, “Hành vi người tiêu dùng là những
hành động liên quan trực tiếp đến việc có được, tiêu dùng và xử lý thải bỏ những hàng hóa và dịch vụ, bao gồm các quá trình quyết định trước và sau những hành động này.”
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết hành vi của người tiêu dùng đãđược các nhà tâm lý học, các nhà khoa học hoàn thành trong nhiều năm vừa qua, trong
đó có thể điểm qua một vài công trình điển hình như: Mô hình hành vi mua của PhilipKotler và cộng sự (2001), Mô hình hành vi người tiêu dùng của Jame F Engel và cộng
sự (1993), Mô hình hành vi người tiêu dùng của Hawkins Mothersbaugh (1980).Ngoài những công trình kinh điển trên, có hai công trình nghiên cứu hiện nay đangđược sử dụng phổ biến để giải thích hành vi mua hàng của người tiêu dùng đó là: “Lýthuyết hành vi hợp lý” (Theory of Reasoned Action) (Fishbein và Ajzen, 1975) và
“Lý thuyết hành vi có kế hoạch” (Theory of Planned Behavior) (Ajzen, 1991)
Hành vi mua hàng của người tiêu dùng thường được nghiên cứu trên nhiềuphương diện, trả lời cho các câu hỏi: Khi nào? Tại sao? Như thế nào? Ở đâu? Có quyếtđịnh mua hay không? Đồng thời các nghiên cứu phải sử dụng kiến thức trên nhiều lĩnhvực như xã hội học, tâm lý học, kinh tế học
Trang 20Điểm chung của các công trình này đó là các nhà khoa học đều kết luận: ý địnhchính là động lực quan trọng quyết định hành vi Trong đó, theo như “Lý thuyết hành
vi hợp lý”, Fishbein và Ajzen đã phân tích rằng ý định chịu ảnh hưởng của thái độ vàchuẩn mực chủ quan Trong đó chuẩn mực chủ quan là nhận thức của con người vềcách ứng xử phù hợp với yêu cầu của xã hội, còn thái độ ở đây hiểu là thái độ mangtính tích cực hoặc tiêu cực của người tiêu dùng với hành vi tiêu dùng đó Qua quá trìnhnghiên cứu, Fishbein và Ajzen có được mô hình sau:
Hình 1.1: Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975)
Nguồn: Ajzen J and Fishbein M (1975) “belief, attitude, intention and behavior An
introduction to theory and research.”
Đến năm 1991, Ajzen tiếp tục nghiên cứu và nhận ra nhược điểm của Mô hình
lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) do đó ông tiếp tục bổ sung và từ đó Lý thuyết hành vi
có kết hoạch (TPB) ra đời Điểm khác biệt giữa TPB và TRA đó là Ajzen đã thêm mộtyếu tố tác động đến ý định của người tiêu dùng đó là nhận thức kiểm soát hành vi.Trên cơ sở đặt ra đó là, một cá nhân có ý định thực hiện mục tiêu, dù đã đủ hai yếu tố
là thái độ và được mọi người xung quanh ủng hộ (chuẩn mực chủ quan), nhưng điềukiện của người đó không cho phép, như vậy chưa chắc cá nhân đó có thể thực hiệnđược hành vi dù có ý định Ví dụ như một cô gái muốn mua một bộ quần áo, cô ấy rấtmuốn mua (thái độ) và được mọi người nhận xét là cô mặc rất đẹp (chuẩn mực chủquan) nhưng cô không đủ tiền, và cô nhận thức được mình không đủ khả năng tàichính, cô không thể mua bộ quần áo đó (nhận thức kiểm soát hành vi) Như vậy ta cóthể định nghĩa nhận thức kiểm soát hành vi là sự tự nhận thức về khả năng thực hiện
Đánh giá về kết quả
của hành vi
Niềm tin vào quy
chuẩn của mọi người
Chuẩn mựcchủ quan
Trang 21hành vi của một cá nhân Nhờ có sự bổ sung này mà Ajzen đã thêm phần hoàn thiệncho Lý thuyết hành vi có kế hoạch, trở thành công trình nghiên cứu được áp dụng phổbiến nhất để lý giải cho hầu hết các hành vi hiện nay.
Hình 1.2: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991)
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp
Trong bài nghiên cứu này, Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch được sử dụng
để làm cơ sở lý thuyết sự tác động của thuế VAT lên quyết định mua hàng của ngườitiêu dùng đối với sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
1.2.2 Quyết định mua hàng của người tiêu dùng.
Quyết định mua hàng
Hình 1.3 Quá trình quyết định mua hàng của người tiêu dùng
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp
Khi có đủ các yếu tố để hình thành ý định mua hàng, từ nơi ý định chuyển thànhhành vi là cả một quá trình gọi là quyết định mua hàng Quá trình quyết định mua hàngcủa người tiêu dùng cũng được nhiều nhà tâm lý học, nhà khoa học nghiên cứu Trong
đó công trình nổi bật nhất được sử dụng làm lý thuyết nghiên cứu và áp dụng vào
nhiều lĩnh vực giải thích tâm lý người tiêu dùng đó là công trình mang tên “Quy trình
5 bước quyết định mua hàng” – “Consumer’s buying process” của Phillip Kotler (một
nhà Marketing nổi tiếng, được gọi là “Ông tổ Marketing”) Theo đó, ông định nghĩa
“quyết định mua hàng của người tiêu dùng” là cả một quá trình trải qua 5 bước, đó là:
Trang 22Hình 1.4 Quy trình 5 bước quyết định mua hàng – Phillip Kotler.
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp Bước 1: Nhận thức về nhu cầu.
Bước này còn được gọi là bước nhận thức được vấn đề Nhu cầu là động lực chínhcủa hành vi mua hàng Ý định mua hàng được hình thành chủ yếu là khi có một nhu cầucần được đáp ứng nảy sinh hoặc một vấn đề nảy sinh được người mua nhận diện
Bước 2: Tìm kiếm thông tin.
Khi người mua đã có hứng thú với một loại hàng hóa, họ sẽ bắt đầu tìm kiếmthông tin, bằng nhiều phương tiện như tạp chí, báo, tivi, đến thăm cửa hàng, hỏi thămngười bán, bạn bè, người thân, … tất cả các nguồn thông tin họ biết đến Do đó, lượngthông tin họ thu thập được sẽ có một phạm vi ảnh hưởng nhất định đến quyết định muahàng, đặc biệt là thông tin từ những người thân, bạn bè, hoặc người đã sử dụng qua sảnphẩm rồi
Bước 3: Xem xét các lựa chọn.
Sau khi đã có hiểu biết về sản phẩm cần mua, người tiêu dùng bắt dầu cân nhắccác lựa chọn trên thị trường Thông thường, người tiêu dùng sẽ lựa chọn sản phẩmkhiến họ hài lòng nhất (bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan) và vẫn phù hợpvới khả năng tài chính Ngoài những yếu tố như chất lượng, thẩm mỹ, giá cả, quyếtđịnh mua bị chi phối bởi nhiều yếu tố mang tính chủ quan như sở thích, ý thức về sự
an toàn cho sức khỏe, ý thức bảo vệ môi trường,…
Bước 4: Ra quyết định mua hàng.
Sau khi xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng, người mua chọn được sản phẩm phù hợp
và thỏa mãn nhu cầu của mình Đó là sản phẩm đáp ứng được nhiều nhất những tiêu
Nhu cầu bên trongNhu cầu bên ngoài
Nhu cầu bên trongNhu cầu bên ngoài
Nh n thức nhu cầu ận thức nhu cầu
mua
Nh n thức nhu cầu ận thức nhu cầu
mua
Bên trong: Kinh nghi m, hiểu biến của bản thân.ệm, hiểu biến của bản thân
Bên ngoài: Bạn bè, người thân, truyền thông,
Bên trong: Kinh nghi m, hiểu biến của bản thân.ệm, hiểu biến của bản thân
Bên ngoài: Bạn bè, người thân, truyền thông,
Tìm kiếm thông tin
Chất lượng, giá cả, nhãn hi u, ệm, hiểu biến của bản thân
Các chương trình khuyến mại,
Chất lượng, giá cả, nhãn hi u, ệm, hiểu biến của bản thân
Các chương trình khuyến mại,
Xem xét các lựa
chọn
Xem xét các lựa
chọn
Số lượng, nơi mua, đ c điểm sản phẩm, ặc điểm sản phẩm,
Số lượng, nơi mua, đ c điểm sản phẩm, ặc điểm sản phẩm,
Ra quyết định mua
Hài lòng: tiếp tục sử dụng trong tương lai
Không hài lòng: không tiếp tục sử dụng lần sau
Hài lòng: tiếp tục sử dụng trong tương lai
Không hài lòng: không tiếp tục sử dụng lần sau
Hành vi sau khi mua
Trang 23chí mà họ đặt ra Đến bước này, nếu không có một số sự tác động của các yêu tố cảntrở không lường trước thì quyết định mua hàng sẽ được đưa ra và trở thành hành vimua hàng.
Bước 5: Hành vi sau khi mua.
Hành vi mua hàng đã được thực hiện dường như chưa phải là dấu chấm hết choquá trình quyết đinh mua hàng Bởi sau một thời gian, sẽ có lúc người tiêu dùng phảitiếp tục mua mặt hàng đó lần nữa, khi ấy, hành vi sau khi mua trở thành một nhân tốquan trọng quyết định xem họ có mua sản phẩm này lần nữa hay không
Mỗi khi sử dụng một loại hàng hóa dịch vụ, chúng ta thường có tâm lý đó là sựmong muốn, hy vọng về lợi ích mà hàng hóa dịch vụ đó đem lại Đến khi thực sự trảinghiệm, thì sự trải nghiệm thực tế so với kỳ vọng ít nhiều có sự chênh lệch Chính sựchênh lệch đó là yếu tố tác động tiếp đến quá trình quyết định mua sản phẩm lần sau.Nếu người mua hài lòng với trải nghiệm về sản phẩm sau khi mua về, họ sẽ tiếp tục tintưởng và chọn mua tiếp loại mặt hàng đó cho lần sau, và ngược lại
Theo Engel, James F.Kollat, David T and Blackwell, Rodger D., trong cuốn
“Hành vi người tiêu dùng” đã đề cập đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng là
một quá trình bao gồm 5 bước cơ bản: (i) Nhận diện nhu cầu; (ii) Tìm kiếm thông tin;(iii) Đo lường và đánh giá; (iv) Mua hàng; (v) Hàng vi sau mua
Quan điểm của Nicosia, Francesco M (nhà quản lý quảng cáo và xã hội,
NewYork), trong cuốn “Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng”, ông nêu ra 5
bước mà người tiêu dùng đi đến quyết định mua hàng như sau: (i) Tìm hiểu nhu cầubản thân; (ii) Tìm hiểu thông tin về nhu cầu thông qua quảng cáo; (iii) Vận dụng kiếnthức cá nhân để phân tích; (iv) Ra quyết định mua; (v) Hành vi sau mua
Nhà kinh tế học Blythe, Jim đã nêu ra quan điểm của cá nhân về quyết định mua
hàng của người tiêu dùng thông qua cuốn “Hành vi người tiêu dùng” (2008) Theo
ông, để đưa ra quyết định mua hàng, người tiêu dùng quan tâm đến việc trả lời các câuhỏi: Như thế nào; Ở đâu; Khi nào; Tại sao
1.2.3 Các nhân tố tác động lên quyết định mua sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của người tiêu dùng.
Mặc dù tại Việt Nam, cụ thể là Hà Nội, SP NNHC vẫn còn rất mới mẻ, tuynhiên trên thị trường thế giới, SP NNHC đã trở thành xu hướng từ gần hai thập kỷtrước Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về SP NNHC và các nhân tố ảnhhưởng đến quyết định mua SP NNHC của người tiêu dùng
Theo Athanasios Krystallis and George Chryssohoidis (2005) trong nghiên cứu
“Những nhân tố tác động đến quyết định mua mỗi loại hình sản phẩm Nông nghiệp
hữu cơ của người tiêu dùng”, nhóm tác giả đưa ra 13 nhân tố bao gồm: tuổi tác, ngành
nghề, thu nhập, giới tính, tình trạng hôn nhân, số trẻ em trong gia đình, trình độ học
Trang 24vấn, xuất xứ sản phẩm, bao bì nhãn mác, giá cả, lợi ích cho môi trường, hàm lượngdinh dưỡng, hương vị, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng sản phẩm.
Còn nhóm nghiên cứu Stewart Lockie, Kristen Lyons, Geoffrey Lawrence, Janet
Grice, (2004) với bài báo cáo: “Nghiên cứu những nhân tố chi phối sự lựa chọn sản
phẩm nông nghiệp hữu cơ của người tiêu dùng trên địa bàn Úc” đã đưa ra 7 nhân tố:
mối nguy hại từ sản phẩm công nghiệp, lợi ích cho sức khỏe, chất lượng sản phẩm, sựthân thiện với môi trường, hương vị, hàm lượng dinh dưỡng, giá cả
Luanne Lohr (2001) thông qua nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến Cầu và
Thương mại Quốc tế đối với sản phẩm Nông nghiệp hữu” đã chỉ ra 5 nhân tố chính
ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ bao gồm: Giá cả; Chấtlượng sản phẩm; Nguồn gốc xuất xứ; Kỹ thuật gen;Các mục tiêu mang tính xã hội
Rene´e Shaw Hughner et al (2007) thông qua nghiên cứu “Những ai có nhu cầu
tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ? Một số lý do tại sao mọi người chọn mua thực phẩm nông nghiệp hữu cơ.” chỉ ra 10 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản
phẩm nông nghiệp hữu cơ gồm: Lợi ích cho sức khỏe; Hương vị thơm ngon; Bảo vệmôi trường sinh thái; An toàn thực phẩm; Hỗ trợ nền kinh tế địa phương; Xu hướng;Giá cả; Nguồn cung trên thị trường; Nhãn mác và các khung tiêu chuẩn kiểm định chấtlượng; Quảng cáo về sản phẩm
Nguyễn Phong Tuấn (2011) với “Nghiên cứu so sánh ý định mua sản phẩm nông
nghiệp hữu cơ giữa người tiêu dùng miền Bắc và Nam Việt Nam” đã chỉ ra 6 nhân tố
ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ, bao gồm: Thái độ bảovệ môi trường sinh thái; Chất lượng sản phẩm; Ý thức bảo vệ sức khỏe; Hiểu biết vềsản phẩm; Chuẩn mực chủ quan; Ý thức an toàn thực phẩm
Dựa vào cơ sở lý thuyết, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhân tố tác động tớiquyết định mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC như sau:
-Chất lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X1 ): Chất lượng sản phẩm là một
trong những yếu tố quan trọng tác động đến quyết định mua sản phẩm Khoảng 20%thức ăn thông thường bị ô nhiễm hoá học, thuốc trừ sâu, những chất nguy hiểm độc hạinày có thể dẫn đến những ảnh hưởng sức khoẻ như ung thư và dị tật bẩm sinh Nguờitiêu dùng quan tâm đến sức khoẻ sẽ có thái độ tích cực hướng tới các sản phẩm hữu cơkhi họ tin rằng nó tốt và khỏe mạnh hơn các lựa chọn thay thế thông thường Kỳ vọngmối tương quan dương (+) giữa biến X1 và quyết định mua hàng của người tiêu dùng
SP NNHC Hệ số tương quan α2 >0
-Thương hiệu, nhãn mác gắn trên sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X2 ): Thương
hiệu, nhãn mác luôn là những nhân tố quan trọng đối với việc lựa chọn một sản phẩmcủa người tiêu dùng Sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, được nhiều người biết đếnbao nhiêu thì sản phẩm đó có độ đáng tin cao bấy nhiêu Nhãn sinh thái có thể được
Trang 25coi là một đảm bảo cho người tiêu dùng rằng sản phẩm được sản xuất theo cách hữu
cơ Kỳ vọng mối tương quan dương (+) giữa biến X2 và quyết định mua hàng củangười tiêu dùng SP NNHC Hệ số tương quan α3>0
-Hiểu biết về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X3 ): Người tiêu dùng sẽ không bao
giờ mua sản phẩm nếu không biết rõ về sản phẩm đó Sự hiểu biết về sản phẩm đượcxác định qua các khía cạnh: Hiểu biết về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất sản phẩm;thông tin về nguồn gốc sản phẩm; tác dụng hữu ích của sản phẩm Kỳ vọng mối tươngquan dương (+) giữa biến X3 và quyết định mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC.Hệ số tương quan α4 >0
-Xu hướng tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X4 ): Trong xã hội công nghệ
thông tin hiện nay, xu hướng trở thành một tác nhân không nhỏ tác động lên tâm lýngười tiêu dùng bởi xu hướng đánh vào tâm lý “số đông” của nhiều người Sự tác độngcủa xu hướng lên quyết định mua sản phẩm được đo lường dựa trên các khía cạnh: khảnăng người tiêu dùng nắm bắt được xu hướng tiêu dùng sản phẩm; việc lựa chọn sảnphẩm của người tiêu dùng có hoàn toàn phụ thuộc vào xu hướng không; người tiêudùng có lựa chọn sản phẩm theo xu hướng cho dù sản phẩm không đáp ứng được nhucầu của mình hay không Kỳ vọng mối tương quan dương (+) giữa biến X4 và quyếtđịnh mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC Hệ số tương quan α5 > 0
-Quảng cáo truyền thông về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X 5 ): Nhân tố này tác
động trực tiếp vào sự hiểu biết về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của người tiêu dùngbởi quảng cáo đưa thông tin sản phẩm đến cho người tiêu dùng theo một cách hợp lý
và hoàn hảo nhất có thể Với nhiều kỹ thuật, chiến thuật về tâm lý, quảng cáo luônnắm bắt được tâm lý người mua để làm nảy sinh nhu cầu mua sản phẩm Kỳ vọng mốitương quan dương (+) giữa biến X5 và quyết định mua hàng của người tiêu dùng SPNNHC Hệ số tương quan α6 > 0
-Yếu tố văn hóa (X6 ): Văn hóa là một giá trị tinh thần đã ăn sâu vào nhận thức
của con người và trở thành một phần của người đó, khiến cho mọi suy nghĩ, hành độngđếu nhuốm màu văn hóa đậm nét Nhân tố được đánh giá dựa trên: Mức độ ảnh hưởngcủa văn hóa và ý thức đạo đức bảo vệ môi trường đến quyết định mua sản phẩm Kỳvọng mối tương quan dương (+) giữa biến X6 và quyết định mua hàng của người tiêudùng SP NNHC Hệ số tương quan α7 > 0
-Yếu tố tâm lý (X7 ): Tâm lý là một trong những yếu tố quan trọng mang tính chủ
quan Dù các điều kiện khách quan có như thế nào thì tâm lý chủ quan vẫn chi phốicách nhìn của con người tiêu dùng Yếu tố này sẽ được đánh giá thông qua: cảm giác,
sở thích; lời khuyên từ gia đình, bạn bè; niềm tin về chất lượng và tính hữu ích; bị tácđộng bởi trào lưu xã hội Kỳ vọng mối tương quan dương (+) giữa biến X7 và quyếtđịnh mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC Hệ số tương quan α8 > 0
Trang 26-Thuế suất thuế GTGT trên sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X8 ): Thuế là một
công cụ của nhà nước để điều tiết kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng trực tiếp đến cung – cầutrên thị trường Cụ thể, thuế suất thuế GTGT sẽ ảnh hưởng đến tăng giá thành sảnxuất, từ đó ảnh hưởng đến cung; tiếp theo ảnh hưởng lên giá cả hàng hóa, dẫn đến ảnhhưởng tới cầu sản phẩm, từ đây tác động đến quyết định mua sản phẩm của người tiêudùng Nhân tố này được đánh giá dựa vào ảnh hưởng của mức thuế suất đánh trên sảnphẩm tới quyết định mua và mức thuế suất người mua mong muốn Kỳ vọng mốitương quan dương (-) giữa biến X8 và quyết định mua hàng của người tiêu dùng SPNNHC Hệ số tương quan α9 < 0
-Giá cả sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X 9 ): Các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
thường có mức giá cao hơn so với các loại sản phẩm thông thường trên thị trường Khigiá cả quá cao chính là tác nhân khiến người tiêu dùng ít lựa chọn các sản phẩm này.Ảnh hưởng của giá cả được xác định dựa trên: Mức độ cân nhắc về giá của sản phẩmkhi mua hàng; mong muốn giá cả giảm xuống của người tiêu dùng; sự ổn định giá cảsản phẩm Kỳ vọng mối tương quan âm (-) giữa biến X2 và quyết định mua hàng củangười tiêu dùng SP NNHC Hệ số tương quan α10 < 0
-Địa điểm bán sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X10 ): Yếu tố này tác động đến chi
phí, thời gian và sự tiện lợi trong việc mua hàng Yếu tố được đánh giá dựa trên: Sựthuận tiện trong quá trình mua sắm, thời gian bỏ ra để mua sản phẩm NNHC Kỳ vọngmối tương quan dương (+) giữa biến X10 và quyết định mua hàng của người tiêu dùng
SP NNHC Hệ số tương quan α11 > 0
-Thu nhập của người tiêu dùng (X11 ): Yếu tố thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng tài chính, khả năng sẵn sàng chi trả và thỏa mãn nhu cầu của người tiêudùng Trong khi ý định mua là điều kiện cần, thì khả năng tài chính là điều kiện đủ để
có quyết định mua sản phẩm Ảnh hưởng của thu nhập được đánh giá trên tỷ lệ thunhập dùng để mua sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ Kỳ vọng mối tương quan dương (+)giữa biến X11 và quyết định mua hàng của người tiêu dùng SP NNHC Hệ số tươngquan α12 > 0
-Chính phủ và chính sách hữu dụng (X12 ): Chính phủ luôn có nhiều công cụ hữu
dụng tác động đến nền kinh tế vĩ mô và vi mô Nhân tố này được đánh giá trên việcngười tiêu dùng có lựa chọn sản phẩm được nhận nhiều ưu đãi từ Chính phủ haykhông Kỳ vọng mối tương quan dương (+) giữa biến X12 và quyết định mua hàng củangười tiêu dùng SP NNHC Hệ số tương quan α13 > 0
Bảng 1.1 Bảng thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của
người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Trang 27Thương hiệu, nhãn mác X2 (+)
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp
1.3 Lý luận về tác động của thuế Giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
1.3.1 Lý luận chung về thuế Giá trị gia tăng.
1.3.1.1 Khái niệm.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có nguồn gốc từ thuế doanh thu Pháp là nước đầu
tiên trên thế giới áp dụng thí điểm trong một số ngành cá biệt từ 01/07/1954 và đến01/01/1968 đưa vào áp dụng chính thức Khai sinh từ nước Pháp, ngay từ buổi đầuthuế GTGT đã đáp ứng được hai mục tiêu cơ bản là đảm bảo số thu kịp thời vào ngânsách nhà nước và khắc phục tình trạng trùng lặp của thuế doanh thu trước đây Do cónhững ưu điểm nổi trội nên ngày càng có nhiều nước trên thế giới đưa thuế GTGT vào
áp dụng Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ
La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuếGTGT Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng loại thuế này và các quốc giakhác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu
Ở Việt Nam, thuế GTGT được bắt đầu nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuếbước 1 (năm 1990) Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá 9, tại kỳ họp lần thứ 11thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01/01/1999, thay chothuế doanh thu trước đây
Theo quy định của Luật thuế GTGT, thuế GTGT (viết tắt là Value Added Tax) làthuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sảnxuất, lưu thông đến tiêu dùng
Trang 281.3.1.2 Đặc điểm
-Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ, làkhoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác, giá cảhàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT Tính gián thu củathuế GTGT biểu hiện: người mua hàng hóa, dịch vụ là nười phải trả khoản thuế nàythông qua giá mua của hàng hóa, dịch vụ Như vậy, người mua không trực tiếp nộpthuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ chongười bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua trả Người bán thựchiện nộp khoản thuế GTGT đã được người mua trả vào NSNN
-Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn Thuế đánh vào tất cả các giaiđoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm củamỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tínhtrên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
-GTGT là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Đại lượngnày có thể được xác định bằng phương pháp cộng hoặc phương pháp trừ Theo phươngpháp cộng, GTGT là trị giá các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm bao gồm tiền công
và lợi nhuận Theo phương pháp trừ, GTGT chính là khoản chênh lệch giữa tổng giátrị sản xuất và tiêu thụ trừ đi tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mua vào tương ứng TổngGTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuốicùng Do vậy tổng số thuế thu được ở tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trêngiá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Đây chính là ưu điểm của thuế GTGT so vớicác gốc của nó là thuế doanh thu, bởi lẽ thuế GTGT đã khắc phục được nhược điểmcủa thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”
-Thuế GTGT là thuế có tính trung lập kinh tế Thuế GTGT không phải yếu tố chiphí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa dịchvụ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộpthuế, bởi trong quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm đượcluân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn không thay đổi Mục tiêu của thuế GTGTkhông phải để trực tiếp điều chỉnh sự chênh lệch về thu nhập hay tài sản Vì vậy, thuếGTGT thường có ít mực thuế suất, ít khi đặt vấn đề miễn, giảm thuế, đảm bảo đơngiản, ít gây ra sự méo mó
-Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập Thuế GTGT đánh vào hànghóa dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, khôngphân biệt thu nhập thấp hay thu nhập cao đều phải trả số thuế như nhau Như vậy nếu
so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cap hơn thì tỷlệ này thấp hơn và ngược lại Đây chính là một nhược điểm của thuế GTGT, vì nó là
Trang 29loại thuế bảo hộ cho người giàu.
1.3.1.3 Vai trò.
Thuế là công cụ đắc lực giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với mọimặt của đời sống xã hội đặc biệt là đối với nền kinh tế với ba mức thuế suất chủ yếu,0%, 5%, 10% Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước, do đó thuế GTGT đóng vai trò rất quan trọng Có thể kể đến những vaitrò cơ bản như sau:
Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi đốitượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, vì thế nó góp phần tạo nên nguồn thu lớn và tươngđối ổn định cho ngân sách Nhà nước Ở Việt Nam hiện nay, thuế GTGT chiếm tỷtrọng khoảng 20% – 23% trong tổng thu từ thuế, phí, lệ phí
Thuế GTGT khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sảnxuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, nâng cao hiệuquả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường Do thuế GTGT không trùng lặp,chỉ tính vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu sản xuất, lưu thông,tiêu dùng, không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đãnộp ở các khâu trước được tính khấu trừ ở khâu sau
Chính sách Thuế GTGT được nhà nước sử dụng để khuyến khích xuất khẩuhàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0% cho nguyên liệu, máy móc đầu vào
và đầu ra khi sản xuất và xuất khẩu hàng hóa
Thuế GTGT thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơnchứng từ và thanh toán qua ngân hàng vì việc tính thuế đầu ra, khấu trừ thuế GTGTđầu vào quy định rõ phải căn cứ trên hóa đơn mua vào, bán ra; hàng hóa xuất khẩumua bán phải thanh toán qua ngân hàng
Thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quảcao Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúcđẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt độngmua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốnlậu thuế
Thuế GTGT giúp nâng cao tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuảngười nộp thuế Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan thuế tạođiều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế Từ đó, tạotâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận vềmức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặtthuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy
đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung đượcnguồn thu thuế GTGT vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở
Trang 30khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu
về thuế
Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuếkhác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu…góp phần làm cho hệ thốngchính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và pháttriển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trênthế giới
1.3.2 Sự tác động của thuế Giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Chính sách thuế của nhà nước có ảnh hưởng to lớn và tác động trực tiếp đến chiphí sản xuất ra SP NNHC, đặc biệt là những chính sách quy định của thuế GTGT.Bằng chính sách của mình, nhà nước có thể điều chỉnh hành vi và tác động đến cácđiều kiện sản xuất các SP NNHC Khi có thể tiến hành sản xuất trong những môitrường dễ dàng hay thuận lợi hơn, chi phí sản xuất của chúng thường hạ và cung vềsản phẩm sẽ tăng Ngược lại, những quy định chính sách khiến cho các quá trình sảnxuất trở nên tốn kém hơn, ít thuận lợi hơn, chi phí sản xuất sẽ tăng lên và cung về sảnphẩm sẽ giảm
Khi nhà nước tăng thuế đánh vào một loại sản phẩm trong chu trình sản xuất racác SP NNHC ( ví dụ như các loại phân bón hữu cơ…) thì chi phí của toàn bộ việc sảnxuất sản phẩm sẽ tăng theo, cung về sản phẩm đó trong trường hợp này sẽ giảm,đường cung sẽ dịch chuyển sang trái và lên trên Khi được giảm thuế, chi phí chung đểsản xuất sản phẩm hạ xuống, dẫn đến cung về sản phẩm tăng, đường cung sẽ dịchchuyển sang phải và xuống dưới
Hình 1.5 Mối quan hệ giữa thuế GTGT và sự dịch chuyển của đường cung
Nguồn: Giáo trình Kinh tế vi mô – Học viện Tài Chính
Giả sử chính phủ đánh mức thuế suất là t/sản phẩm bán ra, người bán hàng sẽ cộng thuế vào giá bán; vì vậy công thức cung từ P =b + aQ thành
P = b + t + aQ.
Trang 31Hình 1.6 Mối quan hệ giữa thuế VAT với cầu của người tiêu dùng và cung của
nhà sản xuất
Nguồn: Sách giáo trình Kinh tế vi mô – Học viện Tài Chính
Như vậy đường cung mới sẽ là St thay vì S như cũ Cân bằng cung cầu chuyển từ E tới E1 Tùy thuộc vào hệ số co giãn của đường cầu mà lượng mua sẽ giảm nhiều hay ít Giá P2 là giá tại sản lượng cân bằng E1 trong khi đáng lẽ người bán phải bán với giá P3=P1+t thì mới đẩy hết thuế về phía người tiêu dùng Vì vậy khi thuế tăng thêm t thì người tiêu dùng sẽ chịu thiệt là b=P2-P1 và nhà sản xuất sẽ chịu thiệt
là a=t-(P2-P1)
Như vậy ta thấy đường cầu càng ít co giãn thì người tiêu dùng càng thiệt và sảnlượng giảm càng ít Chính phủ khi tăng thuế sẽ tập trung vào sản phẩm đường cầu ít cogiãn vì nếu làm ngược lại thì sản lượng giảm khiến cho tổng thu thuế giảm trong khimục đích của tăng thuế là tăng nguồn thu Tuy nhiên, điều này sẽ làm người tiêu dùng
và nhà sản xuất phải chấp nhận chịu thiệt khi sản xuất và tiêu dùng sản phẩm Nhà sảnxuất vì mục tiêu lợi nhuận của mình bắt buộc phải tăng giá thành các sản phẩm bán ratrên thị trường; người tiêu dùng luôn có tâm lý ưa chuộng sản phẩm giá phải chăng màchất lượng tốt, như vậy, trong nhiều trường hợp cung và cầu không thể cân bằng
1.4 Mô hình lý thuyết phân tích tác động của Thuế Giá trị gia tăng lên quyết định mua hàng của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu các mô hình liên quan, nhóm nghiêncứu đề xuất mô hình nghiên cứu phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định muacủa người tiêu dùng đối với các sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Hà Nội, môhình đề xuất trên cơ sở biến phụ thuộc Y và các biến độc lập Xi theo quan hệ của mô hìnhhồi quy Logistic thứ bậc (Ordinal Logistic Regression: OLR) Trong đó:
Biến phụ thuộc Y (quyết định mua hàng của người tiêu dùng đối với các sảnphẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội) được đo lường theo thang
đo bậc 5 Y thu được thông qua biến quan sát Q1 và Q2 trong phiếu khảo sát
Trang 32Mô hình hồi quy OLR được lựa chọn để kiểm định mối tương quan, tác động của
12 nhóm biến độc lập (từ X1 đến X12) đến khả năng quyết định mua hàng của ngườitiêu dùng đối với các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
Trong hồi quy OLR, biến phụ thuộc Y được phân loại theo thứ bậc từ 1 đến 5 củathang đo Likert, tương ứng với các mức: (1) “không bao giờ”, (2) “rất hiếm”, (3)
“thỉnh thoảng”, (4) “thường xuyên”, và (5) “luôn luôn” Nếu gọi P là xác suất để mộtbiến cố xảy ra thì P(Yi ≤ j) là xác suất mà Yi rơi vào một phân loại j và dưới j (trongtrường hợp này 1≤ j ≤5) Do đó hệ số Odds của mô hình được định nghĩa như sau:
Từ đó, mô hình hồi quy Logistic thứ bậc (OLR) được biểu diễn như sau:
Hàm xác suất trên được gọi là hàm phân phối Logistic Trong dạng hàm này, môdình được sử dụng ước lượng hợp lý tối đa (Maximum Likelihood) để ước lượng Các biến độc lập là X1 đến X12, được đo lường qua các câu hỏi Q3 đến Q36 sử dụngthang đo Likert 5 Cụ thể, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm nôngnghiệp hữu cơ bao gồm:
-Chất lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X1 )
-Thương hiệu, nhãn mác gắn trên sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X2 )
-Hiểu biết về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X3 )
-Xu hướng tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X4 )
-Quảng cáo truyền thông về sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X5 )
-Yếu tố văn hóa (X6 )
-Yếu tố tâm lý (X7 )
-Thuế suất thuế GTGT trên sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X8 )
-Giá cả sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X9 )
-Địa điểm bán sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (X10 )
-Thu nhập của người tiêu dùng (X11 )
-Chính phủ và chính sách hữu dụng (X12 )
Kỳ vọng về mối tương quan giữa các nhân tố và quyết định mua hàng của ngườitiêu dùng SP NNHC như sau:
Trang 33Bảng 1.2 Bảng thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của
người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp
Từ các nhân tố trên nhóm nghiên cứu đưa ra bảng hỏi để tiến hành điều tra thựctế sự tác động của các nhân tố đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng SPNNHC Bảng hỏi gồm 34 câu hỏi theo thang đo liker 5 bậc và 4 câu hỏi định tínhmang tính phân loại Tổng số 300 phiếu bảng hỏi đã được phát ra và thu về theonguyên tắc đại diện và ngẫu nhiên 300 người tiêu dùng từ các quận lớn trên địa bànthành phố Hà Nội như Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Hai
Bà Trưng, Thanh Xuân, Hoàng Mai
Bảng 1.3: Giới thiệu thang đo và thống kê mô tả
Nhóm Nội dung các câu hỏi Ý nghĩa và mức
độ thang đo
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn Tình trạng
cơ nguồn gốc nhập khẩu
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng
Trang 34NNHC (X 1 )
phẩm
4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Q4: Chất lượng của sảnphẩm làm hài lòng yêucầu khi sử dụng
Q5: Tin rằng sản phẩmnông nghiệp hữu cơ đượckiểm định chất lượng khibán trên thị trường
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Q7: Tin tưởng vàothương hiệu nhãn mácgán trên sản phẩm
Q8: Những sản phẩm cóthương hiệu, nhãn máccàng nổi tiếng thì ảnhhưởng càng nhiều đếnquyết định mua
2-Thấp3-Trung bình4-Cao
cơ đến sức khoe gia đình
cơ hiện tại
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Q13: Lựa chọn sản phẩm
là do xu hướng tiêu dùngsản phẩm nông nghiệphữu cơ
Trang 35Q14: Vẫn lựa chọn sảnphẩm theo xu hướng mặcdù không đáp ứng đủ yêucầu khi sử dụng
Q16: Tin tưởng quảngcáo khi lựa chọn sảnphẩm để đáp ứng nhu cầucủa mình
Q17: Sản phẩm đáp ứngđược mong muốn của bảnthân khi sử dụng giốngnhư quảng cáo
Q18: Biết đến sản phẩmthông qua tuyên truyềncủa bạn bè và gia đình
Q19: Nhận được tư vấncủa người bán hàng khimua hàng không
Q20: Biết đến sản phẩmthông qua học tập, nghiêncứu tại cơ sở giáo dục
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Q24: Lựa chọn do gia
Q25: Lựa chọn sản phẩm
do niềm tin về chất lượng
và tính hữu ích
Q26: Lựa chọn sản phẩmnông nghiệp hữu cơ do
Trang 36trào lưu tiêu dùng của xã
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Giá cả(X 9 ) Q29: Cân nhắc về giá cả
khi mua sản phẩm nôngnghiệp hữu cơ 1-Không bao giờ
2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Q30: Mong muốn giá cảsản phẩm nông nghiệphữu cơ giảm xuống
Q31: Giá cả sản phẩmnông nghiệp hữu cơ thayđổi
Địa điểm
bán
hàng(X 10 )
Q33: Tốn nhiều thời gian
để đi mua sản phẩm nôngnghiệp hữu cơ
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
1-Rất thấp2-Thấp3-Trung bình4-Cao
1-Không bao giờ2-Rất hiếm3-Thỉnh thoảng4-Thường xuyên5-Luôn luôn
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp và xử lý dữ liệu theo phần mềm SPSS 20
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TỚI QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
HỮU CƠ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Tình hình thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
2.1.1 Thời gian xuất hiện thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
SP NNHC hiện tại đang là xu hướng trên thế giới, tại Việt Nam, cụ thể là Hà Nội,người tiêu dùng cũng đang trên đà bắt kịp xu hướng ấy, nhưng do còn một số bất cập,nên cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách Từ những năm 2000, các nước trênthế giới đã có những dự án quy hoạch hàng triệu hecta để sản xuất thực phẩm Nông
Trang 38nghiệp hữu cơ, các nhà khoa học, tâm lý học, kinh tế học liên tiếp thực hiện hang nghìnnghiên cứu về SP NNHC để ngày càng đào sâu, đổi mới và phát triển Hiện nay trên thịtrường thế giới, SP NNHC được người tiêu dùng rất tin tưởng và ưa chuộng.
Từ những năm 90, nhiều tổ chức phi chính phủ đã sang Việt Nam để nghiên cứ
và xem xét đầu tư các dự án sản xuất SP NNHC Đến năm 2004, những nhóm nôngdân đầu tiên tại Lào Cai, Tuyên Quang, Hòa Bình thử nghiệm với phương pháp canhtác nông nghiệp theo hướng hữu cơ, theo dự án của Trung ương Hội Nông dân ViệtNam phối hợp cùng Tổ chức Phát triển Nông nghiệp Châu Á của Đan Mạch (ADDA).Những sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ đầu tiên phải kể đến đó là rau củ quả, chè, …Qua gần một thập kỷ, diện tích nuôi trồng theo phương pháp Nông nghiệp hữu cơđã tăng gấp 6 lần, thực phẩm Nông nghiệp hữu cơ cũng ngày càng đa dạng, nhưngviệc tiếp cận được đến với người tiêu dùng vẫn còn nhiều hạn chế mặc dù các sảnphẩm Nông nghiệp hữu cơ ra đời đã cả chục năm nay
Chưa có tài liệu thống kê một cách chính xác thời điểm mà những sản phẩmNông nghiệp hữu cơ được tung ra thị trường để đến tay người tiêu dùng Chỉ có thểqua một số thông tin như trên, từ đó suy ra thời gian xuất hiện sản phẩm Nông nghiệphữu cơ tại Hà Nội là khoảng đầu những năm 2000, khi mà hoạt động sản xuất nôngnghiệp theo hướng hữu cơ bắt đầu hình thành tại các tỉnh thành và các sản phẩm đóđược đưa đến Hà Nội để buôn bán Tuy nhiên, từ lúc mới hình thành cho đến nay, vìkhông nhận được nhiều sự quan tâm, khuyến khích, thị trường SP NNHC tại Hà Nộivẫn còn rất ít, manh mún và nhỏ lẻ do còn non nớt và gặp nhiều hạn chế do giá cả caonên khó cạnh tranh, chỉ phù hợp với một bộ phận người tiêu dùng có hiểu biết và cóthu nhập khá cao
Tuy nhiên, 3-4 năm trở lại đây, xu hướng tiêu dùng SP NNHC trên thế giới bắtđầu lan tràn vào thị trường Việt Nam nói chung và thị trường Hà Nội nói riêng, tạo ramột số thay đổi tích cực tuy vẫn chưa có hiệu quả cao và thị trường chưa được mởrộng nhiều Các đại lý, những chuỗi cửa hàng kinh doanh thực phẩm Nông nghiệp hữu
cơ liên tục mọc lên, sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ xuất hiện nhiều hơn trong các hệthống siêu thị lớn Từ đó người tiêu dùng bắt đầu quan tâm hơn và sử dụng sản phẩmNông nghiệp hữu cơ nhiều hơn
Dù thế, vẫn còn nhiều bất cập trong việc quản lý SP NNHC sản xuất trong nước,
do Việt Nam chưa có hệ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng SP NNHC chính thức, do đóchiếc nhãn “hữu cơ” chưa thực sự gây tạo được lòng tin vững vàng nơi người tiêudùng Tại Mỹ, Bộ Nông Nghiệp Mỹ đã từ lâu xây dựng một hệ thống kiểm định chatlượng SP NNHC, những quy định chặt chẽ trong canh tác NNHC, từng nguyên liệuđầu vào đều được kiểm soát, sản phẩm đầu ra đều được giám định kỹ càng Tại một sốnước phát triển ở Châu Âu cũng vậy Có thể đó là lý do tại sao bên cạnh SP NNHC
Trang 39sản xuất trong nước, SP NNHC nhập khẩu cũng rất được ưa chuộng mặc dù giá cả caohơn nhiều.
2.1.2 Những loại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Các SP NNHC ngày càng được người tiêu dùng quan tâm hơn vì những lợi ích,tính an toàn thực phẩm, từ đó tạo nên cầu và thúc đẩy sản xuất NNHC phát triển Rảirác trên các quận ở Hà Nội, các đại lý, chuỗi cửa hàng, các siêu thị kinh doanh SPNNHC ngày càng nhiều, các mặt hàng cũng ngày càng được đa dạng hóa để phù hợpvới nhu cầu của người tiêu dùng
Loại thực phẩm NNHC chủ yếu nhất là rau, củ, các loại hoa quả hữu cơ Các sảnphẩm này thường có nguồn gốc từ nông trại trồng trọt theo hướng hữu cơ tại các tỉnhngoại thành Ngoài ra còn có sữa hữu cơ, mà phổ biến nhất là của hai công ty lớn làVinamilk và TH Truemilk Một lượng nhỏ các cửa hàng có bán các sản phẩm thịt, cáhữu cơ và nông sản khác như chè, gạo, dầu ăn, mật ong, dược liệu, … Tất cả các sảnphẩm đều tươi sạch và được đóng gói cẩn thận hợp vệ sinh
Về phương diện sản xuất nông nghiệp hữu cơ:
Có thể nói rằng, SP NNHC không có được mức tăng trưởng nhanh như sản xuấtnông nghiệp thâm canh Số liệu dưới đây sẽ chứng minh điều này
Trên thế giới, theo Viện Nghiên cứu NNHC (FiBL) và Liên đoàn quốc tế cácphong trào NNHC - IFOAM (2016), đến cuối năm 2014 đã có 172 nước sản xuấtNNHC, với tổng diện tích 43,7 triệu ha (chiếm 0,99% diện tích đất nông nghiệp toàncầu), trong đó 40% ở châu Đại Dương, 27% ở châu Âu, 15% ở Mỹ La Tinh, 8% ởchâu Á, 7% ở Bắc Mỹ và 3% ở châu Phi Ngoài diện tích canh tác hữu cơ, còn có 37,6triệu ha cho thu hái các sản phẩm tự nhiên như mật ong, thủy sản, lâm sản ngoài gỗ,dược liệu , đưa tổng diện tích NNHC lên 81,2 triệu ha
Phần lớn diện tích canh tác hữu cơ là dành cho cây thức ăn chăn nuôi (63%), cònlại là các cây trồng khác Trong đó, diện tích cây lương thực, cà phê, chè, rau, câydược liệu, dừa hữu cơ chiếm tỷ lệ cao (đây sẽ là gợi ý cho Việt Nam về định hướngphát triển sản phẩm hữu cơ cho tương lai) Tuy nhiên, trong 3,35 triệu ha cây lươngthực hữu cơ, chỉ có 8% là lúa, 10% là ngô Còn lại là các sản phẩm thu hái tự nhiênnhư cây dược liệu, nuôi ong, các loại quả có hạt, cây có dầu, nấm chiếm tỷ lệ lớn.Năm 2015 tổng giá trị thương mại sản phẩm hữu cơ toàn cầu (thực phẩm và đồuống) đạt trên 81,6 tỷ USD, trong đó thị trường tiêu thụ lớn nhất là Mỹ (27,1 tỷ USD),Đức (7,9 tỷ USD) và Pháp (4,8 tỷ USD) Tuy nhiên, tính theo mức tiêu thụ sản phẩmhữu cơ trên đầu người/năm thì nhiều nhất lại là Thụy Sỹ (221 EUR), Luxemburg (164EUR) và Đan Mạch (145 EUR) Tốc độ gia tăng giá trị sản phẩm hữu cơ khá cao, từ15,2 (năm 1999) lên 28,7 (năm 2004) và đạt 81,6 tỷ USD (năm 2015)
Tại Việt Nam, giống như nhiều nước khác trên thế giới, nông dân nước ta được
Trang 40hiểu là đã biết canh tác hữu cơ theo cách truyền thống từ hàng nghìn năm nay, nhưngsản xuất NNHC theo khái niệm hiện tại của IFOAM thì mới chỉ được bắt đầu từ cuốinhững năm 90 của thế kỷ trước với một vài sáng kiến, chủ yếu tập trung vào việc khaithác các sản phẩm tự nhiên, chẳng hạn như các loại gia vị, tinh dầu thực vật, mật ong
và dược liệu… để xuất khẩu sang một số nước châu Âu
Theo FiBL và IFOAM (2016), năm 2014 diện tích sản xuất NNHC của Việt Namđạt hơn 43.000 ha, đứng thứ 56/172 nước trên thế giới, thứ 3 trong ASEAN (sauIndonesia và Philippines) Ngoài ra, Việt Nam còn có 20.030 ha mặt nước cho thuhoạch sản phẩm hữu cơ, 2.200 ha cho thu hái tự nhiên, đưa tổng diện tích NNHC củaViệt Nam lên hơn 65.000 ha Diện tích sản xuất NNHC của Việt Nam tăng nhanh, gấp
hơn 3 lần trong giai đoạn 2007-2014 (Bảng 3).
Bảng 2.1 Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ của
Việt Nam 2007-2014.
(Nguồn: Tổ chức phát triển nông nghiệp châu Á của Đan Mạch (ADDA) ở Việt Nam.
Dẫn theo FiBL và IFOAM, 2016).
Về đối tượng sản phẩm hữu cơ, Việt Nam có 2.300 ha ca cao, 220 ha lúa, 151 harau Rất tiếc các cây có tiềm năng như cà phê lại không có diện tích canh tác hữu cơ,trong khi Indonesia có tới 81.522 ha, Lào cũng có 4.301 ha
Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (2017), năm 2016 có 26 cơ sở sản xuất hữu cơ
ở 15 tỉnh, thành phố (Lào Cai, Hòa Bình, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, TháiNguyên, Hà Nội, Hà Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bến Tre,Trà Vinh, Cà Mau) với tổng diện tích hơn 4.100 ha Các cây chủ yếu là dừa (3.052,3ha), chè (538,9 ha), lúa (489,8 ha) và rau (94,1 ha) Trong các tỉnh, Bến Tre có diệntích canh tác hữu cơ nhiều nhất với hơn 3.050 ha (chủ yếu là dừa) Một số mô hình kháhiệu quả như nuôi cá basa hữu cơ tại An Giang, nuôi tôm sinh thái ở rừng ngập mặn
Cà Mau đã có chứng nhận hữu cơ với diện tích khoảng 10.000 ha xuất khẩu sang EU.Một số doanh nghiệp đi đầu trong sản xuất hữu cơ như Công ty Viễn Phú sản xuất lúa
- cá tại Cà Mau với diện tích canh tác trên 250 ha; Công ty Organic Đà Lạt sản xuấtrau hữu cơ… Ngoài ra, cũng có 33 cơ sở sản xuất trồng trọt theo hướng hữu cơ, tức làmới chú trọng đến sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học với 1.197 ha lúa,90,3 ha rau, 284,7 ha nho và 79,4 ha táo, trong đó Ninh Thuận là tỉnh có diện tích lớnnhất (448,3 ha), chủ yếu vẫn là nho (284,7 ha)