Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ thứ XXI, thế kỷ mà nhân loại đã dự báo khoa học – công nghệ tiếp tục phát triển nhảy vọt, đưa loài người từ kỷ nguyên hậu công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan không thể cưỡng lại được Để chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai, đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển như vũ bảo của nền kinh tế tri thức, dù là quốc gia đã phát triển hay là quốc gia đang phát triển thì cải cách, đổi mới giáo dục được coi là chính sách ưu tiên của mọi quốc gia nhằm đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa hiện đại hóa, nó là chìa khóa để đất nước phát triển Bài học thành công của nhiều nước trên thế giới đã chứng minh điều đó
Việt Nam vừa gia nhập WTO, chúng ta đang có những thời cơ lớn, nhưng đồng thời cũng đứng trước những thử thách lớn, một trong những con đường để đưa đất nước hội nhập, phát triển thành công, đó là con đường phát triển giáo dục và đào tạo
Để chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “ Phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản về phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ”
Nghị quyết 40/2000/QH 10 của Quốc hội cũng đã chỉ rõ là phải đổi mới công tác quản lý giáo dục
Trang 3Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước ” [ 9, tr 34 ]
Trong dự thảo chiến lược giáo dục 2009 – 2020, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã nêu 11 nhóm giải pháp chiến lược mang tính đột phá là:
- Đổi mới quản lý giáo dục
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
- Tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân và mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục
- Đổi mới chương trình và tài liệu giáo dục
- Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, kiểm định
và đánh giá các cơ sở giáo dục
- Xã hội hóa giáo dục
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục
- Gắn đào tạo với nhu cầu xã hội
- Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu
- Xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến
Để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, vấn đề đặt ra cho nền giáo dục nước nhà là chất lượng giáo dục Đây là vấn đề được Đảng , Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Làm thế nào để đào tạo ra những con người có khả năng thích ứng với môi trường học tập mới, môi trường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, môi trường lao động xã hội, có khả năng tìm kiếm việc làm phù hợp, thu nhập ổn định, nâng cao cuộc sống cho bản thân, gia đình và xã hội Đây là vấn
đề khó khăn đặt ra cho giáo dục, cho các nhà quản lý giáo dục nói chung và cho các nhà quản lý giáo dục bậc THPT nói riêng
Trang 4Hiện nay đất nước ta còn nghèo, nguồn đầu tư cho giáo dục còn thấp Để phát triển giáo dục nước nhà, đáp ứng nguồn nhân lực cho CNH – HĐH đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp đổi mới quản lý giáo dục, quản lý nhà trường để nâng cao chất lượng dạy học Trong hệ thống nhà trường nói chung, trường THPT nói riêng, dạy học là hoạt động trung tâm, hoạt động chính của nhà trường Việc quản lý dạy học là nhiệm vụ cơ bản của nhà quản lý, hiệu quả quản lý là thước đo đánh giá năng lực quản lý của người hiệu trưởng trường THPT
Vấn đề nâng cao nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT luôn được CBQL giáo giáo dục các cấp quan tâm và đã có nhiều đề tài nghiên cứu Tuy nhiên ở Quận 7, TP Hồ Chí Minh đề tài nầy chưa được nghiên cứu Với trách nhiệm là hiệu trưởng trường THPT, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Những biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh ” với hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là tiếp tục đổi mới công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
2 Mục đích nghiên cứu:
Việc nghiên cứu nhằm lý giải và đề xuất những biện pháp quản lý khả thi, giúp các hiệu trưởng trường THPT có phương pháp quản lý HĐDH trong nhà trường đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT Q7, TP HCM
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Những biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 53.2 Đối tượng nghiên cứu: Là những biện pháp quản lý HĐDH của HT các trường THPT trong Quận 7, TP HCM
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý các hoạt động dạy và học của Hiệu trưởng trường các THPT Quận 7 có thể có những ưu điểm, nhưng hiệu quả giảng dạy chưa cao, nguyên nhân này có thể do:
- Nhận thức về nội dung quản lý HĐDH và mối quan hệ tác động qua lại giữa những nội dung đó của Hiệu trưởng còn hạn chế
- Biện pháp quản lý HĐDH của hiệu trưởng còn thiếu tính khoa học, chưa phù hợp với tình hình thực tiển của nhà trường
- Những khó khăn về đội ngũ giáo viên ( số lượng, chất lượng ) và điều kiện cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy học
- Đầu vào học sinh quá kém
- Những tác động của môi trường kinh tế - xã hội trên địa bàn ảnh hưởng đến việc học của học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường các trường THPT trên địa bàn Quận 7, TP Hồ Chí Minh
- Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả nhằm nâng cao kết quả dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác quản lý dạy và học ở trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 66.3 Nhóm các phương pháp nghiên cứu bổ trợ
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có:
Mở đầu: Giới thiệu khái quát về những vấn đề chung của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT Quận 7, TP Hồ Chí Minh
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 7lý giáo dục
Các tác giả nước ngoài:
Thế kỷ thứ XVII J.A.Komensky, người đầu tiên đã đưa ra kiến nghị đổi mới một cách sâu sắc quá trình dạy học nói chung và hình thức tổ chức dạy học nói riêng Hình thức tổ chức dạy học trên lớp do J.A.Komensky đề xuất là một sáng kiến vĩ đại, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Tư tưởng của J.A.Komensky về tổ chức quá trình dạy học đã được tiếp nối bởi nhiều nhà sư phạm lỗi lạc khác như: M.N.Xcatkin, N.A.Danilốp, B.P.Êxipốp, Dewey
V.A.Xukhomlinxki, V.P.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý của HT trường phổ thông như phân công nhiệm vụ giữa
HT và phó HT Các tác giả thống nhất khẳng định người HT phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lý nhà trường Điều đó sẽ tránh được sự giẫm đạp lên công việc của nhau đồng thời tránh được tình trạng buông lơi một số công việc trong hoạt động của nhà trường
Các tác giả trong nước:
Ở Việt Nam, nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý HĐDH được nhiều tác giả quan tâm như: Phạm Minh Hạc ( 1996 ) với “ Giáo dục Việt Nam
Trang 8trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI ”; Nguyễn Minh Đạo ( 1997 ) với “ Cơ sở của khoa học quản lý ”; Nguyễn Ngọc Quang ( 1990 ) với “ Những khái niệm cơ bản
về quản lý giáo dục”; Nguyễn Ngọc Quang ( 1992 ) với “ Những vấn đề cơ bản
về lý luận quản lý giáo dục ”; Hà Thế Truyền ( 2006 ) với “ Kiểm tra – Thanh tra đánh giá trong giáo dục ” Thái Văn Thành ( 2007 ) với “ Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường ”; Trần Hữu Cát – Đoàn Minh Duệ ( 2007 ) với “ Đại cương khoa học quản lý ”; Những tác phẩm này đã có nhiều đóng góp cho lý luận quản lý giáo dục Việt Nam và trong thực tế công tác quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường THPT trong giai đoạn phát triển hiện nay
Trong những năm qua ở các trường ĐH và các viện nghiên cứu đã có nhiều đề tài luận văn nghiên cứu các vấn đề của quản lý giáo dục bậc THPT Về
đề tài quản lý nâng cao chất lượng dạy học, ở trường ĐH Vinh đã có một số đề tài nghiên cứu bảo vệ luận văn thạc sỹ, trong đó phải kể đến các đề tài: Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường THPT Dân lập ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An ( Trần Hoàng Hà, Luận văn thạc sỹ năm 2006 ), Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ( Nguyễn Ngọc Khánh, Luận văn thạc sỹ năm 2007 ), Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ( Hà Trọng Tân, Luận văn thạc sỹ 2008 ),
Các luận văn đã được đánh giá cao và đã được áp dụng trong thực tế công tác quản lý ở các trường THPT trong phạm vi đề tài nghiên cứu Trong thời gian qua các đề tài đều đã có những đóng góp rất tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở các nhà trường
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trang 91.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Bất kỳ một sự hợp tác lao động nào cũng cần đến quản lý Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể ( người quản lý, tổ chức quản lý ) lên khách thể ( đối tượng quản lý ) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực , quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể
Về nội dung, thuật ngữ “ Quản lý ” có nhiều cách hiểu:
- K.Marx trong bộ Tư Bản đã viết về sự cần thiết của quản lý “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó Một độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ” [ 9, Tr 480 ]
- Theo Harold, Cyril Odonnel, Heinz: “ Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định ” [ 6, tr 29 ]
- Tác giả Nguyễn minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý ( người quản lý , tổ chức quản lý ) lên khách thể quản lý ( đối tượng quản lý ) về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải
Trang 10pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
” [ 4, tr 7 ]
- Tác giả Thái Văn Thành “ Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau ( kỹ thuật, sinh vật, xã hội ) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động ” [ 14, tr 5 ]
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động ( nói chung là khách thể của quản lý ) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến ” [ 12, tr 24 ]
- Tác giả Trần Quốc Thành cho rằng “ Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan ” [ 16, tr 1 ]
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản Đó là “ Quản lý ” phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo
ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể phải thực hành việc tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng cụ thể là một hoặc nhiều người ( trong tổ chức xã hội )
Trang 11Bất luận một tổ chức có mục đích gì , cơ cấu và qui mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình
Hiện nay khái niệm “ Quản lý ” thường được định nghĩa: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động ( chức năng ) kế hoạch hóa, tổ chức ( lãnh đạo ) và kiểm tra
Như vậy, có thể khái quát: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích của bản thân, cho tổ chức và cho xã hội
Quản lý là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học , thống kê, kinh tế, tâm lý và xã hội học Nó còn là một “ nghệ thuật ” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục đích
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Quản lý là một loại lao động đặc biệt, lao động sáng tạo, hoạt động quản
lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao; gắn liền với quy trình đó là sự phân công, chuyên môn hóa lao động quản lý Sự phân công, chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý “ Chức năng quản lý
là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu ” [ 8, tr 31]
Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý, nếu không xác định được chức năng thì chủ thể quản lý không thể điều
Trang 12hành được hệ thống quản lý Chức năng quản lý xác định vị trí, mối quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống quản lý Từ những chức năng quản lý mà chủ thể xác định các nhiệm vụ cụ thể, thiết kế bộ máy và bố trí con người phù hợp Căn cứ vào chức năng quản lý, nhiệm vụ mà chủ thể quản lý có thể theo dõi, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận và toàn bộ hệ thống quản lý
Hiện nay có nhiều cách phân loại các chức năng quản lý khác nhau, ở đây xin nêu 7 chức năng quản lý cơ bản:
- Dự báo ( dự đoán )
Nhà quản lý phải có tầm nhìn xa trông rộng để xác định được tương lai của hệ thống bằng các dự đoán Đó là phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng mà trong tương lai có thể xảy ra có liên quan tới hệ thống quản lý Nó bao gồm các yếu tố thuận lợi, khó khăn, các yếu tố tác động của môi trường bên ngoài tới hệ thống và các yếu tố tác động của chính môi trường bên trong
- Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, bao gồm: xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và các bước đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản
Trang 13Thứ hai, từ khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người
Thứ ba, tạo điều kiện cho việc hoạt động tự giác và sáng tạo của các thành viên tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý
Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra , đánh giá
- Động viên
Động viên nhằm phát huy khả năng vô tận của con người vào quá trình thực hiện mục tiêu của hệ thống Áp dụng biện pháp thưởng phạt là một động lực thúc đẩy quan trọng Những lợi ích kinh tế không phải là động lực duy nhất, mà
là sự động viên tinh thần cũng tạo ra động lực to lớn, bởi vì con người không chỉ
có nhu cầu vật chất mà còn có nhu cầu về tinh thần Việc động viên kịp thời, gần gũi với cấp dưới, hiểu được hoàn cảnh của các thành viên sẽ làm cho họ hăng say, tích cực làm việc nhiều hơn
- Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nẩy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu và kế hoạch đã định Mục đích của kiểm tra nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp và biện pháp sửa chữa kịp thời những sai sót
- Điều chỉnh
Điều chỉnh nhằm sửa chữa các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống để duy trì các mối quan hệ bình thường giữa các bộ phận điều khiển và bộ phận chấp hành; giữa bộ máy quản lý với hoạt động của hàng trăm, hàng nghìn người sao cho nhịp nhàng ăn khớp với nhau Sự điều chỉnh cũng rất
Trang 14phức tạp, bởi vì bất cứ một sự rối loạn nào trong một bộ phận, một khâu nào đó cũng đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến những bộ phận khác của hệ thống
Theo từ điển Tiếng việt: “ Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể ” Như vậy biện pháp quản lý là phương pháp ( hệ thống các cách ) được sử dụng để tiến hành giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản
lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một loại quản lý xã hội
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý giáo dục ( và nói riêng quản lý trường học ) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý ( hệ giáo dục ) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm là quá trính dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất ” [ 12, tr 35 ]
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “ Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được
Trang 15giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước ”[ 7, tr 19 ]
1.2.3 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường, vì nhà trường là
cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý trường học tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp vào do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới ”[ 13, tr 43 ]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Quản lý trường học là lao động của các
cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường ”[ 19, tr 35 ]
1.2.3.1 Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường
Theo PGS Thái Văn Thành: “ QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương pháp cải tiến QLGD theo hướng tăng cường phân cấp quản lý nhà trường cho cho các chủ thể quản lý bên trong nhà trường với các quyền hạn và trách nhiệm rộng hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ ”[14, tr8] Việc quản lý nhà trường phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà trường
Quản lý nhà trường gồm có hai loại:
- Tác động của những chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường
Trang 16- Tác động của những chủ thể quản lý bên ngoài nhà trường
Các nội dung chủ yếu của QLGD trên cơ sở quản lý nhà trường bao gồm:
- Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến đổi nào trong hệ thống giáo dục
- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm – kinh tế – xã hội của mình với sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của những thực thể hữu quan ngoài nhà trường
- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi giáo viên
- Hình thành các cơ cấu cần thiết và thiết thực để các thực thể hữu quan ngoài nhà trường có thể thực sự tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường Đồng thời tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên tham gia quá trình
ra quyết định quản lý trong nhà trường
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết khác để giáo viên thực sự tham gia công việc quản lý nhà trường Hình thành cơ chế phân cấp quản lý tài chính, nhân sự, có thể cải tiến thích hợp nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường
- Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể trong và ngoài nhà trường tham gia trực tiếp vào các hoạt động quản lý nhà trường
- Xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường và xây dựng nhà trường thành một hệ thống mở nhằm công khai hóa các hoạt động của nhà trường
- Hình thành thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường dựa trên những thực thể trục tiếp tham gia quá trình sư phạm và quá trình quản lý nhà trường [ 14, tr 8 ]
Trong phạm vi trách nhiệm của mình, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để
Trang 17tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh
1.2.3.2 Quản lý trường THPT
Nghị quyết số 40/2000/QH 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông xác định: “ Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc đổi mới cơ bản phương pháp đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý giáo dục ”
Chỉ thị số 14/2001/CT-TTG của Thủ tướng chính phủ đã chỉ rõ: “ Thực hiện đồng bộ việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học với việc đổi mới cơ bản phương pháp đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; đổi mới công tác quản lý giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm trang thiết bị và đồ dùng dạy học ”
Tóm lại, phải đổi mới toàn diện công tác quản lý trường THPT, người hiệu trưởng phải thay đổi tư duy về công tác quản lý giáo dục, tránh lối mòn xơ cứng
để chất lượng và hiệu quả đào tạo thấp
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
1.2.4.1 Khái niệm về hoạt động
- Trong từ điển Tiếng việt “ hoạt động ” là tiến hành những việc làm có quan hệ
với nhau chặt chẽ nhằm vào một mục đích nhất định trong đời sống xã hội
- Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “ Hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra ” [ 13, tr 26 ] Nói cách khác , đó là qúa trình chủ thể tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm
Trang 181.2.4.2 Khái niệm về dạy học và hoạt động dạy học
Đối với loài người, dạy và học là phạm trù mang thuộc tính xã hội rất cao,
nó xuất hiện ngay từ buổi sơ khai khi con người muốn truyền thụ những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo trong lao động Dần dần những kỹ năng, kỹ xảo đó tập hợp lại thành hệ thống tri thức và được tổ chức như hoạt động giáo dục chuyên biệt, có mục tiêu và tính chuyên môn hóa rất cao, diễn ra trong trường, lớp, có người dạy, có người học và đặt dưới những tác động quản lý giáo dục Theo đó:
- Dạy học là quá trình hoạt động của giáo viên, thông qua việc truyền đạt nội dung tri thức mà chỉ đạo hoạt động học tập của trò, nhằm làm cho trò đạt đến mục đích dạy học
- Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm và đặc trưng nhất của nhà trường phổ thông Hoạt động dạy học được tiến hành với mục đích tổ chức – điều khiển nhằm tối ưu hóa hoạt động học, giúp người học chiếm lĩnh tri thức khoa học, qua
đó hình thành nhân cách cho người học
Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong đó dưới tác động chủ đạo ( tổ chức, điều khiển ) của giáo viên, học sinh tự giác học tập nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học cơ bản là:
Trang 19Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “ chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật chỉ rõ là cái gì ? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng được biểu thị ra ngoài qua các thuộc tính Nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách rời khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể thiếu mất chất lượng của nó Sự thay đổi về chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng và chất lượng ”[ 18, tr 419 ]
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên với sản phẩm đặc trưng là con người có thể hiểu các phẩm chất, giá trị nhân cách và năng lực sống,
sự hòa nhập đời sống xã hội, giá trị sức lao động, năng lực hành nghề của người giáo viên tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng bậc học, ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.5.2 Chất lƣợng giáo dục
“ Chất lượng là mức độ của các mục tiêu được đáp ứng Chất lượng càng cao nghĩa là gia tăng về hiệu quả Chất lượng giáo dục là một phạm trù động thay đổi theo thời gian, không gian và theo bối cảnh Chất lượng giáo dục có thể đặc trưng cho từng đối tượng, quốc gia, địa phương, cộng đồng, nhà trường Tùy theo đối tượng mà cách nhìn chất lượng, hiệu quả khác nhau ”[ 13, tr 8 ]
Chất lượng giáo dục phổ thông: “ Chất lượng giáo dục phổ thông là chất lượng sản phẩm cuối cùng của quá trình giáo dục phổ thông, đó là chất lượng học vấn của cả một lớp người mà bộ phận lớn vào đời ngay sau khi ra trường, sự
Trang 20kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tập và sự chuyển hóa từ lượng sang chất của trình độ dân trí, bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp, sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra sự chuyển hóa từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ cao với tất cả dấu ấn nhân cách của họ, của quá trình giáo dục phổ thông ”[ 12, tr 9 ]
1.2.5.3 Chất lƣợng dạy học
“ Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người học hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được Vốn học vấn phổ thông phổ thông toàn diện vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học ”[ 13, tr 10 ] Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả dạy học Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức độ nào đó, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền bạc, sức lực và thời gian cần thiết ít nhất nhưng mang lại kết quả cao nhất Để thực hiện được việc đánh giá, người ta chuyển mục tiêu dạy học sang hệ thống các tiêu chí, thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: Kiến thức – Kỹ năng – Thái độ
Chất lượng dạy học ở trường THPT được đánh giá chủ yếu về hai mặt học lực và hạnh kiểm của người học Các tiêu chí về học lực là kiến thức, kỹ năng vận dụng thực tiễn Về bản chất, hạnh kiểm phản ảnh trình độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân
1.2.6 Trình độ, năng lực của giáo viên
1.2.6.1 Khái niệm về trình độ
“ Trình độ là mức độ hiểu biết về kỹ năng được xác định hoặc được đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó ”[ 11, tr 1001 ] Trình độ của đội ngũ giáo
Trang 21viên được thể hiện ở 4 mặt: Trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và về quản lý giáo dục
1.2.6.2 Năng lực
“ Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó ”[ 11, tr 639]Năng lực của đội ngũ giáo viên gồm có: năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực sư phạm và năng lực về tổ chức các hoạt động giáo dục
1.2.7 Bồi dưỡng giáo viên
Theo từ điển tiếng Việt: “ Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất ” [ 11, tr 79 ]
Theo Giáo sư Nguyễn Minh Đường: “ Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ ”[ 5, tr 14 ] Như vậy có thể hiểu công tác bồi dưỡng giáo viên là một quá trình tác động tới tập thể, cá nhân giáo viên, tạo cơ hội cho giáo viên tham gia vào các hoạt động dạy học, giáo dục, học tập trong và ngoài nhà trường để họ có thể cập nhật bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực sư phạm, đáp ứng nhu cầu ngày cang cao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Từ khi có chủ trương thực hiện đổi mới giáo dục, Bộ GD&ĐT rất coi trọng việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Bộ đã ban hành nhiều chỉ thị, văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện, nhằm đảm bảo “ không để giáo viên dạy chương trình đổi mới mà chưa được huấn luyện thêm ”
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRƯỜNG THPT
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT
Trang 221.3.1.1 Vị trí của trường trung học
Theo Điều 2 của Điều lệ trường trung học qui định: “ Trường trung học là
cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng ” [ 3, tr 1 ]
1.3.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học
Theo Điều 3 của Điều lệ trường trung học, trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông
2 Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên
3 Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4 Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
6 Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
7 Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
8 Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục
9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
[ 3, tr1]
1.3.2 Đặc điểm của cấp học THPT
Trang 23Cấp THPT có một số đặc điểm cần lưu ý: Học sinh đã có một lượng vốn kiến thức cơ bản nhất định về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở, những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp Học sinh tốt nghiệp THPT được phân luồng như sau:
- Vào đời tham gia lao động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
- Tiếp tục học ở các trường trung cấp nghề
- Tiếp tục học ở các trường Đại học, Cao đẳng
1.3.3 Mục tiêu của giáo dục THPT
Theo Điều 27 của Luật Giáo dục 2005 quy định:“ Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động ” [ 10, tr 21]
1.3.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp của giáo dục THPT
Theo Điều 28 của Luật Giáo dục 2005 quy định:
1.3.4.1 Yêu cầu về nội dung
“ Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở THCS, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh” [ 10, tr 22 ]
1.3.4.2 Yêu cầu về phương pháp
“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
Trang 24học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ” [ 10, tr 23 ]
1.4 NỘI DUNG, YÊU CẦU CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT
1.4.1 Quản lý hoạt động dạy học
1.4.1.1 Nhiệm vụ của hoạt động dạy học
Ở trường THPT, hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm, đây là hoạt động đặc trưng nhất của nhà trường Những nhiệm vụ của hoạt động dạy học là:
- Làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản,
có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống
- Làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản,
có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống
- Phát triển trí tuệ của học sinh, trước hết là phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và tư duy hành động Dạy học phải đi trước sự phát triển
- Dạy kiến thức văn hóa phải đôi với sự hình thành thế giới quan khoa học, giàu lòng yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, giàu lòng nhân ái, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
- Toàn bộ quá trình dạy học từ nội dung đến phương pháp và hình thức tổ chức phải quán triệt nguyên tắc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chú ý giáo dục kỹ năng lao động và hướng nghiệp cho học sinh theo hướng liên kết giáo dục phổ thông với giáo dục chuyên nghiệp
Trang 251.4.1.2 Mô hình quản lý hoạt động dạy học
- Những nhiệm vụ nêu trên được thực hiện đồng thời và thống nhất với nhau Quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ
- Quá trình dạy và học là tập hợp những hành động liên tiếp của giáo viên và của học sinh được giáo viên hướng dẫn Những hành động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo và trong quá trình đó phát triển năng lực nhận thức, nắm đực các yếu tố cảu văn hóa lao động trí óc và chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn
- Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học là quan hệ điều khiển Do đó, hành động quản lý ( điều khiển hoạt động dạy và học ) của hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy
và trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò, thông qua hoạt động dạy của thầy, quản lý hoạt động học của trò
- Trong mô hình trên, chiều tác động chủ yếu từ Hiệu trưởng đến hoạt động của giáo viên và học sinh và những điều kiện vật chất phục vụ cho dạy và học
Giáo viên hoạt động dạy
Hiệu trưởng
hoạt động quản lý
Học sinh hoạt động học
Cơ sở vật chất phục vụ
dạy và học
Trang 261.4.1.3 Yêu cầu của quản lý quá trình dạy học
a Đảm bảo tính pháp lý
Để quản lý quá trình dạy học ở các trường THPT, HT phải căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục phổ thông, đó là các văn bản:
- Các quy định chung của ngành giáo dục
- Các quy định về tổ chức, hoạt động của nhà trường
- Các quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ, quyền và nghĩa vụ đối với cán
bộ, giáo viên, nhân viên
- Các quy định về quyền và nghĩa vụ của người học
- Các quy định về quản lý tài chính trong nhà trường
- Các quy định khác
b Đảm bảo tính thực tiễn
Quản lý trường THPT cần phải dựa trên cơ sở thực tiễn của đất nước, của địa phương và của nhà trường
1.4.2 Nội dung công tác quản lý hoạt động dạy học của HT trường THPT
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác động qua lại của giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó phát triển năng lực tư duy, hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh Nội dung công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên
1.4.2.1 Quản lý việc phân công giáo viên giảng dạy và xếp thời khóa biểu
Việc phân công giáo viên phải căn cứ vào năng lực của giáo viên, điều kiện cụ thể của nhà trường, quyền lợi của học sinh và nguyện vọng của giáo viên Có thể đáp ứng được các điều kiện trên nếu nhà trường lớn mạnh, nhưng nếu nhà trường trong tình trạng đội ngũ giáo viên thiếu lại không đồng đều về
Trang 27năng lực thì phải lựa chọn phương án tối ưu là ưu tiên cho quyền lợi của học sinh
và yêu cầu của nhà trường để lựa chọn giáo viên dạy lớp cho phù hợp [16, tr 29] Tác giả Nguyễn văn Lê đã đúc kết được kinh nghiệm phân công của một số trường tiên tiến như sau:
- Phân công giáo viên dạy theo lớp để chịu trách nhiệm kết quả học tập cuối cấp của học sinh và sau 3 năm giảng dạy giáo viên nắm vững chương trình toàn cấp
- Phân công mang tính chất kèm cặp, tức là trong mỗi khối lớp phải có một số giáo viên giỏi làm nồng cốt, hướng dẫn giáo viên khác
- Phân công giáo viên dạy các lớp song song để giảm số giáo án trong tuần và tăng thời gian đầu tư cho mỗi giáo án
Về quy trình phân công giáo viên giảng dạy, để đảm bảo tính khoa học và tính dân chủ trong nhà trường, hiệu tưởng cần tham khảo các PHT, tổ trưởng chuyên môn trước khi đưa ra dự kiến phân công Sau khi đưa về tổ chuyên môn bàn bạc, thảo luận để đi đến thống nhất về sự phân công, cuối cùng HT ra quyết định phân công
Về xây dựng thời khóa biểu, hiệu trưởng cần bàn bạc trao đổi với các PHT
để xếp thời khóa biểu hợp lý cho hoàn cảnh cụ thể của từng giáo viên, nhưng phải tôn trọng nguyên tắc sư phạm khi phân bố tiết dạy của từng lớp trong một buổi học và khoảng thời gian lặp lại trong một tuần để học sinh có đủ điều kiện chuẩn bị bài, thẩm thấu nội dung tiết học
Phân công giảng dạy cho giáo viên là việc làm cần nhiều suy nghĩ và cân nhắc của HT, nó phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường Để thực hiện tốt công việc này, người HT phải thực sự sáng suốt và đầy công tâm trong việc phân công, không được để lợi ích của bất kỳ cá nhân nào tác động làm ảnh hưởng đến việc phân công
Trang 281.4.2.2 Quản lý việc thực hiện chương trình
Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành Chương trình dạy học quy định nội dung từng môn học, chi tiết từng phần, từng chương, từng bài học Đồng thời, chương trình quy định thời gian thực hiện
môn học theo đơn vị cụ thể cho từng chương
HT quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học là chỉ đạo, tổ chức để giáo viên dạy đúng, dạy đủ nội dung từng môn học, bảo đảm đúng tiến
độ và lượng thời gian quy định trong phân phối chương trình HT, các PHT phối hợp cùng các tổ trưởng chuyên môn phải thường xuyên kiểm tra để tránh tình trạng giáo viên tự ý tăng hoặc giảm số tiết học, tự ý đảo số thứ tự tiết dạy, tự ý thêm bớt các bài kiểm tra định kỳ và cắt xén các tiết thí nghiệm, thực hành,
ngoại khóa
Để quản lý có hiệu quả và nghiêm túc trong việc thực hiện chương trình,
kế hoạch dạy học, HT, các PHT, các tổ trưởng chuyên môn phải nắm vững biên chế năm học, chương trình dạy học, kế hoạch dạy hoc của từng môn học ở từng khối lớp và cả cấp học Hiệu trưởng phải nắm vững nội dung và phạm vi kiến thức của từng môn học, phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn và các hình thức dạy học của bộ môn đó Trên cơ sở đó, HT chỉ đạo các PHT, các tổ chuyên môn cho giáo viên nghiên cứu, thảo luận, nắm vững cấu trúc nội dung chương trình bộ môn mình dạy, nắm vững nội dung kiến thức cơ bản, phương pháp, hình
thức dạy học của môn học
Trong quá trình thực hiện chương trình dạy học, HT, các PHT chỉ đạo các
tổ chuyên môn đánh giá rút kinh nghiệm về tiến độ thực hiện chương trình qua những buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ, thảo luận những vấn đề khó khăn cần
sự tháo gỡ HT, các PHT, cùng các tổ trưởng chuyên môn kết hợp theo dõi nắm
Trang 29tình hình thực hiện chương trình dạy học hàng tuần, hàng tháng của giáo viên
qua kiểm tra sổ báo giảng, qua dự giờ, thăm lớp, xem sổ ghi đầu bài của lớp
Để quản lý tốt hoạt động dạy học trong nhà trường nhằm đạt đến mục tiêu đào tạo, HT trưởng phải nắm vững việc thực hiện chương trình, kế hoạc dạy học Hiện nay có những trường để chạy theo thành tích, họ cắt xén chương trình, bỏ bớt một số môn không cần thiết để có thời gian tăng cường cho những môn được xem là quan trọng vì có thi tốt nghiệp và thi đại học Vì vậy, HT cần phải thực hiện tốt việc quản lý chương trình và kế hoạch dạy học thì nhà trường mới đạt
mục tiêu đào tạo mà ngành giáo dục đã đề ra
1.4.2.3 Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy
Việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy là yếu tố quan trọng và quyết định cho chất lượng giờ dạy, nó bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học và chuẩn
bị cho từng tiết dạy cụ thể
Thực chất việc chuẩn bị dài hạn là giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học cho môn học trong cả năm học Kế hoạch này phải thể hiện cụ thể dựa trên cơ sở sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, điều kiện, phương tiện phục vụ cho dạy học
Từ đó lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học thích hợp
Chuẩn bị cho từng tiết dạy bao gồm việc soạn giáo án hay đề cương bài dạy và phương tiện phục vụ cho tiết dạy Soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng
nhất của giáo viên cho giờ lên lớp
Bài soạn là bản thiết kế cụ thể đối với giờ lên lớp Bài soạn phải thể hiện
rõ nội dung khoa học cần truyền thụ, cách thức tổ chức lớp học và ấn định thời gian cần thiết, đồng thời cần dự đoán các tình huống cùng những phương thức giải quyết Cấu trúc chương trình của môn học có nhiều loại bài như bài học kiến
Trang 30thức mới, bài tập, bài ôn tập, bài tổng kết, bài kiểm tra Mỗi loại bài có đặc thù
riêng, vì vậy khi soạn bài phải chú ý đặc thù riêng đó
Để quản lý tốt việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy của giáo viên, HT cần chú
ý đến một số công việc sau:
- Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài
- Hướng dẫn giáo viên sử dụng sách giáo khoa như là một tài liệu tham khảo chứ không phải sao chép
- Hướng dẫn các tổ, nhóm chuyên môn thống nhất nội dung và hình thức soạn bài
- Tổ chức kiểm tra việc soạn bài của giáo viên
Việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy của giáo viên là một khâu quan trọng và chiếm nhiều thời gian nhất của giáo viên trong hoạt động dạy học Sự chuẩn bị tốt sẽ quyết định sự thành công của giờ lên lớp, vì vậy hiệu trưởng cần tạo điều kiện cũng như có biện pháp để kiểm tra thường xuyên việc này
1.4.2.4 Quản lý giờ lên lớp và hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hoạt động dạy học trong nhà trường được thực hiện chủ yếu trong giờ lên lớp của giáo viên và việc học tập của học sinh Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học, trong đó giáo viên có vai trò chính và quan trọng nhất Công tác quản lý giờ lên lớp của hiệu trưởng góp phần tác động gián tiếp đến hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên Vì vậy, hiệu trưởng ngoài việc tạo điều kiện cho giáo viên phát huy năng lực và nhiệt tình giảng dạy nhưng đồng thời phải có những biện pháp tác động đến giờ lên lớp của giáo viên Có thể sử dụng một số biện pháp để quản lý giờ lên lớp của giáo viên:
- Dựa vào tiêu chuẩn đánh giá giờ dạy theo quy định của Bộ GD&ĐT để đánh giá, xếp loại giờ dạy của giáo viên
Trang 31- Xây dựng thời khóa biểu dạy hợp lý theo nguyện vọng của giáo viên và khả năng đáp ứng của nhà trường
- Kiểm tra giờ dạy trên lớp bằng nhiều hình thức: Dự giờ rút kinh nghiệm sư phạm bài dạy, Kiểm tra hồ sơ giáo viên, Kiểm tra việc ghi sổ đầu bài để tìm hiểu việc thực hiện chương trình và nề nếp dạy học
Theo Điều lệ trường trung học, hồ sơ chuyên môn của giáo viên gồm có: Bài soạn, Sổ dự giờ thăm lớp, Sổ chủ nhiệm, Kế hoạch giảng dạy theo tuần [3, tr 5], trong đó bài soạn là hồ sơ quan trọng nhất của giáo viên, vì trong bài soạn thể hiện sự đầu tư cả về tri thức lẫn kinh nghiệm sư phạm của giáo viên Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hiệu trưởng, để quản lý tốt công việc này hiệu trưởng phải dựa trên cơ
sở sau:
- Những quy định chung của ngành về hồ sơ chuyên môn của giáo viên
- Phân công cho các PHT và các tổ trưởng chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý hồ sơ chuyên môn giáo viên
- Xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá, xếp loại hồ sơ chuyên môn của giáo viên theo định kỳ và gắn với công tác thi đua của cá nhân và tập thể
Giờ dạy trên lớp là công việc quan trọng quyết định rất nhiều đến sự thành công của quá trình dạy học và đây chính là nội dung cần chú ý trong quản lý của hiệu trưởng Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra giờ dạy trên lớp bằng nhiều hình thức khác nhau là biện pháp đôn đốc giáo viên nâng cao năng lực giảng dạy, đồng thời qua đó hiệu trưởng cũng thu nhận được các thông tin cần thiết để
từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp
1.4.2.5 Quản lý việc dự giờ và đánh giá giờ dạy
Trang 32Dự giờ và đánh giá giờ dạy là chức năng trung tâm của HT, là nét đặc thù
cơ bản trong công tác quản lý trường học Dự giờ, đánh giá giờ dạy là biện pháp quan trọng hàng đầu trong quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Việc phân tích sư phạm bài dạy cần phải quán triệt quan điểm tiếp cận hệ thống, tức là phải xem xét bài học là một chỉnh thể toàn vẹn, trong đó bao gồm mối quan hệ bên trong giữa các thành tố tạo nên mỗi bước và mối liên hệ tương tác giữa các bước với nhau trong toàn bài học Phân tích sư phạm bài học là phải phân tích cho được các mối liên hệ khăng khít và nhiều chiều đó
Hiệu trưởng cần xem việc dự giờ là một biện pháp quản lý trực tiếp giờ dạy trên lớp của giáo viên Qua dự giờ, bên cạnh việc phân tích để giáo viên nhận biết được các ưu, khuyết điểm của mình, hiệu trưởng cần đưa ra những đề nghị, khuyến cáo để giáo viên sửa chữa, khắc phục Mặc khác, qua dự giờ hiệu trưởng còn phát hiện những kinh nghiệm, những nét sáng tạo của giáo viên để phổ biến đến tổ chuyên môn, hội đồng sư phạm Việc dự giờ còn giúp cho HT có được cái nhìn khách quan, trung thực về tình hình giảng dạy của GV để có quyết định quản lý phù hợp
Tuy nhiên, do HT chỉ có chuyên môn về một bộ môn được đào tạo và thời gian để dự giờ không được nhiều, nên việc dự giờ tất cả giáo viên một cách thường xuyên là điều không thể thực hiện được Vì vậy, HT cần có kế hoạch dự giờ, thăm lớp định kỳ hay đột xuất, phân công cho các PHT dự giờ một số môn nào đó, đồng thời khi dự giờ cần phải có sự tham gia dự giờ của các tổ trưởng chuyên môn hoặc giáo viên nồng cốt để việc phân tích sư phạm bài học và đánh giá giờ dạy thuận lợi hơn
Bên cạnh việc dự giờ giáo viên, HT còn có thể kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên bằng các hình thức như tìm hiểu qua học sinh, trao đổi với giáo
Trang 33viên chủ nhiệm, nghe báo cáo của tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn Kết hợp việc tìm hiểu trên với việc dự giờ của mình, HT sẽ có nguồn thông tin đủ tin cậy
để đánh giá, tông kết giờ dạy của GV một cách khách quan và chính xác
1.4.2.6 Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn
Điều lệ trường Trung học quy định nhiệm vụ của tổ chuyên môn:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý
kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các quy định của Bộ GD&ĐT
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ chức theo các quy định của Bộ GD&ĐT
- Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên
- Tổ chuyên môn sinh hoạt 2 tuần một lần [ 3, tr 6 ]
HT cần chỉ đạo thật sâu sát, có chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chuyên môn Muốn vậy , HT cần thống nhất quy định tổ chuyên môn thực hiện những yêu cầu sau:
- Xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn và các biện pháp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà nhà trường giao trách nhiệm cho tổ
- Triển khai thực hiện kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyên môn trong nhà trường như bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV dưới các hình thức: tổ chức chuyên đề về soạn giáo án, về phương pháp dạy học từng chương, từng bài, về đổi mới phương pháp dạy học, cách thức sử dụng ĐDDH, cách đánh giá HS, việc dự giờ, rút kinh nghiệm, hội thảo các vấn đề bức xúc trong hoạt động dạy học
Hoạt động của tổ chuyên môn góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học của mỗi giáo viên, đồng thời có tác dụng rất cao và hiệu quả trong
Trang 34công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của từng giáo viên cũng như của tập thể sư phạm Vì vậy, HT cần nhận thức đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của hoạt động nầy để thường xuyên đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn
1.4.2.7 Quản lý việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một bộ phận hợp thành,
là một thành tố của quá trình dạy học Kết quả học tập của học sinh phản ảnh chất lượng dạy học của giáo viên, kiểm tra được hoạt động này coi như một nguyên tắc của mối quan hệ ngược Thông tin thu được từ kiểm tra sẽ làm cơ sở
để điều chỉnh quá trình dạy học “ Tiêu chuẩn đánh giá cơ bản hoạt động của giáo viên là các kết quả lao động sư phạm, chất lượng kiến thức của học sinh, mức độ phát triển, kỹ năng áp dụng các kiến thức ” [ 13, tr 48 ]
Hiệu trưởng cần quản lý nghiêm túc công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh mới có cứ liệu chính xác để đánh giá giáo viên HT phải có
kế hoạch cụ thể để quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
thể hiện trong nội dung:
- Kế hoạch kiểm tra học kỳ, cả năm: kiểm tra viết 15 phút, 1 tiết ở tất cả môn học, kể cả lý thuyết và thực hành ngay từ đầu năm học
- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá cho từng bộ môn và phù hợp với từng loại đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, kém
- Việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính khách quan để giáo viên không chạy theo thành tích mà ra đề kiểm tra dễ, mớm đề cho học sinh hoặc cho thang điểm rộng
- Yêu cầu giáo viên chấm, trả bài đúng thời hạn và có sửa chữa hướng dẫn cho học sinh, đảm bảo công bằng và đúng quy chế
Trang 35Kiểm tra, đánh giá kết qủa học tập của học sinh là cơ sở để học sinh, giáo viên và HT nhận định, đánh giá lại quá trình lĩnh hội, truyền thụ kiến thức Từ đó
có biện pháp điều chỉnh phù hợp HT thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ tạo động lực thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường
1.4.2.8 Quản lý công tác bồi dƣỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, ôn tập học sinh lớp 12 thi tốt nghiệp
Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và chất lượng mũi nhọn ở các trường THPT là một nhiệm vụ khó khăn và đòi hỏi nhiều cố gắng từ phía đội ngũ CBQL giáo dục, giáo viên và học sinh Những nỗ lực nầy nhằm giúp giảm thiểu học sinh yếu, kém, nâng tỉ lệ HS thi đậu tốt nghiệp THPT nhằm đáp ứng mục tiêu
đào tạo của bậc THPT
Trách nhiệm phụ đạo học sinh yếu, kém, bồi dưỡng học sinh giỏi và ôn tập
HS dự thi tốt nghiệp THPT là nhiệm vụ của GV Để duy trì và đảm bảo chất lượng, HT cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể và xử dụng tất cả những điều kiện
có thể cho hoạt động nầy
Tổ chức kiểm tra chất lượng đầu năm học ở tất cả các khối lớp nhằm đánh giá chất lượng HS Điều nầy giúp HT trong phân công GV giảng dạy ở các lớp
và tổ chức các lớp phụ đạo, lớp bồi dưỡng cho HS ngay từ đầu năm học Những
GV có kinh nghiệm và nhiệt tình thường được phân công vào các lớp nầy để giúp đỡ HS
Tạo điều kiện ưu tiên về cơ sở vật chất cho việc duy trì hoạt động nầy Có nhiều trường vì khó khăn về cơ sở vật chất nên không tiến hành tốt hoạt động nầy, chất lượng học tập của HS chưa khả quan
Trang 36Tổ chức hội thảo cấp trường về công tác phụ đạo và bồi dưỡng HS nhằm chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên và xây dựng chuyên đề về công tác nầy
Kích thích bằng lợi ích vật chất và tinh thần
1.4 2.9 Quản lý việc bồi dƣỡng nâng cao năng lực sƣ phạm cho giáo viên
Đánh giá chất lượng GV, chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 – 2010
có nêu: “ Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa tăng nhanh quy mô vừa phải bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả GD ”[ 15, tr 4 ] Đánh giá đó cho thấy, việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực dạy học cho GV, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả GD là việc làm cấp bách và thường xuyên
Để công tác bồi dưỡng GV có hiệu quả, HT cần đánh giá đúng tình hình thực trạng của đội ngũ GV về năng lực sư phạm, trình độ chuyên môn, chính trị Trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch bồi dưỡng cụ thể về nội dung, thời gian và đối tượng Nội dung bồi dưỡng GV cần tập trung vào những hoạt động sau:
- Dự giờ, thăm lớp, kiểm tra, hương dẫn soạn bài
- Tổ chức sinh hoạt chuyên đề về phương pháp giảng dạy bộ môn, sinh hoạt nhóm chuyên môn đi sâu vào phương pháp dạy học
- Tổ chức phổ biến áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Tổ chức thao giảng cấp trường, cấp cụm
- Phân công giáo viên giúp đỡ giáo viên mới
- Tổ chức bồi dưỡng học giáo viên giỏi
- Tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm ở các trường tiên tiến, điển hình
Trang 37- Tạo điều kiện về tinh thần và cơ sở vật chất, tài chính cho GV tự học, tự bồi dưỡng, dự các lớp bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng định kỳ, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng trên chuẩn cho GV
Bồi dưỡng nâng cao trình độ GV là việc làm thường xuyên và bằng nhiều hình thức của người hiệu trưởng Trình độ GV luôn được nâng cao về mọi mặt là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
1.4.3 Quản lý hoạt động học tập của học sinh
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy học của thầy giáo Tuy nhiên gần như quản lý hoạt động học của trò chưa được các nhà trường quan tâm nhiều, chưa đưa ra được các giải pháp quản lý qui mô, chiến lược và toàn diện cho hoạt động này Tổ chức quản
lý tốt hoạt động học của học sinh sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường THPT Quản lý hoạt động học tập của học sinh cần phải làm cho học sinh có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập , rèn luyện Hoc sinh ham thích đến trường, đến lớp, ham học, tự giác tìm tòi phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh hội kiến thức, biến quá trình giáo dục thành tự giáo
dục Mỗi ngày đến trường thật sự là một ngày vui đối với các em học sinh
Việc quản lý hoạt động học tập của học sinh phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản của nó bao gồm:
1.4.3.1 Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh
Do nội dung chương trình ở cấp THPT có những khác biệt cơ bản đối với cấp học THCS, nên học sinh khi mới vào trường THPT thường gặp rất nhiều khó khăn trong cách học Vì vậy giáo viên cần phải hướng dẫn các em phương pháp học tập bộ môn thích hợp
Trang 38Trong công tác quản lý HT phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác hướng dẫn phương pháp học tập bộ môn cho học sinh Khi hướng dẫn cần phải đạt được các yêu cầu sau:
- Làm cho HS nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập
- Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn
- Giúp học sinh có phương pháp học tập ở lớp, ở nhà
- Giúp cho học sinh có phương pháp học tập nhóm
1.4.3.2 Quản lý nề nếp thái độ học tập của học sinh
Căn cứ vào điều 27 Luật Giáo dục năm 2005; căn cứ vào điều 38, điều 40 của Điều lệ trường THPT 2007 và nội qui học đường của nhà trường làm cơ sở trong công tác quản lý nề nếp học tập của học sinh
Nề nếp học tập của học sinh là những điều quy định cụ thể về tinh thần, thái độ hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả Nề nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến hiệu quả học tập
Vì vậy cần phải xây dựng và hình thành được những nề nếp học tập sau đây:
- Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyên cần, chăm chỉ, có nề nếp học tập ở trường cũng như ở nhà và những nơi sinh hoạt văn hóa
- Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập
- Xây dựng được nề nếp về khen thưởng và kỹ luật, chấp hành nề nếp nội quy học tập cho học sinh
Nề nếp học tập, nề nếp dạy học là những điều kiện tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường, vì vậy hiệu trưởng cần quan tâm chỉ đạo làm tốt công tác này
1.4.3.3 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh
Trang 39Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là hoạt động chuyên môn mang tính pháp lý cao Kết quả kiểm tra, đánh giá không chỉ phản ảnh chất lượng học tập của học sinh, hiệu quả giảng dạy của thầy mà nó còn tác dụng động viên, kích thích, ý thức phấn đấu rèn luyện học tập của học sinh Vì vậy hiệu trưởng phải giao cho phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, các tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng chuyên môn quản lý tốt hoạt động này
1.4.3.4 Phối hợp các lực lƣợng giáo dục học sinh học tập
Phát huy sức mạnh tập thể, sức mạnh cộng đồng trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh Thống nhất kế hoạch hành động giữa nhà trường – gia đình – địa phương trong công tác quản lý, phát huy vai trò của đoàn TNCS
Hồ Chí Minh trong việc giáo dục lý tưởng sống đẹp, vì tập thể, vì cộng đồng thông qua các hoạt động tập thể theo chủ điểm hoạt động của nhà trường Thường xuyên giữ mối liên lạc giữa nhà trường và gia đình thông qua sổ liên lạc, điện thoại
Quản lý hoạt động học tập của học sinh là yêu cầu không thể thiếu được
và rất quan trọng trong quá trình quản lý dạy và học của hiệu trưởng Nếu quản
lý tốt hoạt động này sẽ tạo được trong học sinh ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện, các em sẽ có được thái độ, động cơ học tập đúng đắn, tạo dựng môi trường học tập thân thiện góp phần tích cực và việc nâng cao chất lượng dạy học
1.4.4 Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
CSVC và TBDH được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo Trong báo cáo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có đoạn: “ tăng cường CSVC và từng bước hiện đại hóa nhà trường ( lớp học, sân chơi, bãi tập, máy tính nối mạng Internet, thiết bị giảng dạy và học tập hiện đại, thư viện, ký túc xá )” và “ Đổi mới phương pháp dạy và học, phát
Trang 40huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhết, học vẹt, học chay ” [ 1, tr204 ]
CSVC là điều kiện cần cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất – kỹ thuật dạy và học của nhà trường Quản lý CSVC – TBDH đảm bảo được 3 yêu cầu liên quan mật thiết với nhau là:
- Đảm bảo đầy đủ CSVC – TBDH phục vụ dạy và học
- Sử dụng có hiệu quả CSVC – TBDH trong việc dạy và học
- Tổ chức quản lý tốt CSVC – TBDH trong nhà trường
Nội dung quản lý CSVC – TBDH phục vụ dạy và học trong nhà trường bao gồm:
- Quản lý trường, lớp, phòng học, bàn ghế
- Quản lý trang thiết bị phục vụ dạy và học, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng
- Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu
- Quản lý đồ dùng học tập của học sinh
Đổi mới nội dung chương trình dạy học, đổi mới phương pháp dạy học gắn liền với các loại thiết bị dạy học Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phải gắn liền với giáo dục ý thức và cách thức sử dụng chúng một cách hiệu quả
1.4.5 Yêu cầu của việc quản lý chất lƣợng
1.4.5.1 Yêu cầu
Nghị quyết Đại hội Đảng X khẳng định: “ Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và